Nghiên cứu đã chỉ rõ được điểm mạnh và điểm yếu, các phương pháp cạnh tranh từ đó đề ra các giải pháp và chiến lược hiệu quả phục vụ cho định hướng đến năm 2020 của doanh nghiệp; Hoàng T
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LÊ THỊ THANH HIẾU
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ TRÀNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LÊ THỊ THANH HIẾU
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ TRÀNG AN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Việc
sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 12
1.1 Lý luận về năng lực cạnh tranh 12
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 20
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ TRÀNG AN GIAI ĐOẠN 2011-2016 38
2.1 Khái quát về Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An 38
2.2 Tình hình năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An giai đoạn 2011 - 2016 40
2.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Sản xuất và dịch vụ Tràng An 45
2.4 Những vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh và nguyên nhân 58
2.5 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Sản xuất và dịch vụ Tràng An 60
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ TRÀNG AN GIAI ĐOẠN 2017-2022 65
3.1 Bối cảnh và dự báo về nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An 65
3.2 Một số nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực giặt là 66
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 54 SWOT Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu),
Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)
5 SX & DV Sản xuất và dịch vụ
6 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 6DANH MỤC BẢNG
3 Bảng 1.3 Mô hình vị trí chiến lược của doanh nghiệp 34
4 Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng của doanh thu của công ty từ
6 Bảng 2.3 Thị phần của công ty cổ phần SX&DV Tràng An 42
8 Bảng 2.5 Tỷ lệ marketing trên tổng doanh thu 44
10 Bảng 2.7 Giá sản phẩm dịch vụ năm 2016 của CTCP
SX&DV Tràng An, CTCP Dịch vụ giặt là Cleantech, CTCP Dịch vụ giặt là Greentech
46
11 Bảng 2.8 So sánh đại lý của CTCP SX&DV Tràng An với
CTCP Dịch vụ giặt là công nghệ xanh (Greentech)
49
12 Bảng 2.9 Các yếu tố môi trường nội bộ công ty (IFE) 51
13 Bảng 2.10 Các yếu tố môi trường bên ngoài (EFE) 53
14 Bảng 2.11 Biểu diễn vị trí chiến lược của công ty trên ma trận
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 0.1 Khung lý thuyết mô hình nghiên cứu 10
2 Sơ đồ 1.1 Mô hình biểu diễn khả năng cạnh tranh của
5 Sơ đồ 2.2 Biểu diễn khả năng cạnh tranh của công ty 52
6 Sơ đồ 2.3 Biểu diễn môi trường bên ngoài của công ty 54
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và yếu tố kích thích phát triển kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt Kết quả cạnh tranh
là loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của những doanh nghiệp làm ăn tốt Do vậy muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Các doanh nghiệp cần phải tìm ra biện pháp đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng trên cơ sở sản xuất và kinh doanh những sản phẩm có chất lượng cao, nhiều công dụng với giá cả phải phù hợp Chiến lược kinh doanh của công ty là yếu tố không thể thiếu, chỉ ra phương hướng cho mỗi hoạt động, của mỗi một công ty/doanh nghiệp, và mỗi doanh nghiệp thường có một chiến lược kinh doanh mang màu sắc riêng biệt
Công ty cổ phần sản xuất & dịch vụ (CTCP SX&DV) Tràng An trở thành công ty cổ phần từ năm 2006, tiền thân là công ty tư nhân Tràng An với
25 năm kinh nghiệm, là một trong những công ty có uy tín lâu năm trong lĩnh vực giặt là và cung cấp các sản phẩm, thiết bị giặt là Công ty đã đạt nhiều thành tựu trong quá trình hình thành và phát triển, với chất lượng dịch vụ hàng đầu Dịch vụ giặt là của CTCP SX&DV Tràng An đã và đang được nhiều khách sạn lớn, nhỏ ở Hà Nội, như Metro Cash&Carry, Sofitel Plaza, Somerset Grand, Canon Vietnam, Panasonic Vietnam, Fraser Suites, Jana Garden tin tưởng lựa chọn và hợp tác Bên cạnh đó với ưu thế về kỹ thuật
và trang thiết bị, CTCP SX&DV Tràng An còn được cung cấp thiết bị giặt là công nghiệp cho rất nhiều những cơ sở nghỉ dưỡng, khách sạn, bệnh viện
Trang 9cũng như các cơ sở giặt là khác trên địa bàn Hà Nội cũng như các tỉnh thành khác trên cả nước
Tuy nhiên, thị trường luôn vận động và gia tăng cạnh tranh, giá cả hàng hóa đầu vào ngày một leo thang, ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí và do đó đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong và ngoài nước Trên thị trường dịch vụ giặt là, ngày càng xuất hiện nhiều những doanh nghiệp cạnh tranh, chuyên cung cấp các thiết bị giặt là tại địa bàn Hà Nội cũng như tại các tỉnh thành khác trong cả nước Có thể kể đến các đối thủ cạnh tranh như: Công
ty TNHH Dịch vụ Tân Phát, Công ty TNHH UHC Việt Nam, Công ty thiết bị gia đình Hà Nội Trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng, yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển đối với CTCP SX&DV Tràng An trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Không thể phủ nhận những nỗ lực của bản thân doanh nghiệp trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, những nỗ lực tự thân doanh nghiệp sẽ là không đủ Một môi trường kinh doanh thuận lợi, với các chính sách quản lý dễ dự báo… là những điều kiện quan trọng khác cần được chú ý
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An” nhằm nghiên cứu, đánh giá những vấn
đề trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là những vấn đề đòi hỏi
sự tháo gỡ chính sách từ phía nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng
và được coi là động lực của sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Kết quả của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại và phát triển còn doanh nghiệp nào sẽ bị phá
Trang 10sản và giải thể Do đó, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
đã trở thành một nội dung quan trọng và nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Nghiên cứu tập trung vào năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
cụ thể có những đại diện như:
Nguyễn Đình Luận “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc tập đoàn Apple Tree tại Việt Nam đến năm 2020” Tác giả dựa trên cơ sở
lý luận để phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu đã chỉ rõ được điểm mạnh và điểm yếu, các phương pháp cạnh tranh từ đó đề ra các giải pháp và chiến lược hiệu quả phục vụ cho định hướng đến năm 2020 của doanh nghiệp; Hoàng Thị Thanh Hằng (2011) nghiên cứu các vấn đề nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty thương mại Hà Nội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;… [9]
Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong cùng một ngành hay năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm có các đại diện như:
- Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội (2003) nghiên cứu các giải pháp chính sách nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm tiêu biểu ở các ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế Các tác giả tập trung nghiên cứu trong thời kỳ đến năm 2010 Nghiên cứu đó
đã tập trung đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của 20 nhóm sản phẩm tiêu biểu thuộc các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trên địa bàn Hà Nội; rút ra những điểm mạnh, yếu, làm rõ nguyên nhân hạn chế năng lực cạnh tranh của các sản phẩm này Kết quả nghiên cứu đề xuất một số chính sách và giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của các nhóm sản phẩm trên của Hà Nội, tạo điều kiện cho các nhóm sản phẩm đó cạnh tranh thắng lợi trong quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế thời kỳ đến năm 2010 Dự báo, định
Trang 11hướng phát triển các nhóm sản phẩm tiêu biểu của Hà Nội thời kỳ đến năm
2010
Viện quản lý Kinh tế Trung ương (2011) nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong 3 ngành may mặc, thủy sản, điện tử Kết quả nghiên cứu đã (a) tổng quan hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; (b) trình bày một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu; (c) phân tích tổng quan các doanh nghiệp xuất khẩu trong
ba ngành lựa chọn, gồm may mặc, thủy sản và điện tử; (d) phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu qua kết quả điều tra doanh nghiệp xuất khẩu và (e) cuối cùng là đề xuất một số kiến nghị như để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu, trước mắt, cần tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp như giải quyết khó khăn về vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu, đơn giản hóa thủ tục thuế
và hải quan, bởi có tới 72% doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cho biết cần giải quyết khó khăn về mặt bằng sản xuất, 71% doanh nghiệp muốn được hỗ trợ đào tạo nguồn lao động [22]
Phạm Thu Hương và cộng sự (2006) nghiên cứu chiến lược và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, sau khi dỡ bỏ hệ thống hạn ngạch dệt may - cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu; Đỗ Thị Loan (2008) nghiên cứu về đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (Global value chain - GVC) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Các doanh nghiệp dệt may mong muốn trong chính sách
vĩ mô của Nhà nước tiếp tục có những tính toán, cân đối phù hợp giữa tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam với đồng tiền của các quốc gia để không bị yếu thế trong xuất khẩu Độ trễ của thị trường xuất khẩu có thể kéo dài từ sáu tháng đến một năm và trong khoảng thời gian này nếu Việt Nam không phản ứng kịp thời thì khách hàng có thể thay đổi nguồn cung cấp và hệ quả tất yếu
Trang 12là doanh nghiệp xuất khẩu sẽ gặp những khó khăn trong dài hạn Tiếp đến, cần có chính sách hỗ trợ về tài chính, với lãi suất phù hợp, đồng thời cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, loại bỏ và điều chỉnh những khoản phí, lệ phí phù hợp với thực tế; nâng cấp cơ sở hạ tầng, thời gian thông quan, nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển
Trần Ngọc Hưng (2003) nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực
cà phê Việt Nam; Hoàn Thị Hoan (2004) nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực điện tử Việt Nam; Phạm Văn Công (2009) nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Xăng dầu; Đinh Thị Nga (2011) nghiên cứu chính sách đánh giá để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập;
Trần Thị Anh Thư (2012) tập trung nghiên cứu lĩnh vực bưu chính viễn thông Việt Nam; Nguyễn Tiến Triển (2010) đề xuất một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xây dựng
Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung hay của nền kinh tế có:
- Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Tổng cục Thống
kê và Nhóm Nghiên cứu kinh tế phát triển (DERG) (năm 2013) đã nghiên cứu năng lực cạnh tranh và công nghệ của các doanh nghiệp tại Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra năm 2013 Báo cáo cung cấp nguồn số liệu giúp cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về thực trạng công nghệ, năng suất và lợi nhuận của khu vực kinh tế tư nhân đang lớn mạnh dần ở Việt Nam [21]
- Trần Văn Tùng (2004) trong cuốn “Cạnh tranh kinh tế, lợi thế cạnh tranh quốc gia và chiến lược cạnh tranh công ty” đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong kinh tế, phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia và đề xuất chiến lược cạnh
Trang 13tranh cho các công ty giai đoạn Việt Nam đang dần hội nhập kinh tế thế giới [19]
- Vũ Trọng Lâm (2006) bàn về nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Ở công trình này tác giả đã
hệ thống hóa một số quan niệm về sức cạnh tranh của công ty, phân tích kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao sức cạnh tranh của công ty; phân tích thực trạng cạnh tranh và môi trường pháp lý của cạnh tranh ở Việt Nam [7];
- Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Nxb Lao động
xã hội, Hà Nội; Dương Ngọc Dũng (2006), “Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết Michael E Porter”, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh; Trần Sửu (2006), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập”, NXB lao động….là những công trình đã làm rõ một số lý luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế, trình bày kinh nghiệp quốc tế
và trong nước về nâng cao năng lực trạnh cho doanh nghiệp và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp qua đó đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam [15]
Các nghiên cứu trên đã đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp hoặc của nhóm doanh nghiệp trong một ngành hoặc tổng thể khu vực doanh nghiệp Trên cơ sở các vấn đề được phát hiện, các tác giả đã
đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số ngành, lĩnh vực như: cà phê, điện tử, xăng dầu, bưu chính viễn thông
Tóm lại, với cùng một mục tiêu là nâng cao năng lực cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp sẽ có một chiến lược riêng của công ty mình Trong các nghiên cứu trên, vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh đã được đề cập cho một số ngành nghề, của một số công ty, địa phương và quốc gia nhưng
Trang 14chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An Tôi đã chú trọng kế thừa và chọn lọc những ý tưởng liên quan đến
đề tài để phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An và tìm một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An trong giai đoạn tới Đây sẽ là nội dung trọng tâm mà nghiên cứu này mong muốn bổ sung vào các phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh ở Việt Nam chung và doanh nghiệp nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Vận dụng lý luận năng lực cạnh tranh, phân tích, đánh giá thực trạng
năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An; Xác định các vấn đề và đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Tràng An nói riêng và các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ như của Tràng An nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn
đề sau:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu với đối tượng và phạm vi như trên, tác giả sử dụng các phương pháp:
Phương pháp luận:
Câu hỏi nghiên cứu:
- Các nhân tố bên trong ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
- Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
- Các nhà quản trị Công ty phải làm gì để nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trong thời gian tới?
- Nhà nước cần tháo gỡ các chính sách gì để các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ giặt là có thể nâng cao năng lực cạnh tranh?
Giả thuyết nghiên cứu:
Các chính sách quản lý nhà nước về thuế, lãi suất ngân hàng đã và đang hạn chế năng lực cạnh tranh của CTCP SX & DV Tràng An (trong lĩnh vực dịch vụ giặt là); và việc tháo gỡ chính sách này sẽ giúp công ty có những giải pháp tự nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Phương pháp nghiên cứu:
Trang 16Tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm hệ thống hóa các cơ sở lý luận va thực tiễn thông qua các tài liệu khoa học có liên quan
Ngoài ra tác giả lựa chọn sử dụng Ma trận chiến lược của Mc Kinsey để phân tích và đánh giá sâu hơn thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An:
- Giống như ma trận SWOT, Ma trận lựa chọn chiến lược của Mc Kinsey xác định ma trận IFE (ma trận các yếu tố bên trong), ma trận EFE (ma trận các yếu tố bên ngoài) tuy nhiên ưu điểm của mô hình này là trên cơ sở kết hợp 2 ma trận bên trong và bên ngoài để lượng hóa được các yếu tố ảnh hưởng, xác định trọng số (tầm quan trọng của từng yếu tố) từ đó định vị được năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An trong thị trường giặt là và nhờ đó có giải pháp phù hợp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cho giai đoạn tới
+ Vận dụng mô hình ma trận IFE là ma trận dùng để đánh giá các yếu tố môi trường bên trong và ma trận EFE là ma trận dùng để đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài
Mô hình ma trận lựa chọn chiến lược Mc Kinsey để xác định mức độ cạnh tranh của Công ty trong ngành
Trang 17Sơ đồ 0.1 Khung l thuyết m hình nghiên cứu
Nguồn số liệu:
Để giải quyết được vấn đề, học viên sẽ sử dụng các số liệu thứ cấp và sơ cấp bao gồm các số liệu thống kê về tình hình hoạt động của doanh nghiệp và của ngành
6 Ý nghĩa l luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề như:
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần bổ sung thêm một số bằng chứng
khoa học ủng hộ lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Ma trận bên trong IFE
- Mạng lưới phân phối
- Công nghệ
- Khả năng huy động tài chính
- Có uy tín và quan hệ rộng rãi với
Ma trận bên ngoài EFE
- Pháp luật và thông lệ quốc tế
- Chính trị, pháp luật trong nước
- Khoa học kỹ thuật, công nghệ
- Nhân tố văn hóa
- Nhân tố tự nhiên
- Đối thủ cạnh tranh hiện tại
- Đối thủ mới gia nhập thị trường
- Các loại sản phẩm thay thế
- Nhà cung cấp các yếu tố đầu vào
- Thị trường chưa khai thác hết
- Sự điều chỉnh lãi suất của ngân
hàng thương mại
Ma trận lựa chọn chiến lược (Mc.Kinsey)
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Giá cả
- Chất lượng sản phẩm
- Các dịch vụ kèm theo
và yếu tố thời gian
(Nhóm biến phụ thuộc) (Nhóm biến độc lập)
Trang 18- Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần làm rõ phương pháp - vận dụng lý
thuyết năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An và xác định các vấn đề cần giải quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh
- Về mặt giải pháp: Luận văn bổ sung vào hệ thống giải pháp giúp Công
ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An nâng cao năng lực cạnh tranh
- Về ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp có
nhu cầu tự đánh giá năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt danh mục tài liệu tham khảo Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất
và dịch vụ Tràng An giai đoạn 2011 - 2016
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần sản xuất và dịch vụ Tràng An giai đoạn 2017- 2022
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 L luận về năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì “năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì một cách tốt nhất mức lợi nhuận cao và thị phần lớn trong các thị trường trong và ngoài nước Hiệu quả của các biện phấp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên mức chi phí thấp, chi phí sản xuất thấp là điệu kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh” [25, tr.38]
Còn theo tác giả Nguyễn Văn Thanh (2003) thì “năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm
nảy sinh các thị trường mới” [14, tr.26]
Tác giả Michael Porter thì cho rằng “năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận” [3, tr.36]
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp và chúng được so sánh với các đối thủ khác trên cùng một sản phẩm, lĩnh vực và thị trường việc phân tích nội lực của công ty để nhận ra được những điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp từ đó nó sẽ được đánh giá thông qua việc so sánh với các đối thủ cạnh tranh Việc đánh giá này là cơ sở để giúp cho doanh nghiệp tạo ra được những lợi thế của mình và nhờ những lợi thế này để có thể mở rộng thị phần, đáp ứng
Trang 20tốt nhất sự thỏa mãn của khách hàng và thu hút được khách hàng mới từ đối thủ cạnh tranh
Ngoài ra việc khai thác các yếu tố tác động bên ngoài để tận dụng các cơ hội cũng như hạn chế được các nguy cơ cũng giúp nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Tóm lại theo những khái niệm và nhận định trên thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tận dụng những nội lực bên trong cũng như khai thác những thuận lợi của môi trường bên ngoài của doanh nghiệp để tạo
ra lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường trong và ngoài nước
1.1.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được chia làm bốn cấp độ: năng lực cạnh tranh cấp
độ quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp độ ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước Năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh quốc gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên không đề cập đến
* Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
Trong một báo cáo năng lực cạnh tranh quốc gia của viện quản lý kinh tế Trung Ương (2013) đã nêu ra ”Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa
là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định về kinh tế, nâng cao đời sống của người dân” [21] Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các
Trang 21nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn với việc thúc đẩy quá trình đầu tư, tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Mặt khác, môi trường cạnh tranh thuận lợi sẽ tạo khả năng cho chính phủ hoạch định chính sách phát triển, cải thiện đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế, và hội nhập ngày càng có hiệu quả, sẽ ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài những yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý kinh tế…còn có tám yếu tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia: Độ mở cửa kinh tế, vai trò của chính phủ-vai trò và mức độ can thiệp của Nhà nước vào hoạt động cạnh tranh, tài chính ngân hàng, công nghệ-mức độ đầu tư cho nghiên cứu triển khai (R&D), trình độ công nghệ và tích lũy kiến thức công nghệ, cơ sở hạ tầng, hệ thống quản lý, chất lượng quản lý nói chung, lao động-số lượng và chất lượng lao động, hiệu lực và tính linh hoạt của thị trường lao động, thể chế, hiệu lực của pháp luật và thể chế đặt nền móng cho nền kinh tế hiện đại mang tính cạnh tranh, bao gồm quy định của luật pháp và quyền sở hữu
* Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa
Một sản phẩm hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng loại Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Năng lực cạnh tranh của hàng hóa có được do năng lực cạnh tranh của chủ thể tạo ra, nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hóa mà có, mà còn phụ
Trang 22thuộc vào nhiều yếu tố khác Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa có ảnh hưởng lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ngành thường được phân tích theo ba quan điểm chính Khung khổ phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược chính là việc nhìn nhận những ưu thế về cấu trúc doanh nghiêp ngành Quan điểm này cũng đòi hỏi phải tính tới các nguồn lực có tính riêng biệt cũng như các ý tưởng quản trị mới gắn liền với sự phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin và thương mại điện tử Quan điểm tân cổ điển là tiền đề cho những phân tích dựa trên lợi thế so sánh, chi phí và các nhân tố, đặc biệt
là các nhân tố chính sách có thể làm chệch hướng việc phân bổ các nguồn lực Quan điểm tổng hợp cố gắng thể hiện cả những phân tích định tính và định lượng và cả những quan sát tĩnh và động để tạo ra mộ khung khổ đánh giá hoàn chỉnh năng lực cạnh tranh doanh nghiêp/ngành
Theo Van Duren, Martin và Westgren (1991), năng lực cạnh tranh của một ngành doanh nghiệp là năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước Định nghĩa này được xem là nhất quán với mục tiêu kinh doanh, đồng thời phù hợp với các mục tiêu của chính sách kinh
tế và chính sách thương mại của chính phủ [25, tr.21]
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp/ngành là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp nhờ vào đó có thể tự duy trì vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh cũng như đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành thể hiện ở bốn yếu tố chính: giá cả, chất lượng sản phẩm, các dịch vụ kèm theo và yếu tố thời gian Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải tìm ra các phương án tối
ưu để giảm chi phí, hạ thấp giá thành, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Trang 23để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt mạng lưới bán hàng và biết chọn thời điểm bán hàng hợp lý nhằm thu hút khách hàng và mở rộng thị trường
1.1.3 Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong ba quy luật chi phối cơ chế thị trường Nguồn gốc của cạnh tranh là sự tự phát triển trong kinh doanh về quy mô hoạt động, thành phần tham gia cũng như các sản phẩm tạo thành Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường có thể ví như cuộc chạy đua không có đích, bất kỳ doanh nghiệp nào mà xác định cho mình một cái đích trong cuộc chạy đua này thì sẽ tạo thành nhịp cầu cho các doanh nghiệp khác chạy qua Tuy nhiên, cạnh tranh lại là cuộc chạy đua trên hai trận tuyến Đó là cạnh tranh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và cạnh tranh giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng Chính vì lý do này mà cạnh tranh giúp cho giá cả của hàng hóa dịch vụ có xu hướng giảm xuống, trong khi đó, chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng được nâng cao phù hợp với mong muốn người tiêu dùng
Đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nhờ có cạnh tranh
mà các doanh nghiệp này đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh vực, từ việc giảm thiểu chi phí cho đến thực hiện các mục tiêu chung Chính điều này đã là động lực giúp các doanh nghiệp vươn lên trong quá trình tồn tại Hơn nữa, cạnh tranh còn là công cụ giúp các doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh doanh và cũng nhờ có cạnh tranh sẽ tạo cho doanh nghiệp những thách thức và cơ hội trong kinh doanh, để từ đó, giúp các doanh nghiệp khai thác mọi cơ hội và tránh được rủi ro
Ngoài ra, khi nền kinh tế thị trường xuất hiện cơ chế tự điều tiết vĩ mô, có
sự dịch chuyển cơ cấu ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện thực tế thì cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao, không đáp ứng được nhu cầu Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các doanh
Trang 24nghiệp làm ăn có hiệu quả tiếp tục phát triển đóng góp cho sự phát triển chung của nền kinh tế Từ đó, cạnh tranh sẽ tạo nên sự ràng buộc giữa các doanh nghiệp tạo ra một sức mạnh tổng thể cho sự phát triển qua việc phối hợp hài hòa các chức năng, nhiệm vụ giữa các doanh nghiệp khác nhau trong các ngành kinh tế
Nói tóm lại, một khi có nền kinh tế thị trường thì tất yếu sẽ tồn tại quy luật cạnh tranh, đó là quy luật góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên cạnh tranh là hai mặt của một vấn đề Một mặt, cạnh tranh là động lực phát triển với mỗi doanh nghiệp Mặt khác, cạnh tranh lại mang những đe dọa, nguy
cơ tiềm tàng sẵn sàng loại bỏ những thành phần tham gia nền kinh tế thị trường nếu như không kịp thời thích ứng với nó Hơn nữa, cạnh tranh không phải là sự hủy diệt mà là sự thay thế, thay thế những doanh nghiệp khác kinh doanh có hiệu quả hơn, đáp ứng được nhu cầu, thúc đẩy nền kinh tế mỗi quốc gia phát triển Nhận thức được vấn đề này, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trong thời kỳ đầu của nền kinh tế thị trường phải không ngừng tích lũy những kiến thức, sẵn sàng có những ứng xử cần thiết và thích hợp trước những hoàn cảnh khác nhau do cạnh tranh mang lại cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế và đất nước
1.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh
tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều Con người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà cũng cần “ăn ngon mặc đẹp” Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị
Trang 25trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:
* Tồn tại và đứng vững trên thị trường
Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi
để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay
* Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là một yếu tố kích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, hàng hóa sản xuất
ra nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏ những Công ty làm ăn kém hiệu quả; năng suất, chất lượng thấp và ngược lại thúc đẩy những Công ty làm ăn tốt; năng suất, chất lượng cao Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng Các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hóa có chất lượng cao, giá cả phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tượng khách hàng Có như vậy hàng hóa của doanh nghiệp bán ra mới ngày một nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng Muốn tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao
Trang 26Trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh luôn
là mục tiêu của mỗi doanh nghiệp Cũng trong nền kinh tế đó khách hàng là người tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những người quyết định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không Họ không phải tìm đến doanh nghiệp như trước đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi để mua hàng hóa dịch vụ, mà đổi ngược lại trong nền kinh tế thị trường khách hàng được coi là thượng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có những chương trình giới thiệu truyền bá và quảng cáo sản phẩm của mình để người tiêu dùng biết đến, để họ có sự xem xét, đánh giá và quyết định có nên tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay không? Ngày nay việc chào mời để khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình đó là vấn đề khó khăn nhưng việc giữ lại được khách hàng cũng khó khăn hơn rất nhiều Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có những dịch
vụ cả trước khi bán, trong khi bán và dịch vụ sau khi bán hàng hóa cho khách hàng để những khách hàng đó là những khách hàng truyền thống của doanh nghiệp, chính họ là những nhân tố quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
* Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có những mục tiêu nhất định Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau Trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là muốn khai thác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai đoạn này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt Cũng ở giai đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được coi là không cần thiết, để lợi nhuận thu
Trang 27được là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất Đến giai đoạn gần như bão hoà thì mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện trách nhiệm đối với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp Để đạt được các mục tiêu, doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càng tăng Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
1.2.1 Các nhân tố môi trường bên trong (Ma trận IFE)
1.2.1.1 Giá cả hàng hóa, dịch vụ
Giá cả của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan
hệ cung cầu Người bán và người mua thỏa thuận với nhau để tiến hành mức giá cuối cùng để đảm bảo về lợi ích của cả hai bên Giá cả được thể hiện như một thứ vũ khí để giành chiến thắng trong cạnh tranh thông qua việc định giá: Định giá thấp, định giá ngang bằng, hoặc định giá cao
Với mức giá ngang bằng mức giá thị trường doanh nghiệp có thể giữ vững được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được những biện pháp nhằm làm giảm giá thành Ngược lại, với mức giá thấp hơn mức giá thị trường thì sẽ thu hút nhiều khách hàng, làm tăng sản lượng tiêu thu, doanh nghiệp có cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường, tuy nhiên lợi nhuận có nguy cơ thâm hụt Mức giá mà doanh nghiệp áp dụng cao hơn mức giá thị trường nói chung
là không có lợi, nó chỉ sử dụng với các doanh nghiệp có tính độc quyền hoặc với các loại hàng hóa đặc biệt Khi đó, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch
Trang 281.2.1.2 Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm
Sản phẩm có thể vô hình hoặc hữu hình, là thứ mà mọi doanh nghiệp đều hướng đến, quyết định thành công của doanh nghiệp Tuy nhiên vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm ra và cung cấp sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, được thị trường chấp nhận, có khả năng tiêu thụ mạnh giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là phần lớn những doanh nghiệp đã thực hiện đa dạng hóa sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì, đồng thời tiếp tục duy trì các loại sản phẩm hiện đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng luôn nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Việc thực hiện đa dạng hóa sản phẩm của các doanh nghiệp không chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trường, thu nhiều lợi nhuận
mà còn có thể phân tán được rủi ro trong kinh doanh
Tuy nhiên, đi đôi với việc đa dạng hóa sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trên thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện chiến lược trọng tâm hóa vào một loại sản phẩm có tính chiến lược nhằm cung cấp cho một tập hợp khách hàng mục tiêu hoặc thị trường mục tiêu
1.2.1.3 Chất lượng hàng hóa dịch vụ
Nếu trước kia giá cả sản phẩm là yếu tố khá quan trọng thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Trên thực tế cạnh tranh bằng giá cả là một trong những giải pháp mang tính hạ sách, nó làm giảm lợi nhuận thu về Ngược lại, với một sản phẩm có chất lượng vượt trội với mức giá ngang bằng hoặc nhiều hơn thì khả năng sẽ thu hút khách hàng, tạo thêm năng lực cạnh tranh mới
Trang 29Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác định bằng các thông số có thể đo được hoặc so sánh được thỏa mãn những tiêu chuẩn kỹ thuật hay những yêu cầu quyết định của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngay
cả khi tiêu thụ hàng hóa và chịu tác động của nhiều yếu tố: công nghệ, dây truyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ quản lý…
Chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, đặc biệt trong nền sản xuất Việt Nam còn trong tình trạng đang phát triển, phải đương đầu với nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài có ưu thế hơn hẳn trong việc tạo
ra hay cung cấp sản phẩm có chất lượng cao Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan niệm mới về chất lượng sản phẩm đã được xuất hiện, chất lượng sản phẩm là chất lượng được chi phối và quyết định bởi khách hàng, chứ không phải nhà sản xuất hay người cung ứng
1.2.1.4 Tổ chức hoạt động tiêu thụ hàng hóa dịch vụ
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, đây cũng là giai đoạn bù đắp chi phí và thu lợi nhuận Việc đầu tiên của quá trình tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn các kênh phân phối hợp lý, có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, nhanh chóng giải phóng nguồn hàng, bù đắp chi phí sản xuất, thu hồi vốn Xây dựng một mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc cho việc củng cố và phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Bên cạnh việc tổ chức một mạng lưới bán hàng, doanh nghiệp đồng thời cũng cần mở rộng và đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng như quảng cáo, khuyến mại và các dịch vụ sau bán Đây là một trong những chiến lược cạnh tranh phi giá cả gây ra sự chú ý và thu hút khách hàng một cách có hiệu quả
1.2.1.5 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 30Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp hay còn gọi là những giải pháp mang tính dài hạn với mỗi doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh là điều không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó chỉ ra phương hướng cho mỗi hoạt động Chiến lược kinh doanh thường được xây dựng trên cơ sở các mục tiêu kinh doanh, khả năng chủ quan của doanh nghiệp, sự tác động của môi trường kinh doanh Đối với công tác nâng cao năng lực cạnh tranh thì chiến lược cạnh tranh là một phần trong chiến lược kinh doanh nói chung, sẽ giúp cho doanh nghiệp chiến thắng các đối thủ cạnh tranh hiện tại để vươn lên giành thị phần, chiếm lĩnh khách hàng, mang lại lợi nhuận cao hơn…
1.2.1.6 Uy tín doanh nghiệp
Uy tín doanh nghiệp là tài sản vô hình mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có được, là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Uy tín doanh nghiệp phải xây dựng và củng cố trên cơ sở mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng Uy tín doanh nghiệp là cơ sở để doanh nghiệp có thể vươn lên dễ dàng trong cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, tạo dựng cho doanh nghiệp nền móng vững chắc với một tập khách hàng thường xuyên Uy tín của doanh nghiệp được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và là tài sản vô hình mà doanh nghiệp cần phát huy
và sử dụng như một thứ vũ khí chủ lực trong điều kiện cạnh tranh hiện nay 1.2.1.7 Nguồn nhân lực
Hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như doanh nghiệp Đứng trên các góc
độ khác nhau khi nghiên cứu nguồn nhân lực, nhiều học giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Trang 31Nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động bao gồm số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (trừ những người tàn tật mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế vẫn làm việc Nguồn nhân lực là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực Nguồn lực trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ số lao động mà doanh nghiệp có thể huy động toàn bộ để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân với vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định
Nguồn nhân lực theo cách hiểu của nhà kinh tế học là tổng thể những tiềm năng của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ có trong một thời kì nhất định Tiềm năng đó bao hàm tổng hợp các năng lực và thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế đòi hỏi Toàn bộ tiềm năng đó hình thành năng lực của con người Nguồn nhân lực có được thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe và nó không ngừng được tăng cường, nâng cao trong quá trình sống và làm việc
Mặc dù nguồn nhân lực được nhìn từ các góc độ khác nhau với những cách hiểu khác nhau, song đều nhất trí với nhau là nói lên khả năng lao động của con người Đó là nguồn nhân lực quan trọng nhất, phong phú nhất và nhiều nhất so với các loại tài nguyên khác
* Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực
- Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô
và tốc độ tăng nguồn nhân lực
- Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng của nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua sức khỏe, trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật…
Trang 32- Cơ cấu nguồn nhân lực bao gồm số lượng nguồn nhân lực được phân chia từ cấp cao đến cấp thấp và đến nhân viên, người lao động trong tổ chức Tùy thuộc vào quy mô và nội dung hoạt động của tổ chức mà cơ cấu này được sắp xếp và bố trí một cách hợp lý
* Vai trò của nguồn nhân lực
- Mọi hoạt động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần đều do những hoạt động của con người tạo nên Họ phát minh, sáng chế ra tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải phục vụ cho con người
- Nguồn lực con người chính là nguồn “nội lực”, nếu khai thác và phát huy tốt nó có thể nhân lên sức mạnh của nguồn lực khác
- Nền kinh tế không thể phát triển nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, những chuyên gia giỏi có chuyên môn nghiệp vụ, những doanh nghiệp tháo vát, những nhà quản lý tài ba, những nhà lãnh đạo tận tụy biết nhìn xa trông rộng…
1.2.2 Các nhân tố môi trường bên ngoài (Ma trận EFE)
1.2.2.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng không nhất thiết phải theo một cách nhất định Phân tích môi trường vĩ mô sẽ giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp đang trực diện với những gì? Nhằm giúp doanh nghiệp có những quyết định phù hợp Hay nói cách khác, mục đích của việc nghiên cứu môi trường vĩ mô là nhằm phát triển một danh mục có giới hạn những cơ hội mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cũng như các mối đe dọa của môi trường mà doanh nghiệp cần phải né tránh Các yếu tố môi trường
vĩ mô gồm có:
* Các yếu tố môi trường kinh tế
Đây là nhóm các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến thách thức và ràng buộc, nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác các cơ hội đối với doanh nghiệp
Trang 33Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp bao gồm:
tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ suất hối đoái và tỷ lệ lạm phát Các yếu tố môi trường công nghệ
Sự ảnh hưởng chủ yếu thông qua các sản phẩm, quá trình công nghệ và vật liệu mới Sự thay đổi về công nghệ có thể tác động lên chiều cao của rào cản nhập cuộc và định hình lại cấu trúc ngành Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến tính chất và giá cả của sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp, quy trình sản xuất và vị thế cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp
Trình độ khoa học - công nghệ quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất, tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường đó là: chất lượng và giá bán Khoa học - công nghệ còn tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp, khi trình độ công nghệ thấp thì giá và chất lượng có ý nghĩa ngang bằng nhau trong cạnh tranh
Khoa học - công nghệ phát triển làm ảnh hưởng đến bản chất của cạnh tranh, chuyển từ cạnh tranh giá bán sang chất lượng, cạnh tranh phần giá trị gia tăng của sản phẩm, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao Đây là tiền đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm để ổn định và nâng cao sức cạnh tranh của mình
* Các yếu tố môi trường văn hoá - xã hội
Các giá trị văn hoá xã hội tạo nên nền tảng của xã hội, sở thích, thái độ mua sắm của khách hàng Bất kỳ sự thay đổi nào của các giá trị này đều ảnh hưởng đến hiệu quả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
* Các yếu tố môi trường chính trị - luật pháp
Các yếu tố này có tác động lớn đến mức độ của các cơ hội và đe dọa từ môi trường Sự ổn định chính trị, hệ thống pháp luật rõ ràng, sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp, là cơ sở
Trang 34đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả Doanh nghiệp cần phải phân tích các triết lý, chính sách mới của nhà nước như: chính sách thuế, luật cạnh tranh, luật lao động, chính sách tín dụng, luật bảo vệ môi trường…
* Các yếu tố môi trường địa lý tự - nhiên
Các yếu tố địa lý tự nhiên có ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp Các hoạt động sản xuất, khai thác tài nguyên của con người đã làm thay đổi và khan hiếm nguồn tài nguyên Do vậy, hoạt động của doanh nghiệp cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, không làm ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, lãng phí tài nguyên
1.2.2.2 Môi trường ngành
Các yếu tố môi trường ngành tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích các yếu tố môi trường này giúp doanh nghiệp xác định được vị thế cạnh tranh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động Từ đó, đưa ra những chiến lược hợp lý nâng cao sức cạnh tranh cho chính bản thân doanh nghiệp [3]
Tình hình cạnh tranh ở một ngành nghề tuỳ thuộc vào năm lực lượng cạnh tranh cơ bản (theo hình 1.3) Sức mạnh của năm lực lượng này có thể thay đổi theo thời gian khi các điều kiện ngành thay đổi, mỗi tác động của chúng đến doanh nghiệp sẽ khác nhau và quyết định mức độ gay gắt trong cạnh tranh Do vậy, phân tích sự tác động của chúng, sẽ xác định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong bức tranh toàn ngành mà doanh nghiệp tham gia hoạt động
Mỗi yếu tố từ sơ đồ trên có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vả được phân tích theo quy trình như sau:
* Nguy cơ xâm nhập từ các đối thủ tiềm năng
Trang 35Nguy cơ xâm nhập vào một ngành phụ thuộc vào các rào cản xâm nhập thể hiện qua các phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ mới có thể dự đoán Nếu các rào cản hay có sự trả đũa quyết liệt của các nhà cạnh tranh hiện hữu đang quyết tâm phòng thủ thì khả năng xâm nhập của các đối thủ mới rất thấp
Theo Michael Porter, có 6 nguồn rào cản xâm nhập chủ yếu, đó là lợi thế kinh tế theo quy mô, sự khác biệt của sản phẩm, các đòi hỏi về vốn, chi phí chuyển đổi, khả năng tiếp cận với kênh phân phối và những bất lợi về chi phí không liên quan đến quy mô
* Áp lực cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong ngành
Tính chất và cường độ của cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tại trong ngành phụ thuộc vào các yếu tố:
Số lượng các đối thủ cạnh tranh;
Tốc độ tăng trưởng của ngành;
Chi phí cố định và chi phí lưu kho cao;
Sự nghèo nàn về tính khác biệt của sản phẩm và các chi phí chuyển đổi; Mức độ tập trung, bão hòa của ngành có năng lực dư thừa;
Trang 36* Áp lực từ phía khách hàng
Áp lực từ phía khách hàng chủ yếu có hai dạng là đòi hỏi giảm giá hay mặc cả để có chất lượng phục vụ tốt hơn Chính điều này làm cho các đối thủ chống lại nhau, dẫn tới làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành Áp lực từ
khách hàng xuất phát từ các điều kiện sau:
- Khi số lượng người mua là nhỏ
- Khi người mua mua một lượng lớn sản phẩm và tập trung
- Khi người mua chiếm một tỷ trọng lớn trong sản lượng của người bán
- Các sản phẩm không có tính khác biệt và là các sản phẩm cơ bản
- Khách hàng đe dọa hội nhập về phía sau
- Sản phẩm ngành là không quan trọng đối với chất lượng sản phẩm của
Những điều kiện làm tăng áp lực từ nhà cung ứng có xu hướng ngược với các điều kiện làm tăng quyền lực của người mua Áp lực từ nhà cung ứng
sẽ tăng lên nếu:
- Chỉ có một số ít các nhà cung ứng
- Khi sản phẩm thay thế không có sẵn
- Khi sản phẩm của nhà cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động của khách hàng
- Khi sản phẩm của nhà cung ứng có tính khác biệt và được đánh giá cao bởi các đối thủ của người mua
Trang 37- Khi người mua phải gánh chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung ứng
- Khi các nhà cung ứng đe dọa hội nhập về phía trước
1.2.3 Mô hình ma trận lựa chọn (Ma trận Mc.Kinsey)
Ma trận IFE có kết cấu như sau:
Bảng 1.1 Mô hình ma trận IFE Yếu tố m i trường
nội bộ doanh nghiệp
Trọng số Điểm phân loại Điểm trọng số
Ma trận IFE cho phép chúng ta lượng hóa được các mặt mạnh, mặt yếu của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp Quá trình xây dựng ma trận được tiến hành qua 5 bước:
Bước 1: Liệt kê các yếu tố bên trong được coi là mặt mạnh, mặt yếu cơ
bản của doanh nghiệp (cột 1)
Môi trường nội bộ doanh nghiệp gồm:
(1) Nhân tố marketing
(2) Nhân tố tổ chức bộ máy quản trị
(3) Nhân tố đội ngũ lao động trực tiếp
Trang 38(4) Nhân tố sản xuất - kỹ thuật
(5) Nhân tố nghiên cứu và phát triển
(6) Nhân tố tài chính - kế toán
…
Bước 2: Gán trọng số từ 0.00 đến 1.00 cho mỗi yếu tố tương ứng với tầm
quan trọng của từng yếu tố sao cho tổng tất cả các trọng số bằng 1 Trọng số của mỗi yếu tố phản ánh tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với sự thành công của doanh nghiệp trong ngành, nó được xác định dựa trên cơ sở của toàn ngành Yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngành sẽ có trọng số lớn nhất (cột 2)
Bước 3: Cho điểm phân loại cho từng yếu tố nội bộ theo đánh giá chủ
quan của doanh nghiệp về các mặt mạnh và yếu của mình (cột 3)
(1) Ứng với điểm yếu lớn nhất
(2) Ứng với điểm yếu nhỏ nhất
(3) Ứng với điểm mạnh nhỏ nhất
(4) Ứng với điểm mạnh lớn nhát
Bước 4: Xác định điểm trọng số cho mỗi yếu tố bằng cách nhân trọng số
của nó với điểm phân loại tương ứng (cột 2 × cột 3)
Bước 5: Tính tổng điểm trọng số của các yếu tố được xác định bằng cách
cộng đại số ở 4
Biểu diễn ma trận IFE trên trục số:
Sơ đồ 1.1 Mô hình biểu diễn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.3.2 Ma trận EFE
1
Trang 39Đây là ma trận dùng để đánh giá các yếu tố môi trường ngoài
Ma trận EFE gồm 4 cột với kết cấu như sau:
Bảng 1.2 Mô hình ma trận EFE Các yếu tố m i trường bên
Giải thích 4 cột của ma trận trên:
Cột 1: Ghi tất cá các yếu tố, thành tố quan trọng của môi trường kinh doanh (quốc tế, quốc gia, ngành)
- Môi trường quốc tế:
(1) Nhân tố chính trị thế giới
(2) Nhân tố luật pháp và thông lệ quốc tế
(3) Nhân tố kinh tế quốc tế
(4) Nhân tố kỹ thuật - công nghệ
(5) Nhân tố văn hóa
- Môi trường quốc gia:
(1) Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
(2) Các đối thủ cạnh tranh mới ra nhập thị trường
(3) Các loại khách hàng mua các yếu tố đầu ra
Trang 40(4) Các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào
(5) Các loại sản phẩm thay thế…
Cột 2: Trọng số của từng yếu tố, thành tố nêu ở cột 1 Trọng số của từng yếu tố, thành tố thường là khác, thậm chí rất khác nhau, nhưng tổng trọng số của tất cả các yếu tố, thành tố đó phải bằng 1, như vậy mỗi trọng số đều nhỏ hơn 1 Một điều cần chú ý là những yếu tố, thành tố có vai trò quan trọng hơn, phải lớn hơn, quan trọng nhất, phải lớn nhất Mức độ quan trọng ở đây là so với ngành kinh doanh nào đó, thí dụ ngành xăng dầu, ngành giầy dép, ngành du lịch
Cột 3: Điểm phân loại
Trọng số nêu trên là trọng số dùng chung cho cả ngành ( thí dụ thuế đánh vào ngành xăng dầu có trọng số là 0,18, thì tầm quan trọng của thuế đó đối với cả ngành xăng dầu là 0,18) Còn điểm phân loại là điểm xác định mức độ phản ứng của từng doanh nghiệp khác nhau trong ngành xăng dầu, vì không phải doanh nghiệp nào của ngành xăng dầu cũng phản ứng tốt cả, hay xấu cả hay thuế cao hay thấp đánh vào ngành mình
Điểm phân loại nhằm xác định mức độ tác động của yếu tố, thành tố đến từng doanh nghiệp, được xác định theo 4 mức độ, chia làm 4 loại điểm: 1 điểm, 2 điểm, 3 điểm, 4 điểm
Nếu doanh nghiệp phản ứng xấu với 1 yếu tố, 1 thành tố nào đó, ứng với
1 điểm, nếu phản ứng tốt: 3 điểm, phản ứng rất tốt 4 điểm Như vậy, cùng một yếu tố thành tố của môi trường kinh doanh tác động, có doanh nghiệp điểm phân loại là 1, có doanh nghiệp điểm phân loại là 2,3 hay cao nhất là 4
Cột 4: Điểm trọng số
Điểm trọng số của từng yếu tố, thành tố bằng cột 2 × cột 3 tương ứng Cuối cùng phải xác định tổng điểm trọng số Tổng điểm trọng số này sẽ dao động trong khoảng từ 1 đến 4