1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hà Nội

84 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 873,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6,2001… Những bài nghiên cứu trên đã khái quát được một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động định tội danh và thực tiễn định tội; phân t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DUY HÙNG

ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG THẾ VẮC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hà Nội” là công

trình nghiên cứu khoa học Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo

đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực

Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ

công trình nào khác

Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng

dẫn của PGS.TS Phùng Thế Vắc

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Hùng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7

1.1 Khái niệm, quá trình và ý nghĩa định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 71.2 Cơ sở pháp luật của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 121.3 Định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 261.4 Định tội danh trong những trường hợp đặc biệt 33

Chương 2 ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40

2.1 Thực tiễn định tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành tội phạm cơ bản 402.2 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành tội phạm tăng nặng 502.3 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những trường hợp đặc biệt 56

Chương 3 CÁC YÊU CẦU VÀ BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 60

3.1 Các yếu tố của định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 603.2 Các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 64

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 40

của Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 42Bảng 2.3 Thống kê tội phạm xâm phạm quyền sở hữu xảy ra tại thành phố

Hà Nộigiai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

tổng số vụ án hình sự trên địa bàn 43 Biểu đồ 2.2: Thể hiện số người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếm 2,6% so với tổng số người phạm tội hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội 43 Biểu đồ 2.3: Thể hiện số vụ án và số bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội có xu hướng tăng dần theo từng năm 44

sở hữu tại thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 44

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà thực chất đó là cuộc cải cách sâu sắc bắt đầu bằng cải cách kinh tế đã làm thay đổi theo hướng tích cực mọi mặt của đời sống xã hội Sự chuyển đổi kinh

tế từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN đã hình thành nhiều thành phần kinh tế với các hình thức lừa đảo khác nhau Bên cạnh những thành tựu rất đáng tự hào đã đạt được vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại mà nổi cộm lên là vấn đề tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm gia tăng, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm hơn Và các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những tội phạm xẩy ra khá phổ biến trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay Tội phạm cấu thành đã gây nhiều biến động trong xã hội, làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, tổ chức cũng như tài sản của công dân, cản trở sự phát triển của đất nước Tuy nhiên việc xét xử các loại tội phạm này trong thực tiễn còn rất nhiều sai sót Vấn đề sai

lầm trong việc xác định tội danh và hình phạt, vấn đề “hình sự hóa” các quan

hệ dân sự, quan hệ kinh tế và “phi hình sự hóa” trong đấu tranh chống tội

phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong mấy năm gần đây tuy đã giảm đi rõ rệt nhưng vẫn chưa thực sự chấm dứt và vẫn còn thu hút sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều nghành và dư luận xã hội thông qua những buổi tọa đàm, hội nghị Những vấn đề trên còn tồn tại một phần là do chưa nhận thức đúng đắn quy định của pháp luật về các tội phạm cụ thể trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác dẫn đến việc các cơ quan áp dụng pháp luật còn tỏ ra lúng túng trong việc xác định tội danh, hình phạt làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm Vướng mắc này đặt ra cho các nhà nghiên

Trang 8

cứu luật hình sự nhiệm vụ là phải làm rõ về mặt lý luận cũng như bản chất và danh giới của các tội phạm cụ thể trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm làm cơ sở cho nhận thức và áp dụng thống nhất về vấn đề này trong thực tiễn

Với ý nghĩa phục vụ cho công tác nghiên cứu, với động lực tìm hiểu pháp luật

để góp một phần lý luận cho việc nhận thức đúng đắn, thống nhất về các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giúp ích cho công tác đấu tranh phòng và chống các tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới, tôi chọn đề tài: “Định tội danh tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hà Nội”

làm đề tài luận văn Thạc sĩ theo chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Định tội danh đúng có ý nghĩa rất to lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật.Vì vậy mà hoạt động định tội đã được đề cập trong rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia luật hình sự của nước ta, trong đó phải kể đến một số công trình nghiên cứu của PGS.TSKH Lê Cảm:

“Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh”; Chương I, Giáo trình Luật

hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội (Tập thể tác giả do PGS.TSKH Lê Cảm chủ biên), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2003; “Định tội danh - lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài

tập thực hành”, Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2004; “Thay đổi định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí tòa án nhân dân, số 11, 2003; “Định tội

danh và quyết định hình phạt” TS Dương Tuyết Miên chủ biên, Nxb Công

an Nhân dân, 2014; “Lý luận chung về định tội danh”GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2013; Luận án tiến sĩ Luật học: “Trách nhiệm

hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu”, của Nguyễn Ngọc Chí; Trịnh

Quốc Toản: “Một số vấn đề lý luận về định tội danh và hướng dẫn phương

pháp định tội danh”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Luật gia Nguyễn Ngọc

Điệp: “Tìm hiểu và bình luận các tội xâm phạm sở hữu trong bộ luật hình sự

Trang 9

1999”, Nxb Mũi Cà Mau, 2000… Các vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội

danh nói chung và định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng còn được làm sáng tỏ trong một số bài viết đăng trên tạp trí chuyên

ngành như: “Định tội danh – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Lê Cảm, tạp chí Tòa án nhân dân các số: 3,4,5,8,11; “Yếu tố chức

vụ, quyền hạn trong các tội xâm phạm sở hữu”, “Một số vấn đề đồng phạm trong các tội xâm phạm sở hữu”, “Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu”,

“Vấn đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu”, của TS.Nguyễn Ngọc

Chí, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số: 11,6,2,8 năm 1997; “Tìm hiểu khái

niệm và những đặc trưng cơ bản của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam”,

TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6,2001… Những bài nghiên cứu trên đã khái quát được một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động định tội danh và thực tiễn định tội; phân tích, đánh giá, nhận định một số nhận định liên quan đến yếu tố định tội danh, đồng thời phân biệt với một số tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999… Tuy vậy, hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hà Nội Những thành tựu, khó khăn, vướng mắc, bất cập và những bảo đảm định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở phân tích những vấn

đề lý luận về định tội danh, các quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bản Thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016, luận văn đề xuất các giải pháp định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Thông qua mục đích nghiên cứu, xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá những vấn đề như sau:

Trang 10

- Phân tích khái niệm: Ý nghĩa, quá trình và cơ sở pháp luật của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Phân tích định tôi danh theo các yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Phân tích thực trạng tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016 chỉ ra nguyên nhân của thực trang đó

- Phân tích yêu cầu đối với định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Luận văn lấy các quan điểm khoa học về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

và về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016

để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và luật tố tụng hình sự Các số liệu thực tế phản ánh thực trạng định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thu thập từ thực tiễn định tôi danh của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý các tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm

Trang 11

đoạt tài sản nói riêng từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016

Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biến chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Bao gồm phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp

số liệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của hai cấp tòa án Thành phố Hà Nội

Phương pháp so sánh pháp luật để đối chiếu các quy định của pháp luật với thực tiễn Thành phố Hà Nội nhằm tìm ra những tồn tại, hạn chế - nguyên nhân và những giải pháp khắc phục

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn

Trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu

để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh nói chung

và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng luôn là một trong những hướng cơ bản, đồng thời cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của khoa học luật hình sự Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện trên ba bình diện chủ yếu dưới đây:

a Về mặt lập pháp, bên cạnh những quy định hiện hành như Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, thì các quy định về việc định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng vẫn còn rời rạc, nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999”, Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/03/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của các

Trang 12

điều 139,193,194,278,279 và 289 Bộ luật hình sự năm 1999… dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong việc giải thích pháp luật

b- Về mặt thực tiễn chính xuất phát từ thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn cả nước nói chung và ở tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội nói riêng đã cho thấy sự yếu kém của một bộ phận cán bộ, công chức trong việc nhận thức cũng như áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật hình sự dẫn đến hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm chưa cao, đôi khi còn bỏ lọt tội phạm gây thiệt hại cho các quyền và tự do của công dân, làm giảm hiệu quả của công cuộc đấu tranh chống tội phạm

c- Về mặt lý luận, vấn đề định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tuy đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau nhưng chưa

có một nghiên cứu nào đề cập đến việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội, vì vậy:

- Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các khía cạnh pháp lý

về định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng góp phần xây dựng, hoàn thiện lý thuyết định tội danh trong khoa học pháp lý hình sự

- Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt là Tòa án trong việc định tội danh giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của định tội danh tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 2: Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội

lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hà Nội

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1 Khái niệm, quá trình và ý nghĩa định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Khái niệm định tội danh

Nếu như trong tố tụng hình sự, hoạt động định tội danh được hiểu là việc xác định một tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, theo đó các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng theo trình tự , thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự thì trong khao học luật hình sự định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung quan trọng của quá trình ấp dụng pháp luật hình sư vào cuộc sống Để có nhận thức đúng đắn về hoạt đọng định tội danh ta cần làm

rõ khái niệm định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng

Theo từ điển luật học (nhà xuất bản Từ điển bách khoa) thì định tội danh được hiểu là để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội thì phải định tội được theo tội danh mà luật hình sự quy định Cơ sở của việc định tội dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm

Cơ quan điều tra khi đề nghị truy tố, trong bản kết luận điều tra đã phải

sơ bộ một tội danh Viện kiểm sat khi quyết định truy tố bị can ra trước tòa án xét xử phải xác định cụ thể tội danh trong bản cáo trạng theo điều luật hình sự quy định Sau khi kết thúc thủ tục tố tụng tại phiên tòa và nghị án, Tòa án (Hội đồng xét xử) quyết định cuối cùng về tội danh (định tội) và hình phạt áp dụng (lượng hình)

Có quan điểm cho rằng, định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn

Trang 14

áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách trên cơ sở chứng cứ , tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật

tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [32, tr.9]

Cũng có những quan điểm cho rằng định tộ danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm

được quy dịnh trong quy phạm pháp luật hình sự [36, tr 9-10]

Những quan điểm trên đã đề tương đối đầy đủ nội hàm của định tội danh Tuy nhiên ở từng quan điểm thì chưa bao gồm hết các nội dung và đôi chỗ chưa phản ánh được bản chất của định tội danh

Xuất phát từ bản chất của hoạt động định tội danh, chúng tôi đưa ra khái niệm sau đây về định tội danh: Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự của các

cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được tiến hành trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được để xác định có hay không có sự phù hợp giữa hành vi chiếm đoạt tài sản đã sảy ra với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự, làm tiền

đề cho việc quyết định hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác

Từ khái niệm này có thể khẳng định mục đích của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là nhằm đạt được sự thật khách quan – đưa ra sự đánh giá chính

Trang 15

xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự , làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh , có căn cứ và đúng pháp luật

1.1.2 Quá trình định tội danh

Quá trình định tội danh là quá trình xác định sự đồng nhất của các tình tiết cơ bản điển hình nhất của một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành một tội phạm nào đó được quy định trong

pháp luật hình sự [36, tr 88]

Vậy, quá trình định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 3 giai đoạn Trong giai đoạn đầu tiên, các dấu hiệu chung nhất của hành vi được xác định hay nói cách khác, xác định loại quan hệ pháp luật Trong gia đoạn này, người áp dụng pháp luật giải quyết một vấn đề là trong trường hợp này

có các dấu hiệu phạm tội hay không, hay hành vi đó có được coi là vi phạm pháp luật khác Trong trường hợp tìm thấy quan hệ pháp luật hình sự, nghĩa là trong hành vi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có các dấu hiệu phạm tội, lúc này quá trình định tội danh chuyển sang giai đoạn thứ hai Trong giai đoạn này quá trình xác định các dấu hiệu cùng loại của hành vi phạm tội, hay nói cách khác, xác định tội phạm trên được nêu trong chương nào của Bộ luật hình sự (BLHS) Giai đoạn thứ ba của qúa trình định tội danh

là đối chiếu và so sánh các loại dấu hiệu tội phạm Ví dụ, Điều tra viên sau khi xác định rằng hành vi phạm tội này có liên quam đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Chương XIV BLHS) cần phải làm sáng tỏ đó là tội gì: Tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản hay tội trộm cắp tài sản … Chính trong giai đoạn này việc so sánh được tiếp tục trong phạm vi của một điều luật thuộc một chương cụ thể của BLHS: Cơ cấu thành cơ bản hay cấu thành tội phạm với các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ

Quá trình tội danh đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội tất yếu trải qua ba giai đoạn nói trên Như vậy, việc so sánh một hành vi với ý nghĩa

là tội phạm được tiến hành ngay trong giai đoạn nói trên Như vậy, việc so

Trang 16

sánh một hành vi với ý nghĩa là tội phạm được tiến hành ngay trong giai đoạn đầu của tố tụng hình sự Điều tra viên không thể bị hạn chế bằng một kết luận chung rằng trường hợp cụ thể đang được xem xét liên quan tới một nhóm các hành vi tội phạm Để truy cứu trách nhiệm hình sự một người nào đó cần phải kết thúc cả quá trình định tội danh Cần xác định tính có lỗi của một người nhất định trong việc thực hiện một hành vi phạm tội được quy định trong một điều luật nào đó của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của BLHS Nói cách khác, cần phải tiến hành giai đoạn thứ hai của quá trình định tội danh - tức là xác định loại hành vi, xác định chương nào trong BLHS đề cặp loại tội phạm đã được thực hiện Sau giai đoạn này còn có nhiệm vụ làm sáng tỏ trường hợp đang được xem xét thuộc loại tội nào và điều luật nào trong tội LĐCĐTS của BLHS quy định trách nhiệm hình sự về tội phạm đó

Định tội danh tội LĐCĐTS dựa vào các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là một phương pháp khoa học của việc áp dụng các quy phạm của pháp luật hình sự Việc sử dụng phương pháp này sẽ cho phép tiến hành đối chiếu hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với định nghĩa của pháp luật

về loại hình vi tương tự không dựa theo các dấu hiệu ngẫu nhiên, mà theo các dấu hiệu cơ bản và điển hành mà chúng đã được chia thành từng nhóm trong một hệ thống đã được quy định rất khoa học Đó chính là định tội danh dựa theo các dấu hiệu của cấu thành tội phạm

Trong quá trình định tội danh đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội, việc tìm ra quy phạm pháp luật hình sự để dựa vào đó tiến hành sự đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có vị trí quan trọng nhất quá trình tìm kiếm quy phạm pháp luật trải qua bốn giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, là sắp xếp theo thứ tự các cứ liệu đã tìm được và chọn trong số đó ra các dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý Trong số nhiều thông tin

Trang 17

về tội phạm đã được thực hiện, người tiến hành nhiệm vụ định tội danh chỉ cần chọn các thông tin có thể có ý nghĩa cho việc định tội danh Trong bất kỳ trường hợp nào, ngay trong giai đoạn đầu tiên của quá trình điều tra, điều tra viên hướng tới việc lựa chọn và chỉnh lý tất cả các tình tiết thực tế của một nhóm các dấu hiệu đã có trong bất kỳ một tội phạm nào: mặt khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ thể của tội tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm người tiến hành công việc đó đưa các tình tiết đã thu thập được vào bốn nhóm nói trên

Giai đoạn thứ hai, là làm sáng tỏ tất cẩ các cấu trúc, mô hình quy định của pháp luật có thể phù hợp vơi tài liệu thực tế hiện có

Giai đoạn thứ ba, là xác định nhóm các cấu thành tội phạm, mà các nhóm này phù hợp với tình tiết có trong vụ án Sua khi lập nhóm các cấu thành tội phạm sẽ chuyển sang giai đoạn thứ bốn – giai đoạn cuối cùng , là lựa chọn trong nhóm ấy một cấu thành tội phạm nào mà các dấu hiệu của nó phù hợp với tội phạm đã được thực hiện bốn giai đoạn này phản ánh một cách đầy đủ, chính xác và khách quan việc làm của người làm công việc tìm kiếm quy phạm pháp luật để định tội danh một hành vi nguy hiểm cho xã hội

đã được thực hiện

Như vậy, định tội danh tội LĐCĐTS là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật có ý nghĩa lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật định tội danh phải dựa vào tình tiết thực tế của vụ án và các quy định của pháp luật hình sự nhưng để đặt tới chân lý khách quan, thì người định tội danh phải tiến hành theo một trật tự đã trình bày ở trên

1.1.3 Ý nghĩa định tội danh

Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị xã hội, đạo đức và

pháp luật rất lớn [36,tr.28]

Trang 18

Đạo luật hình sự thể hiện ý chí về mặt nhà nước của nhân dân ta đối với vấn đề đấu tranh với tình hình tội phạm định tội danh đúng là một biểu hiện của việc thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng chính trị, thực thi đúng ý chí của nhân dân đã được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của nhà nước và của con người của công dân Góp phần đảm bảo công lý và công bằng xã hội

Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là sự thể hiện việc đánh giá chính trị - xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định Định tội danh đúng

sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi không nguy hiểm cho

xã hội, không trái pháp luật hình sự tạo điều kiện tiền đề pháp lý cho việc quyết

định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội [36, tr.29]

Hậu quả của việc định tội danh là rất đa dạng Nhưng hậu quả cơ bản nhất trong số đó là việc áp dụng hình phạt hoặc những biện pháp tác động pháp lý hình sự khác do luật quy định Định tội sai không chỉ làm cho việc quyết định hình phạt không đúng, không công bằng mà còn áp dụng không có căn cứ, không công bằng hoặc không áp dụng một loạt các biện pháp pháp lý hình sự khác (quyết định hình phạt bổ sung…) áp dụng hoặc không áp dụng đặc xá, miễn trách nhiệm hình sự, giảm thời gian chấp hành hình phạt không đúng thời hiệu, án tích… Nếu do sai lầm trong định tội danh và sai lầm đó làm việc quyết định hình phạt không phù hợp với hành vi đã thực hiện, làm cho bị cáo phải gánh chịu hậu quả pháp lý không đang phải gánh chịu thì sai lầm đó vi phạm một cách thô bạo các lợi ích của người bị kết án

1.2 Cơ sở pháp luật của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.1 Ý nghĩa của bộ luật hình sự đối với việc định tội danh

Để gải quyết vấn đề định tội danh, bao giờ cũng phải xem xét cơ sở pháp luật của nó Cơ sở pháp luật là những dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự Theo đó BLHS được coi là cơ sở pháp lý duy nhất cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho

Trang 19

xã hội Sở dĩ khẳng định như vậy là vì: ở nước ta hiện nay BLHS là nguồn trực tiếp và duy nhất ghi nhận toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình

sự hiện hành được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và quá trình định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và quyết định hình phạt nói riêng Theo điều 49 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp…” và điều 70 quy định: “Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1 Làm và sửa đổi Hiến pháp; làm và sửa đổi luật…” Tức là bất cứ sự thay đổi, bổ sung làm

rõ các qui định trong pháp luật hình sự đều phải do Quốc hội tiến hành thông qua hoạt động lập pháp Để đảm bảo cho việc giải thích pháp luật bằng văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, thì sự giải thích bắt buộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội tiến hành trên cơ sở ủy quyền của Quốc hội Các văn bản hướng dẫn, giải thích BLHS do chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Bộ tư pháp (BTP), Bộ công an (BCA), ban hành theo sự chỉ đạo, ủy quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Bản chất của việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là so sánh đối chiếu và kiểm tra để tìm sự giống nhau giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu tương ứng trong định nghĩa về loại tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong pháp luật hình sự Pháp luật hình sự chứa những mô hình pháp lý mà nhờ nó chúng ta xác định được sự trùng lặp của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được coi là cơ sở thực tế của định tội danh Sự liệt kê đấy đủ tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội được đánh giá là hành

vi tội phạm đã được quy định trong BLHS và các qui định pháp luật hình sự khác đã thể hiện nguyên tắc “chỉ người nào phạm tội đã được Luật hình sự qui định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Khi xây dựng hệ thống các quy

Trang 20

phạm pháp luật phần các tội phạm BLHS,trong quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội đã tìm xem các dấu hiệu nào đặc trưng cơ bản nhất, lặp đi lặp lại nhiều lần nhất để điển hình hóa và quy định chúng trong BLHS với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc tương ứng của các cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu thành tội phạm đặc biệt tăng nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ và dùng nó làm mô hình pháp lý của việc định tội danh Dựa vào mô hình pháp lý đó những người có thẩm quyền tiến hành trong việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của những hành vi nguy hiển cho xã hội cụ thể tương ứng được thực hiện trong thực tế khách quan Làm cơ sở cho việc ra kết luận, quyết định việc áp dụng các quy phạm pháp luật cho hành vi tương ứng

1.2.2 Các qui phạm pháp luật hình sự áp dụng khi định tội danh

Kết quả của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là rút ra kết luận rằng hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được giải quyết bao quát qui phạm nào của BLHS Việc định tội danh cần phải có viện dẫn đến điều luật cụ thể của BLHS BLHS nước ta gồm hai phần là: qui phạm pháp luật phần chung và qui phạm pháp luật phần các tội phạm

Trong đó phần chung quy định nhiệm vụ, các nguyên tắc, các chế định

cơ bản của luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm nêu mô hình cụ thể của tội phạm các loại và mức độ trừng phạt đối với mỗi tội phạm Phần chung và phần các tội phạm của BLHS có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Việc áp dụng phần các tội phạm phải dựa trên các luận điểm chung của BLHS Quy phạm pháp luật phần chung và quy phạm pháp luật phần các tội phạm có mối liên

hệ chặt chẽ, không thể thiếu của định tội danh với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là việc đối chiếu dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với dấu hiệu trong mô hình một loại tội phạm tương ứng, xác định sự giống nhau của một tình huống

Trang 21

cụ thể đã xảy ra trong cuộc sống với một trường hợp được nêu trong quy phạm pháp luật hình sự

Như vậy, quy phạm pháp luật phần các tội phạm tội lừa đảo chiếm đảo tài sản nêu mô hình tội phạm một cách cụ thể, chi tiết, nhờ vậy ta xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trong thực tế là tội phạm nhưng trong quá trình định tội danh các quy phạm phần chung giúp chúng ta phát hiện các dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể, mặc dù chúng ta không áp dụng điều luật cụ thể nào của phần chung Tất cả các quy phạm pháp luật hình sự được sử dụng khi định tội danh đều được pháp điểm hóa trong BLHS, bởi vậy khi tiến hành định tội phải dựa vào các điều luật tương ứng trong BLHS Nhưng cần đặc biệt lưu ý tới hiệu lực về không gian và thời gian của điều khảo được viện dẫn Có như vậy thì việc định tội danh mới đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó

Ngoài ra, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Bộ luât tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định trình tự, thủ tục và các giai đoạn tố tụng điều này cũng

có nghĩa rằng mọi hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng: CQĐT ở giai đoạn khởi tố - điều tra VKSND ở giai đoạn truy tố và TAND ở giai đoạn xét

xử phải tuân theo đúng các quy định của BLTTHS Trong đó, định tội danh ở giai đoạn xét xử là một giai đoạn trung tâm và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong giai đoạn xét xử của tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp hình sự của nhà nước nói chung, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội

1.2.3 Cấu thành tội phạm - mô hình pháp lý của định tội danh

Định nghĩa về tội phạm cụ thể được nêu trong quy phạm pháp luật phần các tội phạm của BLHS tồn tại như mô hình về tội phạm làm cơ sở pháp lý

Trang 22

cho việc định tội danh Mô hình đó thể hiện dưới dạng một cấu thành tội phạm cụ thể.Và sự đánh giá tội phạm về phương diện pháp lý của nhà nước được thể hiện dưới dang cấu thành tội phạm đó Bởi vậy, cấu thành tội phạm

là mô hình khái quát, trừu tượng mang tính chất khao học gồm những dấu hiệu chung cơ bản nhất của các tội phạm cùng thuộc một loại Đó là những dấu hiệu điển hình và có tính lặp đi lặp lại ở tất cả những hành vi thuộc loại tội phạm đó

Cấu thành tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm những dấu hiệu cần và đủ Nó gồm những dấu hiệu cần vì nếu thiếu một trong những dấu hiệu

đó thì cấu thành tội phạm không được xác định Đồng thời nó cũng là những dấu hiệu cho một cấu thành tội phạm bởi không cần thêm một dấu hiệu nào nữa cho bất cứ một cấu thành tội phạm nào vì nó đã xác định và có đủ cơ sở

để phân biệt một cấu thành tội phạm cụ thể này với các cấu thành tội phạm khác Điều đó không loại từ việc xác định tình tiết thực tế khác nhằm mục đích cá thể hóa hình phạt, quyết định hình phạt bổ sung

Cấu thành tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một sự trừu tượng mang tính khoa học, là một mô hình chung nhất cho tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc cùng loại Bởi vậy, cấu thành tội phạm không đề cập tới tất

cả dấu hiệu, đặc diểm của tội phạm ấy mà nó chỉ đề cập đến các dấu hiệu điển hình nhất, lặp đi lặp lại trong các hành vi tội phạm cùng loại đó, nói lên bản chất của loại tội phạm đó Đó là những dấu hiệu tối cần thiết cho những hành

vi mà nhà làm luật dự trù cho mô hình tội phạm trong điều luật Đối với một

vụ án cụ thể việc xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm là chưa đủ Để cá thể hoa hình phạt thì phải nghiên cứu hàng loạt các tình tiết khác Nhưng trong một vụ án cụ thể việc xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ là đủ cho việc định tội danh đối với một hành vi phạm tội Do đó, việc làm sáng tỏ các tình tiết khác sẽ nằm ngoài nôi dung của định tội danh

Trang 23

Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự Do vậy, cần phải hiểu các dấu hiệu của cấu thành tội phạm một cách cụ thể chính xác Từ đó xác định được tất cả các tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong vụ án, xem xét và sử dụng nó trong việc cá thể hóa hình phạt… Việc quy định một cấu thành tội phạm là bảo đảm quan trọng cho pháp chế xã hội chủ nghĩa Nhưng điều đó không cản trở việc Tòa án xem xét tới tất cả các tình tiết liên quan tới vụ án cụ thể Ngược lại, pháp luật hình

sự đòi hỏi Tòa án phải xem xét vụ án một cách đầy đủ toàn diện tất cả các tình tiết đảm bảo tính công bằng trong xét xử

Mặt khác, cấu thành tội phạm là mô hình tội phạm được ghi nhận trong Luật hình sự, nhưng để định tội tội danh các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng, thì người định tội danh phải biết đánh giá các dấu hiệu trong mô hình tội phạm trên cơ sở ý thức pháp luật của họ và các tình tiết xảy ra trong thực

tế Điều đó đòi hỏi người định tội danh phải biết lựa chọn, đánh giá, xác định được cấu thành tội phạm của hành vi, tình tiết nào có ý nghĩa pháp lý, những tình tiết cơ bản nào đặt trong thể thống nhất xác định được cấu thành tội phạm của hành vi Từ đó mới có thể so sánh, đánh giá, tìm sự phù hợp giữa các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trong thực tế với cấu thành tội phạm nêu trong điều luật

Qua phân tích chúng ta thấy rõ vai trò của cấu thành tội phạm đối với định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Nhưng nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi người định tội danh hiểu được các dấu hiệu của cấu thành tội phạm một cách cụ thể và chính xác Để giúp cho cán bộ pháp luật hiểu rõ về cấu thành tội phạm cũng như dấu hiệu trong các cấu thành tội phạm Cách phân loại có

ý nghĩa khoa học nhất giúp cán bộ pháp luật hiểu rõ nội dung pháp luật, chú ý đến các đặc điểm cơ cấu pháp luật trong BLHS là cách phân chia theo phương diện riêng của hành vi phạm tội, nó được phân thành 4 nhóm: Nhóm dấu hiệu

Trang 24

nói về khách thể của tội phạm, nhóm dấu hiệu nói về khác quan, nhóm dấu hiệu nói về chủ thể và nhóm nói về chủ quan của tội phạm Đây là cách phân chia phù hợp với tình tiết trong thực tế và một thể thống nhất nó tạo ra một cấu thành tội phạm cụ thể Sự phân chia này bao trùm tất cả các cấu thành tội phạm, nhưng trong mỗi loại dấu hiệu ở các cấu thành tội phạm cụ thể khác nhau lại mang một nội dung khác nhau Có những loại nội dung giống nhau, nhưng đặt chúng trong một thể thống nhất trong một cấu thành tội phạm thì chúng lại tạo ra những cấu thành tội phạm khác nhau

Vì định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quá trình so sánh tìm

ra sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội đã được thực hiện trong thực tế với các dấu hiệu thuộc cấu thành tội phạm quy định trong BLHS Do

đó chúng ta có thể coi định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là xác định cấu thành tội phạm trong một hành vi nguy hiển cho xã hội Qua khái niệm định tội danh, ta hiểu rằng quá trình định tôi danh với một hành vi nguy hiểm cho xã hội phải được tiến hành trên cơ sở các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm

đã xảy ra và dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng đã được phân tích đánh giá Điều quan trọng trong quá trình định tội danh là việc xác định

cơ sở pháp lý cho việc định tội danh.Tức là xác định dấu hiệu trong cấu thành tội phạm Điều đó thể hiện ở chỗ chỉ có pháp luật hình sự mới quy định dấu hiệu nào của một tội phạm thuộc loại tội này hay loại tội khác là cơ bản, điển hình, đặc trung và cần thiết Hay nói cách khác, chỉ nhà làm luật mới có quyền quy định trong quy định pháp luật hình sự mô hình tội phạm, cơ cấu của cấu thành tội phạm Quy phạm phần các tội phạm là nguồn chủ yếu chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Chính các quy phạm pháp luật phần các tội phạm đề cập đến tất cả các hành vi bị trừng phạt bằng pháp luật hình sự là tội phạm Mỗi luật trong phần các tội phạm đều xác định tên của hành vi, đồng thời cũng thể hiện bản chất của tội phạm thuộc một loại cụ thể Đồng thời, khi xây dựng các tình tiết trong cấu thành tội phạm, nhà làm luật

Trang 25

cũng xem xét tới các tình tiết đã nêu trong các quy pham pháp luật phần chung

Vì vậy, khi áp dụng quy phạm pháp luật hình sự cúng ta phải xem xét cả quy phạm phần chung Tóm lại, khi xác định các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể cần phải xem xét toàn bộ hệ thống pháp luật hình sự, tên gọi của các chương trong BLHS, các quy phạm pháp luật trong phần các tội phạm, các quy phạm pháp luật trong phần chung , thực tiễn xét xử, các định nghĩa khoa học về các loại tội phạm và các bình luận về pháp luật hình sự Tức là quá trình phát hiện và làm sáng tỏ cấu thành tội phạm được tiến hành trong phạm vi pháp luật hiện hành Việc làm sáng tỏ cấu thành tội phạm là một đảm bảo quan trọng đối với định tội danh chính xác Và định tội danh là việc đối chiếu, so sánh một hiện tượng xảy ra trong thực tiễn khách quan sinh động với một cấu thành tội phạm, với những dấu hiệu đặc trưng cơ bản nói lên bản chất của loại tội phạm tương ứng Điều đó đòi hỏi người cán bộ pháp luật phải có ý thức pháp luật, có sự đánh giá chủ quan chính xác, đầy đủ và thống nhất

Trong luật hình sự, do tính chất đa dạng của tội phạm, có thể có nhiều cấu thành tội phạm khác nhau cho một loại tội phạm Trước hết nhà làm luật xây dựng cho mỗi loại tội phạm một cấu thành tội phạm cơ bản và những dấu hiệu bổ sung phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm

Ba dạng cấu thành tội phạm này là một loại tội phạm được quy định trong một điều luật Như vậy, đối với mỗi loại tội phạm có thể có ba dạng cấu thành tội phạm phản ánh ba trường hợp tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau một các cơ bản

Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội Cấu thành này bao gồm: Những dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung tăng nặng, tức dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (đa số đó là khoản 2,3,4 của các điều luật ở phần các tội phạm

Trang 26

BLHS nước ta) Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có các dấu hiệu định khung giảm nhẹ, tức dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể

Đối với mỗi loại tội phạm đòi hỏi phải có và chỉ một cấu thành tội phạm cơ bản, ngài ra có thể có một hoặc nhiều cấu thành tăng nặng hoặc giảm nhẹ Một người chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình giảm nhẹ hay khung hình tăng nặng khi đã thỏa mãn các dấu hiệu cơ bản của cấu thành tội phạm Các dấu hiệu cấu thành tăng nặng hay giảm nhẹ đều xuất phát từ các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tội phạm cộng với tình tiết định khung tăng nặng hay tình tiết định khung giảm nhẹ Quan điểm của nhà làm Luật hình sự nước ta trong việc giải quyết vấn đề cơ sở của trách nhiệm hình sự là rất rõ ràng

Cơ sở thống nhất duy nhất của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được BLHS quy định

Việc quy định rõ ràng, cụ thể, chính xác các cấu thành tội phạm ở phần các tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa chính trị xã hội, ý nghĩa pháp lý hình sự và ý nghĩa thực tiễn rất lớn, bởi vì cấu thành tội phạm thực hiện 3 chức năng cơ bản: Chức năng nền tảng; Chức năng phân biệt và chức năng bảo đảm

Chức năng nên tảng thể hiện ở chỗ việc hiện có hành vi của con người những dấu hiệu của cấu thành tội phạm là cơ sở cần và đủ của trách nhiệm hình sự: Trên cơ sở cấu thành tội phạm hay không phải là tội phạm Chức năng phân biệt thể hiện ở chỗ việc mô tả chính xác trong phần quy định của BLHS các dấu hiệu của cấu thành tội phạm bảo đảm cho việc phân biệt tội phạm này với những tội phạm khác, khung hình phạt này với khung hình phạt khác Từ đó giúp cho tòa án lựa chọn các biện pháp hình sự phù hợp đối với người phạm tội, đảm bảo hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm Chức năng bảo đảm thể hiện ở chỗ hành vi của người nào không có đầy đủ dấu hiệu

Trang 27

của cấu thành tội phạm, thì người đố không phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt nó đảm bảo cho việc không xét xử oan người không phạm tội

Tất nhiên, ba chức năng trên của cấu thành tội phạm chặt chẽ với nhau

và có ý nghĩa tương đối trong từng mối quan hệ cụ thể Các chức năng nền tảng, phân biệt và bảo đảm của cấu thành tội phạm đặt ra với nhà làm luật nhiệm vụ là phải xây dựng nó như thế nào để loại trừ khả năng có những mâu thuẫn và nhiều nghĩa khi nhận thức cấu thành tội phạm, tạo điều kiện cho việc

áp dụng đúng, chính xác những phạm vi giống nhau, thống nhất đối với những người phạm tội Tính rõ ràng,cụ thể chính xác đề cập đến tất cả các dấu hiệu cấu thành tội phạm, đặc biệt là các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan và khách quan Khi xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể , nhà làm luật đã dùng các biện pháp mô tả các dấu hiệu cấu thành tội phạm bằng cách viện dẫn với việc chỉ

rõ các dấu hiệu của nó Bằng những biện pháp đó, nhà nước ta đã quy định ở phần các tội phạm của BLHS những quy phạm mới về trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm này hay hành vi nguy hiểm khác đối với xã hội

Để định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng, thì một trong những vấn đề quan trọng đối với các nhà làm luật cần sử dụng thuật ngữ nội dung như thế nào để cơ quan áp dụng hiểu một cách nhất quán, thống nhất chính xác về một nghĩa Có như vậy mới bảo đảm thống nhất, đáp ứng mục đích mà nhà làm luật đặt ra khi xây dựng quy phạm đó

Nhà làm luật hình sự nước ta quy định cơ sở thống nhất, duy nhất của trách nhiệm hình sự là hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm

đã được BLHS quy định Từ quan điểm này cần chú ý hai vấn đề thuộc hai

thái cực cực đoan thường gặp trong thực tiễn điều tra truy tố và xét xử là:

Thứ nhất, trong việc áp dụng pháp luật nói chung và định tội danh nói

riêng việc giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật chỉ đực tiến hành trên cơ

sở pháp luật và đúng pháp luật.Việc quy định một tội mới, sữa đổi bổ sung một tội phạm hay hủy bỏ một tội phạm nhất định phải được tiến hành một

Trang 28

cách hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật Các cơ quan điều tra, truy tố

và xét xử khi tiến hành hoạt động của mình phải căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự hiện hành Chỉ khi nào có đầy đủ cơ sở khẳng định rằng hành vi của một người có dấu hiệu của một người có các dấu hiệu của một tội phạm đã được quy định trong luật hình sự thì mới tiến hành các biện pháp điều tra, truy tố xà xét xử đối với họ

Thứ hai, ngược lại có một số cán bộ điều tra, truy tố và xét xử lại quá

dựa vào các hướng dẫn của các cơ quan chức năng đòi hỏi quy định nào của pháp luật cũng phải được hướng dẫn thì mới áp dụng Trong việc định tội danh, cấu thành tội phạm đã được nhà làm luật khái quát thành những đặc điểm cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm Trách nhiệm của người áp dụng pháp luật là phải nhận đầy đủ và thống nhất các quy định đó và so sánh với các hành vi thực tế áp dụng quy định nào của pháp luật cho đúng

Tuy nhiên, trong định tội danh để biết một trường hợp có dấu hiệu của tội phạm hay không hoặc để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, căn cứ chủ yếu là BLHS Bên cạnh đó các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý đúng người, đúng tội Như các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS gồm: Nghị quyết của Quốc hội về thi hành BLHS; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của BLHS; Thông tư liên tịch giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau hoặc với các cơ quan hữu quan khác (như thông tư liên tịch giữa TANDTC với VKSNDTC, BCA,…) Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên hướng dẫn chi tiết việc áp dụng những quy định của BLHS (mô

tả chi tiết các dấu hiệu định tội danh mà BLHS không mô tả hoặc mô tả chung chung chưa cụ thể)

Trong định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngoài việc áp dụng BLHS, BLTTHS, việc định tội danh còn căn cứ vào các văn bản pháp luật khác nhau như: Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-

Trang 29

BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một

số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999”; Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/03/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 139, 193, 194, 278, 279, và 289 BLHS năm 1999…

1.2.4 Cơ cấu của pháp luật và quá trình định tội danh

Xác định, làm sáng tỏ cơ cấy của quy phạm pháp luật hình sự là một công việc có ý nghĩa quan trọng trong quá trình định tội danh Theo lý luận chung về pháp luật thì một quy phạm pháp luật gồm ba phần: Giả định, quy định và chế tài Trong đó phần giả định có nội dung đề cập đến điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng một quy phạm pháp luật, Phần quy định là phần trung tâm trong quy phạm pháp luật, nêu định nghĩa về hành vi, nêu quy định bắt buộc phải làm hay điều cấm không được làm Phần chế tài nêu hậu quả pháp

lý của việc không tuân thủ quy định trong phần quy định của điều kiện giả thiết đã nêu Trong quy phạm pháp luật hình sự, chế tài được quy định trong quy phạm pháp luật phần các tội phạm, thể hiện thái độ của Nhà nước đối với mỗi loại hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong các quy phạm pháp luật hình sự, phần giả định là hiển nhiên phải tồn tại Bởi nhà nước không thể quy định tính tất yếu phải có quy chế này hay quy chế khác, cấm hoàn toàn với hành vi này hay hành vi khác mà không quy định điều kiện, mà trong các điều kiện ấy phải tuân thủ quy định đã nêu trên Hơn nữa, trong các quy phạm pháp luật hình sự

đó là những điều kiện mà trong những điều kiện ấy xảy ra những hậu quả pháp

lý quan trọng như: truy cứu trách nhiệm hình sự, quy định hình phạt…

Qua xem xét nội dung của giả định và chế tài trong quy phạm pháp luật hình sự ta nhận thấy trong hai phần nêu trên chưa thể hiện được những dấu hiệu cơ bản, điển hình trong cấu thành tội phạm này với tội phạm khác, thể hiện trong phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự Điều đó hoàn toàn

Trang 30

phù hợp với nội dung trong phần quy định đã đề cập trong lý luận chung về pháp luật Về mặt này, phần quy định có ý nghĩa quan trọng là trung tâm của quy phạm pháp luật hình sự, thể hiện quy chế của hành vi hoặc điều ngăn cấm của Nhà nước Mức độ đề cập, mô tả các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm ở phần quy định là rất khác nhau Có quy định chỉ nêu tên gọi của tội phạm, có quy định mô tả hành vi tội phạm một cách chi tiết Để giúp cho việc phát hiện các dấu hiệu của cấu thành tội phạm trong phần quy định nhanh chóng và chính xác, lý luận chung về pháp luật đã phân trần quy định của quy phạm pháp luật thành bốn loại: Quy định đơn giản, quy định mô tả, quy định chỉ dẫn và quy định viện dẫn

Qua phân tích cho thấy, đặc điểm cơ cấu của quy phạm pháp luật, mức

độ thể hiện các dấu hiệu cấu thành tội phạm là khác nhau Đặc biệt là trong các quy định của quy phạm pháp luật, phần có chứa đựng các dấu hiệu đặc trưng nhất của các loại tội phạm Bởi vậy, đối với mỗi loại cần có một phương pháp riêng, phù hợp để làm sáng tỏ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình định tội danhtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chẳng hạn, khi định tội danh đối với hành vi nguy hiểm mà trong điều luật tương ứng có phần quy định chỉ đề cập tới tên gọi của hành vi tội phạm, người áp dụng quy phạm pháp luật khi định tội danh phải chú ý tới quy phạm pháp luật phần chung và làm sáng tỏ tất cả các dấu hiệu tội phạm Đồng thời chú ý tới khái niệm về hành vi này trong khoa học pháp

lý, thực tiễn xét xử và bình luận khoa học Qua đó người định tội danh có thể làm sáng tỏ cấu thành tội phạm trong điều luật đó Sau đó đối chiếu dấu hiệu của hành vi phạm tội với dấu hiệu trong cấu thành tội phạm Khi định tội danh đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội theo điều luật có quy định là mô tả, thì quá trình phát hiện các dấu hiệu cấu thành tội phạm cũng được tiến hành tương tự Nhưng đặc biệt cần lưu ý đến các dấu hiệu mà nhà làm luật trực tiếp nếu trong phần quy định mô tả Đó là những dấu hiệu cần thiết không cần bất cứ sự giải

Trang 31

thích nào không đúng với tinh thần nội dung mà nhà làm luật sử dụng Còn đối với quy định chỉ dẫn hay quy định viện dẫn thì định tội danh cần áp dụng điều luật có quy định đó và các quy phạm của ngành luật khác (quy định chỉ dẫn) hay các quy phạm pháp luật hình sự khác (quy định viện dẫn)

Nhìn chung, đa số các quy phạm pháp luật trong BLHS có sự mô tả dưới dạng pháp luật mô hình tội phạm, nhưng cũng có những quy định trong điều luật phần các tội phạm của BLHS có sự đề cập tới hai hay trên hai mô hình phạm tội với một chế tài chung, ví dụ: Điều 120 BLHS Rõ ràng ở đây nhà làm luật đã đề cập tới nhiều hành vi tội phạm và sử dụng kỹ thuật lập pháp, nhằm tiết kiệm ngôn từ và tổng hợp quan niệm của mình về các dấu hiệu của một số cấu thành tội phạm Trong lý luận luật hình sự còn xuất hiện vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với định tội danh và vị trí, vai trò của các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong mỗi cấu thành tội phạm Ví dụ: Điều 93 khoản 1 BLHS và Điều 96 BLHS, trong trường hợp này chúng là cơ sở để xác định ở đây có hai cấu thành tội phạm độc lập được quy định ở hai điều luật độc lập Như vậy, khi đó các tình tiết này là dấu hiệu cơ bản của tội phạm và chúng là cơ sở để xác định những cấu thành tội phạm độc lập Nhưng nếu trong trường hợp các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nằm trong cùng điều luật với dạng đơn giản của một loại tội phạm, thì chúng không làm thay đổi bản chất pháp lý của tội phạm Bởi vậy, cần coi nó là các dạng khác nhau của một tội phạm Vì vậy, từng tội phạm cần được định tội danh một cách độc lập theo đúng điều luật, khoản và điểm tương ứng Chỉ khi các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thuộc một trong hai trường hợp trên mới có ý nghĩa trong việc định tội danh Tuy nhiên, khi nghiên cứu cấu thành tội phạm để định tội danh cần chú ý tới cấu thành tội phạm mà nhà làm luật chỉ dẫn ra một số dấu hiệu lựa chọn thuộc một thành phần nào đó của cấu thành tội phạm nhằm xây dựng một số dạng khác nhau của cấu thành tội phạm, ví dụ, Điều: 135 BLHS

Trang 32

1.3 Định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, cụ thể là tội phạm tức là căn cứ vào dấu hiệu đó, một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

Đây là một khái niệm mang tính chất khoa học, là mô hình pháp lý chung cho tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội, những dấu hiệu của cấu thành tội pham vừa phản ánh được đầy đủ tính nguy hiểm của loại tội phạm

cụ thể và vừa đủ cho phép phân biệt loại tội này với loại tội khác Như vậy, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, là căn cứ để Tòa án lựa chọn đúng loại và mức hình phạt đối với người bị kết án Theo đó, các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho mỗi loại tội phạm cụ thể luôn được phản ánh trong bốn yếu tố gồm: Mặt khách thể, mặt khách quan, mặt chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm Chính sự phân chia này giúp chúng ta phân biệt được hai loại tội cụ thể khác nhau mặc

dù giữa chúng có những dấu hiệu trùng nhau Chẳng hạn như đối với tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) và tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS) là hai tội có cấu thành tội phạm giống nhau về phương diện khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm những giữa chúng lại có sự khác nhau cơ bản về phương diện khách quan thể hiện ở tính chất của hanh vi phạm tội và phương pháp tiến hành: ở tội cướp giật thì hành vi chiếm đoạt tài sản là công khai nhanh chóng còn trong tội trộm cắp tài sản thì hành vi được tiến hành một cách lén lút, bí mật Đó là điểm khác nhau cơ bản làm cơ sở để xác định hai loại cấu thành tội phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác nhau Điều này giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng gặp thuận lợi trong quá trình định tội danh

Trang 33

1.3.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khách thể là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm mà nếu thiếu nó thì không phải là tội phạm Các quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nhưng BLHS chỉ bảo vệ những quan hệ xã hội có liên quan đến độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và những lĩnh vực khác của trật tư pháp luật xã hội chủ nghĩa (22- Điều 8, BLHS) Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khách thể là quan hệ sở về tài sản, đó là hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại, gây thiệt hại cho quan hệ tài sản về tài sản được pháp luật bảo vệ Nội dung của quan hệ sở hữu thể hiện quyền của chủ sở hữu về tài sản, bao gồm: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản được quy định trong Bộ Luật dân sự 2005

Như vậy: Chỉ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có hành vi đã hoặc sẽ gây ra thiệt hại cho quan hệ sở hữu về tài sản thuộc các hình thức sở hữu theo quy định tại Điều 32, Hiến pháp 2013 Tuy vậy, cũng có một số trường hợp gây thiệt hại về tài sản nhưng lại cấu thành những tội phạm khác

vì sự xâm hại này chỉ là thứ yếu và nó bị thu hút vào khách thể quan trọng

hơn, ví dụ như hoạt động phỉ… [18, tr.218]

Ngoài ra, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như các tội quy định tại Điều:

133 - Tội cướp tài sản, Điều: 134 - Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều

135 - Tội cưỡng đoạt tài sản, Điều 136 - tội cướp giật tài sản là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đồng thời xâm phạm hai khách thể, đó là quan hệ nhân thân

và quan hệ tài sản Trong các trường hợp này, hành vi phạm tội trước hết xâm phạm đến than thể, quyền tự do của con người để qua đó có thể xâm phạm đến quyền tài sản Sự xâm hại một trong hai loại quan hệ xã hội này đều chưa thể hiện hết bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Do đó hai

Trang 34

quan hệ trên đều là khách thể trực tiếp của những tội này Việc xếp những tội này vào chương các tội xâm phạm sở hữu xuất phát từ quan điểm cho rằng mục đích chính của người phạm tội là nhằm vào quyền sở hữu tài sản Việc xâm hại quan hệ nhân thân chỉ là phương tiện để người phạm tội đạt được mục đích là chiếm đoạt tài sản

Đối tượng tác động của các tội xâm phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

là bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 BLDS) nhưng ở một số tội phạm, ngoài tài sản còn có đối tượng tác động là con người, như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản… Đối tượng (con người) này phải có quan hệ với tài sản và bị tác động đồng thời với tài sản mới là đối tượng tác động của các tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nếu bị gây thiệt hại một cách độc lập sẽ cấu thành tội phạm ở chương khác

của BLHS [8, tr.220] Trong số tài sản nêu trên, một số tài sản đặc biệt không

phải là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân

sự, tài nguyên thiên nhiên…

1.3.2 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung bao gồm các dấu hiệu: hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả của tội phạm và mối

quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó [28, tr.162] Dựa trên tính chất

hành vi khách quan của tội phạm, có thể phân chi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thành ba nhóm nhỏ là: Nhóm các tội có tính chất chiếm đoạt; nhóm khai thác giá trị sử dụng và nhóm làm mất, hư hỏng giá trị sử dụng

Nhóm thứ nhất gồm các tội được quy định từ Điều 133 BLHS đến Điều

140 BLHS Các tội thuộc nhóm này đều bắt buộc phải có hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác như: cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản… Một số tội thuộc nhóm này được xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm hình thức với dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

Trang 35

chỉ gồm hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản tương ứng Các tội này được quy định tại Điều 133, Điều 134 và Điều 135 BLHS Trong khi đó, một số tội khác thuộc nhóm này được xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm vật chất với các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm gồm: hành vi chiếm đoạt tài sản tương ứng, hậu quả của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả (Điều 136 đến Điều 140 BLHS)

Nhóm thứ hai gồm các tội được quy định tại Điều 141 và Điều 142 BLHS Các tội thuộc nhóm này gồm các tội có động cơ vụ lợi, tức là khai thác giá trị sử dụng của tài sản của người khác (gồm tội chiếm giữ trái phép tài sản và tội sử dụng trái phép tài sản)

Nhóm thứ ba là nhóm tội không có động cơ vụ lợi mà chỉ có động cơ

cố ý hoặc vô ý làm mất, hư hỏng giá trị sử dụng Nhóm này gồm các tội được quy định tại Điều 143, Điều 144 và Điều 145 BLHS (gồm tội hủy hoại hoặc

cố ý làm hư hỏng tài sản; tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản)

Hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc của tất cả tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện rất khác nhau, tùy theo tính chất của từng tội Đây có thể

là hành vi chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản, hành vi sử dụng trái phép tài sản, hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài sản… Các hành vi đó tuy có khác nhau về hình thức thể hiện nhưng đều gây thiệt hại cho quan hệ tài sản bằng cách xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ tài sản

Bằng hành vi chiếm đoạt với các thủ đoạn khác nhau, các tội này có cùng đặc điểm là xâm phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác và chủ yếu được thực hiện bằng hành động Hành vi chiếm đoạt tài sản được hiểu là người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sử dụng của chủ thể khác thành tài sản của mình Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng được thực hiện bằng hành động cụ thể và chủ yếu và cố ý trực

Trang 36

tiếp với mong muốn biến tài sản của người khác thành của mình Tuy nhiên ở một số tội trong nhóm các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy thấy trước hoặc buộc phải thấy trước hậu quả xảy ra nhưng người phạm tội vẫn tự tin hậu quả không xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra

Theo đó, đặc điểm của hành vi chiếm đoạt là bằng hành vi gian dối lám cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm rồi trao tài sản cho họ chiếm hữu, sử dụng , định đoạt trái pháp luật đối với tài sản đã chiếm được Xét về mặt pháp lý, đây là hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp nên dù rằng chủ

sở hữu mất đi khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng hay định đoạt của mình nhưng họ không mất đi quyền sở dụng đối với tài sản

Hành vi chiếm đoạt bắt đầu và kết thúc tùy thuộc vào tính chất tài sản

và thủ đoạn chiếm đoạt Nếu trong quá trình thực hiện hành vi chiếm đoạt, nếu người phạm tội thay đổi từ hình thức chiếm đoạt này sang hình thức chiếm đoạt khác để có được tài sản thì xuất hiện khả năng chuyển hóa hình thức chiếm đoạt từ tội này sang tội khác Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản phải còn nằm trong sự quản lý của chủ sử dụng tài sản, phải có chủ tài sản cụ thể với các quyết định có tính chất pháp lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản

Về hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ra chủ yếu là thiệt hại

về tài sản Đây là thước đo để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Tuy vậy, “dấu hiệu hậu quả không phải là yếu tố bắt

buộc ở đa số tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” [18, tr.223], chẳng hạn như các

tội quy định tại các Điều 133 - Tội cướp tài sản, Điều 134 - Tội bắt có nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 135 - Tội cưỡng đoạt tài sản… Đây là những tội có cấu thành hình thức, nghĩa là dấu hiệu về mặt khách quan của các tội phạm này chỉ bao gồm một yếu tố là hành vi phạm tội mà không bao gồm hậu quả của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Trang 37

1.3.3 Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là con người cụ thể, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi

do pháp luật hình sự quy định” [6, tr 54] Đối với các tội xâm phạm sở hữu quy

định tại các điều từ Điều 133 đến Điều 145 BLHS Các tội phạm nghiêm trọng được quy định tại khoản 2 Điều 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141, 142,

143, 144, 145 BLHS

Theo quy định tại Điều 12 BLHS thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng quy định tại các điều, khoản nêu trên Như vậy, về độ tuổi ta thấy: Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tất cả các tội xâm phạm sở hữu quy định tại các điều từ Điều 133 đến Điều 145 BLHS Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ là chủ thể của các tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 133; khoản 2,3 và 4 của các điều 134, 135, 136; khoản 3 và 4 các điều 137, 138,

139, 140; khoản 3 và 4 điều 143 BLHS

Ngoài ra, các tội xâm phạm sở hữu quy định tại các Điều 139, 140 BLHS, dấu hiệu chủ thể đặc biệt được phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự, cụ thể ở điểm b, khoản 4 Điều 139, BLHS - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; điểm b khoản 4 Điều 140 - Lợi dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;điểm

b, khoản 4 điều 144, BLHS - Người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản

lý tài sản của Nhà nước

1.3.4 Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành

vi đó gây ra” [6, tr.51] Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là

diễn biến bên trong trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi xâm phạm sở

Trang 38

hữu và hậu quả của hành vi đó gây ra lỗi Lỗi, động cơ, mục đích là những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản các hành vi phạm tội chủ yếu được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp (người phạm tội nhận thức rõ hành

vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản, thậm chí là tính mạng, sức khỏe của người khác nhưng vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra) Ở các tội: “ Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” - Điều 144 BLHS và “ Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”

- Điều 145 BLHS thì tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý gây thiệt hại đến tài sản của người khác

Lỗi bao gồm hai yếu tố lý trí và ý chí, lý trí chính là năng lực nhận thức thực tại khách quan, còn ý chí là khả năng điều khiển hành vi trên cơ sở nhận thức Ở đây, người phạm tội có sự tự do lựa chọn và quyết định về việc thực hiện hành vi phạm tội của mình

Về mặt lý trí, người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, tức họ hoàn toàn nhận biết được diễn biến cũng như sự tiến triển trong việc hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả nhưng họ vẫn mong muốn hậu quả đó xảy

ra Người phạm tội có thể nhận thức (biết trước) hoặc buộc phải biết trước hậu quả hành vi của mình sẽ gây nguy hiểm cho xã hội nhưng tự tin hoặc cẩu thả nên bỏ mặc cho hậu quả xảy ra (lỗi vô ý); Về ý chí, người phạm tội biết tài sản mà mình muốn chiếm đoạt đang thuộc sự quản lý của người khác nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình hoặc gây thiệt hại về tài sản của người khác

“Động cơ phạm tội là động cơ bên trong thúc đẩy người phạm tội

thực hiện hành vi phạm tội” [6, tr.53] Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

luôn luôn xuất hiện động cơ, tức động lực thúc đẩy, kích thích người phạm tội thực hiện tội phạm

Trang 39

“ Mục đích phạm tội là yêu cầu đạt được và mong muốn đạt được của

người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội” [6, tr.35], các tội

quy định tại các Điều 133 - Tội cướp tài sản, Điều 134 - Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 135 - Tội cưỡng đoạt tài sản thì mục đích chủ yếu là yếu tố bắt buộc

1.4 Định tội danh trong những trường hợp đặc biệt

Trong quá trình thực hiện tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bao giờ cũng mong muốn thực hiện toàn bộ hành vi theo dự kiến của mình với mục đích đạt được kết quả mong muốn đã được đặt ra Nhưng trong thực tế cũng có không ít những trường hợp người phạm tội không thực hiện được đầy đủ dự định của mình hoặc không thể tiến hành thực hiện tội phạm đến cùng vì những nguyên nhân có thể là do chủ quan cũng có thể là do khách quan Cụ thể là các trường hợp: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ý, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Bên cạnh đó, cũng có tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm hoặc trường hợp phạm nhiều tội Theo luật hình sự Việt nam, vấn đề trách nhiệm pháp lý trong các trường hợp này chủ yếu chỉ đặt ra đối với lỗi cố ý trực tiếp

Để thực hiện một tội phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội với lỗi cố ý có quá trình thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị đến giai đoạn thực hiện tội phạm và khi tội phạm được thực hiện như ý định của người phạm tội cũng đồng nghĩa với việc kết thúc một quá trình thực hiện tội phạm Trong quá trình đó, có thể vì nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan mà người phạm tội không thực hiện đến cùng hành vi đã định trước Tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Như vậy, chuẩn bị phạm tội là giai đoạn người thực hiện tội phạm chưa thực hiện hành

vi phạm tội mà chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị; Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản và phạm tội chưa đạt là người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm

Trang 40

nhưng không thực hiện được đến cũng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ, trong khi đó họ vẫn mong muốn và có mục đích thực hiện đến cùng hành vi phạm tội đã định trước

Trách nhiệm hình sự của người chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ được xem xét theo hai loại: Không chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện khi người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt từ trên bảy năm

tù trở lên, tù chung thân hoặc tử hình)

Trách nhiệm hình sự của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng được xem xét theo hai trường hợp: được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm và nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này Ví dụ: A dùng súng AK để đi cưỡng đoạt tài sản của người đi đường Khi thấy anh B chạy xe máy ngang qua, A đã chặn xe anh B lại nhưng không thực hiện hành vi dùng súng đe dọa để cưỡng đoạt tài sản mà giả vờ hỏi đường rồi để anh B đi Hành

vi nói trên của A, tuy được miễn trách nhiệm hình sự về tội “ cưỡng đoạt tài sản” nhưng A phải chịu trách nhiệm hình sự về “ tội cưỡng đoạt tài sản” nhưng A phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội tàng trữ, vận chuyển,sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng” - Điều 230 BLHS

Trách nhiệm hình sự của người phạm tội chưa đạt sẽ được xem xét theo hai loại: phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là người phạm tội đã thực hiện hết hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, nhưng vì nguyên nhân khách quan nên hậu quả không xảy ra Chẳng hạn như biết nhà A đi vắng nên

B đã một mình đi vào nhà A và ngang nhiên lấy tài sản của nhà A bỏ lên xa

để chở đi Khi B vừa chuẩn bị đi thì A về phát hiện và bắt giữ Trong trường hợp này, B chưa thực hiện được việc chiếm đoạt tài sản của A vì bị A phát

Ngày đăng: 07/11/2017, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Nội chính Trung ương (1998), Công văn số 170/CT ngày 04/7/1998 báo cáo Bộ Chính trị về việc tìm kiếm và thực thi các giải pháp chống hình sự hóa các giao dịch dân sự; kinh tế, chống oan, sai và bảo vệ các hoạt động kinh doanh của người dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tìm kiếm và thực thi các giải pháp chống hình sự hóa các giao dịch dân sự; kinh tế, chống oan, sai và bảo vệ các hoạt động kinh doanh của người dân
Tác giả: Ban Nội chính Trung ương
Năm: 1998
2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
3. Bộ Chính trị (2003), Chỉ thị số 53/CH-TW ngày 21/3/2003 khẳng định quyết tâm chống oan, sai trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng công tác tư pháp, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: khẳng định quyết tâm chống oan, sai trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng công tác tư pháp, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2003
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
6. Nguyễn Mai Bộ (2010), Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
7. Lê Cảm (1999), “Định tội danh - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (3, 4, 5, 8, 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Định tội danh - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 1999
8. Lê Cảm (2000), “Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh”, Chương XXXI – Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh”, "Chương XXXI – Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
9. Lê Cảm (2000), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh”, Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh”, "Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
11. Lê Cảm - Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên) (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm - Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
12. Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản (2005), Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành
Tác giả: Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
13. Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh - Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh - Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập
Tác giả: Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
14. Nguyễn Ngọc Chí (1997), “Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 1997
15. Nguyễn Ngọc Chí (1997), “Một số vấn đề đồng phạm trong các tội xâm phạm sở hữu”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đồng phạm trong các tội xâm phạm sở hữu”," Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 1997
16. Nguyễn Ngọc Chí (1997), “Vấn đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu"”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 1997
17. Nguyễn Ngọc Chí (1997), “Yếu tố chức vụ, quyền hạn trong các tội xâm phạm sở hữu”, Tạp chí Nhà nưởc và pháp luật; (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố chức vụ, quyền hạn trong các tội xâm phạm sở hữu"”, Tạp chí Nhà nưởc và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 1997
18. Nguyễn Ngọc Chí (2000), “Trách nhiệm hình sự đồi với các tội xâm phạm sở hữu”, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm hình sự đồi với các tội xâm phạm sở hữu”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2000
24. Đại học Khoa học Huế (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Đại học Khoa học Huế
Năm: 2005
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w