Qua nghiên cứu thực tế, và với cơ sở kiến thức đã tích luỹ được trong thời gian qua em nhận thấy tầm quan trọng của việc huy động nguồn vốn đầu tư trong nước phục vụ cho phát triển kinh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng chomọi hoạt động của nền kinh tế Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề cấpbách Đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, đểthực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cầnđến một lượng vốn lớn Vốn cho phát triển kinh tế- xã hội luôn là vấn đề quantrọng và cấp bách trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta Đương nhiên
để duy trì những thành quả đã đạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừaqua, giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạnglạc “tụt hậu” so với nhiều nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới Trong giaiđoạn hiện nay nước ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từbản thân nhân dân và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốcdoanh Nguồn nước ngoài từ ODA, NGO và từ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Tuynhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong nước là chủ yếu, nguồn vốn trong nước vừaphong phú vừa chủ động nằm trong tầm tay Nguồn trong nước vừa là tiền đề vừa làđiều kiện để “ đón” các nguồn vốn từ nước ngoài Nguồn vốn nước ngoài sẽ khônghuy động được nhiều và sử dụng có hiệu quả khi thiếu nguồn vốn “bạn hàng”trong nước Mặc dù điều kiện quốc tế thuận lợi đã mở ra những khả năng to lớn đểhuy động nguồn vốn từ bên ngoài, nhưng nguồn vốn ở trong nước được xem làquyết định cho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kịnh tế
Qua nghiên cứu thực tế, và với cơ sở kiến thức đã tích luỹ được trong thời gian qua
em nhận thấy tầm quan trọng của việc huy động nguồn vốn đầu tư trong nước phục
vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay Cũng như xuất phát từtính cấp thiết của vấn đề này, em chọn đề tài tiểu luận : “ Phân tích biến động và hiệuquả của vốn đầu tư của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2015” Nội dung của đề tàinày bao gồm các nội dung sau:
CHƯƠNG I: Cơ sở phương pháp luận để huy động nguồn vốn.
CHƯƠNG II: Phân tích biến động của vốn đầu tư trong khoảng thời gian từ năm
2005-2015 và hiệu quả vốn đầu tư qua các năm theo vùng, ngành kinh tế
CHƯƠNG III: Dự báo lượng vốn đầu tư trong hai năm tới 2016-2017
Trang 2CHƯƠNG I:
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐỂ HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN
I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂNKINH TẾ VIỆT NAM
Trước hết, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sảnxuất, đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệuqủa các hoạt động kinh tế, nó bao gồm những nguồn vật tư và tàisản trong các doanh nghiệp, nguồn tiền mặt hoặc các tài sảnkhác dự trữ trong dân Vì vậy, chính sách tạo vốn cơ bản phảituân thủ nguyên tắc lợi ích của người có vốn và do đó, việc sửdụng vốn nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả kinh tế
Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết và chủ yếu là tạo ramôi trường kinh tế và tiền đề pháp lý đẻe biến mọi nguồn tiền tệthành tư bản sinh lợi và tăng trưởng trong quá trình tái sản xuất xãhôị Các nguồn chủ yếu bao gồm :vốn đầu tư kinh tế của nhànước, vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền và tiền nhànrỗi của dân cư và vốn của các doanh nghiệp và tổ choc tài chínhquốc tế
Trong giai đoạn hiện nay vốn là yếu tố vật chất quan trọng nhấtcho tăng trưởng Để tao ra tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7-8% thìcần tích luỹ một lượng vốn từ 20- 25% GDP Nếu trong những nămtới mục tiêu tăng trưởng kinh tế là hai con số trong vài thập niêntới thì cần thì tỷ lệ tích luỹ vốn phải lên tới trên 30% GDP Đây làmột nhu cầu lớn cần phải giải quyết để khai thác nguồn vốn đặcbiệt là nguồn vốn trong nước
Trang 3Vốn ngân sách nhà nước một thời gian giảm xuống nay đã bắtđầu tăng lên năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đã tăng lên là44% ngân sách Để đạt được kết quả đó thì nguyên nhân cơ bản làchính sách thuế đã được cải cách một cách toàn diện và thu đượcnhiều kết quả cho ngân sách.Năm1990 thu ngân sách từ thuế phíchiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó là 93,8% Nếu so với GDPthì các tỷ trọng tương tự là 17,3% và 17,06%vốn huy động từ cácnguồn khác cũng có xu hướng tăng do chính sách khuyến khíchđầu tư, tư nhân và tạo dựng được môi trường đầu tư cho mọi thànhphần kinh tế phát triển Điều mà ai cũng có thể đồng ý với nhau làmột nền kinh tế kém phát triển có thể cất cánh được nếu không có
sự tham gia của các nguồn vốn từ nước ngoài Vai trò của nguồnvốn bên ngoài có ý nghĩa quan trọng nhằm hỗ trợ khai thôngnhững cản ngại, tạo sức bật cho nền kinh tế phát triển
Vốn đầu tư:
- Khái niệm: Vốn đầu tư là những chi phí để tái sản xuất tài sản
cố định bao gồm các chi phí để thay thế những tài sản cố định bịthải loại để tăng mới các tài sản cố định và để gia tăng các tài sản
cố định tồn kho
- Các hình thức đầu tư:
+ Đầu tư trực tiếp
+ Đầu tư gián tiếp
Cơ cấu vốn đầu tư:
a.Nguồn vốn trong nước bao gồm các loại vốn chủ yếu sau:
-Vốn huy động từ ngân sách nhà nước
-Vốn huy động trong dân cư
-Vốn huy động từ tiết kiệm của các doanh nghiệp
b.Nguồn vốn ngoài nước bao gồm:
-Vốn đầu tư trực tiếp
-Vốn đầu tư gián tiếp
-Vốn hỗ trợ và phát triển chính thức
II/ CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH VỐN TRONG NƯỚC
1/ Vốn huy động từ ngân sách nhà nước
Trang 4Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nước và nguồn thu
bổ sung từ bên ngoài, chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một
số ít là vay nợ của tư nhân nước ngoài Để nâng cao hiệu quảnguồn vốn từ ngân sách nhà nước cần có những sửa đổi trong chínhsách đầu tư.Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách nhà nước khôngngừng tăng lên qua các năm, bình quân từ 13,1% GDP (thờikỳ1986- 1990) lên 20,5% (thời kỳ 1991- 1995) ngân sách nhà nước
từ chỗ thu không đủ chi đến nay đã có một phần tích luỹ dành chođầu tư phát triển từ 2,3% GDP năm 1991 tăng lên 6,1% GDP vàonăm 1996 ( nếu cả do khấu hao cơ bản).Không tận thu NSNN quámức để bao cấp trong cấp phát mà chỉ thu trong chừng mực tốtnhất để đáp ứng các nhu cầu chi của Nhà nước Đối với nhữngngành , những địa phương có thất thu lớn thì cần tăng cường thu vàtận thu, nhưng quan điểm bao trùm thì không phải là tận thu-Vìđiều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế
- Phân bổ và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhànước
+ Tăng quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước và sử dụng đúnghướng nguồn vốn này với biện pháp bao chùm là chống thất thu vàtiết kiệm chi thường xuyên để tăng quy mô nguồn đầu tư từ ngânsách nhà nước
+ Từng bước xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấpphát quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nước.+ Tăng cường công tác quản lý sau dự án Những dự án này dùngnguồn vốn nhà nước thường có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việcthẩm định các dự án là tương đối chặt chẽ thì trái lại việc quản lýsau dự án lại bị buông lỏng dẫn đến tình trạng chi tiết trên danhnghĩa nhưng lại lãng phí trên thực tế
2/ Nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp nhà nước.
Đối với doanh nghiệp, chính sách tài chính hướng vào các việc
mở rộng khả năng hoạt động mạnh mẽ có hiệu quả cao của các đơn
vị sản xuất kinh doanh, đó là những tế bào tài chính; làm chocác nguồn vốn chu chuyển nhanh và linh hoạt, đồng thời tạo ra cơ
sở để nhà nước có khả năng kiểm soát được nền tài chính quốc gia
3/ Nguồn vốn huy động từ trong dân cư:
Vốn đầu tư của tư nhân và dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 5trong việc phát triển nông nghiệp, mở mang ngành nghề ở nôngthôn phát triểncông nghiệp thủ công, thương mại , dịch vụ, vậntải…Vì vậy chúng ta cần phải thực hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ, huy động vốn để cho mọi ngườ dân ởbất cứ nơI nào cũng có đIều kiện sản xuất kinh doanh
- Tăng lãi xuất tiết kiệm đảm bảo lãi xuất dương
- Khuyến khích sử dụng tài sản cá nhân, thực hiện chế độ thanhtoán tiền gửi ở một nơi và rút ra bất cứ lúc nào, có vậy chúng tamới đưa được nguồn vốn dưới dạng cất giấu vào lưu thông
- Tao môi trường đầu tư thông thoáng và thực hiện theo quy địnhcủa luật pháp để người dân dễ dàng bỏ vốn đầu tư
- Chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích các hộ gia đình
ở các vùng nông thôn, vốn vào sản xuất trên cơ sơ khai thác thếmạnh của từng vùng, phát huy truyền thống hiện có của địaphương
- Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích tư nhân trongnước như tự đầu tư
- Thực hiện chính sách xã hội hoá dần đầu tư phát triển sựnghiệp giáo dục và đào tạo, y tế nhằm huy động thêm nguồn lựccủa nhân dân
4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Khuyến khích đặc biệt đôi với đầu tư nước ngoàI cho các công trình
cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, công nghệ mũi nhọn, các ngành
sử dụng nhiều lao độngvà những dự án khai thác tài nguyên có sốvốn khổng lồ
II,VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG NƯỚC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ
Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG NƯỚC
1/ Vốn trong nước với vấn đề đáp ứng nhu cầu của đẩu tư cho phát triển kinh tế.
- Vốn đầu tư từ khu vực nhà giữ vai trò quan trọng trong việc đầu
tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước để phát triển cơ sở hạ tầng,kinh tế xã hội, các công trình công cộng, hỗ trợ các vùng chậmphát triển, vùng sâu,vùng xa, hải đảo
Trang 62/ Huy động vốn trong nước với vấn đề phát triển kinh tế.
3/ Huy động vốn trong nước với các vấn đề xã hội
Để đảm bảo đầu tư đúng định hướng, phù hợp với quy hoạchphát triển kinh tế của vùng, lãnh thổ, nâng cao sử dụng vốn tíndụng đầu tư ưu đãi, cần đổi mới cơ chế quản lý và chính sách đầu
tư theo chương trình dự án Tất cả các công trình dự án đều phảitân thủ một cách nghiêm ngặt các trình tự đầu tư xây dựng cơ bản
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CƠ CẤU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM
Trang 71 CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGUỒN VỐN
Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn có thể chia ra làm ba khu vực chính là khu vựcnhà nước, khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài Trong cơ cấu nguồn vốnđầu tư, khu vực nhà nước vẫn giữ tỷ trọng lớn, đóng vai trò quyết định nhưng vốnngân sách nhà nước thực ra vẫn chưa cao Khu vực tư nhân trong giai đoạn đầuchưa đóng góp nhiều cho hoạt động đầu tư nhưng sau đó từ con số 0%, tỷ trọngđóng góp trong vốn đầu tư đã tăng lên đến 20% Đối với khu vực đầu tư nướcngoài, trong giai đoạn vừa qua giá trị đóng góp tăng lên đáng kể nhưng tỷ trọng thìgiảm xuống, giá trị đóng góp của đầu tư nước ngoài vào GDP khá rõ ràng vàokhoảng 20% Như vậy, chuyển biến của cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn có nhiềudấu hiệu tích cực với sự đóng góp đa dạng, hiệu quả của nguồn vốn rõ nét hơn, và
có sự phát huy ở chừng mực nhất định trong phân bổ vốn
1.1 Vốn đầu tư trong nước
a) Vốn ngân sách nhà nước:
Là nguồn vốn được trích lập từ ngân sách nhà nước chi cho các hoạt động đầu
tư Đây là một nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội củamỗi quốc gia và thường được đầu tư cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vàolĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước
Bảng 1 : Nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn
Đơn vị: tỷ đồng
Giá
thực tế
Tổngsố
Chia ra
Vốn ngân sáchNhà nước
Vốnvay
Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác
Trang 8Nguồn: Tổng cục thống kê.
Theo 2 bảng số liệu trên, ta thấy vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách Nhà nướcchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn từ khu vực Nhà nước Thật vậy, tronggiai đoạn 2005 – 2007, tỷ trọng vốn ngân sách trong tổng số vốn đầu tư của khuvực nhà nước có xu hướng tăng lên từ 43.623% năm 2005 tăng lên 56.65% năm
2008, nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ trọng vốn vay
và vốn của các DNNN cho đầu tư chiếm tỷ lệ nhỏ hơn vốn ngân sách nhà nướctrong đầu tư, điều này cho thấy việc tỷ trọng vốn đầu tư tăng là do nhà nước tăngcường tập trung đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn; cho lĩnh vực giao thông;cho sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo, khoa học và côngnghệ, các chương trình phát triển về văn hoá, xã hội, y tế, xoá đói, giảm nghèo.Xét trong năm 2005, việc thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng khá.Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2005 ước đạt 217 nghìn tỷ đồng,bằng 101% kế hoạch năm và tăng 18,3% so với thực hiện năm 2004, đạt 35,2%GDP (GDP theo giá hiện hành là 616 nghìn tỷ đồng) Đầu tư từ nguồn vốn ngânsách nhà nước ước thực hiện 47 nghìn tỷ đồng, bằng 106,8% kế hoạch năm và tăng16,3% so với thực hiện năm 2004
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2006 ước đạt 258,7 nghìn tỉ đồng, bằng104% kế hoạch năm và tăng gần 19% so với thực hiện năm 2003, đạt 36,3% GDP,trong đó đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ước thực hiện đạt 61 nghìn tỉđồng, bằng 114% kế hoạch năm và tăng 29,7% so với thực hiện năm 2005 Hầu hếtcác Bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước tập trung lớn đều thực hiện đạt hoặc vượt
kế hoạch đề ra như Bộ xây dựng đạt 113%, Bộ GTVT đạt 148%, Bộ thuỷ sản118%, Bộ công nghiệp 116% Nguồn vốn trong nước được bố trí tập trung hơn,nhất là cho các công trình trọng điểm để đưa vào sử dụng và phát huy tác dụngngay trong năm
Trang 9Sang đến năm 2007, tổng số vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN tăng 23.6% sovới kế hoạch năm 2006 Tổng số các dự án nhóm A là 170 dự án với tổng số vốn là21.078 tỷ đồng, bình quân một dự án đầu tư là 124 tỷ đồng (trong năm 2006, dự ánnhóm A là 89 tỷ đồng) Tổng các dự án nhóm B là 3.014 dự án với tổng số vốn đầu
tư là 21.896 tỷ đồng, bình quân một dự án là 7.26 tỷ đồng (vào năm 2006 là 6051
tỷ đồng) Tổng số các dự án nhóm C là 9.646 dự án, bình quân cho mỗi dự án là1.84 tỷ đồng (trong năm 2006 là 1.86 tỷ đồng)
Vào năm 2008, Tổng thu ngân sách Nhà nước đã được ước tính tăng 16,4% sovới năm 2006 và bằng 106,5% dự toán của cả năm, trong đó các khoản thu nội địabằng 107%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 108,1%; thu viện trợ bằng156,7% Riêng thu từ dầu thô ước tính chỉ bằng 102,1% so với dự toán năm vàthấp hơn năm 2007, do sản lượng khai thác dầu thô giảm Bên cạnh đó, tổng chingân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 17,9% so với năm trước và bằng106,5% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 19,2% và bằng103,2%; chi thường xuyên tăng 15,1% và bằng 107,2%; chi trả nợ và viện trợ tăng20,5% và đạt kế hoạch năm Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2007 ước tính bằng14,8% tổng số chi và bằng mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông quađầu năm, trong đó 76,1% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 23,9% từnguồn vay nước ngoài Thực tế, nguồn vốn ngân sách Nhà nước có tác dụng địnhhướng nhằm tạo ra cơ cấu đầu tư ngày càng hợp lý, tuy nhiên hàng năm vẫn phảichi 15% - 17% cho trả nợ trong nước và một phần nợ nước ngoài, đồng thời phảiđảm bảo những khoản chi thường xuyên Vì vậy, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách
còn rất eo hẹp, chỉ bằng 15%-20% tổng nguồn vốn.
Khối lượng thực hiện và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản của một sốngành và địa phương đạt kết quả khá cao Đồng thời, các địa phương đã chủ độnggiảm bớt các dự án khởi công mới tập trung vốn cho các dự án chuyển tiếp, các dự
án hoàn thành, cụ thể số dự án của các địa phương triển khai vào năm 2009 chỉ còn10.276 dự án, ít hơn năm 2005 là 424 dự án, trong đó số dự án hoàn thành chiếm35% tổng số dự án thực hiện
Một ưu điểm nữa trong việc sử dụng vốn Ngân sách đó là về việc thanh toán nợđọng xây dựng cơ bản, đi đôi với việc tập trung vốn cho các công trình hoàn thànhđưa vào sử dụng, nhiều tỉnh thành phố đã chủ động bố trí kế hoạch vốn để xử lý nợxây dựng cơ bản từ các năm trước Theo số liệu báo cáo sơ bộ, trong năm 2006 cácđịa phương đã bố trí 3.406 tỷ đồng (bằng khoảng 25% tổng số vốn đầu tư trong cânđối không kể vốn vốn đầu tư từ nguồn thu về sử dụng đất), thanh toán khối lượng
nợ xây dựng cơ bản của 2.009 dự án Đồng thời, việc chấp hành các thủ tục đầu tư
và xây dựng được thực hiện tốt hơn so với các năm trước đây, nhìn chung các dự
án được bố trí trong kế hoạch năm 2006 đều đảm bảo các thủ tục đầu tư và xâydựng, cũng như các quy định của nhà nước về phân bổ kế hoach vốn đầu tư
Trang 10Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước vẫn còn một số vấn đề tồn tại:
Thứ nhất hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn thấp nhưsau: trước hết là chủ trương đầu tư thiếu rõ ràng, thể hiện ở số lượng dự án nhóm
B, C hàng năm vẫn lớn, dự án nhóm A chậm trễ và bị kéo dài, trong khi bố trí vốncho nhiều dự án ở các địa phương còn phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan củacấp ra quyết định mà không cân nhắc kỹ chi phí, lợi ích và tính hiệu quả của dự án.Vấn đề thất thoát và lãng phí trong đầu tư không được giải quyết mạnh tay
Thứ hai là sự chậm trễ trong việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn Ngânsách Nhà nước và trái phiếu chính phủ Nguyên nhân đầu tiên phải nói đến, đóchính là công việc chỉ đạo, điều hành và quản lý thực hiện dự án của các Bộ,ngành, địa phương còn nhiều hạn chế, đồng thời công tác xây dựng, thẩm định, phêduyệt dự án, tổng dự toán và thiết kế kỹ thuật… vừa chậm trễ, vừa chưa đảm bảoyêu cầu chất lượng; công tác khảo sát ban đầu thiếu chính xác, không xác định đầy
đủ các yếu tố liên quan Thủ tục phê duyệt tổng dự toán, kế hoạch đấu thầu, kếtquả trúng thầu…của một số Bộ, ngành và địa phương còn rất rườm rà và phức tạp.Các quy định hướng dẫn tính toán điều chỉnh chi phí, định mức đầu tư thườngchậm được xử lý của các cấp thẩm quyền và không đồng bộ với các biến động thịtrường, nhiều lúc dẫn đến tình trạng chi vượt dự toán, giảm nguồn thu
Cuối cùng sử dụng vốn ngân sách cho đầu tư còn giàn trải, phân tán; các dự
án còn chậm tiến bộ
Theo tổng hợp của Bộ KHĐT từ 97 cơ quan bộ, ngành, số dự án được quyết
định đầu tư trong năm 2009 là 8.810 dự án, cao hơn số dự án dự kiến kết thúc đưavào hoạt động là 6.598 dự án, cho thấy tình hình đầu tư vẫn dàn trải, phân tán, số
dự án bố trí đầu tư không tương ứng với số dự án đi vào hoạt động Có tới 4.182
dự án vi phạm các quy định về quản lý đầu tư, trong đó phổ biến là các vi phạm vềchậm tiến độ (4.076 dự án, chiếm khoảng 12,7% tổng số dự án thực hiện đầu tư);không phù hợp quy hoạch 51 dự án (0,2%); đấu thầu không đúng quy định 29 dự
án (0,1%); phê duyệt không kịp thời 108 dự án (0,3%), chất lượng xây dựng thấp
149 dự án (0,5%); có lãng phí 94 dự án (0,3%)
Điều đáng nói là tình trạng chậm tiến độ của các dự án vẫn chưa được cải thiệnđáng kể so với mọi năm, trong đó, rất nhiều dự án đầu tư thuộc lĩnh vực kết cấu hạtầng quan trọng Chậm tiến độ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăngchi phí, giảm hoặc không còn hiệu quả đầu tư của các dự án
Đánh giá của các bộ, ngành cũng cho thấy, nguyên nhân của chậm tiến độ các
dự án trong năm 2009 chủ yếu vẫn là do công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, táiđịnh cư khó khăn, tư vấn yếu kém hoặc quá tải; một số đơn vị thi công không đủnăng lực; năng lực tổ chức thực hiện của chủ đầu tư yếu; đơn vị thẩm định, phê
Trang 11duyệt dự án, thiết kế, đấu thầu kéo dài; không đủ vốn; thanh quyết toán chậm;chuẩn bị thủ tục, đấu thầu, xét thầu kéo dài Kết quả là đã có tới 6.478 dự án đầu
tư đang thực hiện phải điều chỉnh, khiến hiệu quả dự án giảm sút rõ rệt
b) Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước:
Là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong phục vụ cho công tác quản lý nhànước và điều tiết nền kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn này, nhà nước khuyến khíchphát triển các ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình Nguồnvốn còn được phân bổ để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội
Bảng 2: Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước
Nguồn: Tổng cục thống kê
Đây là nguồn vốn đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế – xãhôi Nguồn vốn này làm tăng khả năng điều tiết nền kinh tế của nhà nước, khi cáckhoản vay được hoàn trả kèm theo lãi suất thay cho việc cấp phát không Cho nênđầu tư của nhà nước vào những, ngành những lĩnh vưc các vùng trọng điểm, khókhăn sẽ tăng lên và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Với cơ chế đi vay nêndưới áp lực này buộc các chủ thể đầu tư phải tăng cường hoạch toán kinh tế, giámsát chặt chẽ việc sử dụng vốn để đảm bảo khả năng trả nợ
Trong giai đoạn 2005 – 2007, nguồn vốn tín dụng của nhà nước chiếm trungbình khoảng 9,21% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, và khá ổn định Trong nhữngnăm tiếp theo, nguồn vốn tín dụng ưu đãi có khả năng tăng thêm cả về giá trị tuyệtđối và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển
Vốn đầu tư từ nguồn vốn tín dụng của Nhà nước đã được tập trung cho các dự
án quan trọng thuộc các ngành công nghiệp trọng điểm như nhà máy thủy điệnTuyên Quang, nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn ( Thái Nguyên), nhà máy xi măng HạLong ( Quảng Ninh ), nhà máy sản xuất phân đạm DAP ( Hải Phòng)…
c) Vốn đầu tư của Doanh nghiệp nhà nước: - Doanh nghiệp nhà nước phải là
công cụ kinh tế quan trọng để nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình kinh tế
xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới cơ cấu kinh tế theohướng CNH-HĐH
Trang 12- Trong giai đoạn 2005-2007, tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN là 11,7%gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Từ năm 2007-2010, tốc
độ tăng trưởng của DNNN chậm lại nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP củatoàn bộ nền kinh tế, nộp ngân sách chiếm 40% tổng thu của ngân sách nhà nước,tạo việc làm cho trên 1,9 triệu người Một số sản phẩm của DNNN có đóng gópchủ yếu vào cân đối hàng hóa của nến kinh tế như bưu chính, dầu khí,…
- Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các DNNN vẫn làm tốt vai trò là loạihình DN đi đầu, chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế Song càng ngày, tỷ trọngdoanh thu của các DNNN càng giảm Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này sẽ đượclàm rõ trong từng hoạt động đầu tư của DNNN Chúng ta có thể thấy được điều đóqua biểu đồ về doanh thu thuần của DN phân theo loại hình DN:
- Quá trình cổ phần hóa các DNNN theo báo cáo gần đây của Ban Chỉ đạo đổimới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (tháng 5-2006), nước ta đã thực hiện cổphần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 80% số doanh nghiệpmới thực hiện cổ phần hóa từ năm 2005 đến nay
- Từ 2005 đến 2010 số doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá và trở thànhcác công ty cổ phần có vốn nhà nước đã tăng lên khá nhanh cả về số lượng công ty,lẫn năng lực vốn, lao động, tài sản và kết quả hoạt động Theo số liệu điều tradoanh nghiệp hằng năm của Tổng cục Thống kê từ năm 2005 cho thấy, từ số lượngcông ty cổ phần có vốn nhà nước chỉ có 305 doanh nghiệp trong năm 2005 đã lên
470 doanh nghiệp trong năm 2006, tăng 54,1%; lên 557 doanh nghiệp trong năm
2007, tăng 18,7%; lên 669 doanh nghiệp trong năm 2008, tăng 19,9%; lên 815doanh nghiệp trong 2009, tăng 21,8% và lên 1.096 doanh nghiệp trong năm 2005,tăng 34,5% Sau 5 năm đã tăng thêm 791 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước,tăng gấp gần 3,6 lần và bình quân mỗi năm tăng 158 doanh nghiệp, tương ứng vớitốc độ tăng bình quân là 29,8%/năm
- Tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra, CPH DNNN vẫn chưa như mong muốn Sốlượng doanh nghiệp CPH tuy đã tăng đáng kể trong những năm gần đây nhưng sovới yêu cầu vẫn còn hạn chế, tốc độ cổ phần chậm và thời gian thực hiện bị kéodài; Thu hút cổ đông ngoài DN chiếm tỷ lệ thấp mới chỉ đạt 15,4% vốn điều lệ;Những vấn đề trong tư duy nhận thức “ CPH là tư nhân hóa nền kinh tế”; Việc bán
cổ phần ưu đãi cho Công nhân; Những vướng mắc về việc xử lý nợ đọng của DNtrước và sau CPH, vấn đề định giá DN, việc giải thể các DNNN làm ăn kém hiệuquả
d) Vốn đầu tư từ tư nhân và dân cư:
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tíchluỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo ước tính của Bộ Kếhoạch và Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp doanh dân chiếm
Trang 13bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tưgián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư;phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực tiếp vào khoảng 5% GDP và bằng33% số tiết kiệm được Trong giai đoạn 2005-2010, vốn đầu tư của dân cư và tưnhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trong giai đoạn tiếp nguồnnày sẽ tiếp tục gia tăng cả về quy mô và tỷ trọng.
Bảng 3: Tổng tiết kiệm của khu vực dân cư trong giai đoạn từ năm 2005 đến2010:
Năm Tổng tiết kiệm
hộ gia đình(Tỉ VNĐ)
Tỉ lệ tiết kiệm
hộ gia đìnhtrên GDP (%)
Tỉ trọng tiếtkiệm HGĐ trongtổng tiết kiệmnội địa (%)
Tỉ lệ tiết kiệmtrên thu nhậpcác HGĐ (%)
Trong giai đoạn 2005-2010, tiết kiệm của khu vực dân cư được ước tính chiếmkhoảng 11% GDP Nhiều hộ gia đình thực sự đã trở thành các chủ thể kinh tế năngđộng trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp vàtiểu thủ công nghiệp Người ta đánh giá ở mức độ nhất định, các hộ gia đình cũng
sẽ là một nguồn tập trung, phân phối vốn vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Hiện nay nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp nhà nước là chiếm tỷ trọng lớn,nhưng hiềm một nỗi nếu như tình hình hiện nay thì để có 1 đồng thu ngân sách từdoanh nghiệp nhà nước thì nhà nước cũng phải trợ cấp (cả cứng lẫn mềm) choDNNN 1 đồng (ở đây chưa kể đến hoạt động bảo toàn vốn) Hơn nữa, một khi gianhập WTO thì việc trợ cấp này không thể duy trì, và hệ quả là nguồn thu từ doanh
Trang 14nghiệp nhà nước sẽ khó được đảm bảo Ngân sách nhà nước, vì vậy, phụ thuộcngày càng nhiều vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quan trọng là từ thuế docác DN dân doanh đóng góp Như vậy phát triển khu vực kinh tế dân doanh mộtcách bền vững sẽ là một biện pháp rất hiệu quả để đảm bảo ngân sách quốc gia.Các doanh nghiệp dân doanh xét về tính năng động và hiệu quả thì có lẽ chỉ thuacác doanh nghiệp trong khu vực đầu tư nước ngoài Kinh tế dân doanh trong giaiđoạn hiện nay lại là khu vực phát triển nhanh nhất không những đem lại một nguồnvốn lớn cho hoạt động đầu tư mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm Trên thực tế,đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệttrong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triểncông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải trên các địaphương
Mặt khác, trong quá trình hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thìnguồn thu của ngân sách nhà nước sẽ có nhiều thay đổi cơ bản Đó là nguồn thu từthuế xuất nhập khẩu hiện đang chiếm hơn 20% ngân sách sé phải giảm đáng kể dohàng rào thuế quan phải hạ từ mức trung bình ước tính hiện nay la 15-16% xuống0-5% Nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô hiện cũng đang chiếm một tỷ trọng đáng kểlại không ổn định vì phụ thuộc vào biến động của thị trường thế giới và không thểduy trì mãi
Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh ( gồm có doanh nghiệp tưnhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã) đã, đang và sẽ đivào hoạt động thì phần tích luỹ của các doanh nghiệp này sẽ đóng góp đáng kể vàongân sách nhà nước cũng như tổng quy mô vốn của toàn xã hội
Bởi vậy việc nhà nước thực hiện các chính sách để khuyến khích thúc đẩy khuvực kinh tế tư nhân phát triển là một yêu cầu thiết yếu Và trên thực tế trong 20năm thực hiện chính sách đổi mới, Nhà nước liên tục hoàn thiện các chính sáchnhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mạnh dạn bỏvốn đầu tư và phát triển
1.2 Vốn đầu tư nước ngoài
Như chúng ta đã biết, hiện nay Việt Nam đang là 1 thị trường đầy tiềm năng và
có sức thu hút đối với các nhà đầu tư nước ngòai Trong những năm qua, nguồnvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã thu được những con số rất ấn tượng, cótác động nhất định đến nền kinh tế nước ta
Ví dụ cụ thể nhất là trong 2 năm (2006-2007), dòng vốn đầu tư nước ngoài vàonước ta đã tăng đáng kể, đạt 32,3 tỉ USD Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch -Đầu tư, trong năm 2006, cả nước đã thu hút được gần 10 tỉ USD vốn đăng ký mới,tăng 45,1% so với cùng kỳ những năm trước, trong đó có khoảng 800 dự án đượccấp mới, với tổng vốn đăng ký trên 7,6 tỉ USD, tăng 60,8% so với cùng kỳ năm
Trang 152005, và 490 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với số vốn tăng thêmkhoảng 2,4 tỉ USD Đến năm 2007, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục lập kỷlục mới Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho biết, trong năm này, cả nước
đã thu hút được 20,3 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 69,3% so với năm trước,vượt 53,2% kế hoạch dự kiến cả năm (13 tỷ USD) Con số này đã vượt qua kỷ lục
12 tỷ USD của năm 2006 để trở thành kỷ lục lớn nhất từ trước đến nay
a) Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI):
Bảng 4: số liệu cho biết tình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những nămqua:
Đơn vị: triệu USD
Năm Số dự án
số vốnthựchiệnTổng số
Vốn điều lệ
Tổng số Nước
ngoài góp
Việt Namgóp
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trong thời kỳ 2005 – 2010 (tính hết năm 2010), cả nước đã có hơn 9.500 dự ánFDI được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký đạt khoảng 98 tỷ USD (kể
cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn,hiện có hơn 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ USD, trong
đó vốn thực hiện đạt trên 43 tỷ USD, chiếm hơn 52,2% số vốn đăng ký Hơn 82quốc gia và vùng lãnh thổ có các hoạt động đầu tư tại Việt Nam Cơ cấu vốn FDI
hỗ trợ đắc lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, tập trung cho công nghiệp
và xây dựng (68,6% vốn thực hiện); Dịch vụ (24,5% vốn thực hiện) và Nông lâmnghiệp (6,9% vốn thực hiện)
Trang 16Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những đã góp phần mở rộngthị trường ngoài nước, nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt Nam mà còn thúc đẩyphát triển thị trường trong nước và các hoạt động dịch vụ khác Đó là hoạt độngkinh doanh khách sạn, dịch vụ, tư vấn, công nghệ Kim ngạch xuất khẩu khu vựcnày tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Năm 2005, xuất khẩu đạt 1,79 tỷUSD, năm 2006 tăng 10% so với năm trước, năm 2007 tăng 30% và năm 2008 ướctăng khoảng 28% Ước tính giai đoạn 2005-2010 kim ngạch xuất khẩu khu vực nàyđạt trên 10,5 tỷ USD Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của việt Nam, sảnphẩm của các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷtrọng đáng kể, chẳng hạn như giày dép chiếm 42%, dệt may chiếm 25% và hàngđiện tử, linh kiện, máy vi tính chiếm 84% Đặc biệt các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đã tạo nên nhiều ngành nghề, nhiều sản phẩm mới, góp phần tăngnăng lực ngành công nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm100% về khai thác dầu, sản xuất ôtô, máy biến thế 250-1.000 KVA, máy giặt, tủlạnh, điều hoà, máy thu băng, đầu video, nguyên liệu nhựa, sợi Pe và Pes; chiếm50% sản lượng vải; 45% sản phẩm may và 35% về giày dép…
Vốn FDI đã đi đến tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, kể cả những địaphương nghèo, chậm phát triển như Điện Biên, Lai Châu, Đắc Nông,…Vốn FDI
đã đóng góp 18% tổng vốn đầu tư toàn xã hội tạo ra hơn 1,2 triệu việc làm trựctiếp, góp phần chuyển dịch cơ cấu, nâng cao năng lực sản xuất, chuyển giao côngnghệ Nguồn vốn FDI vào Việt Nam được chia ra nhiều khu vực trong nước giúpcho nền kinh tế VN được phát triển mọi mặt về cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ,giúp cho cuộc sống của người dân được cải thiện Đồng thời việc phân bổ vốn vàonhiều khu vực trên lãnh thổ VN giúp cho các khu vực kinh tế phát huy lợi thế củamình khiến cho khả năng cạnh tranh tăng lên rõ rệt
Cơ cấu vốn FDI ngày càng thay đổi phù hợp hơn với yêu cầu dịch chuyển cơcấu kinh tế của đất nước Những năm đầu, vốn FDI tập trung phần lớn vào thăm
dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn du lịch, căn hộ cho thuê (20,6%).Nhưng những năm gần đây, đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất của nền kinh tế(nhất là lĩnh vực công nghiệp) ngày càng gia tăng hiện chiếm 2/3 tổng nguồn vốnđầu tư chung Trong đó, trên 60% số dự án là đầu tư khai thác và nâng cấp các cơ
sở kinh tế hiện có Tỷ trọng lượng vốn đăng ký mới đầu tư vào nhóm ngành côngnghiệp - xây dựng tiếp tục đạt kỷ lục cao nhất, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Thực trạng vốn FDI ở VN trong thời gian qua:
Ta chia làm 4 thời kì
Trang 17- Thời kỳ khởi đầu của FDI 2000 – 2005, với tổng số vốn đăng ký gần 1,6 tỷ USD, vốn thực hiện không đáng kể vì các doanh nghiệp FDI phải hoàn thành thủ tục cần thiết ngay cả khi đã được cấp giấy phép đầu tư
- Thời kì 2005-2007, thời kì này FDI tăng trưởng nhanh và bắt đầu có nhiềuđóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của VN Tính trong hai năm 2005 và 2007,FDI đạt đỉnh cao với khoảng 15,8 tỷ USD vốn đăng ký và gần 6 tỷ USD vốn thựchiện Trước đây, vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 khi khu vực tư nhântrong nước còn non yếu thì sự hiện diện của hoạt động FDI giống như một khu vực
tư nhân nhập ngoại mà đi kèm với nó là nguồn vốn lớn và khoa học công nghệhiện đại Trong quá trình phát triển kinh tế, Việt Nam có đầy đủ điều kiện để trởthành địa điểm thu hút FDI đầy hấp dẫn, đó là: tiềm năng của nền kinh tế thịtrường với hơn 70 triệu dân, tài nguyên đa dạng, giá nhân công thấp, vị trí địa lýthuận lợi…Với điều kiện đó, Việt Nam như một cái “rốn nhỏ” thu các nhà đầu tưquốc tế Lượng vốn FDI vào Việt Nam tăng dần qua các năm và đạt mức cao nhấtvào năm 2005
Vốn FDI trong năm 2005 (5548 triệu USD, giảm gần 50% so với năm 2000,thời điểm cực thịnh về thu hút FDI trong suốt giai đoạn từ 2000 cho tới nay) Sựsuy thoái FDI tiếp tục kéo dài và xuống đến mức thấp điểm là 1558 triệu USDtrong năm 2005 Tất nhiên những yếu tố bên ngoài có thể là nguyên nhân chínhdẫn đến sự xuống dốc này, bao gồm cuộc khủng hoảng tài chính của châu á và thời
kỳ suy thoái kinh tế của khu vực 2005 – 2008, cùng với việc các nhà đầu tư và cácngân hàng giảm bớt việc phân bổ tài sản của họ ở các thị trường mới nổi và cácnền kinh tế quá độ Tuy nhiên sẽ thật thiếu sớt nếu không kể đên các nguyên nhânbên trong của chúng ta Những cản trở lớn nhất đó là luật pháp thiếu đồng bộ,chính sách hay thay đổi, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, quy trình triển khai thực hiệncác dự án chưa phù hợp, thủ tục hành chính quá phiền hà
- Thời kì 2008, lúc này FDI suy giảm mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính tiền tệ Châu Á, tụt xuống mức thấp nhất vào năm 2008 Vốn FDI thực hiệntrong thời gian này chỉ đạt bình quân trên 2,3 tỷ USD/năm
- Thời kì 2008-2010 là thời kì FDI phục hồi và bắt đầu tăng tốc Tổng FDI (gồm
cả vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm) đạt 4,2 tỷ USD năm 2004; và 6,34 tỷ USDnăm 2008, cao nhất kể từ 1998 đến nay FDI đăng ký tăng bình quân một nămtrong giai đoạn 2008-2010 gần 18,8%/năm, FDI thực hiện tăng bình quân6,4%/năm Có nhiều dự án đầu tư vào ngành công nghệ cao, dự án công nghiệp cótrình độ công nghệ hiện đại tạo nên nét mới cho chất lượng của dòng FDI vào ViệtNam Nước ta được xếp vào nhóm nước có cả chỉ số FDI performance và chỉ sốFDI Potential đều cao (nhóm Front-runners), cùng nhóm với Trung Quốc,Hongkong, Singapore; còn Philippines, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Myanmar,Malaysia không được vào nhóm này
Trang 18Chỉ tính riêng năm 2010, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có sự tăngtrưởng vượt bậc, lượng vốn đầu tư đã vượt xa mức dự báo (6,5 tỷ USD) của cảnăm và đạt mức kỷ lục 10,2 tỷ USD, tăng 52% so với năm 2005, đạt mức cao nhất
kể từ năm 1987 khi Việt Nam công bố Luật đầu tư nước ngoài Đồng thời, tổngvốn đầu tư thực tế của nước ngoài vào Việt Nam năm 2010 cũng lập kỷ lục caomới, đạt 4,1 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm 2009
Đến năm 2009, vốn FDI vào Việt Nam vượt quá 19 tỷ USD Đây là một thànhcông lớn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Xuất phát từ
cơ cấu đầu tư năm 2009 rất khả quan, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế chủ chốtnhư công nghiệp, xây dựng, điện tử, viễn thông và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụcông nghệ cao Ngoài ra, các lĩnh vực dịch vụ, hiện đại hóa đô thị, phát triển khucông nghiệp, khu chế xuất, chế biến nông lâm hải sản… cũng được các nhà đầu tưrất quan tâm
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 8 tháng đầu năm 2011, nước
ta đã thu hút 47,1 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (gồm cả vốn cấp mới
và vốn đăng ký tăng thêm), tăng 5 lần so với cùng kỳ năm 2009 và vượt 3 lần sovới kế hoạch của cả năm 2010 Kết quả này đã vượt qua tất cả những kỷ lục và cảnhững dự đoán được xem là lạc quan nhất về nguồn vốn FDI vào nước ta trongnăm 2011 Cụ thể, trong số 772 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, vốnđăng ký tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ với 23,6 tỷ USD, chiếm 50,9%tổng vốn đầu tư; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng là 22,5 tỷ USD, chiếm 48,6%
và 0,5% số vốn còn lại thuộc về lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp Lượng vốn FDInăm 2011 được tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực như: xây dựng văn phòng,căn hộ, khu công nghiệp, khu chế xuất (chiếm 29,66%), dầu khí (chiếm 23,76%),công nghiệp nặng (chiếm 19,47%) và du lịch, khách sạn (chiếm 18,57%) Như vậy,chỉ riêng bốn lĩnh vực này đã chiếm trên 90% tổng lượng vốn FDI được cấp phép,đối với lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Đó là chưa kể, sự phân
bổ của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta trong thời gian vừa quatiếp tục cho thấy những bất cập Thông thường, các dự án chủ yếu chỉ tập trung ởnhững khu vực đồng bằng, trung tâm đã có sự đầu tư khá chu đáo về hạ tầng kỹthuật hoặc những nơi có nguồn tài nguyên phong phú, còn đối với khu vực miềnnúi còn gặp nhiều khó khăn thì hầu như vẫn chưa được chú trọng
Ta có thể tổng hợp lại những mặt tích cực trong tình hình thu hút và sử dụngnguồn vốn FDI như sau, số lượng các dự án FDI đi vào triển khai thực hiện ngàycàng nhiều, vốn thực hiện về cơ bản đều tăng qua các năm Tuyệt đại bộ phận cácđịa phương trong cả nước đều đã có dự án FDI triển khai thực hiện Tiếp đó, tỷ lệgiải ngân so với vốn đăng ký mới luôn duy trì ở mức cao trong giai đoạn từ năm
1997 trở lại đây, tỉ lệ giải ngân năm 2012 đã tăng trên 30% so với năm 2011, đạttrên 5 tỷ USD Vốn đăng ký bổ sung của các dự án FDI đang hoạt động liên tục
Trang 19tăng trong suốt giai đoạn từ năm 2005 đến nay, và luôn chiếm tỷ lệ cao so với vốnđăng ký mới Một số đối tác có tỷ lệ giải ngân cao so với mức bình quân cả nướcgồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông và Hoa Kỳ Ưu điểm tiếp theo là các dự ánđầu tư theo 2 hình thức BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh) và BOT có tỷ lệ giảingân cao hơn mức trung bình của cả nước, đặc biệt các dự án FDI đầu tư theo hìnhthức BCC có số vốn thực hiện cao hơn cả số vốn đăng ký Điều này chứng tỏ các
dự án đầu tư theo hình thức BCC có hiệu quả cao, đã hấp dẫn được các nhà đầu tưnước ngoài thực sự bỏ vốn để đầu tư Các dự án FDI trong ngành Công nghiệp có
tỷ lệ giải ngân cao nhất, đạt mức 68,07%, đây là một tín hiệu tích cực đối với nềnkinh tế Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệ hóa, hiện đại hóa đấtnước
Tuy nhiên, thực trạng về nguồn vốn FDI vẫn nhiều mặt hạn chế Đầu tiên là kếtquả thu hút đầu tư nước ngoài vẫn còn chưa tương xứng với nhu cầu huy động vốnđáp ứng cho tốc độ tăng trưởng đồng thời chưa tương xứng với tiềm năng đấtnước Vốn đầu tư thực hiện tăng qua các năm nhưng tỷ trọng vốn đầu tư nướcngoài toàn xã hội lại có xu hướng giảm dần do mức độ tăng trưởng thấp hơn mứctăng vốn đầu tư trong nước Vốn đăng ký tăng không ổn định qua các năm và nhìnchung theo số tương đối có xu hướng giảm Mặt hạn chế tiếp theo đó là vốn FDIphân bổ chưa hợp lý giữa các nghành và khu vực được đầu tư Đối với các vùngkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tếtrọng điểm là nơi có những lợi thế về kết cấu hạ tầng và tiêu thụ khá hấp dẫn còncác vùng thứ yếu thì chưa được chú trọng đúng mức (cụ thể là TP.HCM, Hà Nộichiếm 75% tổng FDI, còn các nơi khác chỉ nhận được nguồn vốn FDI nhỏ bé nhưvùng duyên hải Nam trung bộ 7,64%, vùng Đông Bắc 4,46%, vùng Đồng bằngsông Cửu Long 2,46% ) Đối với các nghành kinh tế, tập trung chủ yếu vào côngnghiệp, dịch vụ, du lịch khách sạn chiếm 72% tổng FDI trong khi đầu tư vào khuvực nông lâm ngư nghiệp có xu hướng giảm sút nên chưa tương xứng với tầmquan trọng và tiềm năng của vùng FDI được thực hiện trong các nghành sử dụngnhiều vốn và được bảo hộ như ôtô, xe máy, xi măng… trong khi những nghành sửdụng nhiều lao động không được bảo hộ (nông – lâm - ngư nghiệp) lại có ít dự ánnên chưa tạo được nhiều việc làm như mong đợi Việt Nam cũng chưa thu hútđược đáng kể lượng vốn FDI để nâng cấp đường xá, cầu cảng và các cơ sở hạ tầngkhác
Hạn chế tiếp theo chính là việc đầu tư FDI Việt Nam chưa tạo ra sự chuyển biếnmạnh về chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp nước ngoài cho các doanhnghiệp trong nước Công nghệ du nhập thông qua FDI chủ yếu theo hình thứcchuyển giao nội bộ doanh nghiệp còn chuyển giao ngang và dọc giữa doanh nghiệpFDI và doanh nghiệp nội địa còn yếu Theo điều tra của viện quản lý trung ương,56% doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ qua con đường nhập khẩu côngnghệ nước ngoài chỉ có 23% thông qua liên kết với các doanh nghiệp FDI Tốc độ
Trang 20thu hút vốn đầu tư từ các nước có công nghệ cao còn chậm: đầu tư từ các nướcChâu Mỹ và vùng Caribe chiếm 13%, Châu Âu chiêm 21%, còn lại tập trung chủyếu ở các nước Châu Á - 64% Bên cạnh đó, sự liên kết giữa khu vực FDI và kinh
tế trong nước còn hạn chế: công nghiệp phụ trợ cho các ngành vẫn chưa phát triển,chưa đáp ứng được nguyên phụ liệu cho đầu tư chiến lược, điều này hạn chế hiệuứng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế làm khả năng hấp dẫn của môitrường đầu tư thấp hơn, hạn chế tác động lan toả của nền kinh tế, của đầu tư nướcngoài đối với nền kinh tế Sự liên kết giữa khu vực kinh tế nước ngoài với khu vựckinh tế nhà nước thiếu đồng bộ trong cơ chế hợp tác khi có nhu cầu Ngoài khuvực kinh tế nhà nước, khả năng góp vốn của các nhà đầu tư Việt Nam còn hạn chế
Và mặt hạn chế cuối cùng là vẫn còn tình trạng một số dự án kém hiệu quả thua lỗdẫn đến phá sản, trong một số liên doanh còn hiện tượng nhà đầu tư nước ngoài tự
ý thao túng điều hành nhập khẩu những công nghệ quá lạc hậu gây ô nhiễm môitrường và làm những việc không có lợi cho Việt Nam do trình độ quản lý của ViệtNam còn yếu kém
b) Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA.
- Tình hình cam kết vốn ODA cho Việt Nam.
ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách Nhà nước, được sử dụng để hỗ trợthực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ưu tiên
Ngày 9/11/1993, Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ dành cho Việt Nam đã khaimạc tại Paris, đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam với cộng đồng tàitrợ quốc tế Thông qua 14 Hội nghị CG (Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợdành cho Việt Nam), các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho nước ta với tổng lượngđạt 37,011 tỷ USD Mức cam kết năm sau cao hơn năm trước và đạt đỉnh điểmtrong năm 2006 (4,4 tỷ USD) Trong thời kỳ 2005-2007, tổng giá trị ODA cam kết
là 37,011 tỷ USD; tổng vốn ODA ký kết đạt khoảng 27,810 tỷ USD, tương đương75% tổng vốn OĐA cam kết; tổng vốn ODA giải ngân đạt xấp xỉ 17,684 tỷ USD,tương đương 63,54% tổng vốn ODA ký kết
ODA được cung cấp theo dự án hoặc chương trình dưới hình thức viện trợkhông hoàn lại và vay ưu đãi Khoảng 15 - 20% số vốn ODA cam kết nói trên làviện trợ không hoàn lại, hầu hết là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, còn lại một phần nhỏ
là các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ và phi dự án (viện trợ hàng hóa) Cáckhoản vay ưu đãi tập trung cho các dự án đầu tư xây dựng, trong đó có các dự áncấp quốc gia với giá trị hàng trăm triệu đô la Mỹ Ngoài ra, còn có các khoản vaytheo chương trình gắn với việc thực hiện khung chính sách, như khoản vay thể chếtăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của IMF, chương trình tín dụng hỗ trợ giảmnghèo của WB
Bảng 5: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2005 – 2011
Trang 21Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Hội nghị CG thường niên tháng 12 năm 2008 được đánh giá là Hội nghị thànhcông nhất từ trước đến nay trước bối cảnh Việt nam bước vào một giai đoạn pháttriển mới Tại Hội nghị này, Thủ tướng Chính phủ đã đối thoại trực tiếp với cácnhà tài trợ trên tinh thần thẳng thắn, mang tính xây dựng về những vấn đề cùngquan tâm như thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010, pháttriển xã hội và môi trường bền vững, xây dựng nền tảng pháp luật và thể chế, hộinhập quốc tế và khu vực, hài hoà thủ tục và nâng cao hiệu quả viện trợ Các nhàtài trợ đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả sửdụng nguồn vốn ODA Tại Hội nghị này Việt Nam và các nhà tài trợ đã thông quamức cam kết ODA kỷ lục, cao nhất từ trước đến nay là 4,445 tỷ USD và cho thấy
xu thế gia tăng liên tục nguồn vốn ODA cam kết trong suốt thời gian qua
- Cơ cấu vốn ODA theo nhà tài trợ
Hiện nay có 28 nhà tài trợ song phương, trong đó có 24 nhà tài trợ cam kếtODA thường niên (úc, Bỉ, Canađa, Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Italy,Nhật Bản, Hàn Quốc, Lux-xem-bua, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha,Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thái Lan, Anh, Hoa Kỳ, Ailen, ); 4 nhà tài trợ không cam kếtODA thường niên (áo, Trung Quốc, Nga, Singapore) mà cam kết ODA theo từng
dự án cụ thể Ví dụ, gần đây Trung Quốc cam kết cung cấp 85 triệu USD vốn vay
ưu đãi để thực hiện dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn
Hiện có 23 tổ chức tài trợ ODA đa phương cho Việt Nam, bao gồm ADB, WB,JBIC, KFW, AFD, (nhóm 5 ngân hàng), Uỷ ban Châu Âu (EC), Quỹ các nước xuấtkhẩu dầu mỏ (OPEC), Quỹ Kuwait, Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc(UNDP), Quỹ Dân số Thế giới (UNFPA), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc(UNICEF), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế
Trang 22(IFAD), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP), Quỹ môi trường toàn cầu(GEF) và Quỹ Đầu tư phát triển của Liên hiệp quốc (UNCDF), IMF.
Bảng 6 : Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho việt Nam
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ngoài ra còn có trên 350 NGOs ( các tổ chức phi chính phủ ) hoạt động tại ViệtNam, cung cấp bình quân một năm khoảng 100 triệu USD viện trợ không hoàn lại.Trong số các nhà tài trợ, có 3 nhà tài trợ có quy mô cung cấp ODA lớn nhất làNhật Bản, WB và ADB, chiếm trên 70% tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODAđược ký kết trong thời kỳ 2005 - 2007, trong đó Nhật Bản chiếm trên 40%
- Những thuận lợi và khó khăn hiện nay
Một số thực tế có thể dễ thấy ở Việt Nam là trong việc thu hút vốn ODA chúng
ta gặp khá nhiều thuận lợi, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công tác vậnđộng thu hút vốn ODA của Việt Nam đang có nhiều thuận lợi do Việt Nam đượcđánh giá là một trong những nước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất Đến hết quý1/2008, Việt Nam và các nhà tài trợ đã ký kết các hiệp định và dự án ODA vớitổng giá trị trên 369 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó vốnvay đạt gần 342,7 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại gần 26,4 triệu USD.Với đà triển khai tích cực các công trình sử dụng vốn ODA như hiện nay, Bộ Kếhoạch và Đầu tư dự kiến năm nay sẽ giải ngân được khoảng 2,2 tỷ USD, tăng 200