Kiến thức về nguyên nhân, đường lây truyền, triệu chứng nghi ngờ, phương pháp phát hiện, thời gian điều trị đúng, tiếp cận các nguồn thông tin và các phương pháp phòng bệnh lao sẽ giúp c
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
SỞ Y TẾ -* -
TỶ LỆ MẮC LAO VÀ KIẾN THỨC VỀ BỆNH LAO CỦA BỆNH NHÂN CÓ TRIỆU CHỨNG NGHI NGỜ
LAO TẠI KHOA Y HỌC NHIỆT ĐỚI
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN ĐĂK TÔ NĂM 2016
Chủ nhiệm đề tài: NGÔ THỊ THO
Khoa khám - Hồi sức cấp cứu, Trung tâm y tế huyện Đăk Tô
Cộng sự:
- BS PHẠM THỊ MAI NƯƠNG, Khoa khám – Hồi sức cấp cứu.
- ĐD BÙI THỊ TRANG, Khoa y học nhiệt đới
- ĐD NGUYỄN THỊ HỒNG, Khoa khám – Hồi sức cấp cứu
- ĐD TRƯƠNG CÔNG ĐẠI, Khoa khám – Hồi sức cấp cứu.
KON TUM – 2016
Trang 2ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Các ký hiệu viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục biểu đồ v
Báo cáo tóm tắt vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình bệnh lao 3
1.2 Đặc điểm bệnh lao 4
1.3 Dấu hiệu nghi ngờ và phương pháp phát hiện lao 8
1.4 Điều trị, quản lý và dự phòng bệnh lao 9
1.5 Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu 13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Thiết kế nghiên cứu 14
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
2.4 Cỡ mẫu 15
2.5 Phương pháp chọn mẫu 15
2.6 Biến số, chỉ số 15
2.7 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin 18
2.8 Quy trình thu thập số liệu 18
2.9 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 19
2.10 Đạo đức nghiên cứu 19
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm chung và tỷ lệ mắc lao 20
3.2 Kiến thức về bệnh lao 23
Chương 4 BÀN LUẬN 29
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và tỷ lệ mắc lao 29
4.2 Kiến thức về bệnh lao 31
KẾT LUẬN 41
Trang 3KHUYẾN NGHỊ 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4iii
DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
AFB : Acid Fast Bacilli
Trực khuẩn kháng acid cồn AIDS : Acquired Immunodeficiency Syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải BCG : Bacille de Calmette et Guerin
Vi khuẩn lao
CĐ, ĐH : Cao đẳng, Đại học
DOTS : Directly Observed Treatment Shortcourse
Hóa trị liệu có kiểm soát trực tiếp HIV : Human Immunodeficiency Vius
MDR TB : Multi drug resistant tuberculosis
Bệnh lao đa kháng thuốc MDR : Multi drug Resistance
Bệnh lao siêu kháng thuốc
XDR : Extensively drug resistance
Siêu kháng thuốc
Trang 5iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sự phân bố về tuổi và giới 20
Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo các nhóm tuổi 21
Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo dân tộc 21
Bảng 3.4 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo nghề nghiệp 22
Bảng 3.5 Đối tượng nghiên cứu mắc lao trình độ học vấn 22
Bảng 3.6 Các yếu tố làm dễ mắc lao 24
Bảng 3.7 Kiến thức về phát hiện bệnh lao 25
Bảng 3.8 Hiểu biết thuốc lao được cấp không mất tiền 25
Bảng 3.9 Phổ biến kiến thức về bệnh lao 27
Bảng 3.10 Nguồn thong tin bệnh nhân biết về bệnh lao 27
Trang 6v
DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 3.1 Đối tượng mắc lao theo giới 20
Biểu đồ 3.2 Nguyên nhân gây lao 23
Biểu đồ 3.3 Đường lây truyền bệnh lao 23
Biểu đồ 3.4 Các dấu hiệu nghi ngờ mắc lao 24
Biểu đồ 3.5 Hiểu biết về chữa trị khỏi bệnh lao 25
Biểu đồ 3.6 Địa điểm khám bệnh khi có dấu hiệu nghi ngờ 26
Biểu đồ 3.7 Thời gian điều trị bệnh lao 26
Biều đồ 3.8 Phương pháp làm hạn chế lây lan 27
Biểu đồ 3.9 Các phương pháp phòng bệnh lao 28
Trang 7vi
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Kiến thức về bệnh lao là một trong những vấn đề quan trọng trong việc phòng
chống bệnh lao Kiến thức về nguyên nhân, đường lây truyền, triệu chứng nghi ngờ, phương pháp phát hiện, thời gian điều trị đúng, tiếp cận các nguồn thông tin và các phương pháp phòng bệnh lao sẽ giúp cho bệnh nhân có ý thức đến khám, phát hiện và chữa trị sớm Điều này sẽ giúp hạn chế khả năng lây lan, ngăn ngừa được diễn tiến nặng của bệnh và sự hợp tác của bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị
Mục tiêu: 1 Xác định tỉ lệ mắc lao ở bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ lao tại khoa
Y học Nhiệt đới Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2016
2 Mô tả kiến thức về bệnh lao ở nhóm đối tượng này
Đối tượng, phương pháp:
Đối tượng: 71 đối tượng là bệnh nhân có triệu chứng nghi lao đang được theo dõi và điều trị lao tại khoa Y học Nhiệt đới Trung tâm y tế huyện Đăk Tô Thời gian: từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016 Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tìm hiểu kiến thức về bệnh lao, tra cứu hồ sơ bệnh án ghi nhận bệnh nhân được chẩn đoán, điều trị lao AFB(+) và AFB(-)
Kết quả:
1 Tỷ lệ mắc bệnh lao bệnh lao ở nhóm đói tượng có triệu chứng nghi lao là 39,4%; tỷ lệ này cao hơn ở nam giới so với nữ giới (44,1% so với 35,1%) Tỷ lệ mắc lao nhiều hơn ở 2 nhóm tuổi dưới 30 và trên 60 tuổi ( 25% và 28,6%) Dân Kinh 14,3% mắc lao so với nhóm dân tộc thiểu số 85,7% (p> 0,05) Nghề nông tỷ lệ mắc lao cao 92,9% (p< 0,05) Nhóm trình độ cấp I và mù chữ có tỷ lệ mắc lao cao chiếm 35,7% và 28,6% (p> 0,05)
2 Kiến thức về bệnh lao: Có 46,5% biết nguyên nhân gây bệnh lao là do vi khuẩn, có 54,9% biết đường lây truyền chính qua hô hấp, có 60,6% biết tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây là yếu tố làm dễ mắc lao Bệnh nhân biết phát hiện bệnh lao nhờ xét nghiệm đờm và X quang phổi 76,1%, có 64,8% biết thuốc lao được cấp không mất tiền, có 49,3% biết đúng thời gian điều trị, có 57,7% biết phòng bệnh lao bằng cách phát hiện sớm và điều trị triệt
để bệnh nhân lao
Kết luận: Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có triệu chứng nghi lao có kiến thức về bệnh
lao chưa cao
Trang 8Ở Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do lao đã giảm nhiều nhưng vẫn còn ở mức cao Ước tính hàng năm vẫn còn khoảng
130 000 người mới mắc lao, 180 000 hiện mắc lao và 17 000 người tử vong
do lao [24], [15]
Nguy cơ nhiễm lao của người tiếp xúc (hít chung bầu không khí với người bị bệnh) tùy thuộc vào thời gian tiếp xúc, mật độ thân mật, đậm độ các hạt nhiễm khuẩn trong không khí và yếu tố chủ thể, nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang mắc bệnh lao khoảng 10%/năm [2]
Kiến thức về bệnh lao là một trong những vấn đề quan trọng trong việc phòng chống bệnh này Thường ngày, vẫn còn đó những bệnh nhân không tin rằng chính họ có thể mắc lao, họ không nhận thấy nguy cơ của chính mình; vì vậy khi có dấu hiệu nghi ngờ thì không đến khám tại các cơ sở y tế để phát hiện sớm mà thường tự mua thuốc điều trị, đến giai đoạn muộn, bệnh nặng thì mới được chẩn đoán bệnh lao nên việc điều trị thường khó khăn, khó hồi phục Còn khá nhiều bệnh nhân lao chủ quan khi điều trị giai đoạn đầu thấy các triệu chứng giảm thì tự ý ngưng uống thuốc khiến bệnh nặng trở lại rất khó điều trị Bỏ trị vẫn là một thách thức lớn đối với chương trình chống lao,
Trang 9do kéo dài thời gian lây nhiễm trong cộng đồng và khi được điều trị lại thì khả năng thành công thấp và tỷ lệ kháng thuốc cao [22], [20]
Việc đánh giá kiến thức những người nghi lao và đang điều trị lao là cần thiết, giúp hạn chế lây lan và ngăn ngừa được diễn tiến nặng của bệnh Ngoài ra, sự hợp tác của bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị, những yếu tố liên quan đến người bệnh như: tuổi, giới, trình độ văn hóa, dân tộc…có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Bên cạnh những nỗ lực của Chương trình chống lao quốc gia, đóng góp một phần nhỏ cho thành công của chương trình, việc phát hiện sớm những bệnh nhân mắc lao trong cộng đồng, định hướng cho bệnh nhân tiếp cận được với kiến thức về bệnh và được điều trị triệt để; ngoài phương pháp phát hiện chủ động tại cơ cở, chúng tôi có thể phục vụ thường xuyên cho số đông bệnh nhân khi có triệu chứng nghi lao đến khám tại khoa khám bệnh, chủ động tuyên truyền, khám và phát hiện tại bệnh viện đạt hiệu quả cao, đỡ tốn kém góp phần bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người dân tại địa phương
Từ những lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Tỷ lệ mắc lao và kiến thức về bệnh lao của bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ lao tại khoa
Y học Nhiệt đới Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2016” nhằm 2 mục
Trang 10CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình bệnh lao
1.1.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới
Công cuộc đấu tranh của loài người với bệnh lao đã trải qua nhiều thế
kỷ Hiện nay trên thế giới không có một nước nào không có người bị nhiễm,
bị bệnh và chết vì lao [4], [19] Theo số liệu ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization: WHO), trong năm 2015 có 10,4 triệu người mắc bệnh lao mới trong đó có 1,2 triệu người đồng nhiễm HIV, có 1,4 triệu người chết do lao, trong đó có 0,4 triệu người chết ở người HIV dương tính Hơn một nửa số ca mắc bệnh lao trên thế giới (60%) tập trung ở 6 quốc gia:
Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc, Nigeria, Pakistan và Nam Phi Cùng với HIV, lao phổi đứng đầu danh sách 10 nguyên nhân gây tử vong hàng năm trên thế giới [34]
Bệnh lao đa kháng thuốc (Multi drug Resistant tuberculosis: MDR TB) đang là một thách thức rất lớn đối với nhân loại, ước tính năm 2015 khoảng 480.000 bệnh nhân mắc lao đa kháng thuốc với tỷ lệ 3,9% trong số bệnh nhân lao mới mắc, con số này tăng lên đáng kể 3,3% so với năm 2014 Nguy hiểm hơn là lao siêu kháng thuốc (Extensively drug Resistant tuberculosis: XDR TB) ước tính khoảng 9,5% trong số bệnh nhân lao đa kháng và đã xuất hiện trên 117 quốc gia năm 2015 [34]
1.1.2 Tình hình bệnh lao ở Việt Nam
Theo báo cáo của WHO (2016) ước tính năm 2015 có 128.000 người mắc lao mới (tỷ lệ 137/100.000 dân số), tỷ lệ đa kháng thuốc trong số bệnh nhân mới là 4,1%, trong số người đã từng điều trị lao là 25%, ước tính có
5200 bệnh nhân lao kháng thuốc trong năm 2015 Việt Nam hiện vẫn là nước
có gánh nặng bệnh lao cao, xếp thứ 12 trong số 22 nước có số người bệnh lao
Trang 11nhiều nhất thế giới, đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc [34], [20]
Năm 2015, cả nước đã phát hiện và điều trị cho tổng số 102.655 bệnh nhân lao, tỷ lệ điều trị khỏi cao trên 90% và Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới đạt tỷ lệ điều trị thành công lao kháng thuốc [13]
1.1.3 Tình hình bệnh lao ở Kon Tum
Năm 2015, theo tổng kết của khoa lao - Trung tâm phòng chống bệnh
xã hội tỉnh, đã phát hiện 355 bệnh nhân lao các thể trong đó có 191 trường
bệnh nhân (38,3%) Bệnh nhân lao phổi tái phát, thất bại điều trị lại và AFB(+) khác là 28 người, chiếm tỷ lệ 3,6% tổng số bệnh nhân lao Riêng 6 tháng đầu năm 2016, phát hiện 88 bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới chiếm 50,8% trong tổng số 173 bệnh nhân lao được đăng ký điều trị [31]
Riêng huyện Đăk Tô năm 2015 có 33 trường hợp lao các thể, có 21 trường hợp lao AFB(+) mới Trong 6 tháng đầu năm 2016 phát hiện 26 trường hợp lao các thể, trong đó lao AFB(+) mới là 10 người [32], [18]
1.2 Đặc điểm bệnh lao
1.2.1 Bệnh lao là bệnh nhiễm khuẩn
Vi khuẩn lao do Robert Koch phát hiện (1882) vì vậy còn được gọi là Bacille de Koch Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacteriaccae, là vi khuẩn kháng acid cồn, nhuộm Ziehl – Neelsen không bị tẩy màu bởi dung dịch acid cồn nên vẫn bắt màu đỏ Fuchsin [3], [4], [26]
* Một số đặc điểm cơ bản của vi khuẩn lao:
- Vi khuẩn lao là một loại vi khuẩn hiếu khí: giải thích lao phổi là thể lao phổ biến nhất và số lượng vi khuẩn nhiều nhất trong các hang lao có phế quản thông [2]
- Vi khuẩn lao sinh sản chậm: trong điều kiện bình thường, chu kỳ là 12 - 24giờ/lần, nhưng có khi hàng tháng Áp dụng đặc điểm này để điều trị bệnh
Trang 12lao, chỉ uống thuốc một lần duy nhất trong ngày và phác đồ điều trị lao phải cần thời gian dài mới có thể làm sạch vi khuẩn trong tổn thương, giảm nguy
cơ tái phát [2], [4]
- Vi khuẩn lao có khả năng kháng thuốc: vi khuẩn lao kháng thuốc là do đột biến gen Điều này giải thích các phác đồ điều trị lao phải phối hợp thuốc
và phải tuân thủ nguyên tắc điều trị chặt chẽ
+ Kháng thuốc tiên phát: là kháng thuốc ở người bệnh chưa từng điều trị thuốc lao, nay mắc bệnh lao kháng thuốc do lây nhiễm vi khuẩn từ người bệnh bị lao kháng thuốc
+ Kháng thuốc mắc phải: là kháng thuốc ở người bệnh đã điều trị lao, nhưng do điều trị không đúng gây ra các chủng lao kháng thuốc
+ Kháng thuốc ban đầu: là kháng thuốc ở người bệnh khai báo chưa dùng thuốc lao bao giờ (nhưng không xác định được chắc chắn) Như vậy loại này gồm cả kháng thuốc tiên phát và mắc phải
+ Đa kháng thuốc (Multi drug Resistance: MDR): là kháng thuốc ở người bệnh có vi khuẩn lao kháng với cả 2 loại Isoniazid và Rifampicin
+ Siêu kháng thuốc (Extensively drug Resistance: XDR): là những trường hợp lao đa kháng thuốc có kháng thêm với bất cứ thuốc nào trong nhóm Quinolon và kháng với ít nhất một loại thuốc chống lao hàng 2 dạng tiêm (Amikacin, Capreomycin hoặc Kanamycin) [6], [24], [34]
- Vi khuẩn lao có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài: vi khuẩn lao có thể tồn tại 3- 4 tháng trong điều kiện tự nhiên Trong đờm của bệnh nhân lao ở phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ nguyên độc lực Dưới ánh sáng mặt trời vi khuẩn lao bị chết sau 90 phút [1], [2]
1.2.2 Bệnh lao là một bệnh lây
Tất cả các bệnh nhân lao đều có thể là nguồn lây, nhưng mức độ lây khác nhau Đối với các thể lao ngoài phổi ( lao màng não, màng bụng, hạch,
Trang 13xương khớp) được gọi là các thể lao kín, nghĩa là vi khuẩn ít có khả năng nhiễm vào môi trường bên ngoài Lao phổi là thể bệnh dễ đưa vi khuẩn ra môi trường bên ngoài (lượng không khí lưu thông trong một chu kỳ hô hấp trung bình là 500ml), vì vậy lao phổi là nguồn lây quan trọng nhất Nhưng ngay đối với lao phổi thì mức độ lây cũng khác nhau Những bệnh nhân lao phổi trong đờm có nhiều vi khuẩn có thể phát hiện bằng phương pháp nhuộm soi trực tiếp thì khả năng lây cho người khác gấp 2 đến 10 lần các bệnh nhân lao phổi phải nuôi cấy mới phát hiện được vi khuẩn Bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn trong đờm phát hiện được bằng phương pháp soi trực tiếp là nguồn lây nguy hiểm nhất (còn gọi là nguồn lây chính) Bệnh lao ở trẻ em không phải là nguồn lây quan trọng vì có tới 95% bệnh lao ở trẻ em không tìm thấy vi khuẩn trong các bệnh phẩm
Vi khuẩn lao vào cơ thể qua đường hô hấp là phổ biến nhất Bệnh nhân lao phổi khi ho bắn các hạt rất nhỏ lơ lửng trong không khí, phân tán xung quanh người bệnh, người lành hít các hạt này khi thở có thể bị bệnh Ngoài ra
vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể bằng đường tiêu hoá (gây lao ruột), đường da, niêm mạc (gây lao mắt ), nhưng các con đường này ít gặp Vi khuẩn cũng có thể lây nhiễm sang thai nhi bằng đường máu qua tĩnh mạch rốn, nếu mẹ bị lao cấp tính (như lao kê), hoặc qua nước ối (khi chuyển dạ), nếu mẹ bị lao niêm mạc tử cung, âm đạo Trong thực tế con đường truyền bệnh này lại càng hiếm gặp Như vậy, con đường truyền bệnh quan trọng nhất với bệnh lao là đường hô hấp
Thời gian nguy hiểm của nguồn lây: đó là thời gian từ lúc người bệnh
có triệu chứng lâm sàng (hay gặp là ho khạc đờm) đến khi được phát hiện và điều trị Thời gian này càng dài có nghĩa là việc phát hiện bệnh lao càng muộn, bệnh nhân càng được chung sống lâu với những người xung quanh và càng lây nhiễm cho nhiều người Khi bệnh nhân được phát hiện và chữa thuốc lao thì các triệu chứng lâm sàng hết rất nhanh (trung bình 1 – 2 tuần), trong đó
Trang 14có triệu chứng ho khạc đờm, tức là người bệnh giảm nhiễm khuẩn ra môi trường xung quanh Trách nhiệm của người thầy thuốc, cũng như người bệnh (qua giáo dục truyền thông) là cần phải rút ngắn “thời gian nguy hiểm” của
nguồn lây, nghĩa là cần phát hiện sớm bệnh lao [2], [3], [4]
1.2.3 Bệnh lao có quá trình diễn biến qua hai giai đoạn
Đa số tác giả quan niệm bệnh lao có hai giai đoạn: giai đoạn lao nhiễm
và giai đoạn lao bệnh Một khi cơ thể chưa bao giờ tiếp xúc với trực khuẩn lao, nếu trực khuẩn lao xâm nhập lần đầu tiên là bắt đầu giai đoạn lao nhiễm Trực khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp vào tận phế nang gây tổn thương viêm phế nang Sau khoảng 3 tuần đến 3 tháng, dưới tác động của vi khuẩn lao, cơ thể có sự chuyển biến về mặt sinh học, hình thành
dị ứng và miễn dịch đối với vi khuẩn lao, người bị lao ở tình trạng lao nhiễm
Trong các vi khuẩn lao gây tổn thương ở phế nang có vi khuẩn bị tiêu diệt, có vi khuẩn tiếp tục phát triển Đa số người bị lây chỉ ở tình trạng lao nhiễm, không chuyển sang giai đoạn lao bệnh Người ta gọi lao bệnh là lao thứ phát Lao thứ phát chỉ xảy ra khi có sự mất thăng bằng giữa khả năng gây bệnh của trực khuẩn lao và sức đề kháng của cơ thể Khi có số lượng và độc tính của vi khuẩn lao vượt quá sức đề kháng của cơ thể, sẽ có lao thứ phát [4], [9]
1.2.4 Bệnh lao có thể phòng và điều trị cho kết quả tốt
Phương pháp phòng bệnh lao là tiêm vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới một tuổi Mặc dù vắc xin BCG chỉ có tác dụng hạn chế trong phòng bệnh lao ở người lớn đã bị nhiễm lao, nhưng có thể tránh cho trẻ em khỏi bị những thể lao nặng như lao màng não, lao kê
Hiện nay, tất cả các thể lao được phát hiện sớm đều có thể điều trị khỏi gần như hoàn toàn trong thời gian dưới một năm, bằng các thuốc chống lao
đặc hiệu [9], [18]
1.2.5 Bệnh lao là một bệnh xã hội
Trang 15Trong từng chế độ xã hội, mức sống, hoàn cảnh sinh hoạt, các hiện tượng xã hội như thiên tai, chiến tranh đều ảnh hướng đến bệnh lao Bệnh lao mang tính chất xã hội đã gây khó khăn và khiến cho công tác chống lao kém hiệu quả, nhưng do những tiến bộ lớn về điều trị, đặc điểm đó ít được chú ý trong nghiên cứu bệnh lao
Điều cần chú ý là 95% bệnh nhân lao và 99% trường hợp tử vong lao đều ở các nước đang phát triển; bệnh nhân tử vong có 80% thuộc lứa tuổi từ 15-60, đó là tuổi lao động Có thể thấy rằng bệnh lao là một gánh nặng đối với
các nước đang phát triển về mặt xã hội, kinh tế [9]
1.3 Dấu hiệu nghi ngờ và phương pháp phát hiện bệnh lao
1.3.1 Dấu hiệu nghi ngờ
* Người nghi lao phổi khi có các triệu chứng sau:
- Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất
- Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi
- Đau ngực, đôi khi khó thở
* Nhóm nguy cơ cao cần chú ý:
- Người nhiễm HIV
- Người tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, đặc biệt trẻ em
- Người mắc các bệnh mạn tính: loét dạ dày-tá tràng, đái tháo đường, suy thận mãn,
- Người nghiện ma tuý, rượu, thuốc lá, thuốc lào
- Người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài như Corticoid, hoá chất điều trị ung thư,…
*Các trường hợp có bất thường trên X- quang phổi đều cần xem xét phát hiện lao phổi [11]
Trang 161.3.2 Phương pháp phát hiện bệnh lao
- Phát hiện chủ động: cán bộ y tế chủ động đưa các phương tiện phát hiện bệnh: kính hiển vi, máy chụp X -quang đến tận xã, phường, thôn bản để tìm bệnh nhân Đây là phương pháp chủ động đối với thầy thuốc nhưng thụ động đối với bệnh nhân Nếu tiến hành phương pháp này rất tốn kém về kinh
tế, lãng phí về nhân lực nên không thể làm thường xuyên do vậy kém hiệu quả
- Phát hiện thụ động: là khi bệnh nhân thấy xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ mắc lao như: ho khạc đờm, sốt nhẹ về chiều kéo dài, ho ra máu, đau ngực, gầy sút cân… họ chủ động đi khám bệnh chuyên khoa ở các cơ sở y tế, được xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong đờm để chẩn đoán bệnh Bằng phương pháp này người thầy thuốc hoàn toàn thụ động song có thể phục vụ thường xuyên cho số đông bệnh nhân và dân cư sống trong địa bàn quản lý trong thời gian dài vì vậy đạt hiệu quả cao và đỡ tốn kém [4], [14]
Khi phát hiện được người lao phổi có trực khuẩn lao trong đờm, cơ sở
y tế phải tiến hành khám cho mọi người trong gia đình bệnh nhân ngoài việc phải xét nghiệm đờm tìm trực khuẩn lao đối với bất kỳ người nào đến khám
vì nghi mắc lao hoặc có hình ảnh X-quang phổi bất thường [2], [14]
1.4 Điều trị, quản lý và dự phòng bệnh lao
1.4.1 Nguyên tắc điều trị bệnh lao
* Phối hợp các thuốc chống lao: điều trị phải phối hợp các thuốc lao
với nhau để tăng hiệu quả của thuốc và hiệu quả điều trị
- Đối với lao không kháng thuốc: phối hợp ít nhất 3 loại thuốc điều trị lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì
- Đối với lao đa kháng: phối hợp ít nhất 4 loại thuốc điều trị lao hàng
hai còn hiệu lực trong giai đoạn tấn công và duy trì
* Dùng thuốc đúng liều: các thuốc điều trị lao tác dụng hợp đồng, mỗi
thuốc có tác dụng với một nồng độ nhất định Nếu dùng liều thấp sẽ không
Trang 17hiệu quả và dễ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, nếu dùng liều cao dễ gây tai biến Đối với điều trị lao cho trẻ em, liều thuốc cần được điều chỉnh hàng tháng theo cân nặng
* Dùng thuốc đều đặn: Các thuốc chống lao phải được dùng cùng một
lần vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn để đạt nồng độ cao nhất
trong máu và duy trì ở nồng độ đó để phát huy tác dụng tối đa
* Dùng thuốc đủ thời gian và theo hai giai đoạn tấn công và duy trì:
- Bệnh lao không kháng thuốc: Giai đoạn tấn công kéo dài 2 – 3 tháng nhằm tiêu diệt nhanh số lượng lớn vi khuẩn có trong các vùng tổn thương để ngăn chặn các đột biến kháng thuốc Giai đoạn duy trì kéo dài 4 – 5 tháng nhằm tiêu diệt triệt để các vi khuẩn lao trong vùng tổn thương để tránh tái phát Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt (lao màng não, lao xương khớp…), thời gian điều trị giai đoạn duy trì kéo dài hơn
- Bệnh lao đa kháng: Tùy theo từng phác đồ điều trị, cần có thời gian tấn công ít nhất là 8 tháng, tổng thời gian điều trị cho một phác đồ ít nhất là
20 tháng
Điều trị bệnh lao nhằm những mục đích: khỏi bệnh, giảm lây nhiễm trong cộng đồng, giảm tỷ lệ tử vong và giảm tỷ lệ kháng thuốc Bệnh lao có thể được điều trị khỏi bằng thuốc chống lao nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng nguyên tắc Nếu không phát hiện sớm, điều trị không kịp thời và không tuân thủ nguyên tắc điều trị thì vi khuẩn lao có thể kháng lại với thuốc chống lao và người bệnh sẽ mắc lao kháng thuốc, đặc biệt là lao đa kháng và siêu đa kháng [24]
1.4.2 Nguyên tắc quản lý
- Tất cả các bác sỹ (công và tư) tham gia điều trị người bệnh lao phải được tập huấn theo hướng dẫn của Chương trình Chống Lao Quốc gia và báo cáo theo đúng quy định
- Sử dụng phác đồ chuẩn thống nhất trong toàn quốc
Trang 18- Điều trị sớm ngay sau khi được chẩn đoán xác định
- Điều trị phải được theo dõi và kiểm soát trực tiếp: kiểm soát việc tuân thủ điều trị của người bệnh, theo dõi kết quả xét nghiệm đờm, theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời các biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc
- Thầy thuốc cần tư vấn đầy đủ cho người bệnh trước, trong và sau khi điều trị để người bệnh thực hiện tốt liệu trình theo quy định
- Chương trình chống lao Quốc gia Việt Nam đảm bảo cung cấp thuốc chống lao miễn phí, đầy đủ và đều đặn [9]
1.4.3 Dự phòng bệnh lao
Bệnh lao là bệnh lây truyền qua đường hô hấp do hít phải không khí có chứa vi khuẩn lao được sinh ra trong quá trình ho, khạc hắt hơi hoặc nói chuyện với người bị lao phổi trong giai đoạn tiến triển Do vậy phát hiện sớm
và điều trị sớm làm giảm nhanh chóng khả năng lây truyền bệnh lao (sau 2-4 tuần)
Nguy cơ nhiễm lao của người tiếp xúc tùy thuộc vào thời gian tiếp xúc, mức độ thân mật, đậm độ các hạt nhiễm khuẩn trong không khí và yếu tố chủ thể
Nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang mắc bệnh lao khoảng 10% trong đời nếu một người bị nhiễm vi khuẩn lao từ lúc nhỏ, tuy nhiên ở những người suy giảm miễn dịch như đồng nhiễm HIV thì nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao sẽ tăng lên rất cao, khoảng 10%/năm
Phòng bệnh lao là áp dụng các biện pháp nhằm:
- Giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao
- Giảm nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao
* Phòng lao cho cộng đồng (giảm nguy cơ nhiễm lao)
- Kiểm soát vệ sinh môi trường
+Tại các cơ sở y tế: cửa ra, vào và cửa buồng khám, khu chờ và buồng
Trang 19bệnh cần được mở cho thông gió tự nhiên hoặc dùng quạt điện đúng chiều để làm loãng các hạt nhiễm khuẩn và đẩy vi khuẩn ra ngoài, dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn lao sẽ dễ bị tiêu diệt Bố trí vị trí làm việc hợp lý theo chiều thông gió: không để không khí đi từ người bệnh đến cán bộ y tế
+ Tại nhà bệnh nhân: các thành viên trong gia đình người bệnh lao là những người có nguy cơ bị nhiễm cao nhất Vậy nên, cần tránh tiếp xúc với nguồn lây nhiễm, chỉ tiếp xúc khi thật cần thiết Nhà ở phải thông thoáng, đầy đủ ánh sáng, đặc biệt những phòng mà người bệnh thường hay sinh hoạt [21], [9]
+ Đối với bệnh nhân: dùng khẩu trang hoặc ít nhất có khăn che miệng khi tiếp xúc nói chuyện với người khác, khi hắc hơi, ho Khạc đờm vào giấy hoặc ca cốc, bỏ đúng nơi quy định, rửa tay xà phòng thường xuyên Lấy xét nghiệm đờm đúng nơi quy định, tốt nhất là ngoài trời, môi trường thông thoáng ít khả năng tiếp xúc của những người xung quanh
+ Nhân viên y tế: sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, cần dùng khẩu trang đạt chuẩn như loại N95 hoặc tương đương trở lên
- Giảm tiếp xúc nguồn lây
+ Phát hiện nguồn lây: muốn phòng lao cho cộng đồng có hiệu quả phải phát hiện được tối đa có thể người lao phổi AFB(+) và chữa khỏi bệnh lao cho những người này
+ Cách ly: Nên có nơi chăm sóc điều trị riêng cho người bệnh lao phổi AFB(+), đặc biệt với lao phổi kháng đa thuốc
+ Trong các cơ sở đặc biệt như trại giam, trung tâm chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội có thể có nhiều người HIV(+) khả năng lây nhiễm rất cao, cần cách ly thỏa đáng những người bệnh để điều trị mới tránh được các
vụ dịch nghiêm trọng
+ Nhân viên y tế cần tuân thủ quy trình khám, chăm sóc người bệnh: tiếp xúc gián tiếp qua vách kính, khám, hỏi bệnh, thực hiện tư vấn để người bệnh quay lưng lại Không nhất thiết phải tiếp xúc trực tiếp
Trang 20+ Để bảo vệ cho người nhiễm HIV đến khám: cần xác định những người nghi lao để hướng dẫn họ dùng khẩu trang, giấy che miệng, chuyển đến khu vực chờ riêng và ưu tiên khám trước nhằm giảm thời gian tiếp xúc [4], [9]
* Phòng lao cho cá thể (giảm nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao)
- Tiêm vaccin BCG do chương trình tiêm chủng mở rộng thực hiện nhằm giúp cho cơ thể hình thành miễn dịch chống lại bệnh lao khi bị nhiễm lao
- Điều trị dự phòng lao bằng INH có sự hướng dẫn theo dõi của cán bộ
y tế chuyên trách lao xã phường: đối tượng là tất cả những người nhiễm HIV (người lớn và trẻ em) đã được sàng lọc hiện không mắc bệnh lao tiến triển và trẻ em dưới 5 tuổi tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây là người bệnh lao phổi AFB(+)
- Tăng sức đề kháng: nâng cao mức sống cho cộng đồng, hiệu quả đã được chứng minh bằng hiện tượng thuyên giảm bệnh lao tự nhiên của dịch tễ lao ở những nước phát triển Điều trị tốt các bệnh lý nhiễm trùng, chú ý các bệnh nhiễm siêu vi, đái tháo đường và các bệnh mạn tính khác Giảm các yếu
tố độc hại như rượu, thuốc lá… [4], [10],[14],[22]
1.5 Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu
Tỷ lệ mắc lao và kiến thức về bệnh lao
Kiến thức chung về bệnh lao
- Nguyên nhân, đường lây truyền bệnh lao
- Địa điển khám bệnh khi có dấu hiệu nghi ngờ
- Phương pháp phát hiện, thời gian điều trị bệnh lao
- Các phương tiện truyền thông về bệnh lao
- Bệnh lao có thể chữa khỏi, thuốc chống lao được cấp không mất tiền
Nhận biết các dấu hiệu nghi ngờ và các
yếu tố nguy cơ làm dễ mắc lao
- Ho khạc đàm kéo dài, gầy sút cân,
sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, đau
ngực khó thở
- Người nhiễm HIV, tiếp xúc với
nguồn lây, nghiện thuốc lá – rượu –
ma túy, mắc các bệnh mạn tính…
Nhận biết các phương pháp phòng tránh và hạn chế lây lan bệnh lao
-Tiêm BCG cho trẻ sơ sinh
-Phát hiện sớm và điều trị triệt để bệnh nhân lao
hồ sơ bệnh án Các trường hợp lao phổi AFB(-) được điều trị phác đồ lao sau khi có
Trang 21CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.Tiêu chuẩn chọn:
- Không phân biệt tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo
- Phỏng vấn bệnh nhân có khả năng nghe, hiểu, trả lời phỏng vấn
- Bệnh nhân có những triệu chứng nghi lao quan trọng bao gồm triệu chứng lâm sàng và các trường hợp có bất thường trên X- quang phổi được khoa khám bệnh phân loại, theo dõi lao phổi nhập vào khoa Y học nhiệt đới Người nghi lao phổi khi có các triệu chứng:
+ Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) + Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi
+ Sốt nhẹ về chiều
+ Ra mồ hôi trộm ban đêm
+ Đau ngực, đôi khi khó thở
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định lao phổi AFB(+) và AFB(-) được điều trị lao theo phác đồ của Chương trình Chống lao Quốc gia: sau khi có kết quả xét nghiệm đờm kết hợp với hình ảnh tổn thương phổi trên X- quang được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án Các trường hợp lao phổi AFB(-) được điều trị phác đồ lao sau khi có biên bản hội chẩn toàn viện với tổ chống lao
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đối tượng mắc bệnh tâm thần, người già, suy kiệt nặng…
Trang 222.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện tại khoa Y học Nhiệt đới thuộc Trung tâm y tế huyện Đăk Tô
2.3.2 Thời gian nghiên cứu:
Bắt đầu từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016 Thời gian thu thập thông tin từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/12/2016
2.4 Cỡ mẫu
71 đối tượng là bệnh nhân có triệu chứng nghi lao đang được theo dõi
và điều trị tại khoa Y học nhiệt đới
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Phỏng vấn toàn bộ bệnh nhân có triệu chứng nghi lao quan trọng theo tiêu chuẩn chọn đang được theo dõi và điều trị lao tại khoa Y học Nhiệt đới Trung tâm y tế huyện Đăk Tô từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/12/2016
2.6 Biến số, chỉ số
Thông tin chung
vấn
Rời rạc
phỏng vấn, khi mã hóa thành
2 nhóm: kinh và nhóm còn lại
Rời rạc
Trang 23Nghề nghiệp Cán bộ viên chức, nông,
công nhân, buôn bán, nghề khác
Nhị giá
Kiến thức về bệnh lao
động quá sức, không biết
Nhị giá
Những yếu tố nguy cơ là dễ
mắc lao:
- Người nhiễm HIV/AIDS
- Người tiếp xúc trực tiếp với
Nhị giá
Trang 24Thuốc lao được cấp không mất
Nghe nói về bệnh lao qua các
loại hình truyền thông:
- Qua cán bộ y tế
- Qua sách báo tranh ảnh
- Nghe nhìn: ti vi, đài
- Qua chính quyền đoàn thể
-Qua chính bệnh nhân và người
nhà khi đến khám bệnh
Mỗi yếu tố có đánh dấu vào
ô là có biết, để trống không biết
Nhị giá
Trang 25Nhị giá
2.7 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
2.7.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tại khoa sau đó ghi nhận các nội dung vào phiếu phỏng vấn
- Kiểm tra hồ sơ bệnh án để ghi nhận và đối chiếu các thông tin hành chính: ngày vào viện, số vào viện, chẩn đoán vào viện và chẩn đoán điều trị tại khoa để đảm bảo tính trung thực của nghiên cứu
2.7.2 Công cụ thu thập thông tin
- Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và
dễ trả lời
- Nội dung phiếu phỏng vấn là những câu hỏi đóng và câu hỏi gồm nhiều sự lựa chọn
2.8 Quy trình thu thập số liệu
- Các thành viên trong nhóm thực hiện đề tài tiến hành đồng thời phỏng vấn đối tượng nghi ngờ mắc lao và kiểm tra đối chiếu hồ sơ bệnh án, ghi nhận các trường hợp chẩn đoán xác định lao phổi AFB(+) và AFB(-) vào phiếu phỏng vấn
Trang 26- Giải thích sơ lược về mục đích, ý nghĩa của việc phỏng vấn cho đối tượng để họ hợp tác tốt
- Đối tượng được phỏng vấn trả lời các câu hỏi, nếu không hiểu cách trả lời thì giải thích cho họ hiểu, tuyệt đối không trả lời hộ hay gợi ý các câu
trả lời đúng
2.9 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi thu thập được mã hóa dưới dạng số, sử dụng phần mềm SPSS version 18.0 Phân tích và kiểm định sự khác biệt Mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 được áp dụng [7], [17]
- Kết quả thu thập được trình bày dưới dạng biểu đồ, dạng bảng
- Nhận xét, so sánh tỷ lệ và nhận định kết quả của các bảng và biểu đồ
2.10 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu này đã được sự đồng ý của Sở Y tế tỉnh Kon Tum và Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô
- Đối tượng được chọn phỏng vấn là những bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ lao và đang bị mắc lao đều đồng ý tham gia nghiên cứu
- Số liệu được thu thập đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực và
chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu
Trang 27CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung và tỷ lệ mắc lao
35.1
64.9
39.4 60.6
Biểu đồ 3.1 Đối tượng mắc lao theo giới
Trang 28Tỷ lệ lao phổi phát hiện trong nhóm đối tượng nghiên cứu này là 39,4%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh lao phổi ở nam giới (44,1%) cao hơn nữ giới
(35,1%)
3.1.3 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo các nhóm tuổi
Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo các nhóm tuổi
3.1.4 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo dân tộc
Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo dân tộc