1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)

91 702 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 916,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015 (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ MINH HOÀNG

PHẠM NHIỀU TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI – 2017

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ MINH HOÀNG

PHẠM NHIỀU TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI - 2017

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn

toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày …tháng … năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Việt Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN

CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ 8

1.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự 8 1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự qua các thời kỳ 20 1.3 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới quy định về điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự 30

Chương 2 NỘI DUNG ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN

SỰ 2015 35

2.1 Các hình thức giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 35 2.2 Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 46 2.3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện hình thức 52

Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 62

3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật liên quan điều kiện có hiệu lực về hình thức giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 62 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực

về hình thức của giao dịch dân sự 77

KẾT LUẬN 81

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TAND Tòa án nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để tồn tại và phát triển thì mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ khác nhau Trong đó, mối quan hệ về trao đổi với nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng đóng một vai trò quan trọng, một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội và đây là những tiền đề của phương thức giao dịch dân sự (GDDS) Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, các quan hệ trao đổi về lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân ngày càng đa dạng và phức tạp, chính vì thế việc tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ này được quan tâm nhiều hơn Nội dung của GDDS không thể nằm trong tư tưởng con người mà nó phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Trong một số trường hợp để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người tham gia GDDS và nhằm tăng cường tính pháp chế của Nhà nước trong việc quản lý GDDS thì hình thức được coi là một trong những điều kiện có hiệu lực của GDDS

GDDS là một quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân và là một hành vi pháp

lý trong đời sống xã hội được biểu hiện dưới những hình thức nhất định, như lời nói (bằng miệng), văn bản, bằng hành vi Hình thức của GDDS được xác định tùy thuộc vào từng thể loại giao dịch, nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự, đồng có hiệu lực của hình thức GDDS là một trong những nội dung cơ bản, tạo ra sự ổn định, tính hợp lý, tính hiệu quả của các GDDS Các quy định đó của BLDS đã tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và an toàn cho các chủ thể tham gia GDDS, tạo nên sự ổn định của các quan hệ tài sản trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước, góp phần vào quá trình hội nhập khu vực và thế giới Nếu pháp luật không có những quy định cụ thể, rành mạch sẽ làm cho các chủ thể hoang mang và không tự tin khi tham gia GDDS, thương mại, gây ra

Trang 7

những hậu quả khó lường đối với nền kinh tế - xã hội và có thể tạo ra sự tùy tiện không đáng có trong quá trình áp dụng pháp luật

Trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản trong GDDS ngày càng lớn, đa dạng và phong phú thì vấn đề không tuân thủ đúng quy định về hình thức của GDDS cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp Thực tế là có quá nhiều GDDS vi phạm quy định về hình thức để lại những thiệt hại cho bản thân những người giao kết, người thực hiện cũng như hậu quả để lại cho xã hội là quá lớn Hậu quả đó mang tính diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều mối quan hệ xã hội khác, nhiều đối tượng khác; gây tâm lý hoang mang, nhiều gia đình điêu đứng, đẩy nhiều người đến bước đường cùng Nên việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến những GDDS vô hiệu

về hình thức để tìm ra cách giải quyết, khắc phục sao cho hiệu quả nhất, tránh rủi ro nhất có thể nhằm giảm thiểu thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức cũng như

xã hội là hết sức cần thiết Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay việc

tự do trao đổi, tự do thỏa thuận về hình thức GDDS đã gây ra những hệ lụy khó ngờ đối với một số người thiếu am hiểu về pháp luật thì việc nghiên cứu

về đề tài này càng tăng tính cấp thiết của nó Bộ luật dân sự nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (BLDS 2015) vừa mới ban hành có hiệu lực vào ngày 01/01/2017, nhưng việc hiểu và áp dụng những quy định đó trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến vi phạm liên quan đến không tuân thủ quy định về hình thức của các GDDS cần được quan tâm nhiều hơn nữa Trong thực tiễn thì quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS cũng có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau ở một số bản án giải quyết cùng một loại tranh chấp

Trang 8

Từ những phân tích và lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Điều

kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo bộ luật dân sự 2015”để làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

iện nay, liên quan đến các vấn đề về điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS vẫn đang được các nhà khoa học, các nhà làm luật quan tâm Để nghiên cứu đề tài luận văn, tác giảtìm hiểu các đề tài nghiên cứu, các luận án, luận văn và bài báo khoa học dưới đây:

Phạm Thị Minh Trang (2014), Hình thức GDDS theo pháp luật Việt

Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài

đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hình thức GDDS Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hình thức GDDS; đánh giá thực trạng quy đinh của pháp luật và cách thức giải quyết tranh chấp của

cơ quan có thẩm quyền về hình thức GDDS để từ đó xác định được những điểm cần sửa đổi trong quy định của pháp luật Trên cơ sở những bất cập đã được xác định từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức GDDS [43]

Nguyễn Ngọc Tú Loan (2009), Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân

sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn

đã nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam quy định riêng về hợp đồng dân

sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở pháp luật và thực tiễn của hợp đồng cũng như các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự Nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam quy định về hợp đồng dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự [26]

Trang 9

Ngoài ra, tác giả đã tìm đọc các tài liệu liên quan như: Tác giả Nguyễn Văn Cường (2002) với bài viết về “GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức”; Tác giả Trần Thị Thu Hà (2014), với bài viết “Về hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức”; Tác giả Tưởng Duy Lượng (2015) với bài viết “Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu” hay tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng (2013) với bài viết

“ ợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm về hình thức theo quy định của BLDSViệt Nam 2005 và hướng hoàn thiện”…

Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quí báu giúp tác giả

có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, nhưng các công trình kể trên không nghiên cứu riêng và toàn diện về điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS theo quy định tại BLDS 2015 Bởi

vậy, việc lựa chọn đề tài “Điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS theo

bộ luật dân sự 2015” để làm luận văn thạc sỹcủa tác giả là không trùng lặp

với các công trình khoa học đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quyết định của Bộ luật dân sự hiện hành

và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS ở Việt Nam, đề tài đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS như: làm rõ khái niệm và bản chất pháp lý của vấn đề điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS; nghiên cứu một cách xuyên suốt vấn đề điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ xưa đến nay; phân tích và nghiên cứu về điều

Trang 10

kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS; nghiên cứu khái quát về hình thức là điều kiện có hiệu lực của GDDS khi pháp luật quy định

- Nghiên cứu quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS; đánh giá thực trạng và những điểm thiếu sót, mâu thuẫn trong quy định của pháp luật và cách thức giải quyết tranh chấp của cơ quan có thẩm quyền về điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS để từ đó xác định được những điểm cần sửa đổi, bổ khuyết trong BLDS vềhình thức GDDS

- Trên cơ sở những bất cập đã được xác định từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp phù hợp trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLDS vềvấn đề điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về hình thức GDDS và điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS theo BLDS 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS là vấn đề rất

rộng, nên nội dung của luận văn tập trung nghiên cứu phân tích các quy định

về điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS trong BLDS 2015

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu một phần các quy định liên quan đến

điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS trong pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ

Về không gian: Đề nghiên cứu thực tiễn một số vụ án liên quan đến

điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Trang 11

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp luật liên quan đến hình thức GDDS nói chung, pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống

kê, so sánh, diễn dịch và quy nạp Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở cả 03 chương để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, cũng như đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDS tại Việt Nam Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng thực hiện pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức GDDScả về những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong hoạt động này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật, giải quyết tranh chấp liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS thông qua các bản án tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy pháp luật liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS tại Việt Nam; làm tài liệu nghiên cứu cho tất cả những ai quan tâm, muốn tìm hiểu về vấn đề pháp luật này…

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài tiệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện có hiệu lực về

hình thức của GDDS

Chương 2: Nội dung điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS theo

quy định của BLDS 2015

Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến điều

kiện có hiệu lực về hình thức của GDDStheo quy định của BLDS 2015và một

số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẦN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN

CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ 1.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự

1.1.1 Giao dịch dân sự

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm “Giao dịch” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu một cách đơn giản nhất là sự đổi chác, mua bán [29, tr20] Giao dịch hình thành từ hình thức đơn giản nhất như con người trao đổi sản phẩm do mình làm ra, cho đến ngày nay khi giao dịch được sử dụng với nhiều hình thức biểu đạt và là một công cụ hữu hiệu để cá nhân, tổ chức thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của mình Theo đó thì một cá nhân, tổ chức muốn tồn tại và phát triển trong

xã hội phải tham gia vào các giao dịch nhất định để trao đổi và dịch chuyển các lợi ích với nhau

Với vị trí và ý nghĩa quan trọng như vậy, nên GDDS nhanh chóng được đưa vào hệ thống pháp luật của các quốc gia để nhằm ổn định, giữ trật tự cho nền kinh tế phát triển Có thể thấy rằng, một xã hội phát triển luôn phải đặt ra nhu cầu hoàn thiện và phát triển chế định giao dịch Điều này được thể hiện rõ nét trong hệ thống pháp luật của Việt Nam từ khi hình thành cho đến nay Tuy thuật ngữ “GDDS” chưa được thể hiện từ những ngày đầu của lịch sử lập pháp Việt Nam nhưng trong các văn bản cổ luật đã tìm thấy các thuật ngữ có

ý nghĩa tương đương hoặc thể hiện bản chất của việc giao dịch như: khế ước hoặc mua, bán, cho, cầm hoặc hành vi thể hiện ý chí của con người nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà không phụ thuộc vào

ý chí bên kia như hành vi lập di chúc…

Đối với thế giới, sự phát triển của “GDDS” tại mỗi quốc gia có những đặc thù riêng Nét chung nhất có thể nhận thấy được là vị trí của chế định

Trang 14

GDDS ngày càng được nâng cao và chú trọng Tuy nhiên, tùy theo tình hình phát triển kinh tế xã hội ở một đất nước mà GDDS lại được quy định ở những khía cạnh, góc độ khác nhau

Chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống luật pháp của các quốc gia nên GDDS cũng có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau Ở Việt Nam khái niệm GDDS được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều góc độ Có nhà khoa học cho rằng: “GDDS là hành vi được thực hiện nhằm thu được kết quả nhất định và pháp luật tạo điều kiện cho kết quả trở thành hiện thực” [4, tr66], đồng thời cũng có cách hiểu khác theo nghĩa chủ quan như: “Giao dịch là một

sự kiện pháp lý, bao gồm hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương (giao dịch) làm phát sinh hậu quả pháp lý” [4, tr67] Tác giả đồng tình với cách lý giải GDDS theo nghĩa chủ quan này Bởi nó mang tính khái quát cao nhất bản chất của GDDS

Trong nghiên cứu của luận văn, đề tài sử dụng khái niệm GDDS

theoĐiều 116,BLDS 2015 như sau: “GDDS là giao dịch (thay giao dịch bằng

hợp đồng) hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [7, tr33]

1.1.1.2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Điều kiện có hiệu lực của GDDS là điều kiện mà các bên khi ký kết các giao dịch phải tuân thủ thì giao dịch mới có hiệu lực, nếu không tuân thủ thì giao dịch sẽ vô hiệu Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả thuận của các bên trong giao dịch thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân thủ theo đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch Mọi cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và được pháp luật bảo hộ

Theo Điều 117, BLDS 2015 thì điều kiện có hiệu lực của GDDS như sau [7, tr33]:

Trang 15

- GDDS có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với GDDS được xác lập;

+ Chủ thể tham gia GDDS hoàn toàn tự nguyện;

+ Mục đích và nội dung của GDDS không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

- Hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của GDDS trong trường hợp luật có quy định

Vậy để hiểu rõ các quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS tác giả xin phân tích một số khái niệm nêu ra trong Điều luật bao gồm: điều kiện về chủ thể, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, nội dung, mục đích và hình thức của GDDS được quy định trong từng trường hợp

(1)Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với GDDS được xác lập

Chủ thể của GDDS là những người tham gia xác lập, thực hiện giao dịch hoặc một hành vi pháp lý đơn phương, có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ GDDS và phải chịu trách nhiệm về thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó

Để tham gia xác lập, thực hiện một GDDS, pháp luật có quy định chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định Theo đó, yêu cầu về chủ thể tham gia giao dịch phải có “năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự” cả hai yếu tố này là một trong những điều kiện tiên quyết để GDDS có hiệu lực Trong đó năng lực pháp luật là quyền xử sự của chủ thể được ghi nhận và được phép thực hiện Năng lực hành vi là khả năng tự có của chủ thể trong việc thực hiện, kiểm soát và làm chủ hành vi của mình Cụ thể theo quy định tại Điều 16 và Điều 19 của BLDS quy định rất rõ ràng về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Trang 16

Thuật ngữ “chủ thể” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự: cá nhân (là con người cụ thể), pháp nhân (một tổ chức tồn tại theo một hình thức nhất định), hay cũng có thể là hộ gia đình và tổ hợp tác (BLDS 2015 đã bỏ chủ thể này)nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – một chủ thể đặc biệt

Đối với chủ thể là cá nhân: GDDS do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực pháp luật nếu phù hợp với mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân Mặt khác, thuật ngữ “cá nhân “ bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài Trong phạm vi bài viết này tác giả xin phép chỉ bàn về năng lực chủ thể của cá nhân là công dân Việt nam nhằm xác định rõ khi cá nhân tham gia một GDDS thì trường hợp nào được coi là đủ năng lực chủ thể, trường hợp nào được coi là chưa đủ năng lực chủ thể Như trên đã đề cập, cá nhân khi tham gia và giao dịch chỉ được coi là có đủ năng lực chủ thể khi họ có năng lực pháp luật Dân sự và có năng lực hành vi Dân sự, Điều 16 BLDS 2015 đã ghi nhận năng lực pháp luật Dân sự cá nhân như sau: “1 Năng lực pháp luật Dân sự cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền Dân sự và có nghĩa vụ Dân

sự 2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật Dân sự giống nhau 3 Năng lực pháp luật Dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” [7]

+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Trừ các trường hợp bị tòa án tuyên bố mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác lập mọi GDDS Lúc này, họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của mình

Như vậy, có thể hiểu năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là phạm vi các quyền mà bằng pháp luật nhà nước đã ghi nhận cho công dân mình Theo quy định tại Điều 18 BLDS thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không

bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định Vì thế mọi cá nhân đều

Trang 17

được coi là đủ năng lực pháp luật dân sự khi tham gia GDDS, ngoại trừ những trường hợp cá nhân đó đã bị pháp luật hạn chế một số quyền nào đó vốn là mục đích của giao dịch mà cá nhân đó tham gia

Năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân đã được BLDS 2015 định nghĩa tại Điều 19 như sau: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”[7] Dựa vào sự phù hợp giữa khả năng nhận thức, kiểm soát, làm chủ hành vi với các hành vi mà cá nhân thực hiện thì năng lực hành vi dân sự của

cá nhân được xác định theo nhiều mức độ khác nhau như: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Đối với người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều

20 BLDS 2015 là người thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên trừ trường hợp bị tòa

án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền tham gia vào mọi GDDS để xác định cho mình hoặc cho người đại diện các quyền và nghĩa vụ dân sự cũng đồng thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lí

mà họ thực hiện Tuy nhiên không phải cứ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì có thể tham gia mọi GDDS mà pháp luật có quy định hạn chế quyền tự định đoạt của những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi tham gia vào một số quan hệ giao dịch nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện như: bán trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ mà không được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ Những giao dịch không nằm trong phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại

Trang 18

diện Bên cạnh đó người có năng lực hành vi dân sự có thể ủy quyền cho người đại diện cho mình tham gia quan hệ giao dịch trừ trường hợp pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó

Theo khoản 3 Điều 21 BLDS 2015 [7], người từ đủ sáu tuổi đến chưa

đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện GDDS phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ GDDS phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Tuy nhiên pháp luật cũng quy định trường hợp riêng cho những người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tự mình xác lập, thực hiện GDDS, trừ GDDS liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và GDDS khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý

Đối với cá nhân chưa đủ 6 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự đều không được phép thực hiện các GDDS, mọi GDDS của những người này đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật xác lập và thưc hiện Quy định này được nêu rõ tại Khoản 2 Điều 21 và Khoản 2 Điều 22 của BLDS

2015 [7]

- Đối với chủ thể là pháp nhân:

Pháp nhân là chủ thể của GDDS theo Điều 74 BLDS 2015 quy định một tổ chức được thừa nhận là pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là một chủ thể độc lập thì phải có các điều kiện: “được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân,

tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” [7] Các pháp nhân là chủ thể đầy đủ của quan hệ pháp luật dân sự, có năng lực chủ thể mang tính chuyên biệt, được tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch phù hợp với mục đích và phạm

vi hoạt động của pháp nhân Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân được thể hiện trong điều lệ, hoặc quyết định thành lập của pháp nhân (Điều

77 BLDS)

Trang 19

Pháp nhân khi tham gia giao kết GDDS phải thông qua hành vi của người đại diện Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật có thể đại diện theo ủy quyền (Điều 137, Điều 138 BLDS) Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; hoặc người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của BLDS

(2) Chủ thể tham gia GDDS hoàn toàn tự nguyện

Chủ thể của GDDS có thể là cá nhân, tổ chức nhưng người trực tiếp tham gia giao dịch bao giờ cũng là con người cụ thể Dù với tư cách cá nhân hay với tư cách đại diện cho pháp nhân thì người tham gia giao dịch cũng phải hoàn toàn tự nguyện, chỉ có hoàn toàn tự nguyện trong việc thỏa thuận xác định nội dung của giao dịch thì các chủ thể mới đạt được mục đích từ giao dịch đó

Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp từ GDDS việc xác định như thế nào thì bị coi là giao dịch được giao kết không có sự tự nguyện của người tham gia giao kết giao dịch là việc hết sức khó khăn Vì vậy, về nguyên tắc khi giao dịch đã được giao kết thì được coi là có sự tự nguyện giữa các bên Người nào cho rằng giao dịch đó không có sự tự nguyện trong giao kết thì phải chứng minh rằng giao dịch đó được giao kết trong các trường hợp cụ thể như là:

Thứ nhất, GDDS giả tạo: là GDDS được lập ra nhưng không phản ánh

đúng bản chất của quan hệ đích thực giữa các bên, thể hiện ở việc các bên xác lập hợp đồng để che đậy một giao dịch khác hay một hành vi trái pháp luật của một hoặc các bên Nói cách khác, GDDS giả tạo là GDDS “mà trong đó,

Trang 20

việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia”

Thứ hai, Giao dịch giao kết do bị đe dọa là hành vi cố ý của một bên

hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình Sự đe dọa thường được hiểu là việc một bên cố ý gây ra sự sợ hãi cho bên kia bằng hành vi bạo lực vật chất hoặc sự khủng bố tinh thần, làm bên kia tê liệt ý chí hoặc làm mất khả năng kháng cự nên đã xác lập giao dịch trái với nguyện vọng đích thực của họ hoặc giao dịch giao kết do bị lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của GDDS nên đã xác lập giao dịch đó Biểu hiện của sự lừa dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khiến cho bên kia tin vào các thông tin đó mà xác lập hợp đồng bất lợi cho họ hoặc trái với nguyện vọng đích thực của họ

Hay giao dịch giao kết do nhầm lẫn là sự không trùng hợp ý chí được thể hiện với mong muốn thật sự của người thể hiện ý chí Hay nói cụ thể hơn,

đó là việc một hoặc các bên hình dung sai về sự việc, chủ thể, đối tượng hoặc các nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch trái với ý nguyện đích thực của mình Ví dụ: người mua bảo hiểm tưởng là khi mua bảo hiểm thì được hưởng tiền bảo hiểm trong mọi trường hợp có rủi ro, nhưng thực tế là điều khoản bảo hiểm đã có những loại trừ nên một số loại rủi ro sẽ không được bảo hiểm Pháp luật Việt Nam chỉ chấp nhận hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng

(3)Mục đích và nội dung của GDDS không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

Trang 21

BLDS năm 2015 thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận (Điều 3) Nhưng để bảo vệ quyền và lợi ích nhân dân BLDS năm 2015 cũng quy đinh một số trường hợp hạn chế quyền tự do của các bên trong việc thiết lập hợp đồng Theo đó, nội dung và mục đích của hợp đồng (GDDS) “không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội”[7], hợp đồng (GDDS) có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu (Điều 123)

Nội dung của hợp đồng là tổng hợp quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia hợp đồng được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng Mục đích của GDDS (hay hợp đồng) là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó (Điều 123)

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Và đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng (Điều 128) Vì vậy, một hợp đồng muốn được coi là có hiệu lực pháp luật thì hợp đồng đó chỉ lưu thông trao đổi các tài sản được phép giao dịch hoặc thực hiện các công việc không bị pháp luật cấm và không phạm vào sự ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Những giao dịch xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những giao dịch có mục đích và nội dung không hợp pháp, không làm phát sinh hiệu lực của GDDS đó

(4) Hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của GDDS trong trường hợp luật có quy định

GDDS có thể thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi

cụ thể Người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức cho giao dịch đó Trong trường hợp pháp luật có quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì phải

Trang 22

tuân theo quy định đó Chẳng hạn như giao dịch mua bán nhà, chuyển quyền

sử dụng đất

Như vậy, GDDS chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên (tuân thủ về mặt hình thức nếu pháp luật có quy định) Nếu thiếu 1 trong các điều kiện trên, GDDS có thể thuộc các trường hợp bị vô hiệu theo pháp luật như: vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; vô hiệu

do giả tạo; vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện;…

Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của GDDS là tổng hợp những yêu cầu

pháp lý nhằm đảm bảo cho GDDS được lập đúng bản chất đích thực của nó Đây là những điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho giao dịch được xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên Theo BLDS 2015 thì có bốn điều kiện để một GDDS có hiệu lực, khi giao dịch không tuân thủ các điều kiện này thì giao dịch có thể bị vô hiệu không thực hiện được Tuy nhiên các điều luật về vấn đề này trong pháp luật Việt Nam còn có nhiều bất cập, các nhà làm luật cần hoàn thiện hơn nữa về chế định này để cho luật GDDS của chúng ta đầy đủ và rõ ràng hơn nữa để đúng là hành lang pháp lí an toàn cho các bên khi tham gia GDDS

1.1.2 Hình thức giao dịch dân sự

Theo nghĩa thông thường, hình thức là “toàn thể nói chung những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện nội dung” Trước hết, hình thức được hiểu là: “cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung” [29, Tr809] Hay nói cách khác hình thức nhằm biểu đạt nội dung, nếu nội dung không được thể hiện bằng một hình thức nhất định thì nội dung mãi chỉ là ý chí, mong muốn trong tiềm thức của con người Với đặc điểm như vậy hình thức có một ý nghĩa khá quan trọng trong thế giới khách quan

Trang 23

Hình thức của GDDS có vai trò là sự công bố ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, là cách thức để truyền đạt thông tin với chủ thể không tham gia

về sự xác lập giao dịch Đồng thời, hình thức GDDS ngoài việc là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch dưới một dạng vật chất nhất định Một trong những đặc điểm của GDDS là sự thống nhất giữa ý chí (yếu tố bên trong) và bày tỏ ý chí (sự thể hiện ý chí ra bên ngoài) của các chủ thể tham gia GDDS Sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: bằng lời nói, bằng hành vi, bằng văn bản

Tóm lại, theo tác giả thì khái niệm hình thức GDDS được hiểu như sau:

“ ình thức GDDS là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung GDDS” Thông qua các biểu hiện này có thể hiểu được nội dung của GDDS Tại Điều 119 BLDS 2015 có quy định về hình thức GDDS như sau: “GDDS được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể GDDS thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản…Trường hợp luật quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó” [7]

1.1.3 Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự

Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và hình thức GDDS mà pháp luật dân sự có những yêu cầu khác nhau về điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ cần các bên thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên là giao dịch đó có hiệu lực Tuy nhiên, có loại giao dịch không đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của hai bên mà chỉ cần 1 bên bày tỏ ý chí bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể ví dụ như viết di chúc Song có những loại giao dịch pháp luật bắt buộc các bênphải thể hiện bằng văn bản và còn có trường

Trang 24

hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền Theo quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chỉ trong những trường hợp có quy định của pháp luật về loại giao dịch nào đó phải tuân theo những hình thức nhất định và hình thức đó là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì hình thức của giao dịch mới trở thành một điều kiện bắt buộc để giao dịch đó có hiệu lực

Có nhiều cách hiểu khác nhau về “Điều kiện có hiệu lực về hình thức

của giao dịch dân sự”

Điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS là khi pháp luật đã quy định hình thức của giao dịch là một điều kiện bắt buộc thì khi các bên vi phạm điều kiện về hình thức thì giao dịch sẽ vô hiệu

Theo cách hiểu trên thì khi pháp luật đã quy định một loại giao dịch nào đó phải tuân theo một hình thức nhất định mà vi phạm điều kiện về hình thức đều vô hiệu Cách hiểu này sẽ không bao trùm được hết các quy định liên quan đến các trường hợp vi phạm hình thức GDDS nhưng không vô hiệu (Quy định tại Điều 129, của BLDS 2015)

Trên cơ sở khái niệm về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, hình thức GDDS và điều kiện có hiệu lực của GDDS, đề tài đưa ra khái niệm về

điều kiện có hiệu lực về hình thức của các GDDS như sau: Điều kiện có hiệu

lực về hình thức của GDDS là điều kiện về hình thức của GDDS mà các bên thực hiện khi lựa chọn và ký các GDDS mà các bên phải tuân thủ thì GDDS mới có hiệu lực, nếu không tuân thủ thì giao dịch sẽ vô hiệu theo quy định của pháp luật

Như vậy, có một số loại giao dịch đơn thuần, chủ thể tham gia giao dịch có thể lựa chọn bất kỳ hình thức giao dịch nào Nhưng đối với những GDDS đặc biệt thì pháp luật đã quy định giao dịch đó phải tuân thủ theo một hình thức nhất định

Trang 25

Theo nhận định của tác giả thì quy định về hình thức GDDS tại BLDS

2015 là khá phù hợp so với thực tiễn giao kết thời điểm hiện nay Các nhà làm luật đã chú trọng đến hình thức mới của GDDS trong thời kỳ hiện đại như: hình thức thông điệp dữ liệu (telex, fax…), mở rộng hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch tự do lựa chọn hình thức giao dịch phù hợp với mình, bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể xác lập quan hệ giao dịch cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; góp phần bảo đảm sự ổn định của quan hệ thị trường

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến điều kiện có hiệu lực

về hình thức của giao dịch dân sựqua các thời kỳ

1.2.1 Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự trong các đạo luật thời phong kiến

1.2.1.1 Quốc triều hình luật

Theo sử gia Phan Huy Chú thì Quốc triều hình luật là mẫu mực để trị nước, cái khuôn pháp để buộc dân Đây là bộ “ ình luật” chính thức và quan trọng nhất của Triều đại nhà Lê (1428-1788) Theo các nhà khoa học pháp lý, tuy Quốc triều hình luật là bộ “Hình luật” nhưng lại có nhiều quy định về di chúc - những hoạt động đặc trưng của GDDS

Trong Quốc triều hình luật không sử dụng khái niệm “khế ước” như một số bộ luật thời kỳ phong kiến khác mà thường dùng khái niệm cụ thể như mua, bán, cho… hoặc đặc biệt hơn là “văn khế” Ví dụ theo Điều 76 “Bán mắm muối cho người nước ngoài thì bị lưu đi châu xa” [50]…

Phân loại khế ước trong các quy định gồm có hai loại: miệng (tức là khẩu ước) và khế ước bằng văn bản (tức là văn khế) Theo quốc triều thư khế thể thức, một số loại khế ước liên quan đến ruộng đất, trâu bò (sức kéo), nhà cửa, tàu bè bắt buộc phải lập văn bản Còn những đối tượng khác không quy

Trang 26

định trong tập văn bản này [50].Như vậy, đối với những loại tài sản như lúa gạo, phân bón hay nhu yếu phẩm hàng ngày có thể được giao kết bằng miệng

Đối với hình thức của các giao dịch được quy định trong Quốc triều hình luật khá chi tiết Có thể thấy rằng, về nguyên tắc với những giao dịch đơn giản trong cuộc sống hàng ngày như mua bán tài sản có giá trị thấp, ít quan trọng: mua bán thực phẩm với số lượng ít, mua bản lương thực với số lượng ít thì không cần lập văn tự Người mua và người bán có thể tự do thỏa thuận bằng lời nói

Đối với các giao dịch với giá trị tài sản lớn như: mua bán đất, nhà, ruộng vườn… Quốc triều hình luật đã quy định rõ ràng về hình thức giao dịch Để đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong các giao dịch, Quốc triều hình luật đã ban hành một số quy định mang tính khuyến cáo đối với người dân như: “văn tự là bằng chứng để chứng minh khi xảy ra tranh chấp” (Điều 366), đây là điểm khá tiến bộ của luật pháp thời kỳ này [50]

Tuy nhiên Bộ luật chỉ quy định văn tự chỉ lập một bản và do một bên giữ Đây là điểm hạn chế trong thời kỳ phongkiến và gây khó khăn cho việc chứng minh cũng như bảo về quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể khi xảy ra tranh chấp

Trong xã hội phong kiến trình độ dân trí còn thấp, có khá đông người dân chưa biết chữ, do vậy bộ luật cũng đã quy định đối với người giao kết không biết chữ thì có thể nhờ người khác viết thay Và việc viết thay văn tự phải có người chứng kiến để đảm bảo khách quan, đúng nội dung đã thỏa thuận Những người viết thay phải ký vào văn tự Quy định này đã chứng minh tính khoa học và tiến bộ của luật pháp thời nhà Lê, bảo vệ sự công bằng cho người không biết chữ Trong xã hội hiện đại, GDDS nếu không tuân thủ những điều kiện về hình thức thì các giao dịch sẽ bị coi là vô hiệu, nhưng dưới thời phong kiến chế tài còn bao gồm cả hình phạt đánh và phạt tiền

Trang 27

Theo Điều 366 Quốc triều hình luật có quy định cụ thể như sau: “những người làm di chúc hay văn khế mà không nhờ các quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến thì phải phạt 80 trượng và phạt tiền tùy theo việc nặng, nhẹ Chúc thư hay văn khế ấy sẽ không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được” [50] ay quy định “khi tập thể khế ước phải chờ quan trưởng trong làng viết hộ và làm chứng, trừ trường hợp các bên biết chữ thì tự lập lấy” Pháp luật nhà Lê không quy định rõ trường hợp nào khế ước được ký kết bằng miệng hay bằng văn bản (văn khế) Tuy nhiên theo quy định trong Quốc triều thư khế thể thức thì đối tượng của hợp đồng là ruộng đất, trâu, bò, ngựa, thuyền bè hay văn khế vay mượn đều phải lập văn bản theo mẫu chung Những đối tượng khác của khế ước có thể được giao ước bằng miệng hay văn khế tùy theo sự thỏa thuận giữa các bên Nhưng trong một số trường hợp cụ thể như mua bán nô tỳ, ngoài việc lập khế ước theo mẫu còn có sự xác lập nhận hay cho phép của quan trong làng xã thì việc mua bán mới hợp pháp

Không chỉ chú trọng đến mặt hình thức của GDDS, Quốc triều hình luật còn quy định một số giao dịch phải tuân thủ về mặt trình tự nhất định, thể hiện sự quản lý chặt chẽ của chế độ phong kiến Ví dụ: việc mua nô tỳ phải được lập thành văn tự Sau đó phải trình quan để xét hỏi lại (Điều 363)

Những quy định tiến bộ về điều kiện và hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật Hình thức hợp đồng là phương tiện để các bên chủ thể triển khai nội dung của hợp đồng, là cách thức để các chủ thể bày tỏ ý kiến của mình Quốc triều thư kế thể thức, các hợp đồng có liên quan đến ruộng đất, nô tỳ, thuyền be…, đều phải lập văn bản những đối tượng khác của hợp đồng (không bắt buộc phải lập văn bản) thì do chủ thể thỏa thuận, lựa chọn hình thức So với hợp đồng bằng miệng, hợp đồng bằng văn bản có nhiều điều kiện chặt chẽ hơn

1.2.1.2 Bộ luật Gia Long

Trang 28

Bộ luật Gia Long là bộ luật chính thức của Việt Nam thời kỳ đầu nhà Nguyễn được ban hành năm 1813 và chính thức áp dụng năm 1815 gồm 22 quyển, 398 điều Trong phần những quy định về dân sự có phần quy định về chế độ tư hữu ruộng đất: việc mua bán chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của cả hai bên, các điều khoản thỏa thuận đã tạo điều kiện cho ruộng đất tư phát triển Trong thời kỳ này không có khái niệm về giao dịch, chỉ nêu ra các loại khế ước chung như: mua, bán, cho thuê, cho vay…và chế định về thừa

kế

Về nguyên tắc, các bên có thể lựa chọn hình thức của khế ước Cũng giống như Quốc triều hình luật, đối với những vật có giá trị lớn như: ruộng, đất, trâu, bò, nhà ở… hoặc một số tiền lớn thì các bên thường lập thành văn khế để làm bằng chứng và do người trái chủ giữ Đối với sự vay nợ đơn thuần, hình thức của khế ước chỉ cần là sự vay miệng, không làm giấy tờ, nếu

số tiền hoặc số thóc cho vay không quá lớn, đặc biệt là vay ngắn hạn Quy định về thừa kế: có hai hình thức thừa kế được công nhận là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo luật [37]

1.2.2 Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sựthời kỳ pháp thuộc

Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta vào năm 1858, vua quan nhà Nguyễn đã thỏa hiệp và đầu hàng Đất nước ta bước vào thời kỳ bị thực dân Pháp đô hộ Chúng ta đã ban hành 03 BLDS áp dụng cho ba miền của nước ta là: Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ (ban hành năm 1883), Bộ dân luật Bắc Kỳ (ban hành năm 1931), Bộ luật Hoàng Việt Trung Kỳ (ban hành năm 1936) Các bộ luật trong thời kỳ Pháp thuộc cũng chưa đề cập đến khái niệm GDDS Định nghĩa khế ước vẫn được sử dụng rộng rãi trong văn bản pháp luật và trong nhân dân Theo Điều 680 của Bộ luật Hoàng Việt Trung kỳ đã đưa ra khái niệm pháp lý về khế ước như sau: “khế ước là một hiệp ước của một

Trang 29

người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì” [1] Thông qua khái niệm này khế ước thực chất là sự thỏa thuận giữa ít nhất hai hay nhiều người để xác lập quyền, nghĩa vụ tài sản từ người này sang người khác, để làm một việc hoặc không làm một việc cụ thể Có thể thấy rằng khái niệm khế ước này có bản chất tương đương với khái niệm hợp đồng trong BLDS hiện hành

Pháp luật dân sự trong thời kỳ này không có quy định riêng rẽ về mặt hình thức cũng như điều kiện có hiệu lực của khế ước Tuy nhiên, đối với một

số loại khế ước thì các nhà làm luật vẫn quy định dưới những hình thức nhất định cho các loại giao dịch cụ thể Có thể xem xét một số loại khế ước dưới đây:

Khế ước sinh thời tặng dữ được quy định tại Điều 951 của Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ: “sinh thời tặng dữ là một khế ước do bên tặng chủ bỏ đứt ngay một tài sản gì để cho bên người thụ tặng nhận lấy” [1] Theo quy định của Bộ Hoàng Việt Trung kỳ đã có sự phân biệt về hình thức của khế ước tặng dữ giữa động sản và bất động sản Đối với động sản thì phải được lập thành văn bản có viên chức thị thực trước mặt người thụ tặng và người này phải đồng ý mới có hiệu lực Đối với việc tặng dữ vật là động sản hoặc tiền bạc thì không đòi hỏi phải có hình thức khế ước nhất định vì có thể trao tay vật mà không cần lập thành văn bản Có thể thấy quy định này rất gần so với quy định của BLDS hiện hành về việc cho tặng bất động sản Bởi lẽ, bất động sản là vật có giá trị lớn, việc có sự làm chứng của viên chức thời bấy giờ hoặc công chứng viên thời nay giúp đảm bảo công bằng cho các chủ thể tham gia giao dịch

Pháp luật về thừa kế được quy định trong các bộ dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ Theo quy định tại Hoàng Việt Trung kỳ thì hình thức của chúc thư được quy định như sau: “Việc lập chúc thư phải bằng văn bản

Trang 30

hoặc do viên quản lý văn khế làm ra hoặc có công chứng thị thực Chúc thư không có người thị thực phải do người lập di chúc viết giấy và ký tên, nếu người lập chúc thư không thể viết được và đọc cho người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người đã thành niên trở lên làm chứng, thông thường một trong hai người đó là lý trưởng” [1] Như vậy việc quy định về điều kiện có hiệu lực về hình thức của chúc thư trong thời kỳ này đã khá chặt chẽ, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người để lại di sản và người được thừa kế

1.2.3 Điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự từ 1945 đến khi Bộ luật dân sự 2005 ra đời

1.2.3.1 Quy định liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự từ thời kỳ 1945 đến trước năm 2005

Năm 1945 đất nước ta giành được độc lập và ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập và thống nhất từ miền Bắc tới miền Nam Trong lúc đất nước còn bộn bề rối ren và khó khăn, chưa có điều kiện để ban hành tất cả các luật mới thay thế những bộ luật cũ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 90/SL cho phép tạm thời sử dụng một số luật lệđã ban hành ở Bắc Trung Nam với điều kiện những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam Do vậy và văn bản pháp luật dân sự từ thời Pháp thuộc vẫn được tiếp tục sử dụng

Cho đến thời kỳ nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã có hàng loạt các văn bản ra đời điều chỉnh các quan hệ GDDS, phải kể đến hàng loạt các văn bản như: Pháp lệnh hợp đồng dân sự có hiệu lực ngày 1/7/1991; Pháp lệnh nhà ở ngày 26/3/1991; Pháp lệnh thừa kế ngày 10/9/1990… Trong thời kỳ này thuật ngữ “khế ước” đã được thay thế bằng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” Theo đó thì hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi

Trang 31

hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua, bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng (49, Điều 1) Đồng thời hình thức của hợp đồng cũng được quy định thành một điều luật riêng rẽ tại Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 như sau:

“…các bên có thể giao kết hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản; đối với các loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản, đăng ký hoặc có chứng thực của cơ quan công chứng nhà nước, thì các bên phải tuân thủ theo các quy định đó” [30] Đây là một quy định khá chặt chẽ về mặt điều kiện có hiệu lực về mặt hình thức của GDDS và có nhiều điểm tương đồng với BLDS hiện hành

Đối với vấn đề thừa kế tại Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đã có những quy định khá chi tiết, cụ thể đối với hình thức của di chúc, tại Điều 14 quy định: “…Người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản di chúc; người lập di chúc có thể tự viết hoặc nhờ người khác viết bản di chúc, nhưng người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ trước mặt người có trách nhiệm chứng thực của cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn;…Người có trách nhiệm của cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân chứng thực vào bản di chúc trước mặt người lập di chúc, người chứng kiến” [30]

Có thể nhận thấy rằng, tại Pháp lệnh thừa kế số 1990 khá chú trọng tới hình thức của di chúc Không chỉ ở việc di chúc phải được lập thành văn bản

mà còn cần tới sự chứng thực của cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, nếu để các quy định về dân sự nói chung hoặc GDDS nói riêng rải rác ở các văn bản pháp luật sẽ tạo ra sự thiếu sót và không đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật dân sự Đồng thời, để thúc đẩy giao lưu dân sự, phát triển nền kinh tế thì sự ra đời của BLDSlà cần thiết

Trang 32

Vì vậy, nhà nước ta đã ban hành BLDS năm 1995 để xóa bỏ những quy định còn lạc hậu, cổ hủ của chế độ phong kiến và ban hành những quy định mới cho phù hợp với tình hình phát triển đất nước

GDDS được các nhà làm luật chú trọng và xây dựng khá chặt chẽ Tại

bộ luật này, khái niệm GDDS đã được xây dựng một cách khái quát và khá chính xác: “GDDS là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [5] (Khoản 8, Điều 130) Trong đó, hình thức của GDDS được quy định khái quát, chi tiết và tỉ mỉ hơn các văn bản pháp luật trước đó BLDS 1995 đã dành hẳn một điều luật riêng để quy định

về hình thức của GDDS, cụ thể tại Điều 133 của BLDS 1995: “…GDDS được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể; trong trường hợp pháp luật có quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn bản, phải được Công chứng nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép, thì phải tuân theo các quy định đó” [5]

BLDS1995 quy định bốn hình thức thể hiện của GDDS như: hình thức lời nói, hình thức văn bản, hình thức bằng hành vi cụ thể Ví dụ: hành vi mua hàng qua máy bán hàng tự động, hành vi gọi điện thoại công cộng thanh toán bằng thẻ… ình thức văn bản có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực

Về nguyên tắc, BLDS 1995 quy định các chủ thể tham gia giao dịch tự

do lựa chọn hình thức GDDS Tuy nhiên khi pháp luật có quy định hình thức đối với một số loại GDDS cụ thể thì phải tuân theo Nếu các chủ thể không tuân theo thì sẽ vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của GDDS và giao dịch đó sẽ trở nên vô hiệu Ví dụ: hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhưng pháp luật cũng đã có những điểm mở để

Trang 33

giao dịch khi không tuân thủ quy định về hình thức của pháp luật thì có thể sửa chữa, khắc phục: “Trong trường hợp pháp luật quy định GDDS vô hiệu, nếu không được thể hiện bằng văn bản, không có Công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện, thì giao dịch vô hiệu Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại” (Khoản 8, Điều 139) [5]

BLDS1995 cũng dành riêng một điều để quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS, cụ thể tại Điều 131 BLDS như sau: “GDDS có hiệu lực khi có

đủ các điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật” [5]

Việc quy định như trên cho thấy rằng quan điểm pháp luật của nhà nước ta thời kỳ này đã chú ý đến điều kiện về hình thức của GDDS Các nhà làm luật đã hiểu rằng quy định hình thức bắt buộc cho những giao dịch có tài sản lớn, quan trọng góp phần ổn định trật tự xã hội và là công cụ pháp lý bảo đảm cho các chủ thể tham gia giao dịch Các quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS tương đối sát với các quy định của BLDShiện hành

Tóm lại, bên cạnh những thiếu sót thì BLDS 1995 cũng góp phần mở ra một thời đại mới của pháp luật dân sự Việt Nam, đặc biệt là sự quan tâm đối với chế định GDDS

1.2.3.2 Quy định liên quan đến điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự theo Bộ luật dân sự 2005 đến trước năm 2017

Trang 34

Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI, Quốc hội đã thông qua BLDS năm 2005, bộ luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 trên cơ sở

kế thừa những tinh hoa của hệ thống pháp luật dân sự nói chung và BLDS năm 1995 nói riêng Sau 9 năm thi hành, BLDS năm 2005 đã góp phần tích cực trong việc “bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [2] Các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu, học hỏi những quy định pháp luật từ thực tiễn cũng như pháp luật của các nước trên thế giới, từng điều luật được ban hành phù hợp với thực tiễn và có tính chuẩn mực pháp lý cao trong hệ thống pháp luật dân sự

Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả thuận của các bên trong giao dịch thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân thủ theo - đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giao dịch Mọi cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và được pháp luật bảo hộ Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 122 BLDS 2005 Đó là:

“1 GDDS có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức GDDS là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” [6]

Trang 35

1.3 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới quy định về điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch dân sự

Điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS là một yếu tố pháp lý quan trọng nhằm giúp các Tòa án dễ dàng hơn trong việc xác định quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi phát sinh giao dịch Các quy định về vấn đề này đã được nhiều quốc gia khác đề cập trong hệ thống luật của mình Nhưng cách thể hiện và sự thừa nhận yếu tố này trong pháp luật của các nước lại không hoàn toàn giống nhau Cũng vì lẽ đó, hình thức GDDS và sự ảnh hưởng của nó đối với GDDS trở thành một trong những đề tài nghiên cứu của nhiều học giả

Thứ nhất, một số nước quy định hình thức nhất định cho một số loại

GDDS, nếu vi phạm các điều kiện này thì GDDS sẽ vô hiệu Tiêu biểu cho xu hướng này là: Đức, Thái Lan… Theo Điều 115 BLDSvà thương mại Thái Lan năm 1995 thì: “Một hành vi pháp lý không theo đúng hình thức quy định của pháp luật thì vô hiệu” [4] Có thể nói rằng, quy định này là cơ sở tạo nên chứng cứ khi có tranh chấp về GDDS Đồng thời, cũng là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Tại pháp luật dân sự của các quốc gia này, hình thức GDDS là một yếu tố quan trọng và được các nhà làm luật xây dựng khá tỉ mỉ và chặt chẽ

Thứ hai, một số quốc gia có quy định về hình thức của GDDS nhưng

yếu tố về hình thức không được coi là một điều kiện để xác định hiệu lực của GDDS Đại diện có khuynh hướng này là: Pháp, Nhật Bản…

Theo pháp luật Nhật Bản đã quy định: “mặc dù nhà nước yêu cầu tuân thủ hình thức đặc biệt, thì giao dịch pháp lý vẫn hoàn toàn có đặc điểm không theo một hình thức bắt buộc nào” [3 Tr118] Đồng thời, cũng theo nguyên tắc của BLDS Nhật Bản thì nguyên tắc tự do GDDS thừa nhận cả việc tự do lựa chọn hình thức giao kết Các quy định này có ưu điểm tạo ra khung pháp luật

Trang 36

mở cho các chủ thể tham gia GDDS thừa nhận cả việc tự do lựa chọn hình thức giao dịch nhất định Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra tranh chấp thì với một số giao dịch có giá trị lớn, việc không tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định sẽ khiến các chủ thể không có đủ điều kiện pháp lý để chứng minh trước tòa Vì vậy, trong thực tiễn khi tham gia các giao dịch quan trọng,

có giá trị tài sản lớn các chủ thể thông thường đều lựa chọn hình thức giao dịch bằng văn bản hoặc cẩn trọng hơn là văn bản có công chứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

So với quy định của pháp luật Việt Nam về chế định hợp đồng, pháp luật Đức cũng có một số điểm tương đồng và khác biệt Hình thức của hợp đồng được quy định tại các Điều 125 - 129, Điều 313, Điều 776 BLDS Đức năm 1986 Theo đó, nếu pháp luật quy định các hợp đồng bắt buộc phải ký bằng văn bản thì hợp đồng phải được ký bằng tay hoặc chữ ký tắt được công chứng (khoản 1, Điều 126) Hình thức văn bản của hợp đồng có thể được thay thế bằng hình thức điện tử (khoản 3 Điều 126) Một số loại hợp đồng bắt buộc phải ký kết bằng văn bản là: tặng cho tài sản; thế chấp; cho thuê tài sản với thời hạn trên 1 năm; hợp đồng bảo lãnh hoặc đảm bảo (trừ trường hợp là giao dịch thương mại thì không bắt buộc phải ký bằng văn bản theo quy định tại Điều 350 Bộ luật thương mại); nhận nợ…

Một số hợp đồng mà pháp luật yêu cầu phải được công chứng, chứng thực mới có hiệu lực thì phải tuân thủ yêu cầu này (Điều 311 BLDS), ví dụ các hợp đồng liên quan đến bất động sản bắt buộc phải được công chứng (Điều 313) Đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu ký bằng văn bản thì có thể được giao kết bằng lời nói hoặc hành vi, miễn là có bằng chứng

để chứng minh đã có sự thỏa thuận Theo quy định tại Khoản 2 Điều 154 BLDS C LB Đức, “nếu các bên thỏa thuận công chứng hợp đồng, thì trường

Trang 37

hợp có nghi vấn, hợp đồng xem như chưa được ký kết, cho đến khi nó được công chứng”

Nhìn chung các quy định về hợp đồng của Đức có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, thể hiện qua khái niệm về hợp đồng, thủ tục giao kết hợp đồng, hình thức hợp đồng cũng như các trường hợp hợp đồng vô hiệu

Có thể nói nghiên cứu những quy định cụ thể và hợp lý của BLDS Đức về hợp đồng, có thể là nguồn tham khảo quý giá để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chế định quan trọng bậc nhất trong lĩnh vực luật tư - chế định hợp đồng [3]

Theo luật án lệ của Hoa Kỳ, hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau: 1) Có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên một cách tự nguyện; 2) Các bên có năng lực kí kết hợp đồng; 3) Có nghĩa vụ đối ứng, trừ một số trường hợp ngoại lệ; 4) Mục đích của hợp đồng phải hợp pháp hoặc không trái với chính sách công; 5) Hình thức hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật Ở pháp luật Hoa Kỳ một số loại hợp đồng bắt buộc phải

ký bằng văn bản, nếu các bên không tuân thủ quy định này thì hợp đồng bị coi

là không thể thực thi Pháp luật Hoa Kỳ không có quy định chung về hình thức của hợp đồng Có nghĩa là hoàn toàn không có yêu cầu hợp đồng phải được lập thành văn bản và có chữ ký của các bên để hợp đồng đó có hiệu lực pháp lý Về nguyên tắc, kể cả những hợp đồng phức tạphoặc có giá trị lớn đều

có thể ký kết bằng lời nói và đều phát sinh hiệu lực ràng buộc các bên, nếu có bằng chứng về sự tồn tại của thỏa thuận và những điều khoản của hợp đồng này Tuy nhiên, một số Bangban hành luật thành văn, trong đó yêu cầu một số loại hợp đồng bắt buộc phải lập thành văn bản Các đạo luật này đều theo khuôn mẫu của một đạo luật ra đời từ thế kỷ XVII ở nước Anh mang tên Đạo luật chống gian lận Khi áp dụng đạo luật này, một thỏa thuận nếu không ký bằng văn bản thì không có hiệu lực thi hành, cho dù nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác của hợp đồng và có đến hàng tá nhân chứng sẵn sàngxác nhận

Trang 38

là các bên đã đạt được thỏa thuận Tóm lại, theo pháp luật Hoa Kỳ, hình thức hợp đồng do các bên tự định đoạt Các quy định về hình thức văn bản của hợp đồng chủ yếu bảo vệ những lợi ích công cần thiết, tránh các hiện tượng gian dối, lừa đảo Tòa án chỉ can thiệp buộc các bên có nghĩa vụ phải thực hiện cam kết của mình, nếu các quy định về hình thức đã được tuân thủ Pháp luật Hoa Kỳ còn quy định những trường hợp ngoại lệ khi hợp đồng không tuân thủ hình thức văn bản nhưng vẫn có hiệu lực pháp lý [3, tr13]

Theo luật Anh - Mỹ, để có hiệu lực thì hợp đồng phải tuân thủ các yêu cầu: có sự đề nghị; có sự chấp nhận đề nghị; lợi ích đối ứng; các bên phải có ý định thực sự muốn giao kết hợp đồng; cam kết chắc chắn và thỏa thuận hoàn chỉnh… Đối với các giao dịch chuyển giao các lợi ích liên quan đến bất động sản bị vi phạm về hình thức, thủ tục đúng quy định, thì cam kết đó vẫn được tòa án công nhận, nếu thỏa mãn các yêu cầu như: lời cam kết của một bên làm cho bên kia có lý do chính đáng để tin là hợp đồng sẽ được giao kết hoặc cam kết đó sẽ được thực thi; …việc từ chối hợp đồng dẫn đến một thiệt hại đáng

kể cho bên kia Nếu có đủ các dấu hiệu trên, thì cho dù có sai về hình thức, hợp đồng vẫn được công nhận, xét trên quan điểm công bằng và niềm tin chính đáng, hợp lý

Như vậy chúng ta thấy đã có sự khác biệt về điều kiện để hợp đồng có hiệu lực so với hệ thống pháp luật của Việt Nam.Từ những quy định của pháp luật các nước trên thế giới về điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS cho chúng ta một kinh nghiệm quý trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng trong pháp luật Việt Nam

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Các quy định về GDDS được các nhà làm luật chú trọng xây dựng trong thời kỳ hiện nay Bởi lẽ, GDDS là phương tiện pháp lý quan trọng để cho con người thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình trong đời sống hàng ngày Chương 1 của luận văn đã nghiên cứu khái niệm về GDDS, điều kiện có hiệu lực của GDDS, khái niệmvề hình thức GDDS và điều kiện có hiệu lực của hình thức GDDS Bên cạnh đó, luận văn đã nghiên cứu các hình thức cũng như điều kiện có hiệu lực về hình thức của các GDDS trong các quy định về pháp luật của Việt Nam ở một số bộ luật thời kỳ phong kiến, thời

kỳ pháp thuộc, từ 1945 đến khi BLDS 2015 ra đời Mặc khác, luận văn cũng

đã phân tích ngắn gọn các quy định về hình thức và điều kiện có hiệu lực về hình thức của GDDS của một số quốc gia trên thế giới

Trang 40

Chương 2 CÁC NỘI DUNG QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH

THỨC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH

CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 2.1 Các hình thức giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự

2015

Theo quy định tại Điều 119 BLDS 2015, thì hình thức của GDDS theo quy định được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Trường hợp GDDS thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp

dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản

2.1.1 Hình thức giao dịch dân sự bằng lời nói

Hình thức GDDS bằng lời nói là hình thức giao dịch được xác lập, thực hiện dưới hình thức ngôn ngữ nói, bằng lời hay còn gọi là GDDS bằng miệng Theo đó, để diễn đạt tư tưởng và ý kiến của mình trong việc xác lập GDDS các bên giao kết sẽ trao đổi với nhau bằng lời nói trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện công nghệ như: điện thoại, điện đàm, gửi thông điệp điện tử bằng

âm thanh, tiếng nói …

Trong một số trường hợp các bên liên quan phủ nhận sự tồn tại của hình thứcGDDS bằng lời nói Chính vì thế, tùy vào mục đích giao dịch mà các bên có thểsử dụng hình thứcGDDS bằng lời nói để thực hiện các giao dịchcủa mình Các trường hợp giao dịch thường sử dụng hình thức bằng lời nói là:

Thứ nhất, hình thức giao dịch bằng lời nói được áp dụng giữa các bên

tham gia có độ tin cậy lẫn nhau Sự tin cậy này bắt nguồn từ các quan hệ như: bạn bè thân thiết, quan hệ ruột thịt, hàng xóm… Sự tin tưởng giữa các chủ thể

Ngày đăng: 07/11/2017, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm