1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)

75 225 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÙY TRANG

TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÙY TRANG

TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA

Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

Mã số : 60 38 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HỒ TRỌNG NGŨ

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được

thực hiện độc lập và dưới sự hướng dẫn của GS.TS Hồ Trọng Ngũ, Phó

Giám đốc Học viện cảnh sát nhân dân

Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu , ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Vậy tôi viết lời cam đoan này kính đề nghị Học viện cho tôi được bảo vệ luận văn trước Hội đồng

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thùy Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 6

1.1.Những vấn đề lý luận về tình hình tội buôn lậu 6 1.2 Thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 10

CHƯƠNG 2 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 26

2.1 Những vấn đề lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội buôn lậu 26 2.2 Các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 28

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 42

3.1 Dự báo tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới 42 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 51

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng1.1: Thực trạng tình hình buôn lậu ở Lạng Sơn (2011 – 2015) 13 Bảng 1.2: Cơ cấu số vụ buôn lậu trong tổng số vụ phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 16 Bảng 1.3: Cơ cấu về đối tượng của người phạm tội buôn lậuở tỉnh Lạng Sơn (2011 – 2015) 17 Bảng 1.4: Cơ cấu về độ tuổi của người phạm tội buôn lậuở Lạng Sơn (2011 – 2015) 18 Bảng 1.5: Cơ cấu theo trình độ học vấn 19 Biểu đồ 1.1: Diễn biến tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàntỉnh Lạng Sơn (2011 - 2015) 15

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Lạng sơn là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Đông Bắc, giáp các tỉnh Cao Bằng, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên của nước ta và

Sán Chay, sinh sống rải rác trên 11 huyện, thành phố Lạng Sơn có khoảng

253 km đường biên giới với Trung Quốc trải dài 21 xã, thị trấn thuộc 5 huyện giáp biên Với ưu thế có hai cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng, cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, hai cửa khẩu quốc gia là: Chi Ma, Bình Nghi và 7 cặp chợ biên giới, Lạng Sơn đã trở thành một trong những địa phương phát triển mạnh về thương mại, du lịch Kể từ năm 1991 khi quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc được bình thường hóa thì hoạt động xuất, nhập cảnh của hai nước được mở rộng, nhu cầu đi lại thăm thân, du lịch, buôn bán ngày càng gia tăng Đây chính là một trong những lợi thế để Lạng Sơn phát triển mạnh nền kinh tế địa phương Là địa phương có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu buôn bán, du lịch nhưng do có tuyến đường biên giới dài, nhiều đường mòn, đường tắt nên Lạng Sơn cũng là nơi phát sinh nhiều tội phạm hình sự như: mua bán phụ nữ và trẻ em , mua bán trái phép chất ma túy, vận chuyển tiền giả … trong đó nổi lên là tội phạm buôn lậu

Trong vòng 5 năm (2011 – 2015), ngành Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã xét sử sơ thẩm 207 vụ với 355 bị cáo phạm tội buôn lậu Tội phạm buôn lậu chủ yếu ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi là phổ biến và chủ yếu là ở các vùng dân tộc thiểu số

Số vụ xét xử về tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2015 không nhiều nhưng có xu hướng ngày càng tăng với thủ đoạn ngày

Trang 7

càng tinh vi và gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế đất nước

và xã hội

Những số liệu trên đã phần nào phản ảnh thực trạng của tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Tuy nhiên trong thực tế vì những lý do khác nhau vẫn còn nhiều vụ án buôn lậu chưa được phát hiện và xử lý hình sự Điều đó chứng tỏ công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chưa đạt được hiệu quả mong muốn Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng, tìm ra nguyên nhân của tội phạm buôn lậu, dự báo xu hướng biến động để xây dựng giải pháp phòng ngừa có hiệu quả nhóm tội phạm này trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là một việc làm có tính cấp bách trong tình hình hiện

nay Xuất phát từ lí do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Tội buôn lậu trên địa

bàn tỉnh Lạng Sơn: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa” làm đề tài

cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, vấn đề buôn lậu và đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu

đã được nhiều bộ, ngành, địa phương chỉ đạo thực hiện, tác giả đã nghiên cứu

và thu thập trong nhiều báo cáo khoa học, các báo, tạp chí như:

- Luận án Tiến sĩ Luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Bình với

đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”, năm 2000 Luận án đi vào nghiên cứu một các có

hệ thống thực trạng buôn lậu, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trải phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới và để đề ra các giải pháp hữu hiệu cho cuộc đấu tranh, hạn chế và từng bước đẩy lùi tệ nạn buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới

- Các công trình khác dưới dạng luận văn thạc sĩ như: Luận văn Thạc sĩ Luận học của tác giả Dương Thị Nhàn, Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, năm 2006; Luận văn Thạc sĩ Luận học của Lê

Trang 8

Đặng Quốc Phong, Phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, năm 2012; Thạc sĩ Lê Văn Tới, Buôn lậu và chống buôn lậu, nhận diện và giải pháp, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Đăng Phú, Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2004; và một số đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng chống tội buôn lậu, hoặc đề cập đến công tác đấu tranh chống buôn lậu của một lực lượng, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về công tác đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên một địa bàn tỉnh Lạng Sơn, cũng như giải pháp để phòng ngừa, ngăn chặn loại tội phạm này và vì vậy đề tài được kế thừa những giá trị khoa học của các công trình đã được nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Đề tài mà tác giả đã chọn thuộc chuyên

ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, nên mục đích của nó không thể khác là góp phần hoàn thiện hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tác

giả luận văn thấy cần phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

+ Phân tích khái quát để làm rõ những vấn đề lý luận về tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

+ Đánh giá thực trạng, diễn biến , cơ cấu , tính chất tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian từ năm 2011 - 2015

+ Phân tích khái quát để làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên nhân , điều kiện của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

+ Dự báo tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn để từ đó

Trang 9

hoàn thiện hệ thống phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là làm rõ hơn những lý luận cơ bản về tình hình tội buôn lậu, nguyên nhân và điều kiện của tội buôn lậu và các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu ở nước ta trong thời gian 5 năm (từ năm 2011 đến 2015)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp

luậnchủ nghĩa Mác-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng làm cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu để giải quyết những vấn đề

về lý luận tình hình tội buôn lậu, thực trạng, nguyên nhân và điều kiện tội buôn lậu từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn làm cơ sở thực tiễn

Trang 10

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương

pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp diễn giải

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ

nhiều vấn đề lý luận về tình hình tội buôn lậu, nguyên nhân và điều kiện của tội buôn lậu, nhân thân người phạm tội và phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

6.2 Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể giúp các cơ quan tổ

chức tham khảo để vận dụng vào việc tuyên truyền , giáo dục nâng cao trình độ nhận thức và ý thức pháp luật cho nhân dân, đặc biệt là các dân tộc miền núi phía Bắc, vận dụng công tác điều tra, truy tố xét xử , đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Chương 2: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội buôn lậu trên

địa bàn tỉnh Lạng sơn

Chương 3: Các giải pháp phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên địa

bàn tỉnh Lạng Sơn

Trang 11

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

1.1 Những vấn đề lý luận về tình hình tội buôn lậu

1.1.1 Khái niệm tình hình tội phạm

một thị tộc đã biến sự thống nhấtvề lợi ích thành sự đối kháng giữ a các thành viên củathị tộ c” thì đồng thời cũng xuất hiện trong xã hội nhiều loại hành vi khác nhau, xung đột lần nhau, thậm chí tiêu diệt lẫn nhau Nguyên nhân khách quan là do sự phát triển kinh tế của xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định mang lại Cái khách quan đó, cái hiện thực xã hội đó đả đưa đến việc

hình thành Nhà nưóc như "một lực lượng cần thiết, có nhiệm vụ làm dịu bớt

sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự ”, "dưới một hình thức gọi là hợp pháp"

Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả ấy của mình, Nhà nước buộc phải quy định những hành vi gây nguy hiểm cho trật tự xã hội và vi phạm những quy tắc xử sự của đời sống cộng đồng thành tội phạm với những hình phạt nghiêm khắc khác nhau

Như vậy, tiền đề đầu tiên phải là những hành vi phạm tội Mác đã ví

những người phạm tội như một "lực lượng sản xuất", và ông viết rằng " Một kẻ

phạm tội thì sản xuất ra các tội phạm Nếu quan sát kỹ hơn mối quan hệ của cái ngành sản xuất này với toàn bộ xã hội, thì phải thấy được nhiều điều Kẻ phạm tội không chỉ sản xuất ra các tội phạm , mà còn sản xuất ra Luật hình sự và cả vị giáo sư giảng dạy về Luật hình sự nữa; ngoài ra nó còn sản xuất ra toàn ngành cảnh sát và tư pháp hình sự, kiểm sát, thẩm phán, cai ngục ”

Như vậy, thực tế đời sống xã hội đã chuẩn bị sẵn những tiền đề cho việc hình thành và phát triển các ngành luật khác nhau, các biện pháp pháp lý

Trang 12

khác nhau để đấu tranh chông tội phạm Chính trong quá trình đấu tranh chống tội phạm đã làm hình thành các môn khoa học khác nhau như: khoa học Luật hình sự, tố tụng hình sự, khoa học điều tra tội phạm và Tội phạm học

Nếu như khoa học Luật hình sự, tố tụng hình sự, khoa học điều tra tội

phạm có đối tượng nghiên cứu là tội phạm với tính cách là “cái đơn nhất”, thì Tội phạm học nghiên cứu tội phạm với tính cách là một hiện tượng xã hội “cái

chung''- tức là cái đã được khái quát hóa từ hàng trăm, hàng ngàn "cái đơn nhất","cái riêng" Cho nên phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học phải ở

một trình độ khái quát hơn Và “cái hơn" này chỉ có thể đạt được nhờ cách tiếp

cận trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về tội phạm

Đấu tranh với tội phạm dưới góc độ Tội phạm học không phải chỉ dựa trên quan điểm xem tội phạm là những hành vi riêng lẻ - đơn nhất, mà phải

nhìn nhận tội phạm trong tổng thế của nó, trong mốì quan hệ của nó với “toàn

bộ xã hội", tức là với tư cách một chỉnh thế của một hiện tượng xã hội tiêu

cực phát sinh và phát triển do những nguyên nhân và điều kiện xã hội nhất

định, vận động theo những quy luật riêng và sẽ bị "tiêu vong" thông qua sự

biến đổi xã hội Và trong chừng mực đó thì đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học chính là tình hình tội phạm

Theo PGS.TS Phạm Văn Tỉnh thì “Tình hình tội phạm là một khách thể

nghiên cứu cơ bản của tội phạm học và là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng tâm – sinh lý – xã hội tiêu cực, có tính lịch sử và lịch sử cụ thể, pháp lý hình

sự và giai cấp, được biểu hiện bằng tổng thể các hành vi phạm tội đã xảy ra

và các chủ thể thực hiện các hành vi đó trong một đơn vị hành chính – lãnh thổ nhất định và trong một đơn vị thời gian nhất định” [ 36, tr7-10 ]

1.1.2 Khái niệm tình hình tội buôn lậu

a Phần hiện của tình hình tội buôn lậu là toàn bộ những hành vi

phạm tội và chủ thể của hành vi đó đã bị xử lý theo quy định của pháp luật

Trang 13

hình sự ở từng đơn vị hành chính – lãnh thổ hay trên phạm vi toàn quốc, trong những khoảng thời gian nhất định và được ghi nhận trong thống kê hình sự

- Những số liệu được thống kê hình sự đã phần nào phản ánh được tình hình tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng, dù có thể ở mức độ khác nhau so với thực tế của tình hình tội phạm nhưng vẫn là những số liệu nền tảng , vừa hàm chứa hình ảnh thu nhỏ của tình hình tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng, vừa phản ánh kết quả cụ thể của công việc đấu tranh chống tội phạm của toàn xã hội mà trong đó các cơ quan tư pháp hình sự giữ vai trò nòng cốt

b Phần ẩn của tình hình tội buôn lậu

Để đánh giá được đúng tình hình tội buôn lậu, chúng ta không thể giới hạn việc nghiên cứu chỉ trong phạm vi những số liệu của cơ quan xét xử (số liệu xét xử), mà phải đặt sự phân tích các số liệu này trong sự so sánh với các

số liệu của các cơ quan điều tra, truy tố (số liệu khởi tố điều tra, số liệu truy tố) cũng như phải đặt trong sự so sánh với các số liệu về hoạt động buôn lậu nói chung Phần ẩn của tội buôn lậulà toàn bộ số tội buôn lậuvà số lượng người thực hiện tội buôn lậuthực tế đã xảy ra nhưng chưa bị phát hiện và xử lý về hình sự vì vậy cũng không có trong thống kê hình sự; về phương diện khoa học, chỉ có thể đánh giá mức độ ẩn của tội buôn lậumột cách tương đối gần sát với thực tế dựa trên những căn cứ, cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định, việc mong muốn đánh giá một cách chính xác, tuyệt đối phần ẩn của tội buôn lậu là điều không thể thực hiện được vì nhiều lí do khác nhau

1.1.3 Tình hình buôn lậu ở Lạng Sơn

* Điều kiện tự nhiên

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi ở biên giới Đông Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược rất quan trọng về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng Với 253

km đường biên giới tiếp giáp với khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây,

Trang 14

Trung Quốc, lại nằm trên giao điểm của 4 quốc lộ là 1A, 1B, 4A, 4B, ngoài ra còn có tuyến đường sắt liên vận quốc tế, với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia, 7 cặp chợ đường biên nên Lạng Sơn đã trở thành cửa ngõ quan trọng

để giao thương buôn bán với Trung Quốc Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị,cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, Lạng Sơn đã có bước phát triển khá toàn diện trên lĩnh vực; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nhất là đồng bào vùng cao, vùng biên giới không ngừng được cải thiện Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đang xây dựng trở thành khu kinh tế động lực, đa chức năng với các cơ chế, chính sách, ưu đãi, phát triển năng động đóng vai trò là đầu cầu liên kết của tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải phòng - Quảng Ninh Với chính sách mở cửa hội nhập của đất nước, với việc bình thường hóa quan hệ 2 nước Việt Nam

Trung Quốc, hoạt động xuất nhập khẩu ở biên giới 2 nước Việt - Trung trở nên nhộn nhịp hơn, sôi động hơn.Tuy nhiên, bên cạnh đó, Lạng Sơn cũng được xác định là địa bàn phức tạp về buôn lậu tại tuyến biên giới phía Bắc Cùng với Quảng Ninh, Lạng Sơn là một trong hai địa bàn trọng điểm về buôn lậu hàng hóa do Trung Quốc sản xuất

* Điều kiện về kinh tế xã hội

Tình hình buôn lậu ở Lạng Sơn trên tuyến đường sắt Đồng Đăng - Hà Nội lại sôi động Điển hình là vào ngày 25-12, tại ga liên vận quốc tế Đồng Đăng (Cao Lộc), các lực lượng chống buôn lậu của tỉnh đã kiểm tra tàu chở khách hiệu DD6, chạy tuyến Đồng Đăng - Hà Nội, phát hiện trên ba toa tàu có chứa nhiều mặt hàng do nước ngoài sản xuất, có dấu hiệu vi phạm hóa đơn, chứng từ, có nhiều mặt hàng nghi là hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ Toàn bộ số hàng này đã được các lực lượng chức năng thu giữ để điều tra làm rõ

Trang 15

Từ nhiều năm nay, khu vực thị trấn Đồng Đăng, trong đó có ga liên vận quốc tế Đồng Đăng, luôn là tâm điểm tập kết hàng lậu Thị trấn Đồng Đăng chỉ cách đường biên giới từ 2 đến 3 km, có hai cửa khẩu quốc tế đường bộ và đường sắt, lại có nhiều đường mòn, lối tắt qua biên giới Đối diện với thị trấn Đồng Đăng là khu trung tâm thương mại Bằng Tường, Quảng Tây (Trung Quốc) có nhiều kho hàng lớn Từ đây, hàng lậu, hàng cấm được xé lẻ, vận chuyển với nhiều thủ đoạn, như: mang vác, xách tay, lợi dụng đêm tối vượt biên qua đường mòn, lối tắt Khi đã vào khu vực biên giới, hàng được cất giấu trong khu vực dân cư nằm sát biên giới, chờ cơ hội lên xe ô-tô, vận chuyển trên các chuyến tàu, các tuyến quốc lộ: 1A, 1B, 4B… đưa hàng vào sâu nội địa tiêu thụ

1.2 Thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn không chỉ đánh giá giới hạn ở việc nghiên cứu trong phạm vi những trường hợp đã bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử mà phải có sự so sánh với tình hình buôn lậu nói chung; từ đó mới có thể có được sự nhìn nhận đầy đủ về tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Với đặc thù Lạng Sơn là tỉnh có đường biên giới dài, do đó địa bàn tỉnh không chỉ là nơi tiêu thụ mà còn là nơi tập trung chuyển hàng lậu, hàng giả, hàng cấm từ các tỉnh vào trong nội địa Tình hình buôn lậu trên địa bàn tỉnh

có xu hướng diễn biến phức tạp Hành vi buôn lậu thường gắn liền với vận chuyển trái phép hàng hóa với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn

Các đối tượng buôn lậu dùng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi và thường xuyên thay đổi và thường xuyên thay đổi nhằm đối phó với việc kiểm tra, xử lý của các cơ quan chức năng

Các đối tượng là đầu nậu trong đó chủ yếu là người tỉnh ngoài hoạt động giấu mặt, thường thông qua trung gian là các đối tượng ở địa bàn biên

Trang 16

giới để mua gom hàng từ Trung Quốc, sau đó thuê và khoán gọn cho các đối tượng vận chuyển theo từng cung đoạn gắn với trách nhiệm bồi thường nếu để hàng mất Vì vậy các đối tượng này thường có hành vi chống đối quyết liệt để bảo vệ hoặc tẩu tán hàng được thuê vận chuyển

Bọn buôn lậu hiện nay thường sử dụng loại xe tải nhỏ từ 1 đến 1,5 tấn,

xe chở khách du lịch, xe khách chất lượng cao, xe bán tải có gia cố thêm hầm

ở sàn xe và vách xe, gắn biển kiểm soát giả hoặc xe thanh lý của các đơn vị

bộ đội, cơ quan, xí nghiệp… để vận chuyển hàng lậu

Trong mấy năm gần đây ở tỉnh Lạng Sơn, các chủ hàng, chủ đầu nậu đã

áp dụng thủ đoạn chia nhỏ, xé lẻ các lô hàng để vận chuyển qua biên giới, hàng nhập lậu được vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện: ô tô, xe máy, mang vác chạy bộ đi qua hai ben cánh gà của các trạm kiểm soát dọc biên giới; hàng hóa được tập kết ở một số nhà dân ven đường, bìa rừng, khi có điều kiện thì chuyển hàng lên các phương tiện như xe tải, xe chở khách, xe con… vận chuyển sâu vào nội địa để tiêu thụ

Sau một thời gian hoạt động với thủ đoạn lợi dụng các phương tiện, đối tượng giả danh thương binh, người tàn tật để vận chuyển hàng lậu bị các lực lượng chức năng phát hiện, xử lý triệt để, thì các đối tượng buôn lậu lại chuyển đổi phương thức hoạt động sang sử dụng các loại xe 4 chỗ ngồi, xe du lịch, xe gắn máy dùng biển số giả… để vận chuyển hàng quý hiếm, động vật hoang dã quý hiếm; hàng hóa vận chuyển được tháo rời chi tiết không đồng

bộ, vận chuyển thành nhiều cung đoạn để tránh sự phát hiện

Trong các năm gần đây đã phát triển được thủ đoạn mới là các đối tượng lợi dụng danh nghĩa các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa để móc nối tổ chức buôn lậu, khai báo sai xuất xứ hàng hóa, tháo rời hàng hóa thành các chi tiết (chủ yếu là loại hàng hóa ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy nổ,

xe máy…) sau đó làm thủ tục nhập khẩu dưới dạng linh kiện phụ tùng ở nhiều của khẩu khác nhau nhằm hợp thức hóa, trốn thuế, thu lợi bất chính lớn…

Trang 17

Một phương thức khác là để che giấu hành vi buôn lậu, một số nhóm đối tượng chuyên buôn lậu, vận chuyển hàng hóa đã huy động vốn thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn có chức năng xuất – nhập khẩu, chúng lợi dụng việc nhập khẩu hàng hóa hoặc làm thủ tục mua hàng thanh lý để

sử dụng quay vòng hóa đơn chứng từ Thủ đoạn của các đối tượng là nhập khẩu hàng hóa hoặc mua hàng phát mại đưa về kho của công ty rồi mới xuất hàng từ kho kèm theo hóa đơn thuế giá trị gia tăng vận chuyển đi các tỉnh ngoài tiêu thụ Mỗi bộ hóa đơn chứng từ theo cách này có thể quay vòng vận chuyển hàng lậu chót lọt nhiều lần

Thông số về lượng của tình hình tội buôn lậu biểu hiện ở thực trạng và diễn biến của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây chiếm tỉ lệ cao trong tổng số tội phạm hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn theo số liệu thống kê của tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn trong 5 năm từ năm 2011 – 2015 Trong 5 năm đó số vụ án về tội buôn lậu được đưa

ra xét xử có năm tăng năm giảm nhưng nhìn chung thì loại hình tội phạm này

có diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều tiềm ẩn, nhiều yếu tố tăng khó lường

Thông số về chất của tình hình tội buôn lậu bao gồm cơ cấu và tính chất của tình hình tội buôn lậu thể hiện ở cơ cấu về độ tuổi, giới tính, quốc tịch, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thời gian, địa điểm, nhân thân người phạm tội buôn lậu, mức độ thiệt hại do tội buôn lậu gây ra đối với xã hội, ảnh hưởng công tác quản lý kinh tế xã hội, kìm hảm phát triển kinh tế của tỉnh

1.2.1 Phần hiện của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện nay

1.2.1.1 Thực trạng của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian gần đây

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh “thực trạng của tình hình tội phạm

là số lượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện các tội phạm đó ở một địa hình nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định”[45-

Trang 18

tr62]; Luận văn đã xác định phạm vi nghiên cứu là trên tuyến biên giới khu vực Đông Bắc,thu thập và sử dụng số liệuminh chứng đoạn biên giới qua các tỉnh Cao Bằng, Bắc Giang , Quảng Ninh , Bắc Kạn từ năm 2011 đến năm 2015 Như vậy, thực trạng của tình hình tội buôn lậu được biểu hiện qua số lượng tội buôn lậu diễn ra trên tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, đoạn thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bắc Kạn từ năm 2011 đến năm 2015

Bảng 1.1: Thực trạng tình hình buôn lậu ở Lạng Sơn (2011 – 2015)

Trang 19

Nhìn vào biểu đồ thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn trên có thể thấy trong năm 2011 tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

đã đưa ra xét xử 87 vụ với 155 bị cáo Như vậy, điều đó chứng tỏ rằng tình hình tội phạm về buôn lậu trên địa bàn Lạng Sơn xảy ra khá nhiều vụ với rất nhiều bị cáo Trong năm 2012 tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đưa ra xét xử 22 vụ với 37 bị cáo Như vậy tình hình tội phạm buôn lậu trong năm 2012 đã giảm 65 vụ so với năm 2011 Trong năm 2013 tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đưa ra xét xử 36 vụ với 63 bị cáo Như vậy, tình hình tội phạm buôn lậu trong năm 2013 đã tăng 14 vụ so với năm 2012 Trong năm 2014 tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đưa ra xét xử 34 vụ với 50 bị cáo Trong năm 2015 tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã đưa ra xét xử 28 vụ với 50 bị cáo Như vậy qua số liệu thống kê của tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 – 2015 xẩy ra 207 vụ với 355 bị cáo Nhưng tình hình buôn lậu diễn ra nhiều nhất và phức tạp với số lượng bị cáo nhiều nhất tập trung chủ yếu vào năm

2011 Từ năm 2013 – 2015 tình hình tội phạm buôn lậu đã được đưa ra xét xử không có nhiều thay đổi và sự biến động lớn

Từ việc nghiên cứu, phân tích kết quả xét xử trên có thể kết luận trong

5 năm qua, tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có xu hướng giảm về số

vụ nhưng số lượng bị cáo vẫn không giảm

1.2.1.2 Diễn biến của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian gần đây

Từ việc nghiên cứu, phân tích kết quả xét xử trên có thể kết luận, 5 năm qua, tội buôn lậu trên tuyến biên giới Đông Bắc có xu hướng phát triển không đều, có năm tăng có năm giảm, năm tăng cao nhất là 2011, nhưng nhìn chung

tỷ lệ tăng giảm của những năm gần đây không đáng kể Mức độ gia tăng của tình hình tội buôn lậu trên tuyến biên giới Đông Bắc từ năm 2011 đến năm

2015 được phản ánh rõ qua biểu đồ 1.2

Trang 20

Biểu đồ 1.1: Diễn biến tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn

tỉnh Lạng Sơn (2011 - 2015)

Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

Theo biểu đồ 1.2 ta có thể nhận thấy số lượng tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2015 có xu hướng giảm dần qua từng năm Tuy nhiên trong năm 2014 là năm kinh tế xã hội của tỉnh và cả nước gặp nhiều khó khăn (Trung Quốc đặt hạ giàn khoan 981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam làm ảnh hưởng quan hệ ngoại giao, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng giảm nhưng các vụ buôn lậu trong năm 2014, xét xử 34 vụ (49 bị cáo),

số bị cáo không tăng so với năm 2013 Tình hình trên càng đáng lo ngại hơn khi trong 6 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra nhiều vụ buôn lậu chủ yếu là mặt hàng thuốc lá, rượu ngoại các loại, sừng tê giác,… với trị giá rất lớn Điều này chứng tỏ diễn biến của tình hình tội phạm buôn lậu tại Lạng Sơn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phát sinh về tội phạm buôn lậu

Các thông số về lượng chỉ mới phản ánh bề ngoài hình thức, chưa phản ánh hết bản chất của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Cho nên

Trang 21

để đưa ra được những nhận định, đánh giá, kết luận chính xác về tính chất, mức

độ nghiêm trọng của tình hình tội buôn lậu đối với xã hội thì cần phải nghiên cứu mặt bên trong của tình hình tội phạm, đó là các thông số về chất của tình hình tội phạm bao gồm: cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm buôn lậu

Các thông số về chất của tình hình tội buôn lậu là một hệ thống mở, nghĩa là càng khai thác được nhiều thông số (về cơ cấu, tương quan) thì tính chất của tình hình tội phạm càng được làm rõ Điều đó cũng có nghĩa là càng có nhiều cơ sở để nhận biết về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm buôn lậu, cũng như để áp dụng các biện pháp phòng ngừa một cách hiệu quả

1.2.1.3 Cơ cấu của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian gần đây

* Cơ cấu theo số vụ:

Bảng 1.2: Cơ cấu số vụ buôn lậu trong tổng số vụ phạm tội xâm phạm trật

Cơ cấu

về số người phạm tội (tỷ lệ %)

Trang 22

Theo bảng 1.3 cho thấy tỷ trọng của tội buôn lậu trong tổng số các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tăng giảm qua các năm , năm 2011 chiếm 41,62%; năm 2012 chiếm 37,93%; năm 2013 chiếm 38,70%; năm 2014 chiếm 57,90% ; năm 2015 chiếm 33,33%

* Cơ cấu về đối tượng người phạm tội

Bảng 1.3 : Cơ cấu về đối tượng của người phạm tội buôn lậu

ở tỉnh Lạng Sơn (2011 – 2015)

Cán bộ công chức Đảng viên Dân tộc thiểu số Nữ giới

Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

Như vậy nhìn vào bảng 1.4 ở trên ta có thể nhận thấy đối tượng của tội phạm buôn lậu chủ yếu là người dân tộc thiểu số và nữ giới cũng chiếm một bộ phận nhỏ trong đó Vì Lạng Sơn là tỉnh vùng cận biên có đường biên giới rất dài giáp ranh với Trung Quốc bao gồm 253 km đường biên về phía Đông bắc Lạng Sơn là một trong những tỉnh thành có nhiều dân tộc sinh sống Theo đó dân số 831.887 người (điều tra dân số 01/04/2009); có 7 dân tộc anh em, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 42,97%, Tày chiếm 35,92%, Kinh 16,5%, còn lại là các dân tộc Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, H'Mông Ngoài ra, bà con dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở những vùng đồi núi giáp ranh đường biên giới Việt – Trung nên rất thông thuộc đường rừng cũng như có kinh nghiệm trong việc xử lý vượt qua những vùng địa hình núi đồi, sông suối hiểm trở Cho nên, tội phạm buôn lậu có người dân tộc thiểu số tham gia rất nhiều

Trang 23

* Cơ cấu về độ tuổi người phạm tội

Bảng 1.4: Cơ cấu về độ tuổi của người phạm tội buôn lậu

ở Lạng Sơn (2011 – 2015)

Năm

Độ tuổi người phạm tội

Từ đủ 14 đến dưới 16

Từ đủ 16 đến dưới 18 Từ 18 đến 30

Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

Như vậy, nhìn trên biểu đồ 1.5 ta thấy độ tuổi phạm tội buôn lậu chủ yếu là người từ 18 đến 30 tuổi chủ yếu phạm tội này Đây là độ tuổi đã thành niên và cũng là phản ánh thực tế khách quan, hợp lý bởi ở độ tuổi chưa thành

Trang 24

niên chủ thể này không thể có đủ khả năng về nhận thức, tư duy để có thể thực hành loại tội phạm có tính chất, quy mô tổ chức cao và phức tạp này

* Cơ cấu theo các hình thức xử lý bị cáo phạm tội buôn lậu

Nghiên cứu hơn 200 bản án hình sự sơ thẩm với 355 bị cáo do Tòa

án nhân dân tỉnh Lạng Sơn thì số bị cáo đã bị xét xử về tội buôn lậu, phân tích các hình phạt chính đã áp dụng được kết quả như sau: Miễn hình phạt:

0 trường hợp, phạt tiền: 10 trường hợp, phạt tù có thời hạn dưới 3 năm cho hưởng án treo o trường hợp , phạt tù có thời hạn dưới 3 năm 163 trường hợp chiếm tỷ lệ; phạt tù có thời hạn từ 3 năm đến dưới 7 năm: 57 trường hợp, chiếm tỷ lệ , phạt tù có thời hạn từ 7 - 15 năm: 16 trường hợp, phạt tù

từ trên 15 năm đến 20 năm 1 trường hợp, phạt ừ chung thân và tử hình 1 trường hợp, xử phạt hành chính 5 trường hợp

Ngoài các hình phạt chính, Tòa án nhân dân các cấp còn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm của 88 trường hợp

+ Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội buôn lậu

Bảng 1.5: Cơ cấu theo trình độ học vấn

Trang 25

2015, thấy: Số có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất (91 người, chiếm 18,5%); số người không rõ trình độ (56 người, chiếm 14%); tiếp

đó là số người có trình độ học vấn trung học phổ thông (48 người, chiếm 11%); số người có trình độ đại học khá thấp (12 người, chiếm 5,0%)

Tóm lại: Trong cơ cấu hình phạt ở cấp sơ thẩm của tội buôn lậu trên tuyến biên giới phía Bắc 5 năm qua, hình phạt tù có thời hạn dưới 3 năm có tỷ lệ cao nhất, chiếm tỷ lệ 51%; nhưng trong số này lại áp dụng biện pháp cho hưởng án treo có tỷ lệ rất cao so với tổng số bị cáo đã xét xử (khoảng 31,4%); hình phạt tiền cũng đã được áp dụng, chiếm tỷ lệ 20% Đặc biệt có rất ít trường hợp bị áp dụng tù có thời hạn từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

Tóm lại, việc phân tích thực trạng, diễn biến, đối tượng, độ tuổi, có ý

nghĩa rất quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn lậu một cách có trọng tâm, trọng điểm và đạt hiệu quả cao, đặc biệt là trong việc tổ chức lức lượng, xây dựng chiến lược, kế hoạch, biện pháp phòng, chống cho phù hợp

1.2.1.4 Tính chất của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng sơn

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Tính chất của tình hình tội

phạm thể hiện ở số lượng của các tội phạm nguy hiểm nhất cho xã hội trong

cơ cấu của tình hình tội phạm cũng như ở các đặc điểm nhân thân của những người thực hiện tội phạm: tính chất của tình hình tội phạm được làm sáng tỏ thông qua cơ số của nó”

Nhân thân người phạm tội buôn lậu có đặc trưng trình độ văn hóa thấp

là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng ý thức, nhận thức về pháp luật cũng như các vấn đề xã hội khác không đúng

Mặc dù tổng số vụ án buôn lậu được đưa ra xét xử trong thời gian qua còn ít, chưa phản ánh đúng thực trạng tình hình buôn lậu trong tỉnh nhưng giá trị hàng hóa buôn lậu trong mỗi vụ cũng không đồng đều Các bị cáo thực

Trang 26

hiện hành vi phạm tội buôn lậu thường bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở mức

độ ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, và chưa có vụ nào bị

xử ở mức đặc biệt nghiêm trọng

Mức độ thiệt hại của tội buôn lậu là rất lớn, gây hậu quả nghiêm trọng

về nhiều mặt , ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế , tạo thành một lực cản đối với quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước , làm suy thoái đạo đức xã hội , ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa dân tộc do những người buôn lậu hám lợi không từ thủ đoạn nào để kiếm được nhiều lợi nhuận bất chính

1.2.2 Phần ẩn của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện nay

a Thực trạng ẩn của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Cũng như tội phạm ẩn nói chung phần ẩn của tội buôn lậu có thể bao gồm: Số vụ, số người phạm tội buôn lậu tuy đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa

bị phát hiện và chưa bị xử lí bằng biện pháp hình sự (tội buôn lậu ẩn tự nhiên); phần ẩn tiếp theo là những vụ phạm tội buôn lậu, người thực hiện đã

bị phát hiện nhưng vì lí do khác nhau mà cơ quan Tư pháp lại cho rằng đó không phải là tội buôn lậu hoặc hành vi của người đó không cấu thành tội buôn lậu (phần ẩn này được coi là tội buôn lậu ẩn nhân tạo);

Phần tội buôn lậu ẩn “tự nhiên” và “nhân tạo” ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá tình hình tội buôn lậu xảy ra, và do đó làm cho việc xác định các giải pháp đấu tranh phòng ngừa không sát với thực tiễn tình hình tội phạm

Từ những thống kê về hoạt động buôn lậu và những phân tích về phần hiện của tội buôn lậu trên tuyến biên giới phía bắc, chúng ta thấy rằng: Phần

ẩn của tội buôn lậu trên tuyến biên giới này rất đa dạng và phức tạp; khả năng

tỷ lệ ẩn là rất lớn, trong đó chủ yếu là ẩn nhân tạo; ngoài ra còn chưa tính đến những vụ phạm tội buôn lậu đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa bị phát hiện và

Trang 27

chưa bị xử lí bằng biện pháp hình sự

Việc xác định mức độ ẩn của tội buôn lậu trên tuyến biên giới phía Bắc trên thực tế không thể đánh giá chính xác tuyệt đối bởi nhiều lí do khách quan khác nhau Nhưng tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng là một hiện tượng khách quan, nên nó cũng vận động theo những quy luật khách quan nhất định Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào những cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn nhất định để đánh giá “phần ẩn” của tình hình tội buôn lậu trên tuyến biên giới phía Bắc ở mức độ tương đối

Do đặc điểm, tính chất của mỗi nhóm tội phạm, mỗi tội phạm cụ thể khác nhau, nên mức độ ẩn cũng khác nhau Đối với tội buôn lậu là loại tội trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, có mức độ ẩn tương đối cao, mức độ này có thể tăng tùy từng thời điểm, từng địa bàn, tuyến biên giới; điển hình như trên tuyến biên giới phía Bắc, mức độ ẩn của tội buôn lậu là rất cao; chúng tôi lấy ý kiến khảo sát các cán bộ Điều tra viên, Trinh sát viên, nhân viên Hải quan, Kiểm sát viên, Thẩm phán tại các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh kết quả trong tổng số 200 phiếu thu về với nội dung câu hỏi được

đề nghị trả lời:

“Theo đánh giá chủ quan của anh, chị, tỉ lệ ẩn của tội buôn lậu (ẩn tự nhiên và ẩn nhân tạo) trên tuyến biến giới thuộc địa phương mà anh, chị công tác chiếm khoảng bao nhiêu phần trăm so với tổng số vụ án đã xảy ra trên thực tế ?” Chúng tôi thu được kết quả là: 42% số người được hỏi trả lời cho rằng số vụ án buôn lậu ẩn chiếm khoảng từ 50% - 60% trên tổng số vụ phạm tội buôn lậu đã xảy ra trong thực tế; có 32% số người được hỏi, trả lời cho rằng số vụ án buôn lậu ẩn chiếm khoảng từ 40% - 50% và có 16% số người được hỏi trả lời cho rằng số vụ án buôn lậu ẩn chiếm khoảng từ 30% - 40%; còn lại 10% số người được hỏi trả với các tỉ lệ khác nhau

Với kết quả thu được như trên cho thấy có khoảng 74% số người được

Trang 28

hỏi cho rằng số vụ án chưa được phát hiện chiếm tỉ lệ thấp nhất là 40% và cao nhất là 60% trên tổng số vụ phạm tội buôn lậu đã xảy ra trong thực tế; tính trung bình tỉ lệ ẩn của tội buôn lậu là khoảng trên 50%

Đối chiếu kết quả khảo sát với mối tương quan giữa hoạt động buôn lậu với tình hình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử tội buôn lậu từ năm 2011 đến năm 2015 nhận thấy có sự thống nhất, phù hợp với nhau Có thể nói kết quả khảo sát có độ tin cậy cao và có cơ sở để đánh giá là khách quan

Vì vậy tội phạm ẩn là toàn bộ số tội phạm và số lượng người thực hiện các tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng chưa bị phát hiện và xử lý về hình sự vì vậy cũng không có trong thống kê hình sự Về phương diện khoa học, chỉ có thể đánh giá mức độ tội phạm ẩn một cách tương đối, gần sát với thực tế dựa trên những căn cứ, cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định Vì vậy chứng ta cần chia tội phạm ẩn ra là 3 loại: Tội phạm ẩn khách quan, tội phạm ẩn chủ quan, tội phạm ẩn thống kê

Tội phạm ẩn khách quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trên thực tế nhưng

do nguyên nhân khách quan cơ quan chức năng không phát hiện ra vụ phạm tội – không có thông tin về vụ án

Ví dụ: nạn nhân đã bị giết chết trong rừng và người phạm tội đã che giấu

bằng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và không có người chứng kiến vụ việc

Tội phạm ẩn chủ quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trên thực tế, cán bộ hoặc cơ quan chức năng đã nắm được vụ việc nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà vụ án không được thụ lí, xử lí hình sự và do đó không có trong số liệu thống kê

Ví dụ: cán bộ điều tra đã được người dân báo về vụ phạm tội nhưng do nhận

hối lộ của người phạm tội nên cơ quan điều tra chỉ lập hồ sơ xử lí hành chính (cố ý làm giảm mức độ sai phạm của hành vi để xử lí hành chính); hoặc cán bộ điều tra

đã được người dân báo về vụ phạm tội nhưng không lập hồ sơ xử lí hình sự mà lại

Trang 29

đứng ra làm trung gian xúc tiến việc bồi thường của người phạm tội đối với nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân để nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân rút đơn (vì vậy,

vụ việc không được lập hồ sơ, vào sổ sách)

Tội phạm ẩn thống kê là trường hợp tội phạm đã bị phát hiện và đưa ra xét

xử về hình sự nhưng không có trong thống kê hình sự chính thức

b Nguyên nhânẩn của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Kĩ thuật thống kê còn hạn chế (ví dụ nếu trong vụ án, bị cáo bị xét xử

về nhiều tội thì thống kê ở nước ta hiện nay chỉ thống kê số liệu về tội nặng nhất trong vụ án);

- Do bệnh thành tích nên có địa phương không đưa một số vụ án vào số liệu thống kê

- Do sai sót của cán bộ thống kê (trình độ chuyên môn hạn chế hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm nên thống kê thiếu, không đầy đủ)

Theo đó mức độ ẩn của tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có tỉ lệ cao hơn so với những tội phạm hình sự khác Một số lý do ẩn của tội buôn lậu:

- Do phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi buôn lậu có thể được thực hiện một cách lén lút, bí mật, trên tuyến biên giới Lạng Sơn đa số các vụ buôn lậu được thực hiện một cách lén lút, ngụy trang trong hàng hóa xuất , nhập khẩu , có tuyến đường sắt liên vận quốc tế chia nhỏ hàng lậu trốn tránh

sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng nên nhiều vụ không bị phát hiện, xử lý theo pháp luật

- Do địa hình biên giới tỉnh Lạng Sơn có tuyến biên giới với nhiều đường mòn qua lại biên giới, thêm vào đó lực lượng chuyên trách chống buôn lậu vừa thiếu, vừa yếu không đủ khả năng kiểm soát được địa bàn

- Do cũng có một số ít cán bộ thực thi nhiệm vụ trên tuyến biên giới tiếp tay, bao che, bảo kê cho buôn lậu xảy ra, những vụ án buôn lậu nhỏ cũng không được các cơ quan tiến hành tố tụng tập trung, truy tố Vì vậy, số tội phạm buôn lậu ít nghiêm trọng chiếm tỷ lệ tương đối cao

Trang 30

- Ngoài ra tội phạm đã bị phát hiện và bị xử lý theo quy định của pháp luật, song vì những lý do khác nhau, không có trong thống kê tội phạm Tình trạng số án về tội buôn lậu mà công an, viện kiểm sát, Tòa án hai cấp của tỉnh đình chỉ, tạm đình chỉ phần nào cũng thể hiện sự ẩn đối với loại tội phạm này

- Ngoài ra phải kể đến trình độ chuyện môn của một số cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế, nhận diện không đúng về hành vi buôn lậu nên khi đem ra xét xử thì đáng nhẽ hành vi đó phải coi là tội buôn lậu thì lại xử lý thành tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Từ những phân tích trên có thể thấy tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn tiềm ẩn phức tạp, số vụ phạm tội xảy ra trên thực tế chắc chắn cao hơn nhiều so với con số thống kê hình sự của các ngành chức năng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

từ năm 2011 – 2015 thông qua thực trạng , diễn biến , cơ cấu , tính chất của tình hình tội phạm Tình hình tội phạm buôn lậu ở tỉnh Lạng Sơn trong những năm qua có chiều hướng giảm, tuy nhiên loại tội phạm này thường tập trung trong và sau tết Nguyên đán hàng năm Người phạm tội buôn lậu thường là nam giới người dân tộc thiểu số trình độ học vấn thấp, cũng có một số ít là người ngoại tỉnh và người nước ngoài Các đối tượng là đầu nậu là người tỉnh ngoài thường hoạt động giấu mặt, thông qua trung gian là các đối tượng ở địa bàn biên giới để mua gom hàng từ Trung Quốc, sau đó thuê và khoán gọn cho các đối tượng vận chuyển theo từng cung đoạn gắn với trách nhiệm bồi thường nếu để hàng mất Trên đây là những nhận định tổng quan về tình hình tội phạm buôn lậu ở tỉnh Lạng Sơn giai đoạn từ năm 2011 – 2015 để từ đó ta

có thể đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm buôn lậu có hiệu quả hơn trong thời gian tới

Trang 31

CHƯƠNG 2 NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI

BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 2.1 Những vấn đề lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội buôn lậu

2.1.1 Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tội buôn lậu

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng đã xác định quan hệ nhân quả là một dạng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, trong đó một sự vật, hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm phát sinh một sự vật, hiện tượng khác được gọi là kết quả; cũng như những tội phạm khác, tội buôn lậu tồn tại là hậu quả của những nguyên nhân nhất định; những nguyên nhân đó gắn liền với những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nhất định; nguyên nhân và điều kiện là hai khái niệm khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng, chuyển hóa lẫn nhau Một hiện tượng trong hoàn cảnh này là nguyên nhân phát sinh, nhưng trong hoàn cảnh khác là điều kiện thúc đẩy hành

vi phạm tội; vì vậy, việc phân chia các hiện tượng làm phát sinh và thúc đẩy tội buôn lậu thành nguyên nhân và điều kiện hoàn toàn mang tính chất tương đối

Tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng dù ở mức độ nào cũng phải bị coi là một hiện tượng xã hội tiêu cực; vì vậy, muốn xác định, làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cần tìm hiểu nó từ trong các quá trình hoạt động xã hội và không chỉ trong quá trình hoạt động tiêu cực mà cả trong mặt trái của quá trình tích cực

2.1.2 Phân loại nguyên nhân và điều kiện tội buôn lậu

a Nguyên nhân và điều kiện mang tính xã hội

- Dân cư phân bố không đều, mật độ dân cư ở một số vùng còn thưa

thớt; đa số dân cư ở đây là dân từ nhiều nơi khác đến cư trú làm ăn, sinh sống trong đó có gần 50.000 người không có hộ khẩu thường trú, đời sống nhân dân còn đang gặp nhiều khó khăn

Trang 32

- Phương pháp giáo dục trong gia đình chưa đúng mực: Một số gia đình chưa có phương pháp giáo dục con cái chưa phù hợp, đúng đắn

- Gia đình có cấu trúc không bền vững, không hoàn hảo: Những gia đình có hoàn cảnh mồ côi bố hoặc mẹ, bố mẹ li dị, không có người chăm sóc dạy dỗ con cái, thiếu tình cảm, thiếu thốn về kinh tế nên dễ bị ảnh hưởng của những hiện tượng tiêu cực và phạm pháp Số người phạm tội thuộc gia đình

có cấu trúc như trên chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các vụ án buôn lậu

- Gia đình có khó khăn về kinh tế

-Chất lượng công tác quản lý giáo dục trong các trường học chất lượng giáo dục chưa cao, ở khu vực biên giới thì công tác quản lý trong lĩnh vực này

-Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ xã hội, nhất là quan hệ phân phối sản phẩm có nhiều thay đổi; đồng tiền đóng vai trò đáng kể trong quanhệ xã hội; một bộ phận dân cư không có việc làm hoặc việc làm không ổn định;xóa bỏ bao cấp, xã hội đặt mỗi con người vào vị trí phải tự khẳng định mình, phải lo cho cuộc sống của chính mình Từ đó, nhiều biểu hiện tiêu cực nảy sinh, các giá trị đạo đức, chuẩn mực truyền thống bị phá vỡ, tính chất cạnh tranh gay gắt đã làm xuất hiện sự đua chen, đố kỵ, sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, sự phân cực giàu nghèo cũng trở nên gay gắt [29, tr23]

Trong phòng, chống tội buôn lậu trên tuyến biên giới, nhìn chung ý thức pháp luật của công dân chưa cao; một bộ phận không nhỏ người dân nơi đây nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng chống tội phạm, nhiều người có thái độ bàng quang với các quy định của pháp luật

b Nguyên nhân và điều kiện mang tính pháp lý hình sự

Nhà nước ta để phòng chống buôn lậu có hiệu quả đã điều chỉnh điều

153 của bộ luật hình sự 1999( sửa đổi bổ sung 2009) về tội buôn lậu thành điều 188 bộ luật hình sự 2015 về tội buôn lậu là nâng mức phạt tiền

Trang 33

2.2 Các nguyên nhân và điều kiện tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

2.2.1 Nguyên nhân, điều kiện về kinh tế - xã hội:

- Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự phát triển đáng kể, hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa diễn ra đa dạng, đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm có chất lượng, từng bước đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam Tuy nhiên, do điều kiện quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán, năng suất lao động thấp, nên hàng hóa trong nước sản xuất ra chưa có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Các tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã chưa đảm bảo, nhiều sản phẩm làm ra không được thị trường chấp nhận Bên cạnh đó có một số mặt hàng trong nước chưa sản xuất hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng

Trong khi đó, hàng hóa của nước ngoài, cụ thể là một số nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan … đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt, mẫu mã hơn hẳn mà giá cả thì rẻ hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước Đương nhiên người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng ưa chuộng các loại hàng hóa đó hơn Trong nền kinh tế thị trường, có cầu thì có cung, hàng hóa ngoại

đã và đang xâm nhập vào thị trường nội địa ngày càng nhiều và là đối tượng cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa sản xuất trong nước Do hàng rào thuế quan nên hàng nhập chính ngạch có giá thành cao, trong khi hàng nhập lậu giá thành thấp, do vậy tệ nạn buôn bán trái phép hàng hóa qua biên giới trở nên phổ biến trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cũng xuất phát từ thực trạng chung đó

- Đời sống người dân khu vực biên giới đa số là dân nghèo, không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, đời sống vật chất còn thấp, mức thu nhập không cao chủ yếu là làm nương rẫy, làm nông nghiệp theo thời

vụ, trình độ dân trí đa số là thấp, thời gian nhàn rỗi nhiều

Trang 34

- Do khó khăn về mặt kinh tế nhất là người dân tộc trình độ hiểu biết về pháp luật thấp dễ dẫn đến tình trạng bị đầu lậu lợi dụng lôi kéo vào hoạt động buôn lậu

2.2.2 Nguyên nhân, điều kiện về việc làm và các chính sách xã hội

- Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, có nhiều đồng bào dân tộc, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn Bởi vậy, một bộ phận dân cư đã chuyển sang buôn lậu hoặc vận chuyển hàng lậu thuê cho các cửa hàng Bên cạnh đó, các chính sách xã hội đối với nhân dân vùng biên giới nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức Chương trình hỗ trợ cải thiện nhà ở, việc làm cho hộ nghèo giai đoạn 2011 – 2015, song kết quả chưa khả quan Các chính sách về chăm sóc sức khỏe, giáo dục không được triển khai một cách thường xuyên

và cụ thể Đời sống nhân dân vùng biên giới nói chung vẫn còn rất khó khăn

và lạc hậu Họ không có ý thức rõ ràng về vấn đề chủ quyền quốc gia, vấn đề dân tộc … và dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào việc thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật trong đó là tham gia buôn lậu hoặc chứa chấp, vận chuyển hàng lậu

2.2.3 Nguyên nhân và điều kiện về văn hóa, giáo dục

Do nhận thức của người dân về hậu quả, tác hại của buôn lậu và tội phạm buôn lậu chưa đúng đắn và đầy đủ Không ít quần chúng nhân dân còn nhận thức rằng việc mang vác hàng lậu không phải là một điều xấu cần loại

bỏ và việc làm đó được trả công như bất kỳ một công việc bình thường khác , cho nên họ đã đồng tình với buôn lậu, có thái độ chống đối hoạt động chống buôn lậu của Hải quan cũng như các ngành chức năng khác Sở dĩ có sự nhận thức đó là do trình độ dân trí và điều kiện kinh tế của người dân ở các xã biên giới còn rất thấp nên ý thức đấu tranh chống buôn lậu của họ không cao, thậm chí có những hành động tiếp tay cho bọn buôn lậu

Công tác tuyên truyền, giáo dục về tác hại của tệ buôn lậu của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các đoàn thể ở các địa phương thời gian qua

Trang 35

chưa được chú trọng Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cũng chưa khơi dậy được phong trào quần chúng tham gia đấu tranh chống buôn lậu, ngăn cản những hành vi chống đối người thi hành công vụ, chưa chỉ ra tác hại của tệ nạn buôn lậu, phương thức, thủ đoạn phạm tội của bọn chúng cho nên không ít quần chúng nhân dân còn mơ hồ, mất cảnh giác, thậm chí tiếp tay cho bọn buôn lậu Vì vậy đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng chống buôn lậu sẽ có tác dụng thiết thực nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân nói chung và ý thức tham gia dấu tranh phòng chống buôn lậu nói riêng Nguyên nhân về nhận thức nói trên ít nhiều đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc tổ chức cuộc đấu tranh chống buôn lậu Đây là vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới

2.2.4 Nguyên nhân và điều kiện về cơ chế quản lý Nhà nước

Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm buôn lậu nói riêng không thể đạt được hiệu quả nếu không có sự đảm bảo của pháp luật Bởi vì pháp luật là công cụ, là phương tiện để nhà nước tổ chức quản lý đời sống xã hội trong đó có quản lý kinh tế Trừ khi hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác chống buôn lậu như Nghị quyết số 85/CP ngày 11/07/1997 của Chính phủ đề ra một số giải pháp cấp bách về chống buôn lậu; Chỉ thị số 853/CT-TTg ngày 11/10/1997 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống buôn lậu trong tình hình mới; Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg ngày 27/08/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại; Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19/03/2014 của Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thay thế Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg ngày 27/08/2001 Theo tác giả, tỉnh Lạng Sơn không chỉ là địa bàn tiêu thụ hàng lậu mà còn là

Trang 36

địa bàn trung chuyển hàng lậu về Thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình buôn lậu là việc lợi dụng cơ chế chính sách, các quy định của pháp luật có kẻ hở để đối tượng buôn lậu lợi dụng, cụ thể là:

Một là, theo quy định tại điều 153 Bộ luật Hình sự 1999 đã được sửa

đổi bổ sung năm 2009 quy định nếu trị giá hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ kim khí quý, đá quý,… có giá trị dưới 100 triệu đồng hoặc một số hàng hóa là hàng cấm quy định định lượng như thuốc lá điếu 1.500 bao (Nghị định số 76/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 11 Nghị định số 06/2009/NĐ-CP ngày 22/01/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá; (Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh

và kinh doanh có điều kiện) nhưng đã bị xử phạt hành chính về các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới cũng được coi

là vi phạm pháp luật hình sự Chính vì vậy, bọn buôn lậu thường chẽ nhỏ hàng hóa dưới định mức quy định hoặc vận chuyên trên mức quy định khi phát hiện họ thường bỏ chạy, khi phát hiện lực lượng chuyên trách chống buôn lậu mỏng họ huy động số đông người dân cướp lại hàng lậu mà họ buôn qua biên giới gây khó khăn cho lực lượng chống buôn lậu

Hai là, Quyết định 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng

Chính phủ quyết định về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới và Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đây là chính sách mở mà Chính phủ tạo điều kiện cho cư dân biên giới được sang trao đổi, mua bán với nhau (hàng hóa mua, bán, trao đổi cư dân

Trang 37

biên giới phù hợp danh mục hàng hóa do Bộ Công thương ban hành từng thời

kỳ trước đây Thông tư số 10/2010/TT-BCT ngày 29/03/2012 của Bộ Công thương quy định danh mục hàng hóa được sản xuất từ nước có chung biên giới nhập khẩu vào nước Việt Nam dưới hình thức mua, bán, trao đổi cư dân biên giới quy định hàng hóa các nước biên giới nhập khẩu vào nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới hình thức mua bán, trao đổi cư dân biên giới) trị giá đến 2.000.000 đồng/1 người/1 ngày/1 lượt không phải nộp thuế Quyết định này được cho là chính sách đúng đắn thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với đời sống của người dân khu vực biên giới Khi áp dụng lại đang bộc lộ những kẻ hở, gây tác hại nhiều hơn sự hưởng lợi, đó là chính sách đang

bị đối tượng buôn lậu lợi dụng, còn cư dân biên giới sinh sống khu vực cửa khẩu sống bằng nghệ bán tiêu chuẩn miễn thuế ngày một nhiều gây mất trật tự khu vực của khẩu biên giới, ngoài ra đối tượng buôn lậu lợi dụng vận chuyển hàng lậu một cách công khai mà khó có cách để xử lý, gây thất thu cho ngân sách nhà nước, làm cho hàng lậu có thêm lối tràn vào thị trường Việt Nam

Ba là, Nghị định số 66/2002/NĐ-CP ngày 01/07/2002 của Chính phủ

quy định về định mức hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và quà biếu, tặng nhập khẩu được miễn thuế phục vụ mục đích chuyến du lịch, nhu cầu thiết yếu của các nhân mình được mua hàng miễn thuế đến 5.000.000 đồng/1 người/ 1 lần

và một số hàng hóa định lượng như thuốc lá điếu, xì gà, rượu, chè, càphê,… Tuy nghiên, do đặc thù có cửa khẩu quốc tế đường bộ và gần Thành phố Hà Nội đô thị lớn (cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị cách Thành phố Hà Nội khoảng 171km về phía Đông Bắc) đây cũng là quy định được các đối tượng buôn lậu lợi dụng vận chuyển hàng lậu vào Việt Nam thành hàng hóa hợp pháp

Ví dụ: Theo báo cáo của UBND xã Tân Thanh cho biết, toàn xã biên giới này có 567 hộ (2.169 khẩu) là có hộ khẩu thường trú Thế nhưng, có thời

kỳ có tới trên 1.300 hộ (trên 3.400 khẩu) ở khắp mọi miền đến Tân Thanh

Ngày đăng: 07/11/2017, 11:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Đại học quốc gia Hà nội , Giáo trình tội phạm học, Nxb ĐHQGHN (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN (1999)
16. Đại học Huế ,Giáo trình tội phạm học, Trung tâm đào tạo từxa, Nxb. Giáo dục (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Nhà XB: Nxb. Giáo dục (1999)
17. Đại học Luật Hà Nội ,Giáo trình tội phạm học , Nxb. Công an nhân dân, Hànội (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
25. Hội đồng Nhà nước (1982) “Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,kinh doanh trái phép” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) “Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,kinh doanh trái phép
29. Đinh Văn Quế (2003), “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập VI –Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Bình luận chuyên sâu)”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập VI –Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Bình luận chuyên sâu)”
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
30. Tội phạm học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà nội (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị Quốc gia
36. Tiến sĩ Phạm Văn Tỉnh , “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam
41. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội giai đoạn (2011- 2015) của UBND tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội giai đoạn (2011- 2015) của UBND tỉnh
42. Viện sử học Việt Nam (1991), “Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê)”, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quốc triều hình luật (Luật hình triều Lê)”
Tác giả: Viện sử học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1991
44. Nông Lan Phương , “ Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2001-2020: Thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2001-2020: Thực trạng và giải pháp
46. Võ Khánh Vinh (2008), “Giáo trình Tội phạm học”, nhà xuất bản Công An nhân dân, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Tội phạm học”
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: nhà xuất bản Công An nhân dân
Năm: 2008
47. GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, Tộiphạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà nội(2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tộiphạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
1. Vũ Ngọc Anh ( 1996 ), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Hải Quan Khác
2. Ban chỉ đạo chương trình quốc gia phòng chống tội phạm , Đề án II “ Xây dựng và phòng, chống tội phạm , tăng cường tuyên truyền pháp luật và trách nhiệm công dân về bảo vệ an ninh trật tự Khác
3. Ban chỉ đạo chương trình quốc gia phòng chống tội phạm , Đề án III “ Đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức , tội phạm hình sự nguy hiểm , tội phạm có tính quốc tế Khác
4. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng – Tổng cục Hải quan , quy chế số 855 /KH-CCK-CĐTCBL ngày 04/11/2011 về phối hợp hoạt động giữa Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng và tổng cục Hải quan Khác
5. Nguyễn Đức Bình ( 2000 ) , Đấu tranh phòng chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới , Luận án Tiến sĩ , Trường Đại học luật Hà Nội Khác
6. Báo điện tử nhân dân , ngăn chặn tình trạng buôn lậu trên tuyến biên giới Lạng Sơn Khác
7. Bộ luật tố tụng hình sự( 2003), Nxb Lao động, Hà Nội Khác
9. Bộ luật tố tụng hình sự( 2015); 10. Bộ luật hình sự (2015) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm