Giải pháp bao gồm thuật toán thiết kế quỹ đạo 3 spline h với đa thức bậc 7 kết hợp với thuật điều khiển tối ưu theo chuẩn toàn phương để xác định tốc độ góc cần thiết cho rô bốt bám quỹ
Trang 1Thiết kế quỹ đạo và điều khiển xe tự hành vận chuyển trong kho
Trajectory planning and control of mobile robot for transportation
in warehouse
Nguyễn Văn Tính, Phạm Thượng Cát, Phạm Minh Tuấn, Bùi Thị Thanh Quyên
Viện Công nghệ thông tin, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Email: nvtinh@ioit.ac.vn; ptcat@ioit.ac.vn ; pmtuan@ioit.ac.vn ; quyenbt@pusan.ac.kr
Tóm tắt:
Báo cáo này đề xuất giải pháp thiết kế quỹ đạo và
điều khiển tối ưu xe tự hành cho bài toán vận chuyển
kệ hàng (pallets) trong kho Giải pháp bao gồm thuật
toán thiết kế quỹ đạo 3
spline
h với đa thức bậc 7 kết hợp với thuật điều khiển tối ưu theo chuẩn toàn
phương để xác định tốc độ góc cần thiết cho rô bốt
bám quỹ đạo Ngoài ra việc định vị xe tự hành từ các
tín hiệu đo can nhiễu được xác định bằng phương
pháp lọc Kalman mở rộng Các thử nghiệm trên rô bốt
tự hành Pioneer P3-DX trong phòng thí nghiệm cho
kết quả khả quan
Abstract:
This paper presents methods for trajectory planning
and optimal control of mobile robot for the problem
of pallet’s pick and place in warehouse The
3
spline
h with 7th order polinom is used for
trajectory planning Based on linearized error
dynamic equations and by using optimal control law a
sequence of angular velocities is generated such that
mobile robot always tracks the desired trajectory
Furthermore, we propose an approach of mobile robot
localization using Extended Kalman filter The
implementation of the proposed methods on robot
Pioneer P3-DX gives acceptable results
1 Giới thiệu
Rô bốt di động là một hệ rô bốt có khả năng thực hiện
các nhiệm vụ ở nhiều vị trí khác nhau với khả năng
dịch chuyển bằng bánh xe, xích hay bằng chân phụ
thuộc vào địa hình Khả năng di động làm rô bốt có
nhiều ứng dụng và đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn
đề mới Những vấn đề nghiên cứu đang được nhiều
tác giả trên thế giới quan tâm cho lĩnh vực rô bốt di
động, xe tự hành là khả năng xác định phương hướng
(navigation) của rô bốt, bài toán thiết kế qũy đạo
chuyển động tránh vật cản và điều khiển xe tự hành
tiếp cận quỹ đạo mong muốn
Do mô hình động học và động lực học của rô bốt
di động, xe tự hành thường là mô hình phi tuyến dạng
hệ nonholonomic (có các ràng buộc về tốc độ chuyển
động không khả tích), và có nhiều tham số bất định
nên bài toán thiết kế quỹ đạo và điều khiển đòi hỏi
nhiều nghiên cứu và áp dụng các phương pháp tính
toán phức tạp để bảo đảm xe chạy ổn định trơn tru và
bám quỹ đạo chính xác
Hiện nay, có nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới
đã đạt được những thành tựu đáng kể về điều khiển rô bốt tự hành nâng hạ (forklift) xắp xếp kệ hàng (pallet) trong kho Nhóm tác giả của trường đại học Girona, Tây Ban Nha đã nghiên cứu hệ thống thị giác tìm vị trí 3D của pallet dựa trên màu sắc và đặc tính hình học của nó Từ đó, quỹ đạo tuyến tính được tạo ra để giúp xe nâng hạ có thể di chuyển và tiếp cận pallet [3] Nhóm tác giả của Viện kỹ thuật hệ thống của trường đại học Hannover đã nghiên cứu thành công bài toán nhận dạng/định vị pallet dựa trên hai máy quét laser để forklift có thể tiếp cận và nâng hạ pallet [4] Bellomo và nhóm tác giả đã nghiên cứu phương pháp ước lượng vị trí của pallet dựa vào dữ liệu máy quét laser LIDAR và hệ thống thị giác [5] Ngoài ra bài báo này cũng trình bày thuật toán điều khiển forklift chuyển động tiếp cận để nâng/hạ pallet dựa trên thuật toán “tái lập quỹ đạo dạng polinom” Widyotriatmo và nhóm tác giả đã đề xuất thuật toán
“tiên đoán hướng” (predictive navigation) kết hợp với quỹ đạo ngắn nhất, tránh chướng ngại vật (obstacle avoidance), và sự bất định của các cảm biến,
cơ cấu chấp hành [6] Thuật toán tạo quỹ đạo
3
spline
h được sử dụng cho rô bốt di động loại bánh xe (wheeled mobile robot) được giới thiệu trong [7], [8] và thuật toán mở rộng của nó trong việc tránh các chướng ngại vật khi di chuyển trong [9]
Báo cáo này đề xuất giải pháp thiết kế quỹ đạo và điều khiển tối ưu xe tự hành cho bài toán vận chuyển
kệ hàng (pallets) trong kho Báo cáo gồm 5 phần Phần 2 mô tả thuật toán thiết kế quỹ đạoh3 spline
với đa thức bậc 7 và thuật điều khiển tối ưu theo chuẩn toàn phương để xác định tốc độ cần thiết cho
rô bốt bám quỹ đạo Phần 3 trình bày phương pháp định vị xe tự hành từ các tín hiệu đo can nhiễu được xác định bằng phương pháp lọc Kalman mở rộng Các
thử nghiệm trên rô bốt tự hành Pioneer P3-DX trong
phòng thí nghiệm được mô tả trong phần 4 Phần 5 là một số kết luận và hướng nhiên cứu tiếp tục triển khai trong thời gian tới
2 Bài toán điều khiển rô bốt di động xắp
xếp hàng trong kho
2.1 Xây dựng mô hình động học cho rô bốt di dộng
Rô bốt di động sử dụng trong báo cáo này là Pioneer P3-DX thuộc loại xe chuyển động trên mặt phẳng có hai bánh đẩy và một bánh lái có thể thấy ở Hình 1
Trang 2(trên) và mô hình của nó có hình dáng hình chữ nhật
(dưới)
H1 Từ trên xuống dưới: rô bốt Pioneer P3-DX và
cấu hình của nó trong hệ tọa độ OXY
Ở đây l1 là chiều dài, l2 là chiều rộng, và lw là
khoảng cách giữa 2 bánh xe sau Tọa độ OXY và
oxy lần lượt là hệ tọa độ nhà kho và hệ tọa độ cục
bộ gắn trên rô bốt, và (X, Y) diễn tả tọa độ của trọng
tâm rô bốt trong hệ tọa độ nhà kho Góc biểu diễn
góc quay của trục x-axis so với trục X Tọa độ cục bộ
của rô bốt oxy được thiết lập như sau: vị trí gốc của
tọa độ ở điểm giữa của trục sau và trục x-axis vuông
góc với trục chính của rô bốt Như vậy cặp 3 (X, Y, θ)
mô tả đầy đủ vị trí (X,Y) và hướng của rô bốt
thường được gọi là cấu hình (configuration) của rô
bốt di động Với giả thiết xe không bị trượt
(no-slippage), rô bốt phải chuyển động với rằng buộc về
tốc độ như sau:
Điều kiện rằng buộc này thuộc dạng không khả tích
(non-holonomic) có nghĩa là ta không thể tích phân để
xác định được quỹ tích những điểm (X,Y) rằng buộc mà
chuyển động của xe phải thỏa mãn Trong thực tế xe
cấu hình của xe (vị trí và hướng) có thể là bất kỳ ở mọi
điểm trong mặt phẳng nhưng khi chuyển động thì tốc độ
của xe phải thỏa mãn điều kiện rằng buộc
non-holonomic (1)
Với điều kiện rằng buộc này, chuyển động của rô bốt có
thể mô tả bới hai biến điều khiển chuyển động (v, ω)
như sau:
cos
sin
(2)
trong đó v là vận tốc tuyến tính (translational velocity) của rô bốt dọc theo trục x-axis và ω là vận tốc góc của
rô bốt Giả định v vmax và max, trong đó
max
v và max lần lượt là các giá trị lớn nhất của chúng Hệ (2) là hệ động học khá phổ biến cho nhiều loại xe tự hành dùng trong công nhiệp cũng như trong các phòng thí nghiệm
2.2 Bài toán xắp xếp kệ hàng trong kho và thuật toán điều khiển tối ưu
Trong tọa độ toàn cục OXY , rô bốt có cấu hình là (X,Y,), kệ hàng có cấu hình là
) , , ( XP YP P , và cấu hình cần chuyển kệ hàng đến là
) , , ( XG YG G (Hình 2)
H 2 Bài toán xắp xếp pallet trong kho
Cấu hình của kệ hàng trong hệ tọa độ toàn cục có thể được xác định nhờ các cảm biến như máy quét laser, camera gắn trên rô bốt Cấu hình của rô bốt được bộ định vị (localization) ước lượng dựa trên tín hiệu thu
về từ các cảm biến trong của rô bốt Bài toán đặt ra là cần tìm thuật toán để có thể điều khiển rô bốt di chuyển từ vị trí hiện tại tiếp cận kệ hàng và sau đó mang kệ hàng tới vị trí đích đã cho trước Các tác vụ
rô bốt cần thực hiện trong nhiệm vụ xắp xếp này là: I- Di chuyển từ cấu ban đầu tới cấu hình của kệ hàng II- Nhấc kệ hàng lên
III- Di chuyển từ cấu hình đã nhấc kệ hàng tới cấu hình đích
IV- Đặt kệ hàng xuống và đứng nguyên ở vị trí đích
Sơ đồ khối của bộ điều khiển cho rô bốt như trong Hình 3
H 3 Sơ đồ khối của hệ điều khiển
Bộ điều khiển rô bốt bao gồm nhiều khối chức năng, như sau:
Khối định vị có chức năng thu nhận tín hiệu từ các cảm biết trong như gyro, encoder và tín hiệu từ các
X
Y
x y
θ
v
1
l
2
l w l
O
o
Trang 3cảm biến ngoài như camera, GPS, để ước lượng vị
trí và hướng hiện tại của rô bốt Đây là bộ phận rất
quan trọng trong quá trình rô bốt di chuyển Rô bốt
cần cập nhật vị trí của nó thường xuyên để có hướng
điều chỉnh thích hợp cho quá trình tiếp cận pallet hoặc
di chuyển về đích
Khối nhận dạng môi trường có nghĩa vụ phân tích và
nhận dạng môi trường hoạt động xung quanh rô bốt
dựa trên tín hiệu từ các cảm biến thị giác, và siêu âm
Khối nhận dạng pallet có nhiệm vụ nhận dạng và ước
lượng vị trí và hướng của pallet dựa trên tín hiệu thu
được từ hệ thống thị giác
Khối điều khiển chính là bộ phận có nhiệm vụ tạo và
điều khiển rô bốt bám theo quỹ đạo để rô bốt có thể
tiếp cận và nhấc pallet lên, sau đó điều khiển rô bốt đi
về đích đã định trước Ở đây, chuyển động của rô bốt
sẽ bị hạn chế bởi điều kiện rằng buộc không khả tích
về tốc độ (1)
Hai tác vụ (II) và (IV) sẽ không được đề cập chi tiết
về thuật toán cũng như cách thức thực hiện ở báo cáo
này Báo cáo sẽ đi sâu chi tiết về thuật toán và kết quả
thực nghiệm cho việc thực hiện tác vụ (I) và (III) Để
thực hiện hai tác vụ (I) và (III), chúng ta cần giải
quyết bài toán tìm tín hiệu điều khiển đầu vào v (.) và
(.)
để rô bốt có thể di chuyển từ vị trí và hướng
ban đầu P X A( (0), (0), (0))Y tại thời điểm t0 với
(0)
A
v v , v Av(0), A(0), A(0) tới vị
trí và hướng đích P X t B( ( ), ( ), ( ))f Y t f t f tại thời
điểm tt f vớiv Bv t( )f , v B v t( )f , B ( )t f ,
( )
B t f
3 Thiết kế quỹ đạo và điều khiển tối ưu rô
bốt di động
Để rô bốt thực hiện được các dịch chuyển cần thiết
nêu trên ta cần thiết kế được quỹ đạo chuyển động rồi
tìm thuật toán điều khiển xe bám theo quỹ đạo
3.1 Thiết kế quỹ đạo với đường cong 3spline
Bài toán thiết kế quỹ đạo ở đây nhằm tìm ra một quỹ
đạo trơn đảm bảo điều kiện rằng buộc về tốc độ (1)
cho rô bốt (2) khởi động từ cấu hình ban đầu
( (0), (0), (0))
A
P X Y di chuyển đến cấu hình đích
( ( ), ( ), ( ))
P X t Y t t trong thời gian t f 0
Ta biết rằng với bất kỳ cấu hình đích
( ( ), ( ), ( ));X t f Y t f q t f t f 0, cũng có thể tạo được một
quỹ đạo 3spline (G3) cho hệ (2) tiếp cận được
bằng các tín hiệu điều khiển v t( ),( )t ;
( ) 0 [0, f]
v t t t Ngược lại, với quỹ đạo G3 đã
cho trước thì luôn tồn tại cặp tín hiệu điều khiển
( ), ( )
v t t với v t( ) 0 t [0,t f] và các điều kiện
ban đầu để hệ (2) bám sát quỹ đạo 3
G đã cho [7]
Giả thiết v A0 và v B0, góc lêch A và B giữa
trục X và các véc tơ đơn vị tiếp tuyến (tangent) phải
trùng với góc lệch của mobile rô bốt tại các điểm ban
đầu và điểm đích (như trong Hình 4) Quỹ đạo 3
G -paths, đường cong nội suy của hàm đa thức bậc 7 đi qua 2 điểm A và B được tính như sau [7]:
( ; )s p s p s x( ), y( )T
( )
x
( )
y
, (5)
Trong đó s[0, 1] là tham số quãng đường đã được chuẩn hóa Tại điểm khởi đầu s=0, p s x( )=XA,
( )
y
p s =YA, và tại điểm kết thúc thì s=1, p s x( )=XB,
( )
y
p s =YB Các hệ số của đa thức p s x( ) được tính như sau:
||X A X B,Y A Y B||
0 X A
a ,
1 cos A
a h q , g1 hcosq B ,
a ,
a ,
Các hệ số của đa thức p s y( ):
0 Y A
b ,
1 sin A
b h q , g1B hsinq B ,
b , ,
b , ,
H 4 Quỹ đạo G3 đi qua điểm A và B
Các điểm trên quỹ đạo 3
G còn được gọi là way point (WP) bởi rô bốt có thể di chuyển qua các điểm này để tới điểm đích định trước Giả thiết có N điểm WP trên quỹ đạo 3
G ( số điểm WP N có thể tùy chọn và nằm trong dải giá trị tới hạn), ta có N 1 đoạn thẳng được nối giữa các điểm bao gồm cả điểm đầu và điểm
Trang 4đích Như vậy để thực hiện tác vụ (I) và (III) trong
bài toán nâng hạ kệ hàng đã đặt ra, bộ tạo quỹ đạo cho quá trình chuyển động sử dụng
3
spline
h là hoàn toàn phù hợp với mô hình rô bốt (2)
H 5 Sơ đồ khối của vòng điều khiển rô bốt di động bám quỹ đạo G3
Chúng ta sẽ sử dụng quỹ đạo 3
G với các thông số được tính theo phương trình (3), (4) và (5) trong việc
tính toán vận tốc tuyến tính và vận tốc góc cho rô bốt
ở phần tiếp theo
3.2 Xác định vận tốc tuyến tính và vận tốc góc
điều khiển rô bốt di động
Sau khi có được tập các điểm WP, ta cần điều khiển
rô bốt di chuyển tuần tự qua các điểm WP để tới đích
Sơ đồ khối của vòng điều khiển kín rô bốt được mô tả
trong Hình 5 Dựa vào sai số giữa quỹ đạo thực tế và
quỹ đạo 3
G đã thiết kế ta có thể sử dụng phương
pháp điều khiển tối ưu để tính vận tốc góc trong
khi vận tốc tuyến tính của rô bốt được tính toán phụ
thuộc vào vị trí của các chướng ngại vật trong khu
vực môi trường rô bốt hoạt động Vận tốc tuyến tính
và vận tốc góc của rô bốt được đảm bảo luôn nằm
trong vùng giới hạn đã định trước khi được gửi xuống
cơ cấu chấp hành của rô bốt
H.6: Hệ tọa độ quỹ đạo ( O X Y d d d)
Giả thiết (X d,Y d,d) là vị trí và hướng tức thời của
điểm WP trên 3
G Định nghĩa hệ tọa độ quỹ đạo (O X Y d d d)như mô tả trong hình 6 Hệ tọa độ quỹ
đạo thực chất là hệ tọa độ gốc(OXY) bị tịnh tiến một
đoạn X Y d; d theo hướng X, Y và quay xung quanh
trục Z một góc q d Sai số vị trí và góc giữa quỹ đạo
thực của rô bốt và quỹ đạo 3
G tính trong hệ tọa độ
(OXY) là X e X X d;X e Y Y q d; e q q d
Các sai số này nếu nhìn tính trong hệ tọa độ quỹ đạo
(O X Y d d d)sẽ được tính như sau:
d
d
d
d e
Gọi ( vd, d)là vận tốc tuyến tính và vận tốc góc mong muốn Mục tiêu điều khiển là xác định tốc độ dàiν và tốc độ góc w của rô bốt sao cho các sai lệnh
về vị trí và góc trong (6) tiến về 0 Chiến lược điều khiển ở đây là đặt ν νd trước và tìmw sao cho rô bốt bám sát quỹ đạo 3
G Đặt e [ ,Y q e e]T là véc tơ sai lệch, bao gồm sai lệch ngangY e và sai lệch góc
e
q Từ hệ phương trình động học (2) và với giả thiết sai lệch góc d
e
q nhỏ ta có thể tính được đạo hàm của véc tơ sai lệch nhìn trông hệ tọa độ (O X Y d d d) như sau:
e d e d
Y v
, (7)
Hệ phương trình trạng thái của (7) có dạng :
e
u
c c
e = A e + b , (8) trong đó 0
d
v
c
0 1
c
; u e d là tín
hiệu vô hướng
Do rô bốt Pioneer P3-DX có cung cấp các số liệu đo dưới dạng số nên ta chuyển hệ phương trình sai số (8) sang dạng rời rạc để có thể tính được tín hiệu điều khiển tốc độ quay của rô bốt trong từng thời điểm cắt mẫu:
(k 1) ( )k u k e( )
trong đó A = I + A cTs, B = B cT s, và Ts là thời gian lấy mẫu Tín hiệu điều khiển tối ưu u k e được xác định sao cho tối thiểu hóa hàm mục tiêu sau:
0
N
k
J e k Q k e k u k R k u k
trong đó Q và R là các ma trận trọng số, Q0,
0
R Ma trận Q được chọn phụ thuộc vào sai lệch
Trang 5ngang
|
| 50
)
1
,
1
(
2 1 1
e
Y c c
c Q
trong đó c1, c2là các
hằng số dương Với cách lựa chọn này nếu rô bốt cách
xa quỹ đạo 3
G , trọng số của độ lệch ngang nhỏ hơn,
và nếu rô bốt gần với quỹ đạo thì Q(1, 1) trở nên lớn
hơn Tín hiệu điều khiển u e được tính toán theo luật
điều khiển tối ưu toàn phương:
u k k k e k (11)
Trong đó véc tơ phản hồi trạng thái tối ưu được tính
ntheo biểu thức
k = b M b + o T o R-1 b M A T o (12)
Ở đây M o là ma trận đối xứng, xác định dương là
nghiệm của của phương trình Ricatti:
R -1
(13)
Từ đó suy ra
3 Sử dụng bộ lọc Kalman mở rộng cho
ước lượng vị trí và hướng của rô bốt
Do các số liệu đo từ rô bốt bị can nhiễu nên cần phải
có phương pháp ước lượng phù hợp để có thể xác
định được vị trí và hướng tức thời của rô bốt chính
xác hơn Trong báo cáo này, bộ lọc Kalman mở rộng
được sử dụng do mô hình động học của rô bốt di động
là mô hình phi tuyến Đầu ra của bộ lọc Kalman sẽ
được sử dụng như các giá trị phản hồi (X,Y,) trong
vòng điều khiển ở H.5
Gọi sLk, sRk lần lượt là khoảng cách đi được của
bánh xe bên trái và bên phải của rô bốt trong khoảng
thời gian trích mẫu Ts Khoảng cách mà rô bốt đi
được và sự thay đổi hướng của rô bốt trong khoảng
thời gian Ts được tính như sau:
2
Rk Lk
k
w
Rk Lk
k
l
Từ các số liệu này ta có thể tiếp tục tính ra được sự
dịch chuyển của rô bột trong hệ tọa độ cố định là:
w
Rk Lk
k
l
Do các số liệu đo từ các encoder của hai bánh xe bị
cân nhiễu nên các dữ liệu hiệu này là các dữ liệu bị
can nhiễu nên cần có phương pháp lọc phù hợp để có
thế xác định được vị trí và hướng của rô bốt tốt hơn
Ở đây chúng tôi chọn phương pháp lọc Kalman mở
rộng dạng rời rạc với phương trình trạng thái là hệ
động học rời rạc bị can nhiễu của rô bốt Từ hệ
phương trình động học (2) của rô bốt ta có thể xây dựng mô hình rời rạc bị can nhiễu như sau :
k
k
x y
(20)
trong đó
2
(21)
2
(22)
w
f
l
Trong đó ξk [ x( ), k y( ), k ( )] k là nhiễu hệ
thống, có kỳ vọng là 0 và ma trận hiệp biến là Mk
k s Lk s Rk
u là tín hiệu đo được từ các encorder
bánh xe trái và phải của rô bốt Tín hiệu đầu ra của bộ
lọc Kalman là:
2k y k 2k
Trong đó zk z1k,z2k,z3k Tlà tín hiệu đầu ra xác định tọa độ và hướng của rô bốt; ζk z z z1k, 2k, 3k Tlà
nhiễu đầu ra có kỳ vọng bằng 0 và ma trận hiệp biến
là Nk Ở đây, Các ma trận hiệp biến của các nhiễu
được xác định bằng thực nghiệm: 4
3 3
10
k
2
3 3
10
k
Bộ lọc Kalman mở rộng ước lượng trạng thái của hệ thống x ˆk và ma trận hiệp biến sai lệch trạng thái Pk
dựa trên mô hình hệ thống f(.) trong pha dự đoán:
T
PA P A M (30) Véc tơ trạng thái ước lượng x ˆk và ma trận hiệp biến sai lệch trạng thái Pk trong pha cập nhật như sau:
Trong đó I là ma trận đơn vị Các ma trận A Hk, k là các ma trận Jacobi được tính như sau :
Trang 61 1
1
ˆk , k
x u
f A
x (34)
ˆk
x
h H
x (35)
Tính chi tiết các ma trận Jacobi Akvà Hk ta được :
k
A
1 0 sin
2
0 1 cos
2
k
k
s
s
3 3
k
H I
Như vậy bằng phương pháp sử dụng bộ lọc Kalman
mở rộng như trên, ta sẽ xác định được vị trí và
hướng của rô bốt tại thời điểm k chính là véc tơ
ˆ
ˆk xˆ ˆk,y k, k T
x Tín hiệu ˆ ˆ ˆ, ,ˆ
T
k x k y k k
x sẽ
được sử dụng trong vòng điều khiển ở Hình 5
4 Kết quả thực nghiệm
Phần này trình bày kết quả thử nghiệm khi áp dụng
thuật toán thiết kế quỹ đạo và điều khiển rô bốt thực
hiện các tác vụ (I) và (III) ở phần trên Thử nghiệm
được thực hiện trên rô bốt Pioneer P3-DX có kích
thước W×H=0,44×38m Tốc độ lớn nhất của vận tốc
tuyến tính và vận tốc góc lần lượt là vmax0.5m/s và
523
0
max
rad/s Tất cả các quá trình thiết kế quỹ
đạo/điều khiển rô bốt, được thực hiện bởi ngôn ngữ
lập trình C++, thời gian trích mẫu là 100 ms
Giả thiết vị trí và hướng ban đầu của rô bốt tại A, vị
trí và hướng của kệ hàng tại B và vị trí và hướng của
đích cuối cùng là C Rô bốt đi từ cấu hình A(0m; 0m;
0o) B(1,4m; 1,4m; 90o) C(0,2m; 2,8m; 90o) Kết
quả tính toán thu được như sau: B(1,3960m; 1,3947m;
90,0460o); C(0,2030m; 2,7951m; 89,8418o)
Trong thực nghiệm, trước mắt chúng tôi chỉ dung
thiết bị đo duy nhất là encoder (đo tương đối) để tính
vận tốc tức thời và dự đoán tọa độ, hướng rô bốt mà
chưa sử dụng cảm biến ngoài như camera để đo vị trí
tuyệt đối của rô bốt trong không gian hoạt động nên
bộ lọc Kalman mở rộng chưa thể phản ảnh chính xác
vị trí thực của rô bốt Do đó, trên thực tế khi gắp thả
kệ hàng, tọa độ của rô bốt thực bị sai lệch từ 1 đến 3
cm so với mong muốn; hướng thực bị sai lệch vài độ
so với mong muốn
H.7:Quỹ đạo mong muốn và quỹ đạo thực của rô bốt
H.8: Rô bốt Pioneer P3-DX tiếp cận mục tiêu
Trong tương lai, chúng tôi sẽ lắp thêm camera để đo
vị trí tuyệt đối của rô bốt và sẽ áp dụng phương pháp phối hợp cảm biến (sensor fusion) giữa encoder và camera trong bộ lọc Kalman mở rộng Khi đó, đầu ra của bộ lọc Kalman mở rộng sẽ phản ánh chính xác vị trí và hướng của rô bốt hơn
5 Kết luận
Báo cáo đã trình bày phương pháp điều khiển tự động
xe nâng hạ xắp xếp kệ hàng trong kho Phần thiết ké quỹ đạo sử dụng phương pháp thiết kế quỹ đạo
spline
3
Hai tác vụ (I) và (III) được quy về bài toán thiết kế thuật điều khiển để rô bốt có thể di chuyển từ vị trí ban đầu tới điểm đích cho trước Phương trình động học của rô bốt P3-DX được mô tả ngắn gọn Thuật toán điều khiển được thiết kế theo phương pháp điều khiển tối ưu theo chuẩn toàn phương cho mô hình động học rô bốt rời rạc Các tín hiệu đo được đưa vào bộ lọc Kalman mở rộng dạng rời rạc đẻ xác định vị trí và hướng tức thời của rô bốt Kết qủa thực nghiệm thu được cho thấy thuật toán điều khiển hoàn toàn thực hiện được các nhiệm vụ đã đặt ra như tiếp cận kệ hàng hay trở về một vị trí biết trước
Tài liệu tham khảo
[1] J Pagès, X Armangué, J Salvi, J Freixenet
and J Martis: A Computer Vision System for
Autonomous Forklift Vehicles in Industrial
Trang 7Environments, Proc of the 9th Mediterranean
Conf on Control and Automation, 2001, pp
379-384
[2] D Lecking, O Wulf, and B Wagner: Variable
Pallet Pick-Up for Automatic Guided Vehicles
in Industrial Environments, Proc of the IEEE
conference on Emerging Technologies and
Factory Automation ETFA’06, Prague 2006,
pp 1169 - 1174
[3] N Bellomo, E Marcuzzi, L Baglivo, M
Pertile, E Bertolazzi, and M De Cecco: Pallet
Pose Estimation with LIDAR and Vision for
Autonomous Forklifts, Proceedings of the 13th
IFAC Symposium on Information Control
Problems in Manufacturing, Moscow, Russia,
June 3-5, 2009, pp 612-617
[4] A Widyotriatmo, B Hong, and K.-S Hong:
Predictive navigation of an autonomous
vehicle with nonholonomic and minimum
turning radius constraints, Journal of
Mechanical Science and Technology, 23
(2009) 381-388
[5] A Piazzi, C Guarino Lo Bianco, and M
Romano: 3-Splines for the Smooth Path
Generation of Wheeled Mobile Robots, IEEE
Trans Robotics, 23 (5) (2007) 1089-1095
[6] J Connors, G Elkaim: Experimental Results
for Spline Based Obstacle Avoidance of an
Off-Road Ground Vehicle, ION Global
Navigation Satellite Systems Conference ION
GNSS 2007, Fort Worth, TX, Sept 25-28,
2007, pp 1484-1490
[7] J H Wei and J S Liu: Collision-free
Composite 3–Splines Generation for
Nonholonomic Mobile Robots by Parallel
Variable-Length Genetic Algorithm, Proc of
the Int Conf on Computational Intelligence
for Modelling Control and Automation,
Vienna 2008, pp 545 - 550
[8] M Hentschel, O Wulf and B Wagner: A
Hybrid Feedback Controller for
Car-Like-Robots, Proc of the Int Conf on Informatics
in Control, Automation and Robotics
(ICINCO), 2006
[9] K Kanjanawanishkul, M Hofmeister: and A
Zell, Path following with an optimal forward
velocity for a mobile robot, Proc of the 7th
IFAC Symposium on Intelligent Autonomous
Vehicles (IAV), pp 1-6, Lecce, Italy, Sept
2010
[10] W H Kwon and S Han: Receding horizon
control: Model predictive control for state
models, Springer-Verlag, London, 2005
Honorary Research Professor in Computational Sciences of Computer and Automation Research Institute of the Hungarian Academy of Sciences He is the Editor-in-Chief of the Journal of Computer Science and Cybernetics of the Vietnamese Academy of Science and Technology (VAST) and a Senior Researcher of the Institute of Information Technology of VAST He
is the representative of the Vietnam NMO at the International Federation of Automatic Control (IFAC) and the Vice President of the Vietnamese Association of Mechatronics His research interests include robotics, control theory, cellular neural networks and embedded control systems He co-authored 3 books and published over 140 papers on national and international journals and conference proceedings
Nguyễn Văn Tính nhận bằng kỹ
sư tại Đại Học Bách Khoa Hà Nội năm 2008 Anh đang làm nghiên cứu viên tại Viện Công nghệ Thông tin thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, số 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
T T Quyen Bui received her B.S
and M.S degrees in Hanoi University of Technology, Vietnam, in 2001 and 2006, respectively She is currently a Ph.D program student in the School of Mechanical Engineering, Pusan National University, Korea Her research interests include robotics, vision systems, and navigation of autonomous vehicles
TS Phạm Minh Tuấn tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, chuyên ngành Công nghệ Thông tin năm 1997, sau đó nhận bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ về Kỹ thuật Điều khiển ở trường Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, vào các năm 2002 và 2006 Từ
2006 đến 2011, ông làm việc tại Phòng Công nghệ Tự động hóa, Viện Công nghệ Thông tin, Viện KHCNVN Hiện tại, ông đang là Phó Giám đốc Trung tâm Điều khiển và Khai thác Vệ tinh nhỏ thuộc Viện Công nghệ Vũ trụ, Viện KHCNVN
Lĩnh vực nghiên cứu chính của ông bao gồm điều khiển xe tự hành, điều khiển tư thế vệ tinh, các hệ nhúng, và hệ thống năng lượng tái tạo Ông đã cho đăng trên 30 bài báo tại các hội nghị, tạp chí trong nước và quốc tế Ông còn là thành viên Hội Cơ điện
tử Việt Nam