1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)

110 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ BÍCH LAN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả của luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng nhƣ số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác có trích dẫn và chú thích rõ nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về nội dung luận văn của mình

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Lý Cẩm Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn: TS Bùi Thị Bích Lan - Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Với nhiều tài liệu, kinh nghiệm quý giá, TS Bùi Thị Bích Lan là người theo sát, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài cũng như định hướng nghiên cứu sau này

Tôi xin cám ơn các thầy cô thuộc Khoa Dân tộc học và Nhân học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Sự hỗ trợ và giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô đã giúp tôi có được không chỉ kiến thức mà còn cả kỹ năng nghiên cứu khoa học

Tôi xin cám ơn toàn thể các cán bộ Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - nơi tôi đang công tác Sự khuyến khích của lãnh đạo Viện,

sự ủng hộ của các anh chị đồng nghiệp là nguồn động viên to lớn giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cám ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, Ủy ban Nhân dân huyện Ba Bể, Đảng ủy cùng Ủy ban Nhân dân xã Bành Trạch và bà con nhân dân xã Bành Trạch, huyện Ba Bể đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa tại địa phương để thu thập tư liệu cho luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, đặc biệt là bố tôi - TS.Lý Hành Sơn, người không chỉ luôn ở bên quan tâm động viên mà còn cung cấp nhiều tri thức, kỹ năng và thông tin quan trọng, là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của tôi trong quá trình thực hiện đề tài và nghiên cứu khoa học

Trong điều kiện hạn chế cả về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý Hội đồng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 11

7 Cơ cấu của luận văn 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 13

1.1 Cơ sở lý thuyết 13

1.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu 17

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG SÔNG NĂNG ĐỐI VỚI SINH KẾ NGƯỜI TÀY VÀ DAO TRƯỚC NĂM 1986 26

2.1 Vai trò của môi trường sông Năng đối với sinh kế người Tày 26

2.2 Vai trò của môi trường sông Năng với sinh kế người Dao 36

CHƯƠNG 3 SINH KẾ NGƯỜI TÀY VÀ DAO DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG SÔNG NĂNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 47

3.1 Tình hình suy thoái môi trường sông Năng 47

3.2 Biến đổi sinh kế của người Tày và Dao ở xã Bành Trạch 54

3.3 Một vài nhận xét về dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau năm 1986 71 3.4 Kiến nghị và giải pháp 76

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp đối với người Tày

Hình 2.2 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp đối với người Tày

Hình 2.3 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng trước năm 1986 đối

với người Tày ở thôn Nà Dụ và phía Nam thôn Pác Pìn 34

Hình 2.4 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng trước năm 1986 đối

với người Tày ở phía Bắc thôn Pác Pìn 35

Hình 2.5 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp của người Dao

Tiền ở thôn Nà Còi trước năm 1986 37

Hình 2.6 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp đối với người

Dao Đỏ ở thôn Nà Nộc trước 1986 37

Hình 2.7 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng trước năm 1986 đối

với người Dao Đỏ ở thôn Nà Nộc 43

Hình 2.8 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng trước năm 1986 đối

Hình 3.1 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp của người Tày ở

Hình 3.2 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp của người Tày ở

Hình 3.3 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp đối với người

Dao Đỏ ở thôn Nà Nộc sau năm 1986 57

Hình 3.4 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp đối với người 58

Trang 7

Dao Tiền ở thôn Nà Còi sau năm 1986

Hình 3.5 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau năm 1986 đối

với người Tày ở thôn Nà Dụ và phía Nam thôn Pác Pìn 72

Hình 3.6 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau 1986 đối với

người Tày ở phía Bắc thôn Pác Pìn 73

Hình 3.7 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau năm 1986 đối

với người Dao Đỏ ở thôn Nà Nộc 73

Hình 3.8 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau năm 1986 đối

với người Dao Tiền ở thôn Nà Còi 74

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.2 Đặc điểm tự nhiên và dân số các thôn Nà Nộc, Pác Pìn, Nà Dụ,

Bảng 3.1 Các thông số chất lượng nước tại sông Năng, xã Bành Trạch 48-49

Bảng 3.2 Lưu lượng nước sông Năng lớn nhất các tháng năm 2014 49

Bảng 3.3 Vai trò của đất ven bờ sông Năng trước và sau năm 1986 đối với

Bảng 3.4 Vai trò của đất ven bờ sông Năng trước và sau năm 1986 đối với

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các thành tố của môi trường, sông ngòi là tài nguyên không thể thay thế Một dòng sông không chỉ cung cấp nguồn nước và thủy sản, mà còn chứa đựng nhiều giá trị to lớn khác như: bồi đắp đất đai cho cư trú và nông nghiệp, vận tải thủy, hạn chế lũ lụt, ổn định chất lượng không khí [44] Sông ngòi đóng vai quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội hay các hoạt động văn hóa, tinh thần của con người Lịch sử đã cho thấy những nền văn minh phương Đông cổ đại như Lưỡng Hà, Ấn - Hằng, vương triều Hạ (Trung Quốc) thường ra đời ở lưu vực các dòng sông lớn Sông ngòi là mạch sống của cư dân nông nghiệp

Việt Nam - một đất nước được ưu ái hệ thống sông dồi dào, với trên 2.360 con sông và 16 lưu vực lớn, cung cấp hơn 1.167.000 km2 diện tích đất cho cư dân toàn quốc [38] Tuy nhiên, sông ngòi ở nước ta lại đang bị ô nhiễm, tàn phá nghiêm trọng bởi nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, công nghiệp ngày một gia tăng, cộng thêm rác thải và các hoạt động khai khoáng, thuỷ điện, phá rừng không được kiểm soát Tình trạng suy giảm chất lượng môi trường sông dẫn tới thiếu nước, lũ lụt, xói mòn, mất nguồn lợi thủy sản đã và đang xảy ra, không chỉ ở một vài nơi, mà còn bao trùm nhiều vùng miền trên khắp cả nước Đối mặt với vấn đề biến đổi môi trường sông, mỗi cộng đồng lại chịu mức độ ảnh hưởng khác nhau Đặc biệt, các dân tộc thiểu số với đời sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên được đánh giá là đối tượng nhạy cảm trước tác động từ sự biến đổi môi trường [35] Suy thoái tài nguyên sông ngòi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, gây nên những thay đổi to lớn cả về kinh tế, văn hóa, xã hội

Là khu vực chậm phát triển so với cả nước, miền núi phía Bắc Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều tác hại của biến đổi môi trường, trong đó bao gồm các

hệ sinh thái sông Đây cũng là nơi cư trú của nhiều cộng đồng, tộc người với bản sắc văn hóa riêng biệt, gắn bó mật thiết với thiên nhiên Suy thoái môi trường sông ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, là vấn đề được nhiều cộng đồng dân tộc

Trang 9

thiểu số hết sức quan tâm Đối với mục tiêu phát triển bền vững, phát triển kinh tế -

xã hội cần hài hòa với gìn giữ môi trường và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của từng tộc người Do vậy, nghiên cứu về biến đổi môi trường sông ở vùng miền núi là

đề tài thiết thực, có tính thực tiễn, ứng dụng Đặc biệt, phân tích từ góc độ người dân - chủ thể đem lại cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề môi trường và hoạt động thích nghi của con người Đây cũng là hướng đi mới, ít được đề cập trong các nghiên cứu Dân tộc học, Nhân học từ trước đến nay

Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Ảnh hưởng của biến đổi môi

trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Đề tài tập trung vào trường hợp xã Bành

Trạch, huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn, như một minh chứng cho tương tác hai chiều giữa con người và tự nhiên Dòng sông Năng chảy qua địa bàn xã có vai trò quan trọng đối với một số cộng đồng người dân tộc thiểu số sinh sống nơi đây, nhưng đang bị tàn phá nặng nề bởi nhiều lý do khách quan, chủ quan Ngược lại, người dân xã Bành Trạch vốn có sinh kế phụ thuộc nhiều vào sông Năng, kể cả gián tiếp lẫn trực tiếp đang phải thay đổi để thích nghi Điều này đặt ra câu hỏi về vai trò của chính quyền địa phương và hiệu quả của các dự án đang được triển khai Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Đôi nét về tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Môi trường sông là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trên thế giới Trong suốt thập niên 1990 đến những năm gần đây, các công trình về sông được xuất hiện rải rác trên các tạp chí chuyên ngành Sinh thái học và Sinh thái Nhân văn Từ năm 1988, nghiên cứu khá cũ của Chowdhury E.Haque đã cho thấy

ba cách mà người dân ở vùng đồng bằng châu thổ Jamuna (Bangladesh) chống chịu với tình trạng sạt lở là chấp nhận, giảm thiểu rủi ro và thay đổi Tùy theo thu nhập

và điều kiện mà từng hộ gia đình sẽ chọn cách nào, đôi khi xảy ra tình trạng những

Trang 10

hộ nghèo bị “mắc kẹt” lại và bắt buộc phải chống chịu một cách yếu ớt vì họ không

đủ tiền để thay đổi cấu trúc ngôi nhà hay chuyển đi nơi khác [42]

Tiếp đến năm 1998, bài báo Giá trị của một dòng sông lại một lần nữa cho

thấy vai trò quan trọng của môi trường sông đối với con người Lấy ví dụ cụ thể là sông Skokomish ở Puget Sound, Washington, Hoa Kỳ, nhóm tác giả đã chỉ ra một con sông không chỉ đóng vai trò cung cấp các nguồn lợi kinh tế mà còn mang nhiều giá trị phi kinh tế, và dự án thủy điện Cushman trên dòng sông này gây ảnh hưởng đến cộng đồng người Skokomish Indian sinh sống lân cận nhiều hơn những gì các nhà quản lý có thể nhận thấy [38]

Sau đó 11 năm, báo cáo Lượng giá dịch vụ hệ sinh thái sông Verde (Arizona, Hoa Kỳ) [49] - công trình quy mô nhất năm 2009 của cơ quan bảo vệ Môi sinh Hoa

Kỳ (EPA) tiếp tục đề cập đến vấn đề môi trường sông Verde Sử dụng phương pháp

truyền thống là phỏng vấn, điều tra cộng đồng kết hợp với phân tích định lượng, các tác giả chỉ ra rằng: tuy không đem lại nhiều nguồn lợi tự nhiên trực tiếp, nhưng con sông này đóng vai trò quan trọng trong văn hóa của cư dân địa phương Đặc biệt, hoạt động du lịch đem lại 1/6 tổng thu nhập của vùng, cũng như tạo việc làm cho khoảng 12.130 người [49]

Trên đây là ba nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả ở ngoài nước trong số rất nhiều nghiên cứu từ góc nhìn Sinh thái nhân văn về các cộng đồng cư dân, các nhóm xã hội đặt vào trong mối tương quan với những dòng sông Trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường sông trong thời gian gần đây, không chỉ các cộng đồng khác nhau, mà các cá nhân trong cùng một cộng đồng cũng có thể có phương pháp ứng phó khác biệt nhau

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người Các tộc người thiểu số cư trú chủ yếu ở vùng miền núi và có bản sắc văn hóa độc đáo, góp phần không nhỏ tạo nên sự

đa dạng và thống nhất trong nền văn hóa của đất nước ta [34] Trong công trình Các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường, tác giả Hoàng Hữu Bình cho

Trang 11

biết rằng, môi trường tự nhiên vốn có ảnh hưởng toàn diện đến các tộc người tại chỗ, bao gồm cả thuận lợi và khó khăn Theo đó, thuận lợi là sự phong phú của nguồn tài nguyên và đa dạng của hệ tự nhiên, còn khó khăn là thiên tai, dịch bệnh, địa hình phức tạp gây cản trở giao thông, cơ sở hạ tầng [2] Với hệ thống sông dày đặc, sở hữu hai đồng bằng châu thổ lớn ở phía Nam và phía Bắc, sông ngòi luôn đóng vai trò to lớn trong đời sống của cư dân nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, trước năm 2000, các công trình chuyên khảo về môi trường sông từ góc nhìn Dân tộc học lại dường như còn hiếm, nếu không muốn nói là vắng bóng Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến dịch vụ hệ sinh thái nói chung đã xuất hiện từ sau năm

2000, sau Chương trình Quốc gia về Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES), tuy nhiên, với quy mô hạn chế và đối tượng chủ yếu là các công trình thủy điện Trên lĩnh vực khoa học tự nhiên, cụ thể là Sinh thái học, từ năm 2010, những vấn đề về dịch vụ hệ sinh thái được tiếp cận nhiều hơn theo hướng lượng giá, phân tích liệt kê, đánh giá tác động đến cộng đồng địa phương của những thay đổi cục bộ Đối tượng chủ yếu vẫn là rừng mà rất ít nghiên cứu tới các hệ sinh thái nước ngọt

Ngược lại, trên lĩnh vực khoa học xã hội, cụ thể là Dân tộc học, hệ sinh thái sông rất ít được quan tâm Suốt một giai đoạn dài trước những năm 2000, chỉ có các nghiên cứu về thủy điện phần nào nhắc đến vấn đề này Trong số đó, cuốn sách

Cộng đồng dân tộc Tây Bắc Việt Nam và thủy điện của Diệp Đình Hoa với sự cộng

tác của Trần Văn Hà và Phạm Vĩnh Bảo (1996) là một công trình chuyên sâu tiêu biểu Phân tích tác động của thủy điện lòng hồ sông Đà trên cộng đồng dân cư ba tỉnh Tây Bắc, tác giả chỉ ra tầm quan trọng của môi trường sông đối với con người: không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế, tác động sâu xa của nó còn dẫn tới chuyển cư, thay đổi môi sinh, làm biến đổi văn hóa xã hội, y tế và sức khỏe [8] Theo đó, năm

2011, với bài Tác động của dự án thủy điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư, tác giả Bùi Văn Đạo cũng đề cập tới những tác động không

mong muốn của một số dự án thủy điện ở Tây Nguyên tới sinh kế người dân [5]

Năm 2004, cuốn sách Biến đổi môi trường dưới tác động của các hệ nhân văn ở Điện Biên, Lai Châu của Tạ Long và Ngô Thị Chính [12] đã đề cập rõ nét

Trang 12

hơn đến tương quan giữa con người và tự nhiên Qua khảo sát ở xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, các tác giả đã phân tích sự biến động môi trường

tự nhiên (rừng, đất đai, khí hậu, nguồn nước, động vật…) trước và sau thập niên

1970 Con người, mà cụ thể là sinh kế, dân số và các thể chế, chính sách quản lý, sử

dụng tài nguyên đều gây nên biến đổi sinh thái Các tác giả chỉ rõ: “Những đổi thay

đó không làm giảm sức ép của con người lên môi trường, ngược lại dân số nông nghiệp sống dựa vào đất đai tăng nhanh tới hàng chục lần trong nửa thế kỷ với tốc

độ tự nhiên và cơ học [12, tr.235] Nói cách khác, ảnh hưởng của con người lên tự

nhiên ngày càng lớn dần theo thời gian và sự phát triển kinh tế Đây là một trong số các luận điểm phân tích chính, quan trọng nhất được luận văn này kế thừa

Tiếp tục hướng nghiên cứu về thủy điện, năm 2012, qua công trình đồ sộ

Văn hóa các tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La của

PGS.TS Phạm Quang Hoan và nhóm tác giả cho thấy bức tranh văn hóa trước khi tái định cư và khi tái định cư của 9 dân tộc trên các địa bàn được chọn nghiên cứu Trong đó, sinh kế, đời sống xã hội, văn hóa vật chất và tinh thần được đề cập đến khá đầy đủ Tuy nhiên, ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, ở đây là sông Đà lại chưa thật sự đậm nét [9]

Gần đây, sự xuất hiện của một số công trình về sông cho thấy, hướng nghiên cứu đã “mở” hơn, liên ngành hơn trong bối cảnh mới Bởi vì, Dân tộc học/Nhân học hiện đại ở nước ta hiện nay không chỉ quan tâm đến các tộc người thiểu số và tộc người đa số ở đồng bằng và miền núi, mà còn mở rộng đến các cộng đồng, các nhóm cư dân người Kinh ở vùng ven biển, ven sông, ngập mặn Có thể kể đến một

số công trình như: Cẩm nang dòng chảy môi trường của IUCN (2007) [13]; bài báo Tác động của nguồn lợi thủy sản đến sinh kế của người dân dễ bị tổn thương ở tỉnh

An Giang của Phạm Xuân Phú (2013) [18]; báo cáo An ninh nguồn nước & quản lý lưu vực sông của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (2015) [26]; cuốn sách Sinh

kế của cư dân các làng chài dọc sông Lô của Nguyễn Thị Tám (2017) [22] Trong

đó, các hệ sinh thái sông nổi lên như một đối tượng mới, đang bị biến đổi mạnh mẽ dưới các tác động tự nhiên, xã hội Qua nội dung hầu hết những công trình kể trên

Trang 13

cho thấy, sự suy thoái môi trường, giảm sút các nguồn lợi tự nhiên của sông ngòi đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người Tác giả Nguyễn Thị Tám cho

biết: “Hiện nay, nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên sông Lô xưa kia được coi là không bao giờ cạn, thì nay đang ngày càng khan hiếm Một số loài thủy sản có giá trị kinh

tế cao trong thời gian gần đây bị giảm về số lượng cũng như sản lượng và có nguy

cơ bị mất đi như cá anh vũ, cá lăng… làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động đánh bắt

cá truyền thống ở làng chài Ngư dân bị mất nguồn lợi phải di chuyển mở rộng địa bàn đánh bắt, hoặc phải tìm cách ứng phó với tình trạng này” [22, tr.215]

Dưới tác động của phát triển kinh tế - xã hội, môi trường tự nhiên ở Việt Nam đã và đang biến đổi mạnh mẽ, kéo theo đó nhiều thách thức đối với các dân tộc trong phát triển sinh kế, ổn định cuộc sống [4], [10] Vì vậy, vấn đề biến đổi môi trường tự nhiên, trong đó có môi trường sông luôn là một chủ đề nóng được quan tâm trên nhiều diễn đàn khoa học trong nước, quốc tế, đã có không ít nghiên cứu về suy thoái môi trường và tác động đến cuộc sống con người được tiến hành Song, các nghiên cứu từ góc nhìn Dân tộc học ở nước ta về vấn đề này vẫn còn chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về những tác động của sự biến đổi môi trường sống tới người dân các dân tộc thiểu số ở miền núi Trong khi, có điều đáng lưu ý là đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi môi trường sinh thái, đôi khi không phải người trực tiếp phá hủy hệ sinh thái, mà lại là các cộng đồng tại chỗ [35] Cho

dù nhân dân địa phương phải tự mình giải quyết các vấn đề [8, tr.52] thì việc tìm ra

hướng đi phù hợp với những giải pháp khoa học và khả thi là nhiệm vụ của chúng ta (các nhà khoa học, trong đó có nhà dân tộc học/nhân học), đặc biệt trong bối cảnh phát triển bền vững đang trở thành hướng đi chung trên toàn thế giới

Qua tổng quan một số nghiên cứu, không chỉ trong Dân tộc học, mà trên nhiều lĩnh vực và ngành khoa học, nghiên cứu về sông ngòi ở Việt Nam dường như rất ít Song, các công trình hiện có về môi trường tự nhiên cũng như về môi trường sông, nhất là những công trình mà trên đã đề cập đều là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi có thể so sánh và kế thừa cho tài luận văn Bởi đến nay, biến đổi môi trường sông Năng tác động đến sinh kế cư dân các tộc thiểu số ở hai bên bờ sông

Trang 14

này vẫn chưa có nghiên cứu sâu Năm 2014 mới có một nghiên cứu của tác giả luận

văn về Đa dạng sinh học nông nghiệp ở xã Bành Trạch, nhưng không bàn đến suy

thoái môi trường sông Năng cùng hình thức thích ứng của các tộc người sinh sống gần bờ [27] và gần đây khi làm luận văn, tác giả cũng mới công bố một bài báo về

Sông Năng trong sinh kế của ngươi Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn [28] Năm 2016, sông Năng tuy được nhắc đến trong một nghiên cứu mới thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên: Xây dựng mô hình tích hợp viễn thám và GIS xác định nguy cơ tai biến lũ quét lưu vực sông Năng, tỉnh Bắc Kạn của Lê Như Ngà

[16], nhưng chỉ thuần túy về bản đồ, viễn thám và địa lý, với đối tượng chính là địa hình và tình trạng lũ quét trên lưu vực sông Năng, tức không đề cập tới các cộng đồng dân cư, các hệ sinh thái nhân văn của dòng sông Năng Do đó, trong xu hướng liên ngành và xuyên ngành của khoa học hiện đại, rất cần thiết có thêm nhiều nghiên cứu từ góc nhìn Dân tộc học về tộc người trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường tự nhiên nói chung, với môi trường sinh thái sông nước nói riêng, để đánh giá toàn diện và định hướng lâu dài tới phát triển bền vững Đây chính là hướng nghiên cứu của đề tài luận văn mà chúng tôi đã chọn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của để tài luận văn là tìm hiểu ảnh hưởng của suy thoái môi trường sông Năng đến sinh kế của một số tộc người ở xã Bành Trạch huyện Ba

Bể tỉnh Bắc Kạn, trên cơ sở đó đề xuất một vài kiến nghị nhằm hạn chế sự suy thoái

của môi trường sông Năng và phát triển sinh kế

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn đã xây dựng những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Tìm hiểu về tình hình biến đổi môi trường sông Năng từ năm 1986 trở lại đây và nguyên nhân của sự biến đổi đó;

+ Tìm hiểu, so sánh các hoạt động sinh kế liên quan đến sông Năng của người Tày ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể trong thời gian trước và sau năm 1986;

Trang 15

+ Tìm hiểu, so sánh các hoạt động sinh kế liên quan đến sông Năng của người Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể trong thời gian trước và sau năm 1986;

+ Đưa ra nhận xét sơ bộ về ảnh hưởng của suy thoái hệ sinh thái sông Năng đến sinh kế của đồng bào, nêu bật mối quan hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên theo góc độ Dân tộc học và Sinh thái học;

+ Đề xuất một vài kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng biến đổi hệ sinh thái sông Năng, hướng tới mục tiêu phát triển sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự tác động của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

- Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào hai nội dung: 1) Môi trường sông Năng, bao gồm cả dòng nước và vùng ven bờ; 2) Sinh kế của hai tộc người Tày và Dao, được chia thành bốn hoạt động chính, chỉ tập trung vào các hoạt động liên quan đến sông Năng như trồng trọt, chăn nuôi (bao gồm cả trên cạn và dưới nước), khai thác nguồn lợi tự nhiên (đánh bắt thủy sản, khoáng sản ), các hoạt động khác (thương mại và giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, đi làm ăn xa )

- Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung từ khi Đổi mới đất nước năm 1986 đến nay, tuy nhiên các hoạt động sinh kế được so sánh lịch đại (trước và sau năm 1986) và đồng đại (giữa 2 tộc người Tày và Dao) để là rõ sự ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng Những nghiên cứu khác trên lĩnh vực khoa học tự nhiên (lượng giá môi trường, phân tích môi trường)… thường lấy mốc thời gian là 10 năm, song luận văn này tiếp cận theo hướng liên ngành Mốc 1986 được chọn để phân tích sâu hơn biến đổi của các hoạt động sinh kế dựa trên thay đổi chính sách, đồng thời cho thấy tác động của chính sách đến môi trường như một quan hệ hai chiều Như tác giả đã tổng kết từ kết quả nghiên cứu của mình, chủ trương Đổi mới đem lại nhiều chuyển biến kinh tế tích cực nhưng cũng trực tiếp và gián tiếp gây suy thoái môi trường bởi tư duy chủ quan, chỉ chú trọng lợi ích, phát triển không bền vững…

Trang 16

- Phạm vi không gian nghiên cứu (địa bàn) là xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Trong đó, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại 4 thôn: Nà Dụ, Pác Pìn,

Nà Nộc và Nà Còi - nơi có hai tộc người trên sinh sống

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Về phương pháp luận thực hiện luận văn này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét đối tượng nghiên cứu có mối quan hệ, vận động, biến đổi liên tục Bên cạnh đó, luận văn còn dựa trên quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh

về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

Luận văn được tiếp cận từ góc độ chuyên ngành và liên ngành, áp dụng đồng thời hai góc nhìn của Dân tộc học và Sinh thái nhân văn Trong đó, môi trường được coi như một trong năm nguồn lực của sinh kế, và nghiên cứu tác động lên hệ nhân văn qua sự biến đổi các phương thức sinh kế Dưới quan điểm Dân tộc học, dân tộc là chủ thể của các hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội và các vấn đề đó đều mang tính tộc người [41] Do vậy, phải xem xét sự vật như nó vốn có từ con mắt của người trong cuộc, không tìm cách áp đặt những đánh giá chủ quan của nhà khoa học Dưới quan điểm Sinh thái nhân văn, không thể xem xét con người như một thành phần siêu vật chất hay siêu tự nhiên, mà con người là một phần của tự nhiên Tuy nhiên, thành phần này mang sức mạnh ưu thế nhất, có thể thay đổi sâu rộng tự nhiên như những gì ngày nay chúng ta chứng kiến Tương tác tự nhiên - nhân văn được nhìn nhận ở cả hai bình diện: con người phản ứng, thích nghi với môi trường

và con người tác động ngược lên môi trường

Môi trường hay như trong luận văn này là dòng sông Năng ở xã Bành Trạch được phân tích theo các vai trò, chức năng (đối với dịch vụ hệ sinh thái) Tương tác giữa các dịch vụ hệ sinh thái sông và hoạt động sinh kế được xây dựng thành sơ đồ,

từ đó tiếp cận theo góc độ hệ thống, so sánh trên phương diện lịch sử mối tương quan ấy ở hai tộc người Tày, Dao tại địa bàn nghiên cứu, đặt trong điều kiện tác

Trang 17

động của các hệ nhân văn khác, kể cả chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để phân tích sâu Tuy nhiên, do nguồn lực hạn chế của một đề tài luận văn, tất cả các dịch vụ hệ sinh thái của sông Năng sẽ không được liệt kê đầy đủ như mô hình đã trích dẫn, mà chỉ quan tâm đến những vai trò cơ bản, nổi bật nhất bao gồm: nguồn nước, đất đai ven bờ, nguồn lợi thủy sản và tuyến đường giao thông vận tải

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chủ đạo là điền dã Dân tộc học, trong đó sử dụng các công cụ nghiên cứu như sau:

+ Phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố các đối tượng là chủ hộ, người già hoặc trung niên trên 40 tuổi, phụ nữ để có được bức tranh tổng quát về sự biến đổi của môi trường sông Năng cũng như hoạt động sinh kế của cộng đồng các tộc người địa phương trong thời gian trước và sau năm 1986

+ Thảo luận nhóm giữa các nhóm đối tượng khác nhau: nhóm cán bộ địa phương, nhóm phụ nữ, nhóm trung niên, nhóm thanh niên… để có thông tin toàn diện về ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế

+ Quan sát tham dự vào đời sống của người dân, đặc biệt là những sinh hoạt liên quan đến sông Năng, kết hợp chụp ảnh, ghi chép

- Phương pháp định lượng: Thiết lập bảng hỏi và tiến hành điều tra hộ gia đình vào tháng 2 năm 2016 và tháng 4 năm 2017 Số lượng phiếu tỷ lệ với số hộ của từng thôn, cụ thể: Nà Dụ 30 phiếu, Pác Pìn 20 phiếu, Nà Nộc 20 phiếu, Nà Còi 30 phiếu (tổng số: 100 phiếu) Các hộ gia đình được chọn với tiêu chí sống ở địa phương tối thiểu 30 năm nếu là người tại chỗ; 20 năm tính từ Đổi mới năm 1986 nếu từ nơi khác di cư đến, để lấy cơ sở so sánh lịch đại Câu hỏi được thiết kế nhằm phục vụ mục tiêu nghiên cứu, trả lời cho các câu hỏi về sinh kế của người dân trước, sau năm 1986 và đánh giá, nhận xét của họ về vấn đề suy thoái môi trường sông Năng Số liệu điều tra hộ gia đình sau đó được xử lý bằng phần mềm SPSS và tổng hợp dưới dạng bảng và biểu đồ

Trang 18

- Phương pháp kế thừa: tham khảo và trích dẫn những nghiên cứu đã công bố của một số nhà khoa học đi trước với nội dung liên quan tới vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nhiều vấn đề khác

+ Ngoài ra, tài liệu thứ cấp là các số liệu thống kê của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Bành Trạch; báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn; tài liệu liên quan đến các dự án đang triển khai trên sông Năng; bản đồ hành chính, quy hoạch, thủy văn ; thông tin trên sách báo, internet về tình hình kinh tế, xã hội và môi trường tại điểm nghiên cứu cũng được khai thác để phục vụ cho luận văn

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến đóng góp của một số nhà khoa học trên cả hai lĩnh vực Nhân học và Sinh thái học

- Sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp khi viết báo cáo Lựa chọn 2 tộc người là Tày và Dao dựa theo địa bàn cư trú và văn hóa xã hội, đề tài muốn tập trung so sánh hoạt động sinh kế giữa các dân tộc này, trên cả phương diện đồng đại và lịch đại

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Là một nghiên cứu theo hướng tiếp cận mới, luận văn không chỉ có ý nghĩa

lý luận mà còn có giá trị thực tiễn đối với tình hình phát triển ở địa phương

- Ý nghĩa lý luận:

+ Luận văn cung cấp nguồn tư liệu mới và chính xác về tình hình biến đổi môi trường sông Năng và ảnh hưởng của sự biến đổi này tới sinh kế hai tộc người Tày và Dao

+ Luận văn thể hiện hướng tiếp cận mới, liên ngành Dân tộc học - Sinh thái học, mang tính ứng dụng cao và thiết thực

- Ý nghĩa thực tiễn:

+ Đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của suy thoái hệ sinh thái sông Năng đối với sinh kế của đồng bào, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách của địa phương

Trang 19

+ Góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tri thức địa phương của tộc người, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn có độ dài 80 trang Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và khái quát địa bàn nghiên cứu

Chương 2 Vai trò của môi trường sông Năng đối với sinh kế của người Tày

và Dao trước năm 1986

Chương 3 Sinh kế của người Tày và Dao dưới tác động của biến đổi môi trường sông Năng từ năm 1986 đến nay

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Khái niệm về sinh kế và môi trường

Thuật ngữ “sinh kế” vốn được sử dụng để chỉ việc làm, hoạt động mưu sinh kiếm sống Hay hiểu đơn giản thì sinh kế bao gồm hai yếu tố sinh (sống) và kế (tính toán), tức sinh kế là cách làm ăn mưu cầu sự sống [26, 37] Phần lớn những công trình nghiên cứu hiện nay đều sử dụng khái niệm sinh kế trong mối liên hệ với phát triển bền vững Khái niệm này được đưa ra bởi R.Chamber và G.R.Conway năm

1992 [35], sau này là Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFIT) năm 1999 Theo đó, nền tảng của sinh kế dựa trên 5 loại nguồn lực cơ bản, gồm vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên [34] Trong đó, vốn tự nhiên - môi trường đóng vai trò nền tảng không thể thay thế đối với hoạt động kinh tế, đặc biệt

là nông nghiệp, lâm nghiệp Vốn tự nhiên là không gian, môi trường sống với các tài nguyên như rừng, đất đai, nước, khoáng sản mà dựa vào đó con người có thể tạo dựng sinh kế hay tìm ra chiến lược sinh tồn phù hợp nhất [21]

Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [13] Một sinh kế được coi là

bền vững chỉ khi nó không làm xói mòn nền tảng tự nhiên.

Môi trường là một định nghĩa rộng, bắt nguồn từ tiếng Pháp “environner” có nghĩa là “xung quanh”, là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [13] Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ xem xét đến môi trường tự nhiên, mà được Sinh thái học nhân

văn định nghĩa như: “Môi trường tự nhiên là một phần của thiên nhiên bao la, trong

Trang 21

đó con người tồn tại, có quan hệ qua lại và chịu sự ảnh hưởng của xã hội” [12]

Môi trường tự nhiên có thể bao gồm khí hậu, đất đai (địa hình, đất, đá ), điều kiện thủy văn và các yếu tố sinh học như thực vật, động vật, vi sinh vật Trong khái

niệm về môi trường, “hệ sinh thái” là một thành tố quan trọng, “biểu thị một tập hợp các sinh vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật ) và môi trường vô cơ nơi chúng sinh sống (ánh sáng, khí hậu, đất, nước )” [43] Nếu đối tượng nghiên cứu

là một con sông thì hệ sinh thái bao gồm: môi trường vật lý (dòng chảy của nước, ánh sáng, nhiệt độ, các chất hóa học, đất ven sông ) và những sinh vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) liên quan đến dòng sông đó Nghiên cứu này sử dụng khái niệm hệ sinh thái sông trong các phần tiếp theo nhằm nhấn mạnh sự tương tác giữa các thành tố bên trong nó

1.1.2 Lý thuyết sinh thái văn hóa

Mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên được nhắc đến trong nhiều quan điểm, nhiều công trình nghiên cứu như A.A.Belik (2000), Georges Oliver (2002)… Trong đó, không thể không kể đến Julian Haynes Steward - nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ nổi tiếng đặt nền móng cho Sinh thái học văn hóa

luận về tiến hóa đa tuyến Ô ng định nghĩa sinh thái học văn hóa như sau: “…là

khoa học nghiên cứu những quá trình thích nghi mà qua đó bản chất của xã hội và những đặc trưng khả biến của văn hóa được tác động bởi những điều chỉnh cơ bản thông qua việc con người tận dụng môi trường sẵn có” [41]

Về mặt phương pháp, Steward đã nêu ra 3 bước đối với nghiên cứu sinh thái học văn hóa như sau:

- Chứng minh những kỹ thuật và phương pháp được dùng để khai thác môi trường và sống trong môi trường đó

- Xem xét những mô thức ứng xử văn hóa của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường

Trang 22

- Đánh giá sự tác động của những mô thức kể trên đối với các bình diện khác của văn hóa [42, tr.340]

Bản chất của môi trường nói chung là tính thống nhất biện chứng, tính vật chất của các yếu tố trong hệ thống tự nhiên - con người - xã hội, bởi vậy, con người cần tạo ra một môi trường nhân văn phù hợp với hệ thống đó Chính trong quá trình tác động vào tự nhiên, con người không những cải biến, phát triển tự nhiên bên ngoài mà còn cải tạo, sáng tạo lại tự nhiên ngay bên trong bản thân mình Như vậy, giá trị của thuyết sinh thái nhân văn là ở chỗ, nó giúp cho con người thấy được những mối quan hệ không được thừa nhận trước kia giữa họ và môi trường Nó cũng giúp cho con người nhận thức sâu sắc về vị trí của họ trong thế giới và suy nghĩ của con người về môi trường của họ (Rambo, 1993)

Lý thuyết sinh thái văn hóa được áp dụng trong nghiên cứu này nhằm phân tích mối tương quan giữa môi trường và sinh kế của các tộc người thiểu số Theo

đó, mỗi cộng đồng, qua quá trình thích nghi với thiên nhiên nơi mình sinh sống hình thành nên văn hóa Văn hóa là biểu hiện của sự hòa hợp giữa con người và môi trường, do vậy khác nhau ở từng cộng đồng, từng điều kiện tự nhiên Điều này được thể hiện rõ qua so sánh giữa 4 thôn thuộc nghiên cứu

1.1.3 Các dịch vụ hệ sinh thái

Năm 1977, Walter E Westman với bài tạp chí Các dịch vụ thiên nhiên có giá bao nhiêu? [45] đã xem xét mối liên quan giữa các hệ thống sinh thái và sinh kế của con người Đó là xuất phát khái niệm “dịch vụ hệ sinh thái” (ecosystem services), và

được các nhà sinh thái học trong những năm tiếp theo tiếp tục mở rộng nó như là:

“Những lợi ích con người có được từ các hệ sinh thái, bao gồm dịch vụ cung cấp như thức ăn và nước; các dịch vụ điều tiết như điều tiết lũ lụt, hạn hán; các dịch vụ

hỗ trợ như hình thành đất và chu trình dinh dưỡng; và các dịch vụ văn hóa như giải trí, tinh thần, tín ngưỡng và các lợi ích phi vật chất khác ”[45, tr.68] Riêng các dịch

vụ hệ sinh thái sông, có mô hình của Millennium Ecosystem Assessment (Đánh giá

hệ sinh thái thiên niên kỷ - MEA) (2005) (xem bảng 1.1)

Trang 23

Bảng 1.1 Các dịch vụ hệ sinh thái sông

Dịch vụ trực tiếp Dịch vụ điều hòa Dịch vụ văn hóa

- Nước tiêu thụ cho sinh

hoạt, nông nghiệp, công

- Làm sạch không khí

- Giải trí và du lịch (thể thao, câu cá thư giãn )

- Duy trì chuỗi thức ăn

(Nguồn: Theo mô hình của MEA, 2005)

Khái niệm dịch vụ hệ sinh thái cho chúng ta một cái nhìn sâu rộng và cụ thể hơn về lợi ích của môi trường tự nhiên đối với con người Ví dụ khi nói về một con sông, ta thường nhắc đến lễ hội, tri thức tại chỗ, đánh bắt cá, thủy điện, và gần đây

là biến đổi khí hậu Trong đó, vai trò của sông đối với đời sống các cộng đồng tại chỗ là không thể phủ nhận Tuy nhiên, khi đưa ra phân tích cụ thể, phần lớn giá trị của dòng sông chỉ xoay quanh những gì ta dễ dàng nhìn thấy như nguồn nước, nguồn lợi thủy sản mà bỏ qua nhiều chức năng quan trọng khác Do đó, nếu xem xét tất cả các dịch vụ hệ sinh thái của một con sông đối với các cộng đồng dân cư liên quan, thì còn nhiều vai trò vốn ít được phân tích và liệt kê trong bảng trên

Con người là một thành phần đặc biệt của hệ sinh thái Xuất hiện cách đây khoảng 2.5 triệu năm - khá muộn so với những động thực vật khác, song, chúng ta

đã phát triển vô cùng nhanh chóng, trở thành loài ưu thế trên toàn cầu Con người cũng chịu ảnh hưởng của tự nhiên như một loài sinh vật: trao đổi chất để tồn tại, bị chi phối bởi các quy luật cân bằng sinh thái, tham gia vào chuỗi năng lượng và đặc biệt là khai thác các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mình thông

Trang 24

qua hoạt động sinh kế Ngược lại, con người, cũng bằng sinh kế, đã và đang thay đổi tự nhiên theo cả hai chiều hướng tốt hơn hay xấu đi [11] Do đó, nghiên cứu những dịch vụ hệ sinh thái mà trên đã đề cập không chỉ cho thấy tự nhiên đã hỗ trợ con người như thế nào về mặt vật chất, mà còn phân tích sâu được nhiều giá trị tinh thần khó có thể lượng giá trọn vẹn, sự đảm bảo cho việc tồn tại hài hòa, bền vững của chúng ta trong môi trường tự nhiên

Tuy nhiên, không chỉ Nhân học mà trong các ngành khoa học khác ở Việt Nam, hướng tiếp cận dịch vụ hệ sinh thái này cũng chưa phổ biến Do đó, như đã trình bày, trong xu hướng liên ngành và xuyên ngành của khoa học hiện đại, rất cần thiết có một nghiên cứu đặt tộc người trong mối quan hệ với các dịch vụ hệ sinh thái, để đánh giá toàn diện, định hướng lâu dài hướng tới phát triển bền vững

1.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện tự nhiên

Luận văn chọn địa điểm nghiên cứu là xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Là cửa ngõ phía Đông Bắc của huyện Ba Bể, giáp với tỉnh Cao Bằng, xã Bành Trạch cách trung tâm huyện khoảng 7km về phía Bắc Đường quốc lộ 279 và tỉnh lộ

253 đi qua trung tâm xã nên tạo tiền đề khá thuận lợi cho phát triển kinh tế

Hình 1.1 Vị trí địa lý xã Bành Trạch

Trang 25

(Nguồn: Theo bản đồ hành chính huyện Ba Bể)

Theo báo cáo của Đảng ủy xã Bành Trạch năm 2016 và Ủy ban nhân dân (UBND) xã năm 2014, Bành Trạch có diện tích tự nhiên là 5.967,47 ha với đồi núi chiếm hơn 80%, độ cao trung bình khoảng 500 - 600m, đỉnh cao nhất là 825m Do nằm ở sườn Tây cánh cung Ngân Sơn, ảnh hưởng của các mạch đứt gãy kiến tạo hình thành, nên kiểu địa hình ở địa bàn xã Bành Trạch có nhiều nếp gấp khá đặc trưng Xen kẽ giữa các dãy núi cao là hệ thống đồi thấp, sườn thoải, thung lũng nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi dày đặc bởi các khe, suối và sông Do đó, địa hình xã Bành Trạch vô cùng phức tạp, gây ra không ít khó khăn cho giao thông, xây dựng cơ sở

hạ tầng và phát triển nông lâm nghiệp [6, 29]

Xã Bành Trạch nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao rõ rệt, có mùa hè ôn hòa, mùa đông lạnh hơn so với đồng bằng Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20oC, với sự chênh lệch lớn giữa các tháng trong năm Tháng nóng nhất là tháng 6 hoặc tháng 7 với nhiệt độ 26 - 28oC, tháng lạnh nhất là tháng 1 hoặc tháng 2

có thể xuống đến 4oC trong những ngày rét đỉnh điểm [1] Lượng mưa trung bình năm khoảng 800mm, phân bố không đều giữa các tháng, tập trung vào mùa hạ (từ tháng 5 đến tháng 8) chiếm đến 70 - 80% tổng lượng mưa Mùa đông, ngược lại,

thời thiết khô hạn, mưa ít chỉ đạt 10 - 15mm/tháng, tổng lượng (tháng 10 đến tháng

4 năm sau) chỉ đạt 20 - 30% tổng lượng mưa Tốc độ gió trung bình năm 1,1 - 1,7m/s Tốc độ gió lớn nhất tại trạm quan trắc Bắc Kạn là 29m/s Độ ẩm tương đối trên 75% cùng đặc điểm thổ nhưỡng đồng đều, màu mỡ, phần lớn là feralit vàng đỏ thuận lợi cho canh tác ruộng bậc thang, chăn nuôi hay lâm nghiệp [1]

Xã Bành Trạch có độ che phủ rừng khá lớn (hơn 82%), tuy nhiên, chủ yếu là rừng sản xuất hoặc tái sinh, do đó có trữ lượng gỗ thấp, động thực vật quý hiếm hầu như không còn, chỉ còn có chim và thú nhỏ Nếu được quản lý tốt, lâm nghiệp sẽ là

Trang 26

ngành kinh tế mũi nhọn của xã trong những năm tới Núi đá vôi tập trung ở phía Tây và Tây Bắc của xã, hiện đang được khai thác làm vật liệu xây dựng Trên địa bàn xã có hai con sông chảy qua là sông Năng và sông Hà Hiệu, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản cho người dân, đồng thời là tuyến đường giao thông thủy quan trọng, chứa đựng tiềm năng thủy điện [27]

Bên cạnh những thuận lợi về khí hậu, xã Bành Trạch cũng phải chịu nhiều khó khăn như sương mù, mưa phùn kết hợp với địa hình dốc phức tạp, gây cản trở giao thông Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau có thời tiết hanh khô, có khi phải chịu hạn hán; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 7 có thể xảy ra lũ cuốn, lũ quét, xói mòn Đặc biệt, tình hình biến đổi khí hậu ở nơi đây cũng diễn ra ngày càng rõ rệt nên đang đặt ra nhiều thách thức cho phát triển kinh tế - xã hội ở nơi đây [33]

- Môi trường sông Năng

Tỉnh Bắc Kạn có các sông suối gồm: sông Cầu, sông Bắc Giang, sông Năng, sông Gâm, sông Phó Đáy và sông Na Rì Trong đó, sông Năng với tổng chiều dài 117km, 87km chảy qua tỉnh Bắc Kạn, 25km qua xã Bành Trạch, là con sông lớn nhất vắt ngang huyện Ba Bể nói chung, điểm nghiên cứu nói riêng Đoạn thượng nguồn của sông Năng gồm hai nhánh: nhánh phía Bắc chảy từ tỉnh Cao Bằng xuống, nhánh phía Tây từ huyện Pác Nặm (tỉnh Bắc Kạn) chảy sang Hai nhánh sông hợp lưu tại địa phận xã Bằng Thành (huyện Pác Nặm) rồi trở thành ranh giới

tự nhiên giữa hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn Sau khi nhận thêm nước từ hồ Ba Bể, dòng sông Năng chảy sang tỉnh Tuyên Quang, hợp với hạ lưu sông Gâm tại địa bàn thị trấn Na Hang, huyện Na Hang Sông Năng nằm ở khu vực có địa hình dốc, lòng sông hẹp, diện tích lưu vực là 2.293km², lưu vực tại tỉnh Bắc Kạn là 890km2

- lớn nhất trong các con sông chảy qua huyện Ba Bể Là một địa bàn rộng lớn với nhiều tiềm năng về thổ nhưỡng và thủy điện, hai bên bờ sông Năng dựa vào các dãy núi khá cao trên 240m, sườn núi với độ dốc lớn (35 - 40o) được phủ bởi các lớp mỏng mùn tàn tích Phần mép nước phía bờ phải thượng lưu đá gốc phong hóa nhẹ lộ thành dải nhỏ [1]

Trang 27

Do địa hình phức tạp nên sông Năng uốn lượn đổi dòng nhiều Đoạn qua xã Bành Trạch dòng chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, là nơi tụ hội của rất nhiều suối nhỏ, khe nước Tại nơi giao với huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), dòng sông này gặp một địa hình Caxtơ bào mòn qua nhiều thế kỷ tạo thành động Puông

Về phía hạ lưu còn có động Hua Mạ và thác Đầu Đẳng với độ cao trên 60m Hạ nguồn sông Năng tiếp giáp hồ Ba Bể là vùng bán ngập có các loài thực vật họ vối, sung thân cây xù xì và có dáng như cây thế, mọc xanh tốt, tán xòe rộng sát với mặt nước [16] Xuôi xuống dưới là thảm rừng núi đất, cây bụi cùng hệ sinh thái nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc, chủ yếu là người Tày và một bộ phận người Dao mới định cư

Sông Năng vốn có vai trò quan trọng đối với sinh kế truyền thống của các tộc người sinh sống ở hai bên bờ nói chung, ở xã Bành Trạch nói riêng Khi xem xét

các dịch vụ sinh thái sông Năng, mô hình của MEA (Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ) năm 2005 được áp dụng (xem bảng 1.1) Tuy nhiên cho đến nay, đoạn sông

Năng đi qua địa phận xã Bành Trạch chưa diễn ra hoạt động du lịch, khoa học và thủy điện, do đó như đã đề cập, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các dịch vụ hệ sinh thái trực tiếp (nguồn nước, đất đai, thủy sản, dòng chảy )

1.2.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc

Bành Trạch là một xã đa dạng về thành phần tộc người, với năm dân tộc: Dao, Hmông, Tày, Nùng và Kinh Ở Việt Nam, người Tày là một trong những tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái - Kadai, cư trú ở vùng thấp (chân núi, thung lũng ven sông suối ), với dân số 1.626.392 người năm 2009 Là tộc người có dân

số đứng thứ hai ở nước ta (chỉ xếp sau tộc người Kinh), người Tày cư trú rộng khắp

ở các tỉnh miền núi phía Bắc, còn ở tỉnh Bắc Kạn, họ cũng chiếm đến 52,9% với 155.510 người, có mặt tại hầu hết các huyện, xã, trong đó tập trung tại các huyện:

Ba Bể (26.771 người, chiếm 17,21%); Chợ Đồn (33.365 người, chiếm 21,46%) và Chợ Mới (21.023 người, chiếm 13,52%), riêng xã Bành Trạch huyện Ba Bể có 1.206 người[25] Người Dao là một dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao, tuy đứng thứ 9 trong cả nước về mặt dân số (Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2009) song

Trang 28

ở tỉnh Bắc Kạn, họ được xếp đông thứ 2 tức chỉ sau người Tày Người Dao phân bố rải rác ở khắp các huyện của tỉnh với những nét văn hóa riêng, trong đó ở huyện Ba

Bể có tới 11.334 người, còn ở xã Bành Trạch là 1.290 người[25]

Ở xã Bành Trạch, dân cư các dân tộc hầu hết phân bố tập trung theo đơn vị thôn bản, với số lượng đến năm 2016 là 13 thôn bản [7] Họ cư trú xen kẽ ở vùng địa hình thấp nhưng càng lên cao, thành phần tộc người ở các thôn càng không đồng đều Cụ thể, ở các thôn vùng thấp gần đường tỉnh lộ như Lũng Điếc, Bản Hon, Nà Thi hay tại khu chợ gần trung tâm xã chủ yếu là người Tày, có cả một số ít người Kinh, hoạt động buôn bán nông sản cũng phát triển hơn Các thôn vùng cao phía Tây và Tây Bắc của xã Bành Trạch như Nà Nộc, Nà Còi, người Dao thuộc nhóm Dao Tiền, Dao Đỏ chiếm đa số; còn phía Đông như Khuổi Khét lại tập trung một nhóm nhỏ người Hmông định cư chưa lâu, khoảng 30 năm [33]

Địa hình phức tạp và tình hình phát triển cơ sở hạ tầng không đồng đều khiến

xã Bành Trạch có thể được phân chia thành hai vùng rõ rệt [27] Vùng 1 bao gồm phần phía Nam của xã với các thôn: Pàn Han, Nà Thi, Bản Hon, Lũng Điếc, Pác Châm, Nà Lần, Nà Dụ Đây là vùng có độ cao trung bình thấp và bằng phẳng hơn, chỉ khoảng 200m đến 400m Các cơ sở hạ tầng chính như UBND, trạm y tế xã, trường Trung học cơ sở (THCS), đường quốc lộ và tỉnh lộ, cũng như dân cư chủ yếu tập trung ở nơi đây Diện tích đất nông nghiệp lớn và liền mạch, hệ thống thủy nông tương đối hoàn chỉnh Đây là nơi tập trung chủ yếu cây ăn quả, hoa màu, trồng rừng, bước đầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa với khu chợ chính và hoạt động thương mại phát triển Người dân chủ yếu là Tày, Kinh, Dao có thu nhập khá, nhiều hộ đã xây được nhà gạch và cho con học đến đại học Trong gia đình, họ có thể giao tiếp bằng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc

Vùng 2 bao gồm phần giữa và phía Bắc của xã Bành Trạch, gồm các thôn Pác Pìn, Khuổi Khét, Nà Nộc, Bản Lấp, Tôm Làm, Nà Còi Vùng này có độ cao trung bình 500m đến 750m, địa hình là một khối núi dốc với đỉnh Đông Bắc trên 800m Dân cư thưa thớt, sống chủ yếu ven sông Năng và cạnh các khe suối Cơ sở

hạ tầng kém phát triển, chỉ có phân trường Tiểu học, không có trạm xá, trường

Trang 29

THCS và đường quốc lộ, tỉnh lộ Người dân chủ yếu thuộc các dân tộc Dao, Tày và Hmông và xen với Nùng, sinh kế hãy còn tự cấp với năng suất chưa cao, chỉ đủ ăn, nên đời sống còn nhiều khó khăn Song, đây lại là vùng còn giữ được nhiều bản sắc văn hóa Mọi người phần lớn chỉ giao tiếp bằng tiếng dân tộc, tiếng phổ thông không được sử dụng nhiều Những người cao tuổi vẫn mặc trang phục truyền thống trong sinh hoạt hằng ngày

Như đã đề cập, để so sánh ảnh hưởng của suy thoái môi trường sông Năng đến sinh kế của cư dân nơi đây, đề tài lựa chọn nghiên cứu ở 4 thôn: Nà Dụ, Pác Pìn, Nà Nộc và Nà Còi, đều thuộc vùng 2

Bảng 1.2: Đặc điểm tự nhiên và dân số các thôn Nà Nộc, Pác Pìn, Nà Dụ, Nà Còi

STT Thôn Dân tộc Số hộ (năm

2016)

Đai độ cao (m)

Khoảng cách đến sông Năng (km)

2 Nà Nộc Dao Đỏ, Tày 71 400 0,5

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Đảng ủy và UBND xã Bành Trạch

qua các năm 2013 - 2016) Người Dao và Tày ở các thôn Nà Còi, Nà Dụ, Pác Pìn vốn sinh sống ở xã Bành Trạch từ lâu đời, khi còn thuộc tỉnh Bắc Thái trước năm 1978 Sau đó, trong chiến tranh biên giới phía Bắc, một bộ phận người Dao Đỏ sơ tán từ Cao Bằng xuống đây, thành lập nên một số chòm thuộc thôn Nà Nộc cùng vài thôn khác (Tôm Làm, Vàng Khinh ) Tuy có thời gian cư trú khác nhau tại địa bàn nghiên cứu, song, các tộc người đều đoàn kết, tương trợ cùng phát triển kinh tế - xã hội

Trang 30

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Để khai thác những thuận lợi và khắc phục những khó khăn của đặc điểm tự nhiên, chính quyền địa phương xã Bành Trạch đang hướng tới phát triển kinh tế tập trung vào nông - lâm nghiệp, chủ yếu sản xuất theo quy mô hộ gia đình kết hợp với trồng trọt và chăn nuôi truyền thống Trong đó, trồng trọt giữ vai trò quan trọng nhất nhằm đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu lương thực phục vụ đời sống của nhân dân trong xã Về trồng trọt, cơ cấu giống cây trồng ổn định chủ yếu là lúa, ngô, sắn, đỗ tương, lạc và khoai môn Theo số liệu của UBND xã, tuy năm 2007 diện tích đỗ tương vụ mùa toàn xã là 144 ha nhưng đến năm 2015 chỉ còn 30,09 ha do đất bạc màu cũng như chuyển đổi sang giống cây trồng khác [33] Ngoài ra, theo chỉ tiêu thực hiện Dự án 30A, từ năm 2014, xã đang tiến hành giao giống hồng không hạt trên 11 ha (400 cây/ha), xây dựng vùng chuyên canh cây ăn quả và phát huy thế mạnh những giống cây trồng truyền thống của địa phương như khoai môn, hồng không hạt, lúa Bao thai Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm tăng dần, cụ thể năm 2013 đạt 1.982,4 tấn [30] và năm 2015 đạt 2.035,32 tấn [33] Bình quân lương thực đầu người đạt 615kg/năm (2013) và 638,63kg/năm 2015, do đó trước mắt đã cơ bản đáp ứng đủ cho nhu cầu của người nhân trong xã Ngoài ra, cây dong riềng cũng được triển khai trồng 28,5 ha từ năm 2013 cho năng suất bình quân rất cao đạt 610 tạ/ha, sản lượng 1.711 tấn do phù hợp điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu [30], bởi vì dong riềng là nguồn nguyên liệu chính cho hoạt động sản xuất miến vốn nổi tiếng của tỉnh Bắc Kạn, có thể trở thành phương hướng phát triển nông nghiệp lâu dài [27] Tuy nhiên, đến năm 2015 thì diện tích trồng cây rong giềng đã giảm đi, năm 2016 chỉ còn một số hộ tiếp tục trồng do không bán được giá so với một số cây trồng khác, nên người dân đã chuyển sang mở rộng diện tích trồng sắn, lạc, khoai môn hoặc cây ăn quả [7] Nói chung, thách thức lớn nhất hiện nay đối với sản xuất nông nghiệp nơi đây vẫn là tình hình sâu bệnh hại (sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng) và chuột vẫn gây hại trên nhiều cánh đồng, cùng với hệ thống thủy lợi chưa tốt và thời tiết hạn hán ảnh hưởng không ít đến năng suất cây trồng

Trang 31

Chăn nuôi tại xã Bành Trạch cũng tương đối phát triển, với đa dạng chủng loại vật nuôi như: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, cá và các loại thủy sản nhưng chủ yếu chỉ phục vụ nhu cầu về thực phẩm ở quy mô hộ gia đình, tiến tới trao đổi, buôn bán nhỏ lẻ, chưa tập trung theo hướng hàng hóa Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bước đầu phát triển chế biến gỗ, khai thác vật liệu xây dựng Dịch

vụ và thương mại tuy đã được đẩy mạnh trong những năm gần đây, song chỉ chiếm khoảng 14% cơ cấu kinh tế [33]

Về mặt y tế và giáo dục, đến nay cơ sở hạ tầng vẫn còn hạn chế, toàn xã Bành Trạch chỉ có 9 phân trường Mẫu giáo, 1 điểm trường Tiểu học và một số phân trường Tiểu học tại, 1 điểm trường Trung học cơ sở (THCS) với giáo viên trên cả ba cấp là: Mầm non có 19 giáo viên; Tiểu học có 43 giáo viên; THCS có 16 giáo viên Điều kiện y tế cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân Trạm y tế có diện tích 300m2 đặt tại thôn Lũng Điếc với ba nhà bán kiên cố, trang thiết bị còn sơ sài, đội ngũ cán bộ còn chưa đầy đủ Nhân dân ở các thôn xa trạm như Nà Còi, Nà Nộc, Vàng Khinh chủ yếu chữa bệnh theo phương thức truyền thống

Bên cạnh đó, vấn đề trật tự xã hội và an ninh quốc phòng luôn được đảm bảo, đang từng bước hạn chế các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, vi phạm luật giao thông Gần đây, lãnh đạo và các đoàn thể ở xã Bành Trạch thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tuyên truyền pháp luật và đời sống văn hóa cho nhân dân trong xã, do đó tạo nên sự chuyển biến tích cực và ngày càng củng cố phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư Trình độ văn hóa của đồng bào các dân tộc cũng đã được cải thiện nhiều Tình trạng trẻ em bỏ học trước kia phổ biến bởi nhiều lý do nhưng đa số các gia đình hiện nay, nhờ sự vận động của cộng đồng và hỗ trợ của ngành giáo dục ở địa phương, đã ý thức được việc cho con cháu đi học nhằm nâng cao kiến thức Nhờ

đó, tuy cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, xã Bành Trạch đã thực hiện xong Chương trình phổ cập giáo dục THCS

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Điểm lại một vài lý thuyết về sinh thái học, có thể nhận thấy quan hệ con người - tự nhiên là một mối tương tác hai chiều chặt chẽ, được biểu hiện rõ ràng thông qua các hình thức mưu sinh Khi môi trường biến đổi bởi bất kỳ lý do nào thì cuộc sống của con người cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là những cộng đồng tại chỗ vốn phụ thuộc vào thiên nhiên Điều này càng rõ hơn đối với các hệ sinh thái sông, vốn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội từ xưa đến nay

Lựa chọn địa điểm nghiên cứu là xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, đề tài luận văn này hướng tới phân tích làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa tự nhiên và sinh kế đã nêu trên Dù khó khăn về địa hình, song xã Bành Trạch từ Đổi mới năm 1986 đến nay vẫn không ngừng thúc đẩy sản xuất, phát triển nông lâm nghiệp, từng bước hình thành các vùng chuyên canh giống cây trồng đặc sản của địa

phương Cơ sở hạ tầng điện - đường - trường - trạm tuy còn nhiều bất cập nhưng

cũng đã tạo điều kiện cho các dân tộc anh em trên địa bàn cùng phát triển

Dòng sông Năng không chỉ là nguồn nước, thủy sản, mà còn là tuyến giao thông huyết mạch đang được người dân ở hai bên bờ quan tâm khai thác Song những năm trở lại đây, môi trường sông Năng đang bị suy thoái nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sinh kế của người dân địa phương, đặc biệt là các thôn bản sinh sống ở hai bên bờ Tác động cụ thể sẽ được xem xét, bàn luận trong các chương sau của luận văn, tuy nhiên, sự biến đổi thích ứng ở mỗi cộng đồng dân tộc đều mang tính riêng biệt, liên quan đến bản sắc truyền thống và nguồn vốn tri thức của đồng bào Trước những ảnh hưởng ngày càng to lớn của vấn đề môi trường sinh thái đến các cộng đồng, trong đó sông Năng chỉ là một ví dụ, người dân không chỉ tự nâng cao ý thức giữ gìn thiên nhiên mà còn rất cần những quan tâm,

hỗ trợ của các chính sách từ trung ương và địa phương

Trang 33

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG SÔNG NĂNG

ĐỐI VỚI SINH KẾ NGƯỜI TÀY VÀ DAO TRƯỚC NĂM 1986

2.1 Vai trò của môi trường sông Năng đối với sinh kế người Tày

Theo Đặng Đình Quang và cộng sự, kinh tế truyền thống của tộc người Tày

là một nền nông nghiệp lúa nước vùng thung lũng kết hợp với nương rẫy, soi bãi, chăn nuôi, săn bắt hái lượm và tiểu thủ công nghiệp [19] Người Tày ở xã Bành Trạch huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cũng vậy Khi phong trào xây dựng hợp tác xã (HTX) trong nông nghiệp được thực hiện ở miền Bắc nước ta từ những năm 1960 đến 1980, cộng đồng người Tày ở miền núi phía Bắc là một trong những tộc người thiểu số chịu tác động sớm nhất và nhiều nhất của phong trào này [36] Ở nhiều nơi, HTX được hình thành trên các thôn bản của người Tày, trên ruộng đất của nhiều hộ gia đình Tày đã khai phá qua nhiều thế hệ, kết hợp với người Kinh lên xây dựng kinh tế mới và một số tộc người vùng cao, điển hình là người Dao, xuống định cư theo Chương trình định canh định cư quốc gia Đồng bào Tày, Kinh, Dao, Hmông cùng tham gia xây dựng các HTX và khai phá thêm ruộng đất Sau khi hợp tác xã giải thể, sinh kế hiện nay của người Tày, tuy có sự biến đổi nhưng vẫn gắn liền với nông lâm nghiệp [29]

2.1.1 Cung cấp nước và phù sa cho trồng trọt

Cũng như các địa phương khác trong huyện Ba bể và tỉnh Bắc Kạn, người Tày ở xã Bành Trạch có truyền thống trồng trọt lâu đời với ba loại hình canh tác chính là ruộng lúa nước, nương rẫy và vườn gia đình Ruộng truyền thống trước đây

của họ gồm ba loại: ruộng nước (nà nặm) chủ yếu ở vùng thung lũng, bãi ven sông

suối bằng phẳng, cho năng suất cao nhưng yêu cầu tưới tiêu ổn định; ruộng cạn chờ

nước mưa (nà lẹng) phần lớn là ruộng bậc thang làm trên đất dốc, không yêu cầu khắt khe về nguồn nước nhưng cho năng suất thấp hơn; ruộng lầy thụt (nà vùng, nà lún) ít khi làm [17] Tuy nhiên, hình thức canh tác phổ biến nhất đối với người Tày

vẫn là ruộng nước nhằm tối ưu hóa năng suất cây trồng, đáp ứng nhu cầu lương

Trang 34

thực, do đó đòi hỏi một hệ thống tưới tiêu tương xứng và thấm đẫm bản sắc văn hóa

và tri thức tộc người

Là những cư dân đầu tiên của vùng, người Tày ở xã Bành Trạch huyện Ba

Bể đã sớm hình thành một nền tảng vững chắc về thủy lợi Trước kia, ruộng của họ (chẳng hạn như thôn Nà Dụ và vùng phía Nam thôn Pác Pìn) được tưới tiêu bằng các cọn bắc nước từ dòng sông Năng giống như người Dao Đỏ gần đây, do đó chỉ làm được một vụ Ngược lại, phía Bắc thôn Pác Pìn, người dân lại sử dụng mương phai để dẫn nước từ khe suối vào ruộng Phai là một loại đập ngăn khe hoặc suối dựng bằng gỗ, nứa, rơm, rạ, đất, đá để dâng mực nước vào mương Mương là đường dẫn nước từ phai, thường chia thành nhiều nhánh, đưa vào nhiều đám ruộng khác nhau nên được xây dựng và giữ gìn bởi cả cộng đồng Từ những năm 1960, do nhu cầu làm lúa hai vụ, hệ thống mương phai đã dần thay thế cọn nước ở cả hai thôn Khoảng những năm 1970, để cải tiến hệ thống thủy lợi, một số hộ gia đình còn lắp thêm máy bơm ly tâm (loại máy không dùng điện mà sử dụng lực đẩy của dòng nước) ở các đầu mương nhằm tăng hiệu suất dòng chảy trong mùa cạn Nước sông Năng do vậy không đóng nhiều vai trò trong hoạt động sản xuất của họ, mà dịch vụ hệ sinh thái quan trọng nhất lại là đất đai

Khi được hỏi về mức độ vai trò của sông Năng, có tới 7,6% người dân Tày ở

xã Bành Trạch đều cho rằng dòng sông này rất quan trọng và 92,4% còn lại cho rằng quan trọng Là một tộc người cư trú vùng thấp, họ vốn gắn liền với sông Năng

từ lâu đời Trong đó, nổi bật nhất là vai trò của sông này đối với hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và giao thông đường thủy liên quan đến thương mại, dịch vụ Nước sông Năng tuy đóng vai trò tương đối quan trọng trong nông nghiệp (bồi đắp cho các đám nương ven sông (59,4%) cũng như vườn gia đình (36,3%) và chăn nuôi các loại gia súc gia cầm), song đối với ruộng lúa nước là hình thức canh tác chính của họ thì sông Năng lại không đem lại nhiều lợi ích (3,3%) (xem hình 2.1)

Trang 35

Hình 2.1: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp

đối với người Tày ở thôn Nà Dụ trước năm 1986

(Nguồn: Số liệu điều tra phiếu hỏi hộ gia đình vào tháng 4/2017)

Đối với đất nương, vai trò của sông Năng ngược lại, vô cùng quan trọng Người Tày ở xã Bành Trạch đặc biệt ưa chuộng những mảnh đất ven sông vì vừa bằng phẳng, vừa màu mỡ nên có thể cho canh tác được nhiều năm Không chỉ những nơi gần sông như thôn Nà Dụ mà thậm chí nhiều người dân ở phía Bắc thôn Pác Pìn có thể đi bộ 2-3km hằng ngày ra gần sông làm ruộng và nương Những nơi bãi nhỏ, bị cắt xẻ không thể trồng lúa cũng được tận dụng để làm nương Họ thường trồng những loại hoa màu ngắn ngày như ngô, đậu, bí, vừng, rau cải theo hình thức xen canh gối vụ cho đến mùa nước lên, bãi sông ngập cũng vừa lúc thu hoạch Khi đất nương bị sạt lở tự nhiên do dòng chảy sông Năng, diện tích thu hẹp không thể canh tác nữa, đồng bào lại chuyển sang phía bên kia sông để tiếp tục trồng cấy Một bãi nương như vậy thường quay vòng trong vài năm Ngoài nương ven sông, còn có nương dốc được khai phá trên các sườn núi, song chỉ xuất hiện ở phía Bắc thôn Pác Pìn, không phổ biến bằng nương bãi bồi

Vườn gia đình cũng là một hình thức canh tác phổ biến ở người Tày xã Bành Trạch Vườn được làm quanh nhà hoặc ven đường, thậm chí ven sông, diện tích 40

- 60m2, riêng vườn của hộ khá giả có thể lên tới hàng trăm mét vuông tùy điều kiện Trong vườn trồng các loại rau, gia vị như gừng, tỏi, nghệ, kiệu và một số cây ăn

Trang 36

quả: chuối, đu đủ, cam, chanh, hồng, lê, mận Không chỉ cung cấp thực phẩm, nông sản từ vườn còn được mang ra chợ bán, đem lại một phần thu nhập cho người dân Nước tưới vườn là nước mưa và nước thải sinh hoạt Đối với thôn Nà Dụ, nước sinh hoạt của họ vốn lấy từ sông Năng, qua hệ thống vườn lại đổ ra sông Năng, mang theo chất hữu cơ nuôi các động vật thủy sinh như một vòng tuần hoàn

Ngược lại, thôn Pác Pìn có sự phân hóa rõ rệt thành hai nhóm: phía Nam gần sông và phía Bắc xa sông Do địa hình thôn hẹp và dài nên điều kiện tự nhiên giữa hai vùng này cũng khác nhau rõ rệt Theo đó, ở phía Bắc, từ xưa đến nay nước khe suối dồi dào luôn là nguồn nước sản xuất chính của bà con; do chủ yếu sử dụng nước khe nên sông Năng gần như không đóng vai trò lớn trong sinh kế của họ Trái lại, ở phía Nam, do xa núi, ít khe nên họ vẫn duy trì việc sử dụng nước sông Năng

để tưới tiêu Trong 45% cư dân trồng trọt bằng nước sông Năng ở thôn Pác Pìn thì

có đến 90% ở phía Nam (xem hình 2.2)

Hình 2.2: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp

đối với người Tày ở thôn Pác Pìn trước năm 1986

(Nguồn: Số liệu điều tra phiếu hỏi hộ gia đình vào tháng 4/2017)

Trước năm 1986, tính chất nền nông nghiệp truyền thống của người Tày nói chung, các dân tộc khác tại xã Bành Trạch nói riêng vẫn là tự cấp, tự túc Hơn nữa, năng suất nông nghiệp cũng không cao, thậm chí còn thiếu đói, mùa giáp hạt ăn độn ngô, độn sắn, củ mài cho qua bữa Nguyên nhân một mặt do bối cảnh lịch sử, quá

Trang 37

trình phát triển và các cơ chế, chính sách đương thời, mặt khác do phong tục tập quán canh tác có phần hạn chế về nguồn thông tin và tri thức mới Hiện nay, do thay đổi cơ cấu giống cây trồng, áp dụng khoa học kỹ thuật, việc trồng trọt của người Tày nơi đây có nhiều đổi mới, tuy nhiên, vai trò quan trọng nhất vẫn là cung cấp lương thực, thực phẩm, duy trì cuộc sống gia đình Sông Năng ngoài là nguồn nước sinh hoạt, còn tạo môi trường đất bồi cho canh tác nương rẫy và vườn gia đình Cũng có một vài trường hợp, ruộng nương bị ngập bởi lũ lụt, mưa kéo dài, chủ yếu xảy ra vào mùa nước lớn tháng 5-6 âm lịch, song thiệt hại không đáng kể

2.1.2 Cung cấp nước và thức ăn chăn nuôi

Trồng trọt và chăn nuôi là hai hoạt động luôn song song diễn ra trong nông nghiệp truyền thống của nhiều tộc người ở đồng bằng hay vùng cao Trong đó, với mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, hoạt động chăn nuôi lại khác nhau về quy mô, cách thức và tính chất Với người Tày xã Bành Trạch, loại vật nuôi chính vẫn là trâu, vài gia đình nuôi thêm bò để lấy sức kéo, thực phẩm và phân chuồng Ngoài ra họ còn thả rông lợn, gà trong vườn, những hộ gần sông hơn có thể nuôi thêm vịt, ngan Gia súc, gia cầm trước kia ban ngày thả rông, đêm thì buộc dưới gầm nhà sàn Sau này, do nạn trộm cắp hoành hành và để đảm bảo vệ sinh nên tất cả các hộ người Tày nơi đây đều làm chuồng trại nhốt gia súc, gia cầm

Do được thả rông, lại sinh sống gần sông Năng, từ bao đời nay vật nuôi của đồng bào dường như hòa làm một với thiên nhiên Chúng không chỉ sử dụng nước sông Năng mà còn kiếm ăn trên các bãi cỏ ven sông, chất thải làm phân cho những mảnh nương, ruộng Cũng như trồng trọt, người Tày rất chuộng chăn thả ở vùng bãi ven sông vì cỏ ở đó tốt hơn lại tiện cho gia súc uống nước Điểm mấu chốt trong hoạt động chăn nuôi truyền thống ở người Tày là họ rất quan tâm bảo vệ môi trường bên cạnh chăm sóc đàn vật nuôi của mình Quy định của các thôn có những điều rất

cụ thể như “mỗi hộ gia đình chỉ được nuôi tối đa chục con gia súc mỗi loại, các bãi chăn thả phải luân phiên thay đổi để cỏ mọc lại, có người trông coi cẩn thận, tránh phá hoại mùa màng, gia súc, gia cầm chết không được vứt ra sông…” (ông T.V.P,

54 tuổi, cư dân thôn Pác Pìn)

Trang 38

Qua kết quả nghiên cứu, không chỉ đem lại thu nhập ổn định, các loài gia súc, gia cầm này còn tham gia vào hệ sinh thái sông Năng như một thành phần giúp duy trì vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng, lưới thức ăn, quá trình khống chế sinh học Hoạt động trồng trọt cũng vậy, đồng ruộng và nương rẫy là ổ sinh thái của rất nhiều loài sinh vật hoang dã Nói cách khác, tổ hợp sinh thái nông nghiệp của người Tày đã trở thành một thành phần không thể tách rời trong hệ sinh thái sông Năng Cũng như các tộc người khác, trước khi áp lực dân số khiến sinh kế trở nên bấp bênh thì hoạt động chăn nuôi, trồng trọt truyền thống của người Tày rất hài hòa, ổn định, là ví dụ điển hình về “phát triển bền vững” với môi trường sông Năng

Ngoài chăn nuôi gia súc và gia cầm, nhiều gia đình người Tày có truyền thống đào vét tạo ao trên những mảnh đất lầy thụt quanh nhà, thường ngay trong khuôn viên vườn Diện tích ao nhỏ, khoảng 50 - 70m2, sâu khoảng 2 mét, bờ đắp dày và có cầu bắc ngang Trong ao chỉ thả trai, ốc để bổ sung cho bữa ăn hằng ngày và cá giống Khi dẫn nước vào ruộng cấy lúa (khoảng tháng 4 - 5 âm lịch), người dân đồng thời tháo ao đưa cá con vào ruộng, môi trường giàu dinh dưỡng và dồi dào nguồn thức ăn trong ruộng giúp cá nhanh lớn Mùa tháo nước gặt lúa từ tháng 9 âm lịch cũng là lúc cá có thể thu hoạch Đó là tập quán nuôi cá ruộng phổ biến ở nhiều dân tộc ở xã Bành Trạch Cá ruộng và thủy sản khác ở ao hỗ trợ người dân phần nào trong sinh hoạt, song nguồn cá chính vẫn do đánh từ sông Năng

2.1.3 Cung cấp nguồn thủy sản cho cư dân trong vùng

Vốn sống gần thiên nhiên từ lâu đời, người Tày ở xã Bành Trạch nói chung,

ở hai thôn Nà Dụ và Pác Pìn nói riêng đã biết săn bắt, hái lượm và đánh cá nhằm tận dụng mọi tiềm năng của rừng núi, sông suối Trong đó, thủy sản từ sông Năng là

nguồn lợi quan trọng, không thể thiếu khi kể đến hoạt động sinh kế này “Sông Năng trước kia nước rất sạch, vừa tắm vừa uống được, cá cũng rất nhiều Một lần đánh lưới có thể được hơn 10kg” (ông N.V.H, 59 tuổi, cư dân thôn Nà Dụ) Thậm chí những con cá dài đến nửa mét thuộc họ cá bỗng (Spinibarbus denticulatus) quý

hiếm cũng thường xuyên đánh bắt được Số liệu điều tra bảng hỏi cũng cho thấy, 100% hộ gia đình thôn Nà Dụ cho rằng, trước năm 1986, sản lượng cá sông Năng

Trang 39

rất dồi dào, vừa đủ cung cấp cho gia đình, vừa để đem bán Cá sông đặc biệt được

ưa chuộng trong bữa ăn hằng ngày Đến bây giờ, nhiều người dân vẫn trả lời rằng

họ thích ăn cá sông hơn vì không có mùi bùn như cá nuôi ở ao

Thủy sản sông Năng được người dân trước đây đánh bắt với nhiều hình thức

như câu, quăng chài, thả lưới, bẫy, lồng hay duốc cá (bưa phya) Do vậy, công cụ

để đánh bắt cũng gồm nhiều loại như chài, lưới, cần câu, vợt, vó, đó, rọ phần lớn

do người dân tự làm, tự dùng trong gia đình, chưa phát triển thành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp Tùy từng loài cá mà họ có cách đánh bắt riêng như dùng mồi giun đất câu cá, hoa mướp câu ếch, cám và gạo tấm để nhử tôm vào lồng Ngoài

ra, họ còn duốc cá bằng cách dùng ớt, cây thâm, cóc kèn, dây mật và nhiều loại lá rừng khác đem giã nhỏ để thả xuống nước làm cá chết, nổi lên khắp một khúc sông Mỗi lần đánh duốc thường gồm nhiều gia đình, thậm chí nhiều thôn, sản phẩm thu được sẽ chia đều cho mọi người tham gia hoặc ai bắt được cá người ấy dùng

Đáng lưu ý, mùa duốc cá khoảng tháng 5, 6 âm lịch khi nước rút sau cơn

mưa đầu mùa trùng với mùa đẻ trứng của nhiều loài trong họ cá Chép (Cyprinidae)

Khai thác lúc này cho sản lượng cao, nhưng cũng ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, nhất là kiểu đánh bắt mang tính tận diệt như duốc cá có thể làm chết cả cá con và trứng Tuy nhiên, duốc cá không diễn ra thường xuyên, mà chỉ kéo dài tới đợt mưa thứ hai, trước khi nước lên quá cao Sau mùa duốc, khoảng tháng 9 đến tháng 11, môi trường sông Năng đã trong sạch trở lại cũng vừa kịp đợt sinh sản của nhiều loài

cá quý như cá bỗng, cá chạch sông Như vậy, thời gian và quy mô đánh duốc là rất quan trọng đối với sự sinh sản, phát triển của các loài cá sông Năng, do đó những luật tục, quy định chặt chẽ về vấn đề này cũng được người dân thiết lập Cụ thể, mỗi năm chỉ được đánh duốc tối đa ba lần, không được đánh sau tháng 7 âm lịch hay quá phạm vi của thôn trừ khi được sự đồng ý, cùng tham gia của các thôn lân cận

Ngoài nguồn lợi về thủy sản, sông Năng còn chứa đựng nhiều tiềm năng về khoáng sản, như quặng vàng, đá vôi, cát, sỏi cùng đa dạng thực vật ven bờ dồi dào Trước kia nguồn tài nguyên này dường như chưa từng được đồng bào khai thác, mà chỉ diễn ra mạnh mẽ những năm sau 1986 khi giải thể hợp tác xã và người

Trang 40

Kinh ồ ạt di cư lên khai phá ở vùng miền núi Đây là một trong những nguyên nhân gây biến đổi môi trường sinh thái sông Năng cũng như sinh kế của cư dân các tộc người địa phương, sẽ được phân tích ở các mục sau

2.1.4 Các vai trò khác

Bên cạnh những vai trò kể trên, sông Năng còn là tuyến giao thông quan trọng với bà con người Tày Trước năm 1986, khi đường xá nối liền giữa các thôn bản và đi ra chợ huyện chủ yếu là các con đường mòn, chưa có phương tiện cơ giới, người dân Tày ở Bành Trạch thường vận chuyển hàng hóa bằng bè qua đường thủy sông Năng vừa an toàn vừa tốn công sức hơn, nhất mỗi khi cần mang gỗ và tre ra chợ huyện để bán Mảng (ảnh số 9 phụ lục 4) đồng thời là công cụ hỗ trợ đánh bắt thủy sản và phương tiện chính để đi lại, vận chuyển hàng hóa giữa hai bờ sông của người dân trong mùa nước lũ Còn bè là các tấm gỗ lớn, thường khai thác từ trong rừng, cố định chặt lại với nhau, có người ngồi trên chèo lái, chủ yếu dùng để vận chuyển gỗ hoặc tre đi bán bằng cách đơn giản là thả trôi theo dòng nước Ngoài ra,

để di chuyển trên sông Năng vào mùa cạn, khi nước xuống quá thấp không thể sử dụng bè hoặc mảng, người dân thường bắc những cây cầu tạm bằng tre (ảnh 4 phụ lục 4) Thậm chí từng có một vài người Tày ở cả hai thôn này làm dịch vụ chèo mảng qua sông Năng trong mùa nước lũ, công được trả bằng nông sản hoặc rượu

Như đã trình bày, đi kèm với sự phát triển của hoạt động khai thác thủy sản trên sông Năng là hoạt động chế tạo ngư cụ, dù chỉ với quy mô nhỏ song lại rất phổ biến ở các hộ gia đình người Tày Hầu như hộ nào cũng phải có lưới, chài, cần câu

và các loại rọ, lồng bằng tre nứa, được làm ra chủ yếu bởi người đàn ông hay thanh niên, cũng là nhân lực chính trong những lần đánh cá Sợi cước được người dân làm

từ vỏ cây gai dầu trước kia mọc rất nhiều trong rừng, đem bện lại cho chắc chắn rồi đan theo hình mắt cáo Lưới gai dầu nhẹ và ít thấm nước nhưng không bền, dễ bị mục nếu sử dụng lâu ngày Do đó, hiện nay đồng bào đã chuyển sang dùng sợi tổng hợp Tuy chưa thể coi là một nghề thủ công nhưng ngư cụ cùng với bè, mảng đã trở thành nét văn hóa vật chất độc đáo của cư dân sinh sống ở hai bên bờ sông Năng,

mà giữa người Tày và Dao có nhiều điểm tương đồng

Ngày đăng: 07/11/2017, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hùng Anh (2015), Đa dạng thủy sinh vật và các dạng thủy vực tỉnh Bắc Kạn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, phối hợp cùng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thủy sinh vật và các dạng thủy vực tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Lê Hùng Anh
Năm: 2015
2. Hoàng Hữu Bình (1998), Các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Trần Bình (2005), Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam, Nxb Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2005
4. Khổng Diễn (chủ biên) (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
5. Bùi Văn Đạo (2011), “Tác động của dự án thủy điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr.11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của dự án thủy điện Tây Nguyên đến sinh kế và văn hóa của người dân tái định cư”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Bùi Văn Đạo
Năm: 2011
6. Đảng ủy xã Bành Trạch (2015), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, công tác Đảng năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ năm 2016, Bành Trạch ngày 31/12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, công tác Đảng năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Đảng ủy xã Bành Trạch
Năm: 2015
7. Đảng ủy xã Bành Trạch (2016), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ, chính quyền xã Bành Trạch năm 2016, Bành Trạch ngày 24/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của Đảng bộ, chính quyền xã Bành Trạch năm 2016
Tác giả: Đảng ủy xã Bành Trạch
Năm: 2016
8. Diệp Đình Hoa (1996), Cộng đồng dân tộc Tây Bắc Việt Nam và thủy điện, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng dân tộc Tây Bắc Việt Nam và thủy điện
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Phạm Quang Hoan và tập thể tác giả (2012), Văn hóa các tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La
Tác giả: Phạm Quang Hoan và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2012
10. Phan Văn Hùng (2007), Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2007
11. Nguyễn Xuân Kính (2013), Con người, Môi trường và Văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người, Môi trường và Văn hóa
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
12. Tạ Long, Ngô Thị Chính (2003), Biến đổi môi trường dưới tác động của các hệ nhân văn ở Điện Biên, Lai Châu, NXB Khoa học xã hội, tr.235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi môi trường dưới tác động của các hệ nhân văn ở Điện Biên, Lai Châu
Tác giả: Tạ Long, Ngô Thị Chính
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
13. IUCN (2007), Cẩm nang dòng chảy môi trường, ấn phẩm thuộc Chương trình Sáng kiến Nước và Thiên nhiên (WANI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang dòng chảy môi trường
Tác giả: IUCN
Năm: 2007
15. Vũ Quang Mạnh, Hoàng Duy Chúc (2011), Môi trường và con người - sinh thái học nhân văn, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội, tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và con người - sinh thái học nhân văn
Tác giả: Vũ Quang Mạnh, Hoàng Duy Chúc
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2011
16. Lê Nhƣ Ngà (2016), Xây dựng mô hình viễn thám và GIS xác định nguy cơ tai biến lũ quét lưu vực sông Năng, tỉnh Bắc Kạn, Luận án tiến sĩ Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình viễn thám và GIS xác định nguy cơ tai biến lũ quét lưu vực sông Năng, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Lê Nhƣ Ngà
Năm: 2016
17. Nhiều tác giả (2004), Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2004
18. Phạm Xuân Phú (2013), “Tác động của nguồn lợi thủy sản đến sinh kế của người dân dễ bị tổn thương ở tỉnh An Giang”, tạp chí Khoa học của trường Đại học An Giang, số 1/2013, tr.1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của nguồn lợi thủy sản đến sinh kế của người dân dễ bị tổn thương ở tỉnh An Giang”, "tạp chí Khoa học của trường Đại học An Giang
Tác giả: Phạm Xuân Phú
Năm: 2013
19. Đặng Đình Quang (chủ biên) (2002), Đổi mới ở vùng miền núi: chuyển đổi sử dụng đất và chiến lược sản xuất của nông dân tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở vùng miền núi: chuyển đổi sử dụng đất và chiến lược sản xuất của nông dân tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam
Tác giả: Đặng Đình Quang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
21. Lý Hành Sơn (1995), “Nương rẫy truyền thống của người Dao ở Cao Bằng”, Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr.64-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nương rẫy truyền thống của người Dao ở Cao Bằng”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Lý Hành Sơn
Năm: 1995
38. Website của Văn phòng phát triển bền vững, Bộ Tài nguyên và Môi trường, http://www.agenda21.monre.gov.vn/Default.aspx?tabid=231 (Tin đăng ngày 21/12/2015).Tiếng nước ngoài Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Các dịch vụ hệ sinh thái sông - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Bảng 1.1. Các dịch vụ hệ sinh thái sông (Trang 23)
Hình 1.1. Vị trí địa lý xã Bành Trạch - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 1.1. Vị trí địa lý xã Bành Trạch (Trang 24)
Hình 2.1: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 2.1 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp (Trang 35)
Hình 2.2: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 2.2 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp (Trang 36)
Hình 2.3: Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng trước năm 1986 - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 2.3 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng trước năm 1986 (Trang 41)
Hình 2.6: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 2.6 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp (Trang 44)
Bảng 3.1: Các thông số chất lượng nước tại sông Năng, xã Bành Trạch - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.1 Các thông số chất lượng nước tại sông Năng, xã Bành Trạch (Trang 55)
Bảng 3.2: Lưu lượng nước sông Năng lớn nhất các tháng năm 2014 (Đơn vị: m/s) - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2 Lưu lượng nước sông Năng lớn nhất các tháng năm 2014 (Đơn vị: m/s) (Trang 56)
Hình 3.1: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 3.1 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp (Trang 61)
Hình 3.2: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 3.2 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp (Trang 62)
Hình 3.4: Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 3.4 Vai trò của các nguồn nước trong nông nghiệp (Trang 65)
Hình 3.5: Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau năm 1986 - Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Hình 3.5 Tóm tắt các dịch vụ hệ sinh thái sông Năng sau năm 1986 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w