Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LA tiến sĩ)
Trang 1NGUYỄN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ ĐẾN QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN
ĐÔ THỊ ĐẾN QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành : Quản lý đất đai M· sè: 60.85.01.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng
Thái Nguyên, 2017
Trang 3trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã được cảm ơn.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận án, trước khoa và nhà trường về các thông tin, số liệu trong luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Người viết cam đoan
Nguyễn Thị Yến
Trang 4cô giáo, các phòng ban và các đơn vị trong và ngoài trường Tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến:
Thầy giáo GS.TS Nguyễn Thế Đặng - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền thụ những kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên, các phòng ban và trung tâm của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
đã hướng dẫn, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong thời gian tiến hành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn các sở, ngành, các phòng ban liên quan thuộc tỉnh Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành luận án.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp
đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Yến
Trang 6BĐS : Bất động sản
GDP : Tổng sản phẩm Quốc nội
KHLĐXH : Khoa học Lao động xã hội
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NCQLKTTƯ : Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ươngPTĐT : Phát triển đô thị
QH, KHSDĐ : Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtQHSD : Quy hoạch sử dụng
QLNN : Quản lý Nhà nước
QLNN : Quản lý Nhà nước
TNMT : Tài nguyên Môi trường
TTBĐS : Thị trường Bất động sản
Trang 7Bảng 1.5 Cơ cấu kinh tế theo ngành kinh tế 2010 - 2015 1
Bảng 1.6 Đóng góp vào tăng trưởng theo ngành qua các năm 1
Bảng 2.1 Đặc điểm các hộ điều tra 48
Bảng 2.2 Số lượng hộ điều tra theo 4 nhóm có diện tích bị thu hồi khác nhau 1
Bảng 2.3 Số lượng hộ điều tra trong 4 khu vực theo phân bố địa bàn của các hộ 1
Bảng 2.4 Vị trí, tọa độ lấy mẫu 1
Bảng 3.1 Cơ cấu tổng sản phẩm của thành phố Thái Nguyêngiai đoạn 2008 - 2013 .1
Bảng 3.2 Dân số thành phố Thái Nguyên theo đơn vị hành chính 1
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Thái Nguyên năm 2016 1
Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng đất thành phố Thái Nguyên đến năm 2020 75
Bảng 3.5 Kết quả ban hành các văn bản về quản lý đất đai 1
Bảng 3.6 Kết quả giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức trên địa bàn thành phố giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.7 Kết quả thu hồi đất ở thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.8 Sự thay đổi về hướng sử dụng đất của các hộ gia đình 1
Bảng 3.9 Tình hình đất thổ cư tính bình quân hộ điều tra 1
Bảng 3.10 Tình hình đất nông nghiệp bình quân của các hộ 1
Bảng 3.11 Cơ cấu diện tích gieo trồng bình quân của hộ nhóm 1 1
Bảng 3.12 Cơ cấu diện tích gieo trồng bình quân của hộ nhóm 2 1
Bảng 3.13 Cơ cấu diện tích gieo trồng bình quân của hộ nhóm 3 99
Bảng 3.14 Kết quả thu hồi đất ở TP Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.15 Tổng hợp diện tích đất bị thu hồi để xây dựng một số dự án 1
Bảng 3.16 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập hỗn hợp của các hộ nông dân bị mất đất do quá trình phát triển đô thị 1
Bảng 3.17 Thu nhập bình quân của hộ gia đình giai đoạn 2008 -2014 1
Trang 8Bảng 3.21 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu ngành kinh tế (GDP) của thành phố
Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.22 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của TP Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.23 Thực trạng việc làm của lao động sau thu hồi đất 1
Bảng 3.24 Các kiểu kiến trúc nhà ở trước và sau khi bị thu hồi đất 1
Bảng 3.25 Ý kiến các hộ về tác động của sự phát triển đô thị 1
Bảng 3.26 Số người nhiễm các tệ nạn xã hội 1
Bảng 3.27: Hàm lượng KLN trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.28: Hàm lượng KLN trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 2008 - 2014 1
Bảng 3.29 Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường không khí thành phố Thái Nguyên 1 Y
Trang 9Hình 1.2 Tỷ lệ gia tăng dân số tỉnh Thái Nguyên 1
Hình 1.3 Mật độ dân số một số thành phố lớn của Việt Nam năm 2005 và 2013 1
Hình 1.4 Dân số Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 1
Hình 1.5 Dân số Việt Nam giai đoạn 1975 - 2014 1
Hình 1.6 Tăng trưởng GDP theo quý giai đoạn 2010-2014 1
Hình 2.1 Sơ đồ phân khu vực và vị trí lấy mẫu 1
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính TP Thái Nguyên 1
Hình 3.2: Cơ cấu trong ngành nông nghiệp 58
Hình 3.3: Cơ cấu sử dụng đất thành phố Thái Nguyên năm 2016 1
Hình 3.4 Dân số thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2014 1
Hình 3.5 Kết quả giao đất, cho thuê đất trên địa bàn TP Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 1
Hình 3.6 Kết quả giao đất cho hộ gia đình, cá nhân thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2014 1
Hình 3.7 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2014 .1
Hình 3.8 Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2014 85
Hình 3.9 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2008 - 2014 của thành phố Thái Nguyên 1
Hình 3.10 Sơ đồ hiện trạng đất nông nghiệp năm 2014 của thành phố Thái Nguyên 1
Hình 3.11 Cơ cấu diện tích gieo trồng bình quân của hộ nhóm 1 1
Hình 3.12 Cơ cấu diện tích gieo trồng bình quân của hộ nhóm 2 1
Hình 3.13 Cơ cấu sử dụng tiền đền bù của các hộ 1
Hình 3.14 Thực trạng thay đổi về việc làm trước và sau thu hồi đất 1
Trang 10Hình 3.17 Hàm lượng Pb trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai
đoạn 2008 - 2014 1Hình 3.18 Hàm lượng Zn trong môi trường đất tại khu vực nghiên cứu giai
đoạn 2008 - 2014 1Hình 3.19 Hàm lượng COD trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên
cứu giai đoạn 2008 - 2014 1Hình 3.20 Hàm lượng Pb trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu
giai đoạn 2008 - 2014 1Hình 3.21 Hàm lượng Fe trong môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu
giai đoạn 2008 - 2014 1Hình 3.22 Nồng độ SO2 trong môi trường không khí tại khu vực nghiên cứu
(mg/m3) 1Hình 3.23 Đồ thị nồng độ NO2 trong môi trường không khí tại khu vực nghiên
cứu (mg/m3) 1
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trongviệc phát triển đô thị gắn liền với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chấtlượng cuộc sống của người dân Hệ thống các đô thị đã có sự phát triển nhanh cả về
số lượng, chất lượng và quy mô Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng vănminh, hiện đại, tạo dựng được những không gian đô thị mới, từng bước đáp ứng nhucầu về môi trường sống và làm việc có chất lượng Đô thị đã khẳng định vai trò làđộng lực cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địaphương, mỗi vùng và cả nước Tuy nhiên, phát triển đô thị tại Việt Nam còn nhiềuhạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Bên cạnh đó, hệ thống đô thị Việt Namcũng đang phải đối diện với những thách thức mới nảy sinh do tác động của biếnđổi khí hậu và nước biển dâng Đây là những thách thức lớn, làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến hình ảnh đô thị, điều kiện, môi trường sống của dân cư và đảm bảo yêu cầuphát triển bền vững, đặt ra nhiều vấn đề mới trong công tác quy hoạch, xây dựng vàphát triển đô thị hiện nay
Thành phố Thái Nguyên là thành phố trung tâm của tỉnh Thái Nguyên, là mộttrong những thành phố lớn ở miền Bắc, trung tâm vùng trung du và miền núi phíaBắc, có tốc độ phát triển đô thị nhanh và mạnh Trải qua hơn 50 năm xây dựng vàphát triển, Thủ tướng Chính phủ đã 4 lần quyết định phê duyệt điều chỉnh và nângcấp thành phố: Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 802/TTg phêduyệt quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên, công nhận thành phố Thái Nguyên làtrung tâm vùng Việt Bắc Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số135/2002/QĐ-TTg công nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại II Năm 2005,Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 278/2005/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quyhoạch chung thành phố Thái Nguyên đến năm 2020 Vào năm 2010, Thủ tướngChính phủ đã có quyết định số 1615/QĐ-TTg công nhận thành phố Thái Nguyên là
đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên Bộ mặt đô thị của thành phố Thái Nguyên
Trang 12đã có những chuyển biến vượt bậc Tại các đô thị, những dự án phát triển đã và đangđược triển khai đồng bộ, tạo hiệu ứng tích cực vào bộ mặt kiến trúc đô thị Các khucông nghiệp ngày càng thu hút nhiều vốn đầu tư Các dự án đầu tư về lĩnh vực du lịch
đã và đang được triển khai cũng sẽ là tiền đề quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinhtế, góp phần hình thành các khu đô thị mới
Mặc dù đã trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh, song chiến lược phát triểncủa thành phố Thái Nguyên đến năm 2020 là trở thành thành phố hiện đại, năngđộng, trung tâm du lịch và giao dịch quốc tế có tầm khu vực Việc phát triển đô thị
đã diễn ra với tốc độ cao và đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thu hút đầu tư và việclàm Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng làm mất diện tích đất nông nghiệpđáng kể, đã ảnh hưởng đến quá trình quản lý sử dụng đất nông nghiệp cũng như đờisống của người dân
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài:" Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” được thực hiện.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của phát triển đô thị đến tình hình quản lýsử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân thành phố Thái Nguyên, từ đóđề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý sử dụng đấtnông nghiệp trước sự phát triển đô thị, góp phần nâng cao đời sống người dân thànhphố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất nông nghiệp
và nâng cao đời sống người dân trước sự phát triển đô thị
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứuthuộc lĩnh vực quản lý đất đai mà cụ thể là các nghiên cứu về ảnh hưởng của pháttriển đô thị tới quản lý sử dụng đất nông nghiệp
Góp phần đóng góp xây dựng cơ sở khoa học về đánh giá ảnh hưởng củaphát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất chính sách tăng cường hiệu quả quản lý sử dụng đất nông nghiệp,góp phần nâng cao đời sống người dân cho thành phố Thái Nguyên, tỉnh TháiNguyên và các địa phương có điều kiện tương tự
4 Những đóng góp mới của đề tài
Chỉ ra được ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của phát triển đô thị đến quản lýsử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân thành phố Thái Nguyên, bao gồm:
- Cơ cấu đất nông nghiệp chuyển đổi theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọngđất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp của thành phố đã được đưa vào khaithác và sử dụng ngày càng hiệu quả
- Đất nông nghiệp giảm nhiều, bình quân đất nông nghiệp/hộ giảm nhưngbình quân diện tích đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp tăng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học về tác động của phát triển đô thị đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân đô thị
1.1.1 Đất đai và quản lý sử dụng đất
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
a) Thổ nhưỡng:
Theo Dokuchaev: Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sửphát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trongnó Đất được coi là khác biệt bởi với đá Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của mộtloạt các yếu tố tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi (VũNgọc Tuyên, 1994) [71]
Đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng(Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2009) [8]
b) Đất đai: Trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường, đất đai (land) được hiểunhư tài nguyên thiên nhiên, tài sản, tư liệu sản xuất
“Với nghĩa chung nhất, đó là lớp vỏ trái đất, lớp thổ nhưỡng hoặc là cả quảđịa cầu, bao gồm đồng ruộng, đồng cỏ, bãi chăn thả, rừng cây, bãi hoang, mặt nước,
đầm lầy và bãi đá Với nghĩa hẹp hơn thì “đất đai” biểu hiện khối lượng và tính
chất của tài sản mà con người có thể chiếm hữu đối với đất Nó có thể bao gồm mọitài sản hoặc lợi ích trên đất cả về mặt pháp lý và sự bình đẳng cũng như về quyềnđịa dịch và về di sản thiêng thiêng Đất đai là một mặt còn tài sản trên đất là mộtmặt khác, vì tài sản trên đất là có thời hạn hoặc đất là được sử dụng cho các tài sảnđó trong một thời hạn nhất định” (West Publishing Co, 1991) [94]
“ Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quý giá, lãnh thổ thiêng liêng củacủa mỗi quốc gia, dân tộc Đất đai và quan hệ đất đai là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọithời đại Quốc gia nào cũng quan tâm đến đất đai và quản lý đất đai nhằm củng cốđịa vị của giai cấp thống trị và thu thuế”(Nguyễn Đình Bồng, và CS 2013) [3]
Trang 15c) Đất nông nghiệp
Theo Vương Quang Viễn (1972) [90]: nông nghiệp là một ngành sản xuất
mà loài người sử dụng đất để có sản phẩm động vật và thực vật
Theo Trương Đức Tuý (2002) [72]: Đó là hành vi tạo ra lợi ích từ sản xuất thôngqua việc sử dụng đất đai, lao động và vốn, tức là việc sử dụng đất đai nông nghiệp Sảnxuất nông nghiệp gồm 4 lĩnh vực: nông, lâm, ngư (nghề cá), súc (chăn nuôi)
Từ đó có thể định nghĩa: Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sảnxuất nông nghiệp (bao gồm lâm nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi và mặt nước nuôi trồngthủy sản)
Phân loại đất nông nghiệp: Tại Điều 10 Luật Đất đai 2013 qui định
Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;
- Đất trồng cây lâu năm;
- Đất rừng sản xuất;
- Đất rừng phòng hộ;
- Đất rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thủy sản;
- Đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loạinhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếptrên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khácđược pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mụcđích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồnghoa, cây cảnh (Quốc hội, 2013) [55]
d) Đất đô thị
Đất đô thị là đất nội thành, nội thị và đất ngoại thành được quy hoạch để pháttriển đô thị Cùng với sự hình thành đô thị, đất đai cũng từng bước được chia thànhđất đô thị, đất ngoại ô và đất nông thôn; đất đô thị có nguồn gốc chủ yếu từ đất nôngnghiệp Do kinh tế đô thị phát triển, quy mô đô thị phải mở rộng ra vùng nông
Trang 16nghiệp phụ cận làm cho đất nông nghiệp bị suy giảm, về kinh tế, đô thị mở rộng làmcho giá đất xung quanh đô thị tăng cao buộc phải nâng cao số tầng xây dựng hoặc
mở rộng ra các vùng xung quanh (Đỗ Hậu và Nguyễn Đình Bồng, 2012) [29]
Đất là nền tảng để phát triển đô thị, ở đó con người sinh sống, làm việc và sửdụng các dịch vụ Vì vậy, đất đô thị là đất để quy hoạch phát triển đô thị Nhu cầuđất đô thị rất khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, cũngnhư giữa các thành phố và thị trấn trong một quốc gia Chỉ số đất đô thị (m2/người):Mỹ 740, Anh 440, Đức 514, Niu Di Lân 270, Bờ-Ra-Xin 428 (Sao Pao lô), Ác Hen
Ti Na 58 (Buenos Aires), Ấn độ 27 (Can Cut Ta); Tỷ lệ diện tích đất đô thị/tổngdiện tích đất đai (%): Tại Mỹ 1, Anh 7, Đức 10, Niu Di Lân 7 Nếu tính bình quândiện tích đất đô thị 500 m2/người và dân cư hiện tại khoảng 1,5 tỷ người thì diệntích đất đô thị 750.000 km2 (chiếm 0,6% diện tích bề mặt trái đất hay bằng 1% diệntích đất bằng của bề mặt trái đất) (Study Litterature, 2002) [112]
Theo Phạm Thị Ánh Nguyệt (2011) [47]: Đất đô thị có tác động rất lớn, thúcđẩy hoặc kìm hãm phát triển đô thị Nó là yếu tố cấu thành thực thể KT - XH đô thị,nơi tập trung đông dân cư, công trình kiến trúc dầy đặc Các nhu cầu về ăn, ở, mặc,học hành, việc làm, đi lại của dân cư đô thị cần phải được diễn ra trên những mặtbằng nhất định
Theo Trần Thị Hường (1996) [38]: Chính sách đất đai đô thị là một bộ phậncủa chính sách phát triển đô thị và phải được xem xét trong khuôn khổ chính sáchphát triển chung của quốc gia Một trong các mục tiêu của chính sách phát triển làhuy động các nguồn lực của đất nước để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội Mụctiêu của chính sách đất đai là sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế xã hội tối ưu Đấtđai là nền tảng để phát triển đô thị vì vậy chính sách đất đai phải xây dựng trên cơ
sở tiếp cận chính sách kinh tế xã hội Một trong những mục tiêu cụ thể của chínhsách đất đai đô thị là việc cung cấp đất cần thiết cho việc phát triển đô thị ở vị tríthích hợp và đúng thời điểm cần thiết Chính sách đất đai là một bộ phận của chínhsách phát triển, vì vậy chúng liên quan đến cấu trúc chính trị, kinh tế, xã hội và trìnhđộ phát triển của đất nước Trình độ phát triển kinh tế, xã hội, mức độ đô thị hóa vànền tảng lịch sử là yếu tố xác định các vấn đề chính sách đất đai đô thị phải xem xét
Trang 17và giải quyết Tốc độ đô thị hóa đang diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới đã làmphát sinh vấn đề khan hiếm đất trong các khu vực đô thị, trong khi đó tính chất và
sự bức xúc của vấn đề này là phụ thuộc vào cấu trúc kinh tế xã hội và trình độ pháttriển của đất nước Quá trình đô thị hóa cũng như chính sách đất đai đô thị sẽ khácnhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển cũng như giữa các nướccó cấu trúc chính trị, kinh tế xã hội khác nhau Chính sách đất đai đô thị được hìnhthành trên cơ sở quy hoạch tổng thể của quốc gia, quy hoạch tổng thể tác động cảhai lĩnh vực phát triển đô thị và chính sách đất đai đô thị
1.1.2.2 Sử dụng đất
a) Sử dụng đất nông nghiệp
Từ buổi bình minh của nhân loại, con người đã bắt đầu khai thác đất đai, từhái lượm, săn bắn, chăn thả đến canh tác cổ truyền, cải tiến, hiện đại; phương thứckhai thác, đất đai của con người ngày càng đa dạng, phức tạp, đã làm biến đổi sâusắc cảnh quan môi trường (Nguyễn Đình Bồng và CS 2013) [4]
Trong thời kỳ Trung cổ; sản xuất nông nghiệp với sử dụng đất nông nghiệpvẫn giữ vị trí trọng yếu, Ví dụ: Trung Quốc thời Xuân Thu, Tần là một nước yếu,
nhờ thực hiện “biến pháp canh tân” với chủ trương “canh chiến” (phát triển nông
nghiệp, xây dựng lực lượng vũ trang) đã dần dần mạnh lên, đến năm 246 TCNDoanh Chính lên ngôi, tiếp tục đẩy mạnh canh tân, từ 230-221 TCN Tần đã đã lầnlượt tiêu diệt Tề, Yên, Ngụy, Triệu, Hàn, Sở, chiếm lĩnh toàn bộ lãnh thổ TrungQuốc cổ đại (Almanach,1997) [1]
Đặc điểm của sử dụng đất nông nghiệp
Theo Nhân Ái Tĩnh (2002) [70]: Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp: i) sửdụng đất nông nghiệp đặc biệt coi trọng bảo vệ độ phì nhiêu của đất; ii) sử dụng đấtnông nghiệp khác nhau theo vùng; iii) Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệpkhông lớn
b) Sử dụng đất đô thị
Trang 18Nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng để đáp ứng yêu cầu xâydựng cơ sở hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, công nghiệp, nhà ở đô thị (NguyễnĐình Bồng và CS 2013) [4].
Đặc điểm của sử dụng đất đô thị: Mác đã khái quát được 3 đặc điểm của địa
tô khu vực đô thị là: vị trí đất đai có ảnh hưởng quyết định đến lượng địa tô; người
sở hữu đất đai giữ vị trí thụ động đối với địa tô khu vực xây dựng; địa tô khu vựcxây dựng cũng tồn tại địa tô lũng đoạn và sẽ dần trở thành bộ phận chủ thể (Tôn GiaHuyên, 2009) [36]
1.1.1.3 Quản lý sử dụng đất
a) Khái niệm quản lý sử dụng đất
Quản lý sử dụng đất tập trung vào đất và cách đất được sử dụng cho mụcđích sản xuất, bảo tồn và thẩm mỹ (Verheye, 2010) [114]
Quản lý sử dụng đất yêu cầu ra quyết định và được xác định bởi mục đích sửdụng nó ví dụ cho sản xuất lương thực, nhà ở, giải trí, khai khoáng… và được xácđịnh bởi bản chất và giá trị của đất Trước đây quản lý sử dụng đất tập trung chủyếu vào đất nông nghiệp Ngày nay, quản lý đất đai còn phải đối mặt với các vấn đềcông nghiệp hóa, đô thị hóa, bảo tồn, khai khoáng … (Preu and Ferber, 2008;Ferber, 2009) [104]
Quản lý sử dụng đất là sự kết hợp của tất cả các công cụ và kỹ thuật được sửdụng bởi chính quyền để quản lý cách mà đất được sử dụng và phát triển, bao gồm:quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, luật pháp, quyền sử dụng đất, định giá đất vàthông tin BĐS
b) Quản lý sử dụng đất nông nghiệp
Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh cũng làm giảm diện tích đất nông nghiệp,nhất là đất trồng cây lương thực Từ năm 1996 đến năm 2007, quá trình đô thị hoá
đã diễn ra nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ ở khắp các vùng Năm 2013, dân sốthành thị là 30 triệu người, chiếm 33% tổng dân số cả nước so với 23 triệu người và27,6% năm 2006 về 2 chỉ tiêu tương ứng Như vậy, trong vòng 8 năm dân số thànhthị đã tăng lên 7 triệu người, chủ yếu do điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách
Trang 19tỉnh, huyện và thành lập các khu đô thị mới gần các khu công nghiệp Đô thị hoá
mở rộng đến đâu, đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lúa, thu hẹp đến đó
Đổi mới phương thức quản lý đất nông nghiệp Quản lý chặt, bảo vệ toàn bộđất lúa hiện có Theo hướng đó, từ nay đến năm 2020 cần ổn định diện tích canh táclúa ở mức 3,5 - 4 triệu ha Nghiêm cấm việc chuyển đất 2 vụ lúa ăn chắc sang cácmục đích khác ngoài quy hoạch của Nhà nước Để thực hiện giải pháp này, đề nghị
bổ sung cụ thể hóa Luật Đất đai 2013 bằng các chính sách của Nhà nước, một sốquy định nghiêm ngặt về quản lý và bảo vệ đất lúa, coi đất lúa là tài sản quốc gia,không được xâm phạm Hướng sửa đổi là làm rõ vai trò Nhà nước, hộ nông dântrong các quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, chuyển dịch, chuyển nhượng đất nôngnghiệp Cùng với Luật Đất đai 2013, các bộ, ngành liên quan, chủ trì là Bộ Tàinguyên và Môi trường cần đổi mới phương thức quản lý đất nông nghiệp nói chung,đất trồng lúa nói riêng theo hình thức thích hợp Hướng lâu dài là chuyển từ phươngpháp quản lý đất đai hành chính sang quản lý thị trường đất đai Việc cấp phép chocác dự án đầu tư, xây dựng các KCN, KCX, sân gôn… cũng như chuyển đổi mụcđích sử dụng từ đất lúa sang các loại đất khác nhất thiết phải theo quy hoạch thốngnhất của Nhà nước và đền bù theo giá thị trường, có sự tham gia của hộ nông dân.(Nguyễn Sinh Cúc, 2014) [23]
c) Quản lý sử dụng đất đô thị
Quản lý sử dụng đất đô thị được hình thành từ thể chế, chính sách quản lýđất đai đô thị và là một bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý đất đai quốc gia,trong khuôn khổ thể chế, chính sách đất đai quốc gia
Trong quản lý sử dụng đất đô thị thì chính quyền đô thị không chỉ quan tâmđến mục đích sử dụng đất mà còn nhiều nội dung khác như hồ sơ địa chính, quyhoạch đô thị, thu hồi đất, thị trường đất, tài chính đất đai do đó phải xem toàn bộđất đai đô thị là đối tượng quản lý hoàn chỉnh chứ không phải chia cắt chúng rathành nhiều loại riêng rẽ Chính quyền đô thị là cấp thấp nhất có trách nhiệm phân
bổ các tài nguyên, xúc tiến công bằng xã hội và cung ứng cho nhân dân các dịch vụcông cộng thông qua quan hệ đối tác với khu vực tư nhân và khối xã hội dân sự.Chính quyền phải tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ côngcộng, với đất đai đô thị đồng thời ngăn chặn các ngoại ứng làm ô nhiễm môi trường
Trang 20Chiến lược phát triển đô thị bền vững (CDS) đang được Liên minh các Đô thị(Cities Alliance) khuyến khích áp dụng: Trị lý giỏi (Good Governance); Tính an cư(Livability); Năng lực cạnh tranh (Competitiveness); Năng lực tài chính(Bankability) (Phạm Sỹ Liêm, 2010) [43].
1.1.1.4 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai tại Thái Nguyên
*) Những mặt đạt được
Trong năm 2015, công tác quản lý đất đai nói chung và việc triển khai thihành Luật Đất đai 2013 nói riêng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng như: Côngtác tham mưu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục hànhchính, Đề án mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đaitheo cơ chế một cửa liên thông theo hướng cải cách, đơn giản hoá các thủ tục hànhchính nhằm dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanhnghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai; Tích cực và giải quyết hiệuquả những khó khăn, vướng mắc của địa phương, người dân và doanh nghiệp trongquá trình quản lý và sử dụng đất; Thường xuyên theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc các địaphương tập trung thực hiện Chỉ thị 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việckiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015; Thực hiệncông tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đảm bảo đúng thời gian, kịp tiến độ củacác dự án; Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác giao đất, cho thuê đất,chuyển mục đích sử dụng đất được xây dựng và ban hành đều bám sát chủ trươngđẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch, đảm bảo hàihòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp Phát huy nguồn lực tàinguyên và môi trường cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường hiệulực, hiệu quả quản lý Đồng thời góp phần ngăn ngừa, hạn chế tiêu cực, thamnhũng, lãng phí, làm giảm khiếu kiện và các yếu tố dẫn đến sự mất ổn định xã hội.Tăng cường đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng giảm các bước, quy trìnhxử lý công việc, công khai, minh bạch tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp(Sở TNMT tỉnh Thái Nguyên, 2015) [59]
*) Những tồn tại hạn chế, nguyên nhân:
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác quản lý đất đai trên địa bàntình còn gặp một số tồn tại, khó khăn, vướng mắc như sau:
Trang 21- Công tác tham mưu xây dựng ban hành trình tự, thủ tục hành chính theo cơchế một cửa liên thông trong lĩnh vực đất đai còn chậm so với kế hoạch đề ra,nguyên nhân là do việc phối hợp tham gia ý kiến “dự thảo quy định” của các cấp,các ngành còn có lúc chưa chặt chẽ, kịp thời
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất luôn được quan tâm, chỉ đạo củaLãnh đạo Sở và cơ bản đáp ứng được công việc UBND tỉnh giao Tuy nhiên, việclập kế hoạch sử dụng đất hàng năm của các huyện, thành phố, thị xã còn chậm, khảnăng dự báo nhu cầu sử dụng đất chưa sát với thực tế nên hiệu quả kế hoạch sửdụng đất chưa cao
- Việc báo cáo và công bố kết quả thống kê đất đai hàng năm và kết quảkiểm kê đất đai định kỳ còn chậm, nguyên nhân là do, các địa phương lại phải thựchiện rà soát, điều chỉnh diện tích đo đạc bản đồ địa chính chính quy tại các đơn vịcấp xã nên mất nhiều thời gian để cập nhật, chỉnh lý biến động (yêu cầu chất lượng,nội dung thực hiện có sự thay đổi so với kỳ kiểm kê trước đây, đòi hỏi năng lực,chuyên môn cao của các đơn vị tham gia thực hiện)
- Công tác kiểm tra việc quản lý sử dụng đất của một số dự án đã đượcPhòng Quản lý Đất đai quan tâm triển khai thực hiện, tuy nhiên chưa được thườngxuyên, liên tục Để khắc phục tình trạng trên, trong thời gian tới Phòng sẽ tiếp tụctăng cường công tác kiểm tra theo kế hoạch đã được Giám đốc Sở phê duyệt theoKế hoạch Đồng thời tiếp tục tham mưu cho Lãnh đạo Sở xây dựng kế hoạch kiểmtra năm 2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường
- Trên địa bàn tỉnh hiện có một số dự án mà UBND tỉnh đã ban hành quyếtđịnh thu hồi giấy chứng nhận đầu tư do nhà đầu tư không triển khai xây dựng theothời gian quy định được ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư, vi phạm tiến độ triểnkhai dự án theo quy định tại Khoản 2 Điều 64 Luật Đầu tư năm 2005 Tuy nhiên,theo quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì chưa cóquy định cụ thể để làm căn cứ xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
- Một số nhà đầu tư cùng một lúc triển khai nhiều dự án khác nhau, do đó ảnhhưởng và khó khăn trong việc thu xếp, bố trí nguồn vốn đầu tư cho dự án, dẫn đến tìnhtrạng dự án không triển khai trong khi không giới thiệu được cho chủ dự án khác
Trang 22- Việc đánh giá năng lực tài chính của chủ đầu tư còn hạn chế; chưa đánh giáđúng khả năng của chủ đầu tư.
- Công tác kiểm tra giám sát đối với các dự án đã được chấp thuận chủtrương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hạn chế, chưa kịp thời thu hồi dự
án chậm tiến độ; do vậy không thể giới thiệu được cho nhà đầu tư khác
- Quy hoạch xây dựng chưa thực sự gắn với quy hoạch sử dụng đất, dẫn đếntình trạng dự án phù hợp với quy hoạch xây dựng nhưng lại không phù hợp với quyhoạch sử dụng đất Do vậy việc chấp thuận cho nhà đầu tư còn vướng mắc
- Bất cập giữa Luật Đầu tư và Luật Đất đai trong việc thu hồi dự án đầu tư,đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể
- Hiện nay vẫn còn một số vướng mắc mà quy định của Luật Đất đai 2013 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể, việc áp dụng các văn bản luậtliên quan nhiều lĩnh vực, khó khăn trong việc áp dụng Để tháo gỡ khó khăn,Phòng đã kịp thời tham mưu cho Sở Tài nguyên và Môi trường có văn bản xin ýkiến Bộ Tài nguyên và Môi trường và tham gia vào dự thảo Nghị định theo đề nghịcủa Bộ TN&MT (Sở TNMT tỉnh Thái Nguyên, 2015) [59]
Theo Đoàn Văn Tuấn (2013) [73]: công tác quản lý nhà nước về đất đai trênđịa bàn tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu thúc đẩy đầu tư, phát triểnkinh tế và ổn định chính trị- xã hội Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnhvực đất đai đã có những chuyển biến tích cực, được dư luận đánh giá cao, nhất làcông tác giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Công tác lập và quản lý QH, KHSDÐ ðược thực hiện ở cả 3 cấp từ cấp tỉnhđến cấp cơ sở, bước đầu đã được đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng và tínhkhả thi của phương án quy hoạch, làm rõ được những nội dung quy hoạch của từngcấp, tạo tính chủ động, linh hoạt cho từng cấp trong xây dựng phát triển kinh tế - xãhội, góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH Việc chuyểndịch cơ cấu sử dụng đất trong thời gian qua về cơ bản phù hợp với quá trình chuyểndịch cơ cấu sản xuất, đầu tư, lao động, góp phần phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng,công nghiệp, nông nghiệp nông thôn, đô thị và dịch vụ, tạo bước đi hợp lý cho quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thành đo đạc và lập
Trang 23bản đồ địa chính ở 162/181 phường, xã Hệ thống bản đồ địa chính được lập bằngcông nghệ số, có độ chính xác cao và chi tiết đến từng thửa đất đáp ứng yêu cầu vềcả số lượng và chất lượng.
Công tác kiểm kê đất đai và thống kê đất đai hàng năm đều đảm bảo chấtlượng và thời gian theo quy định
Công tác giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đấtphục vụ cho các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
và phát triển kinh tế đã đýợc triển khai đồng bộ, đúng quy định pháp luật, thu hútnhiều dự án đầu tý trong nýớc và quốc tế với quy mô lớn
Tuy nhiên, thời gian qua, công tác quản lý, sử dụng đất ở tỉnh vẫn còn nhiềubất cập, thiếu sót, cần được đánh giá, làm rõ những nguyên nhân, đề ra những giảipháp khắc phục để công tác quản lý, sử dụng đất đi vào nền nếp, ổn định, nâng caohơn nữa năng lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về đất đai (Đoàn Văn Tuấn,2013) [73]
Theo Đàm Bích Hường (2011) [39]: Công tác quản lý Nhà nước về QSD đấttrên địa bàn thành phố Thái Nguyên đã góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lực đấtđai, thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Thái Nguyên phát triển Môitrường pháp lý và cơ chế quản lý đã hình thành và ngày càng hoàn thiện Từ đó hạnchế tình trạng tham nhũng trong quản lý đất đai, góp phần thu hút đầu tư vào cáclĩnh vực sản xuất, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tham gia sử dụngđất đai có hiệu quả Tuy nhiên, giá đất do địa phương ban hành còn thấp so với giáđất thị trường Công tác triển khai việc đấu giá đất còn chưa nhiều đất dẫn đến tìnhtrạng làm giá còn diễn ra khá phổ biến trên địa bàn Hệ thống đăng ký đất đai và bấtđộng sản quá coi trọng đối với việc lập các sổ địa chính, sổ mục kê đất; chưa coitrọng đúng mức đối với việc lập, quản lý các giấy tờ, chứng từ của quá trình thựchiện các thủ tục đăng ký đất
1.1.2 Đô thị hóa
1.1.2.1 Khái niệm đô thị hoá
Trang 24Theo Đàm Trung Phường (2007) [52]: Đô thị hóa là một quá trình chuyểndịch lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn cónhư các hoạt động của ngành nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng phân tán trên cácđịa bàn rộng sang những hoạt động tập trung hơn như các hoạt động sản xuất côngnghiệp và thương mại dịch vụ… cũng có thể nói là chuyển từ hoạt động nôngnghiệp, phân tán sang các hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bànthích hợp được gọi là đô thị.
1.1.2.2 Khái quát về đô thị hóa trên thế giới
Theo sốliệuthốngkêcủa Liên Hợp Quốc, năm 2000 dân cư của thế giới là6.600 triệu người; trong số đó dân cư đô thị có 2.900 triệu người (chiếm 48%); dựbáo vào năm 2030, dân cư đô thị sẽ là 5,0 tỷ, chiếm 60% dân số thế giới
Đến năm 2010 trên thế giới có khoảng 320"tích tụ đô thị"(với hơn1triệudân).
Trong số này, chỉ có 20 đô thị được phân loạitrêncơsởcác số liệuđiều tra dân sốnăm1995làsiêu đô thị(với hơn10triệudân) Bao gồm cáckhu vực đô thị với dân số (triệungười): Tô-Ky-Ô 26,8; Niu-Yooc: 16,5; Sao Pao Lô 16,4; Mê Xi Cô 15,6; Bombay 15,1; Thượng Hải 15,1, Lốt An giê lét 12,4; Bắc Kinh 12,3; Can Cút Ta 11,7;
Sê Un 11,6 (Hammond World, 2010) [105]
1.1.2.3 Những áp lực chủ yếu của quá trình đô thị hóa
- Các hoạt động kinh tế: công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ kinh tếdần tập trung vào khu vực đô thị, tạo ra dòng di cư từ nông thôn vào thành thị, sự
gia tăng dân số “cơ học” đã dẫn đến sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao
thông, năng lượng, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường); cơ sở hạ tầng xã hội (nhà ở,trường học, bệnh viện, nhà văn hóa khu vui chơi giải trí…)
- Tăng trưởng đô thị cấp tập làm cho nhu cầu về đất đai đô thị trở nên căngthẳng, phát sinh vấn đề sử dụng đất, đầu cơ đất và nhà ở; giá đất tăng cao buộcngười nghèo phải ở trong những công trình xây dựng phi pháp
Trang 25- Tài nguyên quốc gia phân phối không công bằng; gia tăng sự cách biệt giữathành thị và nông thôn; ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển quốc gia và làm phát sinhnhững vấn đề chính trị nghiêm trọng.
- Chính phủ thiếu một chính sách phát triển đô thị có hiệu quả và một hệthống quản lý đất đai, các tổ chức phải tự quyết định hình thái phát triển đất đai, tạonên sự phát triển nhảy cóc và lãng phí tài nguyên đất đai
- Khả năng đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng đô thị không theo kịp tốc độ tăng nhânkhẩu nhanh chóng, cho nên nhiều người nghèo đô thị không thể có được thiết bị côngcộng thích đáng, như nhà ở giá thấp, thiết bị giao thông, thiết bị vệ sinh cấp nước
- Tăng trưởng đô thị với tốc độ nhanh làm suy thoái chất lượng môi trường,không thể cải thiện bằng cơ chế thị trường hoặc chính sách của chính phủ, việc pháttriển đất đai không hợp lý và ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻđại chúng và chất lượng cuộc sống (Nguyễn Đình Bồng và CS, 2013) [4]
1.2 Tác động của phát triển đô thị đối với kinh tế, xã hội và môi trường đô thị
1.2.1 Tác động của phát triển đô thị đối với kinh tế, xã hội
1.2.1.1 Tác động của phát triển đô thị đối với tăng trưởng kinh tế
Theo Trần Ngọc Hiên và Trần Văn Chử (2008) [31]: Quá trình ĐTH thúcđẩy phát triển kinh tế đô thị, sẽ hình thành những trung tâm về khoa học công nghệ,vốn, nguồn nhân lực cho các địa phương, vùng và khu vực Do cơ cấu ngành kinh tế
đô thị chủ yếu là các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại và dịch vụ)
và sự phát triển các ngành này sẽ là nhân tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tổ chức quá trình tăng trưởng, pháttriển của nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế mà sự phát triển không đều theo môhình dàn hàng ngang phải được coi là hiện tượng, xu hướng tất yếu
Theo Nguyễn Duy Thắng (2009) [64]: Quá trình phát triển đô thị bền vững
sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, vì nó tạo ra nhiều cơ hội việclàm cho các vùng ven đô nhờ phát triển các hoạt động phi nông nghiệp như công
Trang 26nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ Tạo cơ hội cho người dân đượctiếp xúc với các hiện đại nên sẽ làm nảy sinh những nhu cầu tiêu dùng, thị trường vàdịch vụ phát triển, nhiều nhà máy, xí nghiệp và các dịch vụ được hình thành để đápứng những nhu cầu mới đó, góp phần phát triển kinh tế xã hội
- Theo Hà Thái (2008) [63]: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa
và dịch vụ thường đạt cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tươngđối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do các doanhnghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian đô thịnhất định Đồng thời khi kinh tế của các đô thị lớn đạt tới độ tăng trưởng cao thì nó sẽgây ra hiệu ứng lan tỏa kích thích mạnh tới tăng trưởng kinh tế của cả nước
- Theo Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh xã hội (2011) [7]: Đẩy nhanh
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình phát triển,
cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp vàgia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nôngnghiệp nói riêng, sự phát triển đô thị góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieotrồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiềulao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn vàcho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trịsản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỷ trọng của ngànhtrồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư (2011) [6]: Nhờ duy trì được tốc độtăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới chongười dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho họ Khi mức thunhập bình quân người/tháng tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũngtăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân Điều đó cho thấy sự pháttriển đô thị làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việcthực hiện xóa đói giảm nghèo
Theo Tổng cục thống kê thì thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Namkhông ngừng tăng lên, cụ thể:
Trang 27Bảng 1.1 Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014
GDP/đầu người (USD) 700,0 1145,0 1273,0 1749,0 1900,0Tỉ lệ tăng trưởng GDP thực (%) 8,4 6,2 6,7 5,03 5,9
(Nguồn: Niên giám thống kê từ 2005-2014, TCTK) [67]
Từ năm 2005 thu nhập bình quân trên đầu người không ngừng tăng nhanh vàmạnh Mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra là GDP bình quân đầu người tínhbằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân đến năm 2015 đạt 2.000 USD Mục tiêunày có thể đạt sớm hơn khi năm 2014 đã tiến tới mốc 1.900 USD Tỉ lệ tăng trưởngkinh tế giảm từ 2005 đạt 8,4% xuống 5,9% năm 2014 điều này là phù hợp với xuhướng phát triển của nền kinh tế kinh tế thế giới trong những năm qua
Theo Chi cục thống kê tỉnh Thái Nguyên thì tăng trưởng kinh tế và thunhập bình quân đầu người toàn tỉnh không ngừng tăng lên, cụ thể được thể hiện
(Nguồn: Niên giám thống kê từ 2006-2014, CCTK) [15]
Thu nhập bình quân trên đầu người và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế không ngừngtăng lên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn thách thức,song với sự nỗ lực, phấn đấu cao của toàn đảng bộ và nhân dân các dân tộc trongtỉnh tình hình KT-XH của tỉnh đã thu được những kết quả đáng kể Năm 2013 đượcxem là một năm bước đệm cực kỳ quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của cả nềnkinh tế trong những năm tiếp theo Thực tế năm 2013, kinh tế của tỉnh đã đạt đượcnhững kết quả đáng tự hào: Đứng thứ hai cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài với
số vốn đăng ký lên tới hàng tỉ USD; ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ vớinhững dự án trọng điểm như SamSung, Núi Pháo, nhiệt điện An Khánh (UBNDthành phố Thái Nguyên, 2008 -2013) [77], [78], [79], [80],[81]
1.2.1.2 Tác động của phát triển đô thị đối với dân số
Trang 28Theo Nguyễn Thế Bá (2004) [2]: Mức độ đô thị hóa được tính bằng tỷ lệ phầntrăm số dân đô thị so với tổng dân số toàn quốc hay vùng Tỷ lệ dân số đô thị là mộttrong các thước đo quan trọng về trình độ phát triển của quá trình đô thị hóa và là cơ sở
để so sánh về mức độ đô thị hóa giữa các quốc gia hoặc giữa các vùng với nhau
Đặc trưng của thế giới từ hơn một thế kỷ nay là hiện tượng gia tăng dân sốmột cách nhanh chóng, nổi bật là hiện tượng tập trung dân cư vào đô thị Hiệntượng này còn được gọi là hiện tượng bùng nổ dân số
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, năm 1800 chỉ có 1,7% dân số thế giớisống trong các đô thị lớn Năm 1900 có 5,6% Con số này là 16,9% năm 1950 và23,5% năm 1970 Đến năm 2000, 51% dân số thế giới sống trong các đô thị
Theo Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh xã hội (2011) [6]: Phát triển đôthị dẫn đến sinh kế hộ nông dân có nguy cơ kém bền vững Người nông dân bị thuhồi đất rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩnbị kịp các điều kiện để chuyên đổi nghề nghiệp Phần lớn nông dân có tiền (tiền BT
do bị thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào hiệu quả để sử dụng cho sản xuất,kinh doanh sinh sôi nảy nở Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt trướcvòng xoáy của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không còn tồntại, chính quyền cơ sở lại yếu kém Bởi vậy, khoảng cách người giàu và người nghèo,giữa nông thôn và thành thị càng lớn Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng sốngười tự do di cư ra thành thị kiếm việc làm đang tăng lên Họ luôn trong tâm lí lo sợ
rủi ro, bởi vậy, tư duy “ăn chắc, mặc bền” vẫn là phổ biến, có tiền là xây nhà, xây
cửa chắp vá, cơi nới một cách manh mún và rất tốn kém
Theo Tống Văn Đường (2011) [28]: Trong quá trình phát triển đô thị, ngoàiviệc tích tụ dân cư để hình thành các thành phố mới, số dân thành thị tăng lên chủyếu do mở rộng địa giới hành chính, gia tăng tự nhiên và một phần do di dân từnông thôn ra thành thị dưới nhiều hình thức khác nhau
Trong điều kiện bình thường, quá trình phát triển đô thị tạo ra những thếmạnh như: cung ứng nguồn lao động từ nông thôn cho thành thị, điều tiết phí nhâncông cũng như thu nhập của người lao động, giảm sức ép về dân số, về đất đai đểtạo tiền đề cho tập trung và tích tụ ruộng đất, phát triển nền nông nghiệp lớn … tuynhiên, tốc độ phát triển đô thị ngày càng lớn ở các nước đang phát triển đã và đang
để lại những hậu quả và tác động không tốt đến điều kiện sống ở thành thị, cản trởtiến trình phát triển xã hội
Trang 29Hình 1.1 Dân số và tỷ lệ dân số đô thị Việt Nam từ 1950 - 2050
Theo Trần Viết Khanh và Phạm Thị Kim Duyên (2011) [41]: Có thể nhận
định động thái dân số ở tỉnh Thái Nguyên ở trạng thái “tĩnh” Từ khi đổi mới đến
nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, quá trình đô thị hoá diễn ramạnh hơn, dân số ở các tỉnh, thành có kinh tế phát triển như Hà Nội, Hải Phòng, ĐàNẵng, thành phố Hồ Chí Minh… xảy ra hiện tượng bùng nổ dân số do gia tăng cơgiới, dân cư từ nơi khác đến làm ăn, sinh sống, học tập… nhưng ở tỉnh Thái Nguyênkhông xảy ra hiện tượng này, gia tăng tự nhiên vẫn giữ vai trò chủ đạo trong quátrình tăng quy mô dân số Đây là động thái chung của các tỉnh trung du miền núi,trình độ phát triển kinh tế còn chậm Tuy nhiên, tình hình phát triển dân số của tỉnhThái Nguyên có sự khác biệt giữa các huyện thị Thể hiện rõ qua bảng 1.3
Bảng 1.3 Tình hình phát triển dân số tỉnh Thái Nguyên
0.4
0.6
0.8
11.2
Trang 30Hình 1.2 Tỷ lệ gia tăng dân số tỉnh Thái Nguyên
Thành phố Thái Nguyên và thành phố Sông Công chịu tác động của quátrình đô thị hoá nên có tốc độ tăng dân số rất cao Sau 10 năm dân số thành phốThái Nguyên tăng thêm 68.049 người, mỗi năm tăng 3,2%; thành phố Sông Côngtăng thêm 6.411 người, tốc độ tăng bình quân năm là 1,5% Trong khi đó, các huyệnnhư Định Hoá, Đại Từ, Phú Bình lại có dân số thấp hơn so với 10 năm trước khoảngtrên dưới 3.000 người, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu học tập và việc làm nên tỷ lệxuất cư cao hơn mức gia tăng tự nhiên Nhìn chung, tốc độ gia tăng dân số trên toàntỉnh trong 10 năm qua thấp hơn thời kì 1989 - 1999 và thấp hơn so với trung bình cảnước Có được kết quả như vậy một mặt là do kết quả của nhiều năm kiên trì triểnkhai chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, mặt khác do nhu cầu học tập vàviệc làm nên có một bộ phận dân cư đã di chuyển ra khỏi địa phương
1.2.2 Tác động của phát triển đô thị đối với môi trường
Theo Nguyễn Trọng Phượng (2008) [53]: Môi trường đô thị là một bộphận trong toàn bộ môi trường nói chung Tất cả các yếu tố môi trường xét trongkhông gian đô thị đều thuộc phạm vi môi trường đô thị Môi trường đô thị baogồm môi trường thiên nhiên bên ngoài bao quanh đô thị (nước, không khí, đất,động thực vật …) tất cả những gì tạo nên cấu trúc vật thể đô thị, bắt đầu từ khoảngkhông gian bên trong đến khu đất rộng lớn khu dân cư, khu công nghiệp, khu vuichơi giải trí … của đô thị Ngoài ra, môi trường đô thị còn bao gồm cả những yếu tốnhân văn đa dạng phát sinh do hoạt động của con người như tiếng ồn, điện từ trường,rung động …
Theo Trần Thị Hường (1998) [38]: Môi trường đô thị là tất cả, là sự tổng hòacủa mọi yếu tố, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, bảo đảm cho
Trang 31hoạt động sinh hoạt, sản xuất, nghỉ ngơi của mọi người dân đô thị Nó có mối quan
hệ trong từng yếu tố, giữa yếu tố này với yếu tố kia thậm chí rất nhiều yếu tố cóquan hệ tác động với nhau thông qua hoạt động chi phối của con người
Theo Luật Bảo vệ Môi trường (2014) [57]: Tại Điều 3 chương 1 thì môitrường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sựtồn tại và phát triển của con người và sinh vật
Theo Nguyễn Thế Bá (2001) [2]: Môi trường đô thị là môi trường được hìnhthành bởi nhiều thành phần vật chất khác nhau, trước tiên là các khu nhà ở, các khusản xuất, khu công nghiệp, khu trung tâm, khu nghỉ ngơi, các hệ thống giao thôngvận tải và các hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị khác…
Theo Trần Thị Hường (1998) [38]: Môi trường đô thị là một trong những kếtquả tác thành của con người trong quá trình tác động vào môi trường tự nhiên vàxây dựng phát triển xã hội theo hướng hòa đồng giữa môi trường nhân tạo và môitrường tự nhiên
Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch đầu tư (2011) [6]: Phát triển đô thị thu hẹpdiện tích đất nông nghiệp Sự phát triển nhanh của đô thị đã làm cho nhu cầu về sửdụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rấtnhanh Điều này dẫn đến tình trạng nuốt chửng những diện tích đất nông nghiệp vốnrất cần thiết cho một đô thị như: sản xuất lương thực thực phẩm, tạo mảng không
gian xanh có vai tṛ “giải độc” cho môi trường sống, tạo khu nghỉ ngơi cho thị dân
… đồng thời sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tớiviệc cải thiện mức sống của nhiều người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếuphương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống
Theo Frumkin và Jackson: Phát triển đô thị làm môi trường bị ô nhiễm Chấtlượng môi trường đô thị bị suy thoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sảnxuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chấtthải gây hại ngày càng gia tăng, bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường
và tiếng ồn (Frumkin, 2002, 2004, 2005) [100], [101], [102]; (Jackson, 2009) [105]
Trang 32Ở Việt Nam quá trình phát triển đô thị diễn ra khá nhanh và mạnh NhiềuKCN, nhiều nhà máy, các khu đô thị phát triển một cách rầm rộ Bên cạnh mặt tíchcực cho kinh tế xã hội thì vấn đề môi trường cũng đang đứng trước những nguy cơbáo động Theo kết quả thống kê cho biết, khoảng 70% hệ thống cấp nước đô thị lấytừ nguồn nước mặt, 30% lấy từ nguồn nước ngầm Hệ thống phân phối nước lại cũkỹ, hư hỏng, rò rỉ làm thất thoát tới 30-40% lượng nước cung cấp Như vậy, lượngnước máy cung cấp đến người dân đô thị còn thấp (ở các thành phố loại I, tỉ lệ dân
số được cung cấp nước máy chiếm 49,2%, ở thành phố loại II tỉ lệ này là 47,1%).Còn lại phần lớn dân cư tự khoan giếng lấy nước sinh hoạt (Bộ TNMT, 2013) [5]
Hệ thống thoát nước mưa ở hầu hết các khu đô thị đều rất kém Ở Hà Nội chỉcần một trận mưa khoảng 50mm/h sẽ làm cho khoảng 42 điểm trong nội thành bịngập nước, đặc biệt là khu vực đường Tôn Đức Thắng, Nguyễn Thái Học…(Công
ty môi trường đô thị Hà Nội, 2012) [22]
Kể từ năm 1997, Nhà nước đã có nhiều văn bản về quản lý chất thải rắn ởcác khu đô thị và khu công nghiệp nhưng vấn đề này vẫn tồn tại nhiều bức xúc.Trong năm 2000, tổng lượng rác thải đô thị ước tính khoảng 18 nghìn
m3/ngày (82% là rác thải sinh hoạt) nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 45-55%…(Công ty môi trường đô thị Hà Nội, 2012) [22]
Tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng
+ Ô nhiễm bụi: Hà Nội khoảng 1,2 mg/m3, gấp 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép;Hải Phòng khoảng 1,8 mg/m3; thành phố Hồ Chí Minh khoảng 1,6 mg/m3
+ Ô nhiễm SO2: Đường Nguyễn Trãi, Hà Nội lên tới 1,5-7,5 mg/m3 (gấp
3-15 lần tiêu chuẩn cho phép)
+Tiếng ồn: ở Hà Nội, đo lường trên một số trục đường chính cho thấy mứcồn giao thông trung bình trong cả ngày khoảng 75-79 dB; Hải Phòng là khoảng 73-
74 dB (Bộ TNMT, 2013) [5]
Trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, kết quả quan trắc môi trường các đợtnăm 2014 cho thấy:
Trang 33Chất lượng nước mặt tại một số địa điểm đã ô nhiễm như suối Mỏ Bạch, suốiCam Giá Hầu hết chất lượng nước tại các điểm quan trắc trên sông Cầu không đảmbảo sử dụng cho mục đích sinh hoạt theo QCVN 08:2008/QCVN cột A2 nhưng vẫnđảm bảo sử dụng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi theo QCVN 08:2008/BTNMT cột B1.
Về chất lượng không khí, hầu hết các vị trí quan trắc đều bị ô nhiễm bụi Tuynhiên, ô nhiễm bụi không xảy ra thường xuyên, chủ yếu vào mùa mưa Ô nhiễm bụităng cao tại các khu vực sản xuất xi măng, khu công nghiệp và khu vực hoạt độngkhai thác mỏ
Về chất lượng đất, mẫu tại khu vực phường Cam Giá bị ô nhiễm kim loạinặng như Pb, Cd, As, Các vị trí khác trên địa bàn thành phố không bị ô nhiễm môitrường (TT Quan trắc MT, 2014) [69]
1.2.3 Tác động của phát triển đô thị đối với các vấn đề xã hội
- Quá trình phát triển đô thị và vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị
Theo Đoàn Tranh (2014) [68]: quá trình đô thị hóa diễn ra dẫn đến dân cư đô
thị ngày càng tăng Sức “hấp dẫn” của cuộc sống đô thị và của các vùng đã được
đô thị hóa là nguyên nhân chính lôi cuốn một khối lượng khổng lồ cư dân nông thôn
đi tìm miền “đất hứa”, mật độ dân cư dày đặc gây mất cân đối giữa đô thị và nông
thôn Đồng thời đặt ra những vấn đề nan giải cần giải quyết như việc làm, nhà ở và
tệ nạn xã hội phát sinh làm cho trật tự xã hội ngày càng thêm phức tạp, gây khókhăn cho công tác quản lý trật tự an toàn xã hội
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, tốc độ phát triển đô thị diễn ra rấtnhanh, mật độ dân cư đô thị ở các thành phố đều tăng nhanh đáng kể
Trang 34(Nguồn: Tổng cục Thống kê) [67]
Hình 1.3 Mật độ dân số một số thành phố lớn của Việt Nam năm 2005 và 2013
- Quá trình phát triển đô thị kéo theo sự phát triển của không gian đô thịhiện đại
Theo Đoàn Tranh (2014) [68]: Quá trình phát triển đô thị kéo theo sự thayđổi về không gian đô thị Theo cấu trúc đô thị thì không gian đô thị được xác địnhbằng hai tiêu chí là độ kết tụ của các công trình và ngưỡng dân số Độ kết tụ thểhiện sự tập trung dày đặc các công trình
- Theo Nguyễn Kế Tuấn (2006) [74]: Xu hướng phát triển đô thị tạo ra sự tậptrung sản xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học,văn hóa và thông tin Những điều kiện đáp ứng nhu cầu đó là sự phát triển kết cấuhạ tầng, nhà ở, các dịch vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Do đó, hệ thống giaothông vận tải, năng lượng, bưu chính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cảitiến về quy mô và chất lượng
- Quá trình phát triển đô thị và các vấn đề xã hội khác
Theo Đoàn Tranh (2014)[68]: Vấn đề đô thị hóa nhanh và tăng dân số cơ họclàm phát sinh tình trạng nghèo thu nhập tăng lên đối với lực lượng lao động nhập cư
do chi phí sinh hoạt đắt đỏ tại các khu vực đô thị Nên đã hình thành nên các khu ổchuột tại các thành phố và khu đô thị lớn Khu ổ chuột là nơi giải quyết chỗ ở chonhững người nghèo, bần hàn cơ cực, người có thu nhập thấp, người lao động, ngườinhập cư, người thất nghiệp, vô gia cư mà họ không có đủ điều kiện để sinh sống ởnhững nơi có điều kiện tốt hơn
Theo Nguyễn Thị Hải Yến (2013) [92]: Do tác động của quá trình CNH,hàng chục nghìn người trên địa bàn huyện rời khỏi làng quê quen thuộc ra các đôthị, hoặc chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Cuộc sốngmới làm họ thay đổi cách nhìn, tu duy, nếp nghĩ truyền thống bằng lối sống hiện
Trang 35đại, tạo nên sự biến đổi khá lớn trong toàn bộ đời sống tinh thần có liên quan đếnđạo đức, lối sống của người dân Ðây chính là lối sống an chơi buông thả trong tầnglớp thanh thiếu niên do không tự kiềm chế được những nhu cầu không lành mạnh,làm mất dần tính văn hóa và trí tuệ Tệ nạn xã hội nhiều khi làm cho những quan hệthân thương trong gia đình trở thành thù hận, gây tan thương, chết chóc, có nhiềugia đình tan nát vì ma túy, mại dâm, cờ bạc
Theo Nguyễn Hữu Nguyên (2013) [46]: Trước thực trạng tệ nạn xã hội, tội
phạm phức tạp như hiện nay, những “đơn thuốc” như “tăng cường đẩy mạnh tích cực - quyết liệt” đối với vấn đề này đã bị nhờn “TP.HCM đã gần 10 triệu dân (gần trở thành siêu đô thị), quá tải dân số Hầu như tất cả tệ nạn xã hội và vấn nạn
-đô thị ở TP.HCM đều có mối liên hệ trực tiếp đến tình trạng quá tải dân số Thực tế cho thấy trên phạm vi toàn cầu, tệ nạn xã hội luôn tỉ lệ thuận với dân số đô thị Đây
là vấn đề mà các đô thị lớn trên thế giới đã và đang phải trả giá rất đắt” Theo ông,
ma túy, mại dâm và các loại tội phạm đều cần những nơi có tính “vô danh” như các
đô thị lớn để ẩn nấp Nơi đó, nhà ở sát vách nhưng hầu như người ta không quenbiết nhau, không có quan hệ hàng xóm, là môi trường dễ che giấu hành vi
Theo Hà Thái (2008) [63]: Phát triển đô thị đem lại một số tiến bộ về mặt xãhội đó là: nâng tuổi thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suydinh dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa …
Theo Võ Văn Đức (2011) [27]: Phát triển đô thị dẫn đến việc xã hội nôngthôn nảy sinh nhiều bất cập: Năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở chưa đápứng yêu cầu phát triển của thực tiễn Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp,khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Giácả leo thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của ngườinông dân
Việc tổ chức triển khai xây dựng các dự án đều theo đúng trình tự, đúng quiđịnh của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.Tuy nhiên, hiện nay do giá cả thị trường bất động sản luôn biến động, cùng với sựlôi kéo kích động của các phần tử xấu nên việc khiếu kiện đông người vượt cấp kéo
Trang 36dài, nội dung chủ yếu là đòi nâng giá BT, nâng cấp loại đất BT, giảm giá đất táiđịnh cư … làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội(Vương Cường, 2008) [25].
Sự tập trung cao của lao động tại đây khiến cho vấn đề xã hội ngày càng trởthành áp lực đối với chính quyền địa phương và người dân đó chính là tình trạngthiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng và đáng longại nhất vẫn là nảy sinh tệ nạn xã hội (Võ Văn Đức, 2011) [27]
1.2.4 Tác động của phát triển đô thị lên chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu lao động
Đô thị hóa ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất Cơ cấungành kinh tế chuyển dịch từng khu vực và việc hình thành các khu công nghiệp,trung tâm công nghiệp, cụm công nghiệp, các dịch vụ kiến trúc đô thị phát triển đểphục vụ cho quá trình phát triển Như vậy, làm cho nhu cầu phải chuyển một diệntích lớn diện tích đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng và đất sản xuất kinh doanh,làm giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất hoang hóa bạc màu,đất núi đá ít có giá trị sử dụng ngày càng hiệu quả hơn
Đô thị hóa cũng ảnh hưởng gián tiếp đến cơ cấu sử dụng đất, làm tăng giá trịsử dụng đất Trong quá trình đó, diện tích đất để phục vụ nhu cầu phát triển sản xuấtcông nghiệp, khu đô thị, khu dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật rất lớn Chonên diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại, diện tích đất phi nôngnghiệp ngày càng tăng nhanh, nhất là diện tích phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinhdoanh phi nông nghiệp Các loại đất nông nghiệp khi được chuyển đổi sang mụcđích sản xuất công nghiệp, dịch vụ thì giá cả cao hơn, được sử dụng đa dạng và triệt
để hơn, hiệu quả mang lại lớn, tạo nhiều cơ hội việc làm
Đô thị hóa kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơntrong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinhdoanh, làm giàu trên mảnh đất của mình (Trần Thị Thanh, 2012) [62]
Theo Nguyễn Thị Hoài Phương (2015) [51]: Thông qua những nghiên cứuvề đô thị hóa, công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhóm tác giả đề tài
Trang 37đã khẳng định quá trình đô thị hóa tác động đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
và bản thân cơ cấu sử dụng đất khi chuyển động lại có ảnh hưởng ngược lại quátrình đô thị hóa
Theo Phan Văn Yên (2014), [93]: Sự chuyển dịch cơ cấu lao động trước đôthị hóa là tích cực, giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng laođộng công nghiệp, dịch vụ Sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế làkhông đều Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn nhiều so với sự chuyểndịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp, dịch vụ Đất nông nghiệp ngày càngbị suy giảm do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp
Theo Phí Thị Hằng (2014) [30]: Luận án tập trung nghiên cứu quá trìnhchuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của Thái Bình trong giai đoạn từ 2001-
2012 Về mặt lí luận, tác giả đã làm rõ cơ sở lí thuyết về chuyển dịch cơ cấu laođộng theo ngành ở địa bàn cấp tỉnh, đưa ra nội dung và các xu hướng chuyển dịch,đặc biệt tác giả đã đưa ra bộ chỉ tiêu đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu lao độngtheo ngành xét về số lượng và chất lượng Luận án đi sâu vào phân tích sự chuyểndịch lao động trong nội bộ các ngành kinh tế của tỉnh dựa trên các tiêu chí đánh giáxét về quy mô và chất lượng; rút ra những vấn đề còn tồn tại trong quá trình chuyểndịch và nguyên nhân của nó Để từ đó làm cơ sở đề xuất định hướng và giải phápthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành của Thái Bình đến năm 2020
Theo Nguyễn Thị Hải Vân (2013) [88]: Trên cơ sở lí luận về tác động của đôthị hóa tới lao động, việc làm ở nông thôn và từ kinh nghiệm thực tiễn của 2 thànhphố lớn là Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trong điều tiết tác động của đô thị hóa tới laođộng, việc làm ở nông thôn, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng của thành phố HàNội Ba yếu tố được tác giả làm rõ gồm: tác động đến xu hướng lao động, việc làm
ở nông thôn; tác động đến cơ cấu và chất lượng lao động nông thôn ngoại thành; tácđộng đến việc làm và sinh kế nông thôn ngoại thành Qua phân tích cho thấy quátrình đô thị hóa làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, làm biến đổi cơ cấu ngànhnghề và một bộ phận người dân không có việc làm mới Người nông dân mất đấtphải tự tìm việc làm tự phát, không ổn định và khó khăn khi chuyển qua các ngành
Trang 38nghề mới do không có trình độ chuyên môn hoặc trình độ tay nghề yếu, họ di cưvào đô thị gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho cả khu vực thành thị và nông thônlên các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường.
1.3 Tình hình và nghiên cứu về phát triển đô thị trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình và nghiên cứu về phát triển đô thị trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình phát triển đô thị trên thế giới
a) Thời kỳ cổ đại
Theo Khương Văn Mười (2006) [44]: Hầu hết các quốc gia cổ đại đều hìnhthành và phát triển tại những vùng đồng bằng lưu vực các dòng sông lớn, nơi cóđiều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi, thủcông nghiệp và thương nghiệp Đó là khu vực sông Nin ở Đông Bắc châu Phi vớinền văn minh Ai Cập
Theo Nguyễn Quốc Thông (2011) [66]: Ở khu vực Tây Á, giữa hai dòngsông lớn là Tiger và Euphrat có nền văn minh cổ đại Babylone, Assyrie, Phenicie,
… Ở lưu vực sông Hằng (Sindhu, tức Indus) có nền văn minh Nam Á cổ đại với ẤnĐộ là đại diện Lưu vực sông Hoàng Hà, sông Dương Tử (Trường Giang) ở Đông Á
là nơi xuất hiện nền văn minh Trung Quốc cổ đại …
Về cấu trúc đô thị
*) Đô thị cổ Ai Cập
Theo Nguyễn Quốc Thông (2011) [66]: Đặc điểm nổi bật trong cách tổ chức
và xây dựng đô thị của Ai Cập cổ đại thể hiện ở sự phân chia các khu chức năng đôthị một cách tách biệt
Theo Nguyễn Dương Tử (2010) [75]: Người Ai Cập cổ đại sống tập trungdọc theo sông Nin Các vua chúa đề cao cuộc sống sau khi chết nên tập trung xâydựng các lăng mộ, điển hình là các Kim tự tháp
Đô thị cổ Ai Cập ở hạ lưu sông Nin thường là hình chữ nhật, xây dựng vàokhoảng 3500 năm trước Công nguyên
*) Hy Lạp cổ đại
Hy Lạp cổ đại là nơi tập trung nhiều kiến trúc quy hoạch cổ đại Nhiều nhânvật nổi tiếng đã tạo nên những giá trị đặc biệt cho quy hoạch và kiến trúc đô thị cổ
Trang 39Hy Lạp Đặc trưng của quy hoạch Hy Lạp cổ đại là thành phố bàn cờ củaHyppodamus (500 năm trước Công nguyên).
Các nhân vật nổi tiếng trong kiến trúc quy hoạch Hy Lạp cổ đại: Plato,Aristotle …
*) Văn minh Lưỡng Hà (4300 năm TCN)
Theo Nguyễn Quốc Thông (2011) [66]: Thành phố lớn nhất là Babilon xâydựng vào khoảng năm 602 - 562 trước công nguyên và trở thành một trong 7 kỳquan thế giới cổ đại mang nhiều truyền thuyết Nền văn minh Lưỡng Hà đã tạo điềukiện cho sự phát triển của nhiều thành phố
*) Nền văn minh Trung Hoa
Cách bố trí theo kiểu phân lô được ứng dụng cho Bắc Kinh Bắc Kinh hình thànhtừ 2400 năm TCN và trở thành thủ đô Trung Quốc năm 878 sau CN
Đô thị thường được bao bọc bởi tường thành xây gạch bên ngoài hào sâumang đặc trưng là thành lũy quân sự Cấu trúc thường có 3 vòng tường thành giớihạn từng khi vực cho 3 tầng trong xã hội phong kiến Trung Quốc (Trần Đức Quang,2005) [54]
*) Các vùng khác
Theo Vũ Thị Bình (2008) [14]: Ấn Độ cũng có những thành phố được hìnhthành từ 3000 năm trước công nguyên Thành phố cũng được xây dựng theo kiểuphân lô
Nhiều nơi khác cũng xuất hiện các điểm dân cư đô thị nhưng không để lạinhững tính chất điển hình
Tóm lại, trong giai đoạn này những quan điểm trong xây dựng và phân phốicác điểm dân cư chứng tỏ ngay từ thời xa xưa con người đã có ý thức trong việc lựachọn cho mình một nơi sống và cách sống thích hợp Các điểm dân cư tập trung vớiqui mô không lớn lắm, thường mỗi điểm dân cư là một bộ lạc, được xây dựng dọc
Trang 40ven sông và coi nguồn nước là yếu tố cơ bản của sự tồn tại và phát triển Về kinh tế,động lực chính của sự phát triển các điểm dân cư là các cơ sở sản xuất nông nghiệp
và thương nghiệp
b) Thời kỳ trung đại
Theo Khương Văn Mười (2006) [44]: Đô thị xuất hiện chủ yếu vào đầu côngnguyên thuộc chế độ phong kiến Quy mô thành phố nhỏ, không lớn hơn 5000 đến10.000 người, hầu hết có thành quách bao ngoài
Theo nghiên cứu Văn học Swedsurvey (2002) [112]: Trong thành phố, trướchết là các tổng thể kiến trúc đô thị độc lập có chức năng hành chính và tôn giáođược cải tạo hoặc xây dựng mới để trở thành hạt nhân trung tâm Ngoài ra, thànhphố còn được tổ chức và xây dựng theo các phường hội thủ công chuyên môn hóa.Ngoài cùng là vòng thành lũy, hào nước bảo vệ Số lượng nhiều hay ít các phườngnghề và vòng thành kế tiếp nhau phục thuộc vào sự phát triển và độ lớn của đô thị
Theo Nguyễn Quốc Thông (2011)[66]: Sự phát triển hình thái đô thị thời kìtrung đại là một quá trình phức tạp và đa dạng Trong quá trình phát triển đô thịtrung đại, thiếu sự kế thừa truyền thống văn hóa cổ đại, mà chủ yếu khai thác nhữngtruyền thống xây dựng địa phương vốn rất khác nhau giữa các vùng và các quốc gia
Tóm lại, quá trình phát triển đô thị thời kỳ này chậm, phát triển một cách tựphát, thiếu ổn định và môi trường đô thị không hợp lý Nền kinh tế mang tính chất
tự cung tự cấp dựa trên nền sản xuất nông nghiệp
c) Thời kỳ cận đại
Theo Đặng Thái Hoàng (2010) [32]: Những thành phố mới có 3 loại: các đô thịcông nghiệp, các điểm dân cư đô thị đặt cạnh các đầu mối giao thông đường sắt vàđường bộ và các thành phố cảng là những điểm thương mại có chợ hay cửa biển Cónhững vùng thành phố dày đặc (ví dụ vùng mỏ than Biêc - minh - gam, các vùng côngnghiệp Rua, Xar), ở đây ranh giới giữa các đô thị biến mất, mật độ dân số vô cùng lớn
d) Thời kỳ hiện đại
Theo Đặng Thái Hoàng (2010) [32]: Sự nảy sinh khoa học, nghệ thuật xâydựng và quy hoạch đô thị hiện đại đã thấy được dần rõ nét ngay trong thời kỳ cận