Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ NGỌC ANH
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM
VỀ MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Văn Điệp
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của Tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết
quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Thái Nguyên, Ngày 25 tháng 8 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Ngọc Anh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM MA TÚY 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy 5 1.2 Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự 9
1.3 Mối quan hệ giữa cơ quan điểu tra và viện kiểm sát trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự 18
1.4 Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự 24
Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG 27 GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 27
2.1 Kiểm sát giai đoạn khởi tố 27
2.2 Kiểm sát hoạt động điều tra 33
2.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 43
2.4 Kiểm sát đình chỉ điều tra vụ án hình sự của CQĐT 49
Chương 3THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TỈNH THÁI NGUYÊN 51
3.1 Thực trạng kiểm sát tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh thái nguyên 51
3.2 Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm ma túy của vksnd tỉnh thái nguyên 57
3.3.Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh thái nguyên 70
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
THQCT Thực hành quyền công tố
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
Bảng 3.1 Thống kê cơ cấu tội phạm ma túy xảy ra trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên (từ ngày 01/12/2011 đến ngày 31/11/2016)
55
Bảng 3.2 Kết quả khởi tố, truy tố và xét xử các tội phạm về ma túy
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên(từ ngày 01/12/2011 đến
ngày 31/11/2016)
58
Bảng 3.3 Thống kê số vụ án về ma túy Viện kiểm sát hủy quyết
định khởi tố và Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra
khởi tố (từ ngày 01/12/2011 đến ngày 31/11/2016)
60
Bảng 3.4 Thống kê số vụ án, bị can phạm tội về ma túy phải đình
chỉ giải quyết(từ ngày 01/12/2011 đến ngày 31/11/2016)
61
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua ngành Kiểm sát nhân dân đã góp phần bước đầu tạo nên diện mạo mới cho nền tư pháp quốc gia Hoạt động thực hành quyền công tốvà Kiểm sát hoạt động tư pháp được đổi mới, nâng cao về chất lượng, đã hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội cũng như làm oan người vô tội, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần không nhỏ trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên vì nhiều lý do mà hoạt động kiểm sát các hoạt động
tư pháp ở các giai đoạn tố tụng, trong đó có hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; còn để xảy ra tình trạng trả hồ sơ điều tra
bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, việc bắt, tạm giữ sau đó phải xử lý hành chính, còn có vụ án bị cấp phúc thẩm hủy do vi phạm trong quá trình điều tra; việc phát hiện những
vi phạm trong hoạt động điều tra của CQĐT chưa thường xuyên, kiên quyết, còn hiện tượng
nể nang, do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác điều tra
Thực tế ở Việt Nam cho thấy tình hình vi phạm, tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp trên hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc, phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, có chiều hướng gia tăng về số vụ, về tính chất nguy hiểm và hậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo kiên quyết đấu tranh nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội bằng việc ban hành Luật và nhiều văn bản Pháp luật tạo thành một hệ thống Pháp luật về phòng chống Ma túy Trong giai đoạn tiếp theo, toàn ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 49/NQ-TW; đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực hoạt động tư pháp; bảo đảm triển khai và thực hiện
có hiệu quả Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm2015 nâng cao chất lượng THQCT và KSHĐTP; tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh phòng, chống tội
Trang 7phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm ma túy Trong đó toàn Ngành
tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng
cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới”;
Kế hoạch số 88/KH-VKSTC ngày 13/9/2012 của VKSND Tối cao về “Chiến lược quốc gia
phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 trong ngành Kiểm sát nhân dân” Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của VKSND
Tối cao về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt
động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”
Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài "Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn tốt nghiệp Cao học
chuyên ngành luật hình sự, tố tụng hình sự nhằm đáp ứng cả về phương diện lý luận và thực tiễn và góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát các HĐTPở giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm ma túy tại VKSND tỉnh Thái Nguyên
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Kiểm sát hoạt động trong giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự là một đề tài rộng Đề tài này đã được một số tác giả nghiên cứu và các công trình khoa học đó đã công bố, như:
Tác giả Nguyễn Thành Trì, Luận văn cao học luật, năm 1996 “Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong giai đoạn khởi tố điều tra án hình sự”; tác giả Vũ Thị Xuân Nhuệ, Luận văn cao
học luật, năm 1998, “Một số hoạt động kiểm sát điều tra án kinh tế tại thành phố Hồ Chí
Minh” Công tác THQCT và kiểm sát điều tra án ma túy của TS Dương Thanh Biểu- Phó
viện trưởng VKSND Tối cao (năm 2001) Ngoài ra còn nhiều bài viết của các tác giả đăng
trên tạp chí ngành và nhiều chuyên đề nghiệp vụ như: “Tổng hợp kinh nghiệm trong công tác
THQCT, KSĐT, KSXX sơ thẩm các vụ án ma túy lớn” của Vụ 2, VKSND tối cao năm
2004;“VKSND các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”của TS Trần Công Phàn, đăng trên
Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012
Các công trình khoa học nói trên mặc dù có đề cập đến chức năng kiểm sát khởi tố, điều tra của VKS, nhưng lại nghiên cứu đối với vụ án kinh tế hay mới dừng lại ở hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra, mà chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận chức năng kiểm sát hoạt
Trang 8động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự đặc biệt là các tội phạm về ma túy.Hơn nữa, các công trình khoa học đó nghiên cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp luật trước đây, hiện nay các văn bản pháp luật đó đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy định mới Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy và tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra đối với tội phạm ma túy của VKSND tỉnh Thái Nguyên
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp ở giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm ma túy
Khảo sát thực tiễn công tác kiểm sát HĐTP trong giai đoạn khởi tố, điều tra của VKS trong các tội phạm về ma túy, từ đó thấy được những ưu điểm, tích cực và mặt hạn chế để và
đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chức năng này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn
của công táckiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn trong 5 năm, từ ngày
01/12/2012 đến ngày 31/11/2016 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
5 Phương pháp luậnvà phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và ngành Kiểm sát nhân dân về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; đặc biệt là quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng những
phương pháp nghiên cứu của Triết học Mác – Lênin và các khoa học chuyên ngành khác, trong đó đặc biệt chú trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và ý thực tiễn của luận văn
Những đóng góp mới của luận văn: Làm rõ thêm khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội
dung của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn khỏi tố, điều tra các tội phạm
ma túy của VKSND; Phân tích đánh giá ưu điểm, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân qua
đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát các hoạt động ở giai đoạn khởi tố điều tra các tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyêntrong thời gian tới
Ý nghĩa của luận văn: Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về chức năng kiểm sát hoạt
động ở giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm ma túy của VKSND.Trong quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003 với các quy định của BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để thấy được những điểm mới liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra vụ án hình sự Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, nội dung của luận văn gồm 03 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra và hoạt động kiểm sát khởi tố,
điều tra các tội phạm về ma túy
Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố điều tra các
tội phạm về ma túy
Chương 3: Thực trạng, giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác kiểm sáthoạt
động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM MA TÚY 1.1 Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định
BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự
đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị
Luận văn này chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra các tội phạm về ma túy Sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm, đặc điểm của giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Khái niệm: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng Trong
giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền bào gồm CQĐT, VKS, Tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được áp dụng một số biện pháp do BLTTHS quy định để kiểm tra, xác minh làm rõ tính xác thực của các tin báo, tố giác về tội phạm đã tiếp nhận Việc kiểm tra, xác minh các tin báo, tố giác về tội phạm có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau tùy thuộc vào tính chất của sự việc, các biện pháp đó
có thể là: Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết và thông tin liên quan đến tin báo, tố giác về tội phạm; yêu cầu cung cấp các kết luận thanh tra, kiểm tra liên quan đến thông tin về tội phạm để làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường
Trang 11thu thập dấu vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy
lời khai của người tố giác tội phạm v.v
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự nên cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được xác định
từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận các thông tin tố giác, tin báo về tội phạm và thời điểm kết thúc khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Khoảng thời gian của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tùy thuộc vào tính phức tạp hay không phức tạp của các tin báo, tố giác về tội phạm mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiếp nhận, thụ lý Theo quy định BLTTHS thì thời gian tối thiểu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là 20 ngày và tối đa không quá 2 tháng
kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận được các tin báo, tố giác về tội phạm, đối với những tin báo phức tạp có thể được VKSND gia hạn 1 lần không quá 2 tháng (Điều 147 BLTTHS 2015)
Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm
để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Do vậy,
ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể kết luận chính xác ngay được về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Để kết luận chính xác các nội dung đó thì phải chuyển qua giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự đó là giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Như vậy, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu: “Là giai đoạn đầu tiên của quá
trình tố tụng hình sự trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ
án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ
án hình sự”
Đặc điểm: Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, có thời hạn
được xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận các tố giác, tin
Trang 12báo về tội phạm và thời điểm kết thúc khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ hai, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự xác định có hay
không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố, ngoài
các cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) còn có những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm Lâm, Hải quan, Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm sẽ ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và VKSND nhiệm vụ giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Thứ tư, Nhằm tháo gỡ những bất cập trong thực tiễn, BLHS 2015 đã quy định việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đồng thời để đảm bảo việc tạm đình chỉ đúng luật thì BLTTHS quy định trách nhiệm của VKS phải kiểm sát chặt chẽ và hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ nếu không có đủ căn cứ
Thứ năm, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm v.v
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Khái niệm: Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng
hình sự Giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định thì vụ án
bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với vụ án
đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án
Trang 13Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra nêu trên thì Viện trưởng VKSND tối cao có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết, thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSND tối cao ấn định thời gian gia hạn
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra Cho nên nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là
cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định
để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ
án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm Nhiệm vụ trên được thực hiện bởi các chủ thể là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Tất cả các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn điều tra đều phải tuân theo đúng các quy định của Luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật
BLTTHS 2015 đã có nhiều sửa đổi bổ sung về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi kiểm sát hoạt động trong giai đoạn điều tra và bổ sung thêm 5 trường hợp VKS phải tham gia đó là: đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét, thực nghiệm điều tra (điều 189, 190,
Trang 14xử của Tòa án Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan
Đặc điểm: Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên, có thể rút ra các
đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng
hình sự có thời hạn xác định bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là các cơ quan có thẩm quyền
áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội
Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra là CQĐT hoặc
các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra
Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi biện pháp do
BLTTHS quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án và phải đảm bảo biện pháp được áp dụng thực hiện theo đúng quy định
1.2 Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự
1.2.1 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự
Từ khi ra đời, Nhà nước ta đứng trước những yêu cầu của quá trình xây dựng và củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ quan nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu cầu cấp bách cần thực hiện Muốn đáp ứng được yêu cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra và giám sát các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và mọi công dân nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Lênin là người đầu tiên có quan điểm về tổ chức cơ quan kiểm tra, giám sát, quan
điểm đó được thể hiện trong tác phẩm bàn về "Song trùng, trực thuộc và pháp chế" Trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thiết lập một nền pháp chế thống nhất, điều mà
Lênin gọi "pháp chế chỉ có một" với ba yêu cầu "phải có sự thống nhất về pháp chế trong
toàn nước cộng hòa"; "phải có luật duy nhất trong toàn nước cộng hòa" và "phải có sự áp
Trang 15dụng thực hiện và tuân theo pháp luật một cách thống nhất" Lênin cho rằng, để bảo đảm sự
thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa cần phải thiết lập một nền pháp chế thống nhất, trật tự kỷ cương phép nước phải nghiêm minh Vậy, muốn có pháp chế thống nhất không thể không thành lập cơ quan VKS
Vận dụng tư tưởng của Lênin vào thực tiễn xây dựng, tổ chức bộ máy Nhà nước ta Đảng và Nhà nước đã nhận định rằng, để đảm bảo cho pháp luật do Nhà nước ban hành được thực hiện một cách nghiêm minh và thống nhất thì việc tổ chức một cơ quan có chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân là một đòi hỏi mang tính khách quan nên đã quyết định thành lập cơ quan VKS Quan điểm trên đã được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp 1992 (sửa đổi).Hiến pháp năm 2013 trong đó có sự điều chỉnh chức năng của cơ quan
VKS với quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp” Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã cụ thể hóa quy định
trên với nội dung quy định rõ Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chủ yếu hai chức năng đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn
bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKSND Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013,Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014
“Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của
các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”
Trang 16Hiện nay xung quanh khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều quan điểm khác nhau, tựu chung lại có hai nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, “kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần "tư pháp" trong thi hành án”
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng:
Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Kiểm sát hoạt động tư pháp được hiểu là chức năng của Viện kiểm sát nhân dân có phạm vi từ kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét
xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Từ đó, theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng hiến định của VKS,
có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất
Trang 17Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là: Kiểm sát hoạt động trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc điểm của chúng?
Chức năng kiểm sát khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp
lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó? Theo chúng tôi, đối tượng của kiểm sát khởi tố, điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKS, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan
để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện
Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về chức năng kiểm sát các hoạt động trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là chức năng hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố - điều tra vụ án hình
sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất
Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, cho phép rút ra một số đặc điểm chung của nó như sau:
Trang 18Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động khởi tố - điều tra vụ án hình sự là chức năng hiến
định của VKS, có phạm vi xác định thời điểm bắt đầu từ khi có dấu hiệu của tội phạm xảy ra và thời điểm kết thúc khi cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc điều tra vụ án, chuyển hồ sơ vụ
án cùng bản kết luận điều tra cho VKS đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình chỉ điều tra
Thứ hai, nội dung của chức năng này chính là việc giám sát trực tiếp mọi hoạt động tố
tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố - điều tra các vụ án hình sự
Thứ ba, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là nhằm
mục đích bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và
thống nhất
1.2.2 Mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực hành quyền công
tố trong tố tụng hình sự
Để quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng đã được nêu rõ trong Nghị quyết đại hội
Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về "một số nhiệm vụ trọng
tâm của ngành tư pháp trong thời gian tới" và đặc biệt trên cơ sở nội dung Hiến pháp năm
2013 và nội dung của Luật tổ chức VKSND năm 2014, thì vấn đề phân biệt giữa hoạt động thực hành quyền công tố với kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau cần phải được làm rõ nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng vào hoạt động thực tiễn các quy định của BLTTHS 2015 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 Trước khi đi vào phân tích mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền và hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS trong tố tụng hình sự, chúng ta cần thống nhất về mặt nhận thức các vấn đề: Quyền công tố và Thực hành quyền công tố?
Quyền công tố: là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất Nhà nước và pháp luật
Trước hết quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước, nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, do đó quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước Quyền công tố là việc Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nướctruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và giao quyền công tố cho cơ quan VKSND, với nội dung đó có thể khẳng định quyền công tố chỉ được thực
Trang 19hiện trong lĩnh vực hình sự, đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, quyền này phải phát sinh từ khi tội phạm xảy ra và nó trừng phạt người phạm tội một cách công khai bằng con đường đưa vụ án ra Tòa án xét xử, do đó khi bản án kết tội đã có
hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị thì quyền công tố cũng kết thúc
Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là:“Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên cơ sở phát hiện tội phạm, bảo đảm thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội từ đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ việc buộc tội đó trước Tòa án”
Thực hành quyền công tố: Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã quy định như sau: “Viện
kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp”.Điều 3 Luật Tổ
chức VKDND năm 2014 quy định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
a) Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;
b) Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật”
Nội dung thực hành quyền công tố:Nội dung THQCT là việc VKS sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Theo đó nội dung THQCT bao gồm:
Thứ nhất, những hoạt động phát động THQCT như khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Thứ hai, hoạt động THQCT tiếp tục được thực hiện bởi VKS trong giai đoạn điều tra,
như yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố; Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu
Trang 20cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; Quyết định việc truy tố bị can hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Thứ ba, những hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự như
đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
Như vậy quyền công tố và THQCT là hai khái niệm khác nhau Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội Nói đến quyền công tố là nói đến phạm trù lý luận Ngược lại THQCT là một phạm trù thực tiễn, là việc tổ chức thực hiện quyền công tố
Từ những nội dung nêu trên chúng ta đi vào phân tích mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKS năm 2014, VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS các cấp luôn quán triệt đường lối công tác kiểm sát là đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; không
để lọt tội phạm đồng thời cũng không được làm oan người vô tội, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau: Theo điều 12 Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND thực hành quyền công tố từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, tức là quyền công tố được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, hoạt động này được VKS thực hiện thông qua hoạt động phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ quyết định trái pháp luật, yêu cầu kiểm tra, xác minh xét thấy việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của CQĐT không có căn cứ, thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện đúng các quy định tronggiải quyết tố giác, tin báo tội phạm, đồng thời ra quyết định hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát việc giải
Trang 21quyết tố giác, tin báo tội phạm sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội Ngược lại nếu thực hiện kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm không tốt sẽ mất đi tính hiệu quả trong việc thực hành quyền công tố, thậm chí quyết định pháp lý của VKS là vi phạm pháp luật
Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS trực tiếp sử dụng quyền công tố Nhưng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, muốn vậy trước khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hoặc trong việc khởi tố bị can của CQĐT, tức là VKS tiến hành thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp
Để thực hiện tốt quyền công tố, có nghĩa là đảm bảo việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính xác, đúng pháp luật thì đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự mà CQĐT quyết định áp dụng, mà hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra khi chức năng thực hành quyền công tố của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát
Như vậy, giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt động kia và ngược lại; kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kia và ngược lại Mối quan
hệ biện chứng giữa hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Trang 22chỉ song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi tố điều tra cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị
1.2.3 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình
sự ở nước ta
Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện được thành lập theo Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, vào giai đoạn đó Công tố viện là một bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án, sau Nhà nước ta đã ban hành các Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 20/7/1946 và Sắc lệnh số 19 ngày 16/2/1947 quy định thành lập hệ thống Tòa án nhân dân (tòa án thường), trong đó Công tố viện là một tổ chức bên cạnh Tòa án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý
Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập
cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố
Năm 1980, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp trong đó quy định chức năng của VKS như sau: Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội BLTTHS
đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra của VKS với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để
lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát có
nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luậtđược chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ
Trang 23việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào” Với quy định đó VKS thực
hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm
1992, lần sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định: “VKSND thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”, như vậy Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong
hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND 2014 và BLTTHS năm 2015 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó quy
định: “ Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách
nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này” VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Ngoài ra còn có những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát việc khởi tố
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh và thống nhất các quy định pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự
1.3 Mối quan hệ giữa cơ quan điểu tra và viện kiểm sát trong khởi tố, điều tra vụ
án hình sự
1.3.1 Khái niệm
Trang 24CQĐT và VKS theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự là các cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm thay mặt Nhà nước chứng minh tội phạm và người phạm tội khi phát hiện có tội phạm xảy ra trong thực tế đời sống xã hội
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình tố tụng bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau từ khởi tố - điều tra đến truy tố, xét xử và thi hành án Mỗi giai đoạn tố tụng là các bước giải quyết tương ứng và gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự CQĐT và VKS mặc dù là hai cơ quan độc lập trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình Nhưng với yêu cầu đặt ra là một mặt phải cương quyết xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, một mặt là phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng thì trong quá trình khởi tố - điều tra các vụ án hình sự đã làm phát sinh mối quan hệ tố tụng hình sự giữa CQĐT và VKS
Từ đó có thể hiểu: Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là mối quan hệ tố tụng hình sự được phát sinh trong quá trình phát hiện tội phạm, khởi tố -
điều tra vụ án hình sự
Cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là các quy định của BLTTHS và các văn bản về pháp luật tố tụng hình sự có liên quan
1.3.2 Nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự
Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan thì mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự được thể hiện dưới hai hình thức: Phối hợp và chế ước Do giới hạn của đề tài này chúng tôi không phân tích nội dung mối quan hệ phối hợp, mà chỉ phân tích nội dung chế ước trong mối quan hệ giữa cơ quan VKS với CQĐT để làm rõ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra của VKS BLTTHS đã quy định: Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân nào hoặc tổ chức nào Như vậy, thực hiện chức năng kiểm sát khởi
Trang 25tố,điều tra vụ án hình sự qua đó nếu phát hiện được những vi phạm của CQĐT thì VKS có quyền áp dụng mọi biện pháp mà BLTTHS quy định để loại trừ vi phạm, chính quy định đó của pháp luật đã thể hiện tính chế ước của VKS đối với CQĐT trong hoạt động tố tụng Theo từ điển tiếng Việt thì: "Chế" là phép định ra, làm ra, đặt ra; còn "ước" là bó buộc Việc dùng khái niệm "chế ước" vì theo như pháp luật tố tụng hình sự nước ta, VKS có các quyền năng pháp lý như: Giám sát, yêu cầu, hủy bỏ Mà bản chất pháp lý của các quyền năng này là sự chế ước đối với hoạt động tố tụng của CQĐT - với tính chất là đối tượng của hoạt động kiểm sát
Trong suốt quá trình tố tụng từ khi tội phạm được phát hiện hay có dấu hiệu tội phạm đến khi khởi tố và tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội thì VKS đều tham gia với tư cách là cơ quan giám sát thông qua hai hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp (nghiên cứu hồ sơ) Việc thực hiện các quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như yêu cầu điều tra, phê chuẩn các quyết định tố tụng hay hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT được gọi là thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS với mục đích nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, đồng thời ngăn ngừa mọi hoạt động xâm phạm đến quyền nhân thân của công dân
Thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đặt ra yêu cầu đối với CQĐT là không những phải xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, mà còn đòi hỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động tố tụng của mình Tuy nhiên, để
có sự đảm bảo yêu cầu nói trên thì việc chế ước của VKS đối với hoạt động tố tụng của CQĐT hoàn toàn là tất yếu Song VKS thực hiện quyền chế ước cũng trong phạm vi luật định chứ không phải VKS tự đặt ra và yêu cầu CQĐT thực hiện Sự chế ước được biểu hiện
ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng chế định, trong BLTTHS quyền chế ước của VKS được quy định rất rộng và chặt chẽ từ việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cho đến việc phê chuẩn, hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều này thể hiện
rõ nét bản chất của Nhà nước ta là tôn trọng và bảo vệ quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận Nếu VKS thực hiện tốt các quyền năng chế ước thì sẽ góp phần vào kết quả giải quyết các vụ án hình sự đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng công tác điều tra, tránh các sai
Trang 26sót và vi phạm các quy định của BLTTHS của CQĐT, đồng thời qua đó thể hiện rõ chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong tố tụng hình sự
Nghiên cứu các chế định của pháp luật tố tụng hình sự thấy rằng, quyền chế ước của VKS được thực hiện dưới các hình thức cơ bản sau:
Thứ nhất, VKS có quyền giám sát các hoạt động điều tra của CQĐT một cách trực tiếp,
như kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, kiểm sát hoạt động khám nghiệm tử thi, kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can… hoặc giám sát một cách gián tiếp thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu phản ánh hoạt động điều tra Qua hoạt động giám sát, VKS có quan điểm là nhất trí, không nhất trí, phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT Hoạt động giám sát là cơ sở để VKS thực hiện quyền chế ước, chỉ khi thông qua hoạt động giám sát thì VKS mới nắm rõ các hoạt động tố tụng của CQĐT đúng hay sai hoặc còn thiếu sót ở điểm nào, từ đó đưa ra các yêu cầu, biện pháp cụ thể để CQĐT thực hiện trong quá trình điều tra vụ án Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giám sát của VKS bị hạn chế khi cơ chế giám sát không đảm bảo, khi Kiểm sát viên - người trực tiếp tiến hành hoạt động giám sát nhận thức không đầy đủ và thực hiện không nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quyền năng giám sát của mình hoặc khi CQĐT không phối hợp chặt chẽ với VKS Bởi lẽ, yêu cầu đặt ra cho hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự là phải kiểm sát ngay từ đầu, tức là VKS phải giám sát ngay từ khi CQĐT phân loại, xử lý các tố giác và tin báo tội phạm, nếu như CQĐT không có sự phối hợp trong giải quyết các tố giác và tin báo tội phạm, thì hoạt động giám sát của VKS bị hạn chế, điều đó có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm của CQĐT
Thứ hai, VKS có quyền đề ra yêu cầu CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra khi phát
hiện thấy việc khởi tố - điều tra của CQĐT chưa đầy đủ, còn thiếu sót về chứng cứ để làm cơ
sở chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc phát hiện có vi phạm pháp luật tố tụng hình sự có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Ví dụ như VKS có quyền yêu cầu CQĐT khởi tố bổ sung, nếu CQĐT không khởi tố thì VKS khởi tố và yêu cầu điều tra hoặc khi kết thúc điều tra phát hiện việc bỏ lọt tội phạm thì VKS quyết định trả hồ sơ và yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung, yêu cầu cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc vi phạm pháp luật của Điều tra viên Đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện ngay từ khi có tin
Trang 27báo, tố giác về tội phạm để làm rõ có tội phạm xảy ra hay không? Hoặc sau khi khởi tố vụ án hình sự để làm rõ đối tượng gây án, thậm chí ngay trong quá trình điều tra vụ án hình sự để củng cố chứng cứ về hành vi phạm tội của các bị can
Thứ ba, VKS có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT Đây là một
trong những quyền năng thể hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS, là phương tiện bảo đảm cho việc điều tra phải tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, tránh tùy tiện trong hoạt động tố tụng hình sự của CQĐT Trên thực tế, VKS chỉ thực hiện điều này khi đã có yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện hoặc không thể tự hủy bỏ để khắc phục được Ví dụ như VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT nếu thấy quyết định đó không có căn cứ pháp luật Do vậy, nếu VKS thực hiện tốt, triệt để quyền năng này thì ngoài việc góp phần nâng cao chất lượng công tác điều tra, mà còn hạn chế rất nhiều trường hợp vụ án phải đình chỉ điều tra vì không có sự kiện phạm tội hoặc bị can không phạm tội v.v Để thực hiện quyền năng này được chính xác thì VKS phải thực hiện chức năng kiểm sát điều tra ngay từ giai đoạn khởi tố, từ đó thường xuyên chấn chỉnh hoạt động điều tra của CQĐT để làm sao không xảy ra vi phạm về tố tụng hình sự trong quá trình điều tra vụ án, nếu có vi phạm xảy ra thì kịp thời yêu cầu khắc phục ngay, đặc biệt là ngăn chặn vi phạm quyền công dân
Quyền chế ước nói trên của VKS cũng phải thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật và cũng có giới hạn nhất định, chẳng hạn trong trường hợp không đồng ý với quyết định của VKS cùng cấp thì CQĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền đề nghị Viện trưởng- VKS cấp trên trực tiếp xem xét và quyết định, thời hạn cho cơ quan VKS cấp trên xem xét giải quyết là 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của CQĐT
Việc phân tích bản chất, hình thức trong mối quan hệ giữa CQĐT và VKS góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và vận dụng thống nhất trong thực tiễn Đồng thời qua đó tìm ra những cơ sở khoa học để đổi mới, hoàn thiện các quy chế về mối quan hệ trong giải quyết các vụ án hình sự giữa hai cơ quan này, qua đó thực hiện mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng của CQĐT và VKS trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Đặc biệt BLTTHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, vừa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 có những quy định liên quan đến mối quan hệ giữa CQĐT và VKS
Trang 28như tạiĐiều 165 đến167BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sátkhi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, khi kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra
Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đó là “đề ra yêu cầu điều tra” Tại khoản 6 Điều 165
BLTTHS năm 2015 chỉ rõ: “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu CQĐT truy nã bị can, áp dụng biện pháp tố tụng đặc biệt” Như vậy, việc
đề ra YCĐT có những nội dung mới như sau:
BLTTHS năm 2015 nêu rõ đối tượng mà VKS ra bản yêu cầu điều tra không chỉ là CQĐT mà cả cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Theo quy định tại BLTTHS năm 2003 thì bản yêu cầu điều tra chỉ áp dụng đối với đối tượng là CQĐT Như vậy, phạm vi yêu cầu điều tra theo quy định BLTTHS năm 2015 đã được mở rộng rất nhiều
Nội dung của yêu cầu điều tra để “làm rõ tội phạm, người phạm tội” và một số nội dung khác Đây là nội dung hoàn toàn mới trong BLTTHS năm 2015, có tính bao quát đến toàn bộ vụ án hình sự
Về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi KSĐT các vụ án hình sự được quy định tại Điều
166 BLTTHS năm 2015, gồm 9 khoản So với Điều 113 BLTTHS năm 2003 thì tăng 4 khoản và bổ sung thêm nhiều nội dung mới như sau: Đối tượng của công tác KSĐT không chỉ là CQĐT như BLTTHS năm 2003 mà cả cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.Khi KSĐT, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết
Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm thì VKS có quyền yêu cầu CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện một số hoạt
Trang 29động: Tiến hành điều tra đúng pháp luật; kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho VKS; cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra Đây là các quy định hoàn toàn mới, rõ và cụ thể hơn so với BLTTHS năm 2003
Về trách nhiệm của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS trong giai đoạn điều tra: Tại khoản
1 Điều 167 BLTTHS năm 2015 quy định các cơ quan này phải thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS trong giai đoạn điều tra (riêng khoản 4, 5 thì phải thực hiện nhưng có quyền kiến
nghị) Nếu như Điều 114 BLTTHS năm 2003 quy định trường hợp này “có trách nhiệm thực
hiện” thì BLTTHS năm 2015 quy định “phải thực hiện”, nhằm nâng cao hiệu lực các quyết
định của VKS
1.4 Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra các vụ án hình sự
Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt nam, Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND
có những bước tiến và có những thay đổi căn bản về nội dung Nhưng chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKS vẫn được ghi nhận Điều 2, điều 4
Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định: "Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành
quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
“Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính
hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”
Từ những phân tích trên cho thấy khâu công tác kiểm sát là quá trình hoạt động nghiệp vụ của VKS trong các giai đoạn tố tụng hình sự, nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành kiểm sát
Xuất phát từ nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho mỗi cấp kiểm sát khác nhau, cũng như nhiệm vụ cụ thể đặt ra trong mỗi thời kỳ khác nhau, từ số lượng biên chế cán bộ và trình độ của các
Trang 30cán bộ, Kiểm sát viên ở mỗi cấp kiểm sát cụ thể khác nhau, nên việc tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự ở mỗi cấp kiểm sát không hoàn toàn giống nhau Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014,
hệ thống cơ quan VKS được tổ chức thành 3 cấp: Cấp trung ương là VKSND Tối cao; Cấp tỉnh gồm VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và cuối cùng là VKSND cấp huyện gồm VKSND các quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)
Theo mô hình tổ chức đầy đủ với nghĩa mỗi khâu công tác là một đơn vị nghiệm vụ để thực hiện chức năng của ngành, thì ở VKSND Tối cao có các vụ nghiệp vụ; ở VKSND cấp tỉnh có các phòng nghiệp vụ và ở cấp huyện có bộ phận nghiệp vụ Theo quy định hiện nay,
để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra, VKSND tỉnh Thái Nguyên được tổ chức thành3 đơn vị nghiệp vụ gồm:
+ Phòng KSĐT, THQCT và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về an ninh và ma túy + Phòng KSĐT, THQCT và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về trật tự xã hội, kinh tế và chức vụ
+ Phòng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
- VKSND cấp huyện được tổ chức một bộ phận chuyên môn là bộ phận hình sự - trong
đó thực hiện cả kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử và kiểm sát giam, giữ
Trong phạm vi luận văn, chúng ta sẽ nghiên cứu sâu về công tác KSĐT của phòng KSĐT, THQCT và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về an ninh và ma túy để thấy rõ được việc kiểm sát các hoạt động trong khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Việc tổ chức các đơn vị nghiệp vụ theo mô hình nói trên dựa trên cơ sở tổ chức thực hiện việc "thông khâu", tức là thông giữa công tác kiểm sát điều tra với kiểm sát xét xử (sơ thẩm), điều này có nghĩa Kiểm sát viên của phòng kiểm sát điều tra đảm đương luôn hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự, đồng thời thực hiện chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm đối với vụ án đó
Trang 31Ví dụ, một Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra sơ thẩm một vụ án hình sự
A thì Kiểm sát viên đó tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xét xử tại phiên toà đối với vụ án hình sự A mà mình đã kiểm sát điều tra
Vậy, về bản chất của việc tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong tư pháp hình sự theo mô hình “thông khâu” có nghĩa là một biện pháp quy định một đơn vị nghiệp vụ thực hiện hai hoặc nhiều hoạt động của hai hoặc nhiều công tác kiểm sát khác nhau, tức là một Kiểm sát viên của một đơn vị nghiệp vụ có thể thực hiện thôngtừ công tác kiểm sát điều tra sang công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kết luận chương 1
Trên đây chúng tôi đã phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự và chức năng kiểm sát khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKS trong tố tụng hình sự Trình tự, thủ tục của quá trình giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn khởi tố, điều tra và quy định về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS đã được BLTTHS nước ta quy định khá cụ thể Vậy, kiểm sát hoạt động trong giai đoạn khởi tố, điều tra được pháp luật quy định như thế nào? vấn đề này cần có sự nghiên cứu làm rõ, cụ thể hơn trong các vụ án về ma túy Hơn nữa, trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa việc tiếp tục nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự là một yêu cầu mang tính khách quan để thấy được những bất cập cần đưa ra các kiến nghị sửa đổi bổ sung nhằm hoàn thiện trong xây dựng pháp luật về tố tụng hình sự Luận văn này không đi vào phân tích trình tự, thủ tục trong giai đoạn khởi tố, điều tra mà tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự quy định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy Vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ trình bày các quy định của pháp luật
về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án về ma túy
Trang 32Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
2.1 Kiểm sát giai đoạn khởi tố
2.1.1 Kiểm sát việc tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm về ma túy
Một trong những nguồn thông tin về tội phạm đó là các tố giác, tin báo về ma túy của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước và mọi công dân Thông tin về tội phạm là một sự kiện không thể thiếu được cho việc phát hiện, khám phá tội phạm, do đó nguồn tố giác và tin báo về tội phạm về ma túy đóng góp một phần rất quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và dần loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội Cho dù cơ quan bảo vệ pháp luật
có lực lượng mạnh và có các phương tiện kỹ thuật hiện đại đến đâu đi chăng nữa mà thiếu sự phối hợp cung cấp thông tin về tội phạm của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước và của quần chúng nhân dân thì việc phát hiện và xử lý các tội phạm về ma túy khó đạt được kết quả cao
Công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm về ma túy là cuộc đấu tranh mang tính chất xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn xã hội, công tác này đạt được kết quả cao hay không phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức
xã hội và của quần chúng nhân dân nhằm cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng các thông tin về việc sử dụng, mua bán, hay trồng, vận chuyển ma túy Trách nhiệm tham gia cung cấp thông tin về tội phạm được quy định trong BLTTHS năm 2003 và được quy định tại điều 5 BLTTHS năm 2015: “Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm” (Điều 5 BLTTHS năm
2015) BLTTHS năm 2003 đã quy định: "Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan
nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với CQĐT, VKS và Tòa án trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và phải thông báo ngay cho CQĐT, VKS mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; có quyền kiến nghị và gửi các tài liệu có liên quan cho CQĐT, VKS xem xét khởi tố đối với người có hành
Trang 33vi phạm tội" BLTTHS 2015 đã mở rộng hơn về đối tượng phối hợp, theo đó các cơ quan
Nhà nước không chỉ phối hợp với “CQĐT, VKS và Tòa án” mà phối hợp với“cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng” trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định trách nhiệm phát hiện tố giác và tin báo tội phạm là của mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và công dân Các thông tin về tội phạm phải được gửi ngay tới cơ quan cuối cùng có trách nhiệm giải quyết đó là CQĐT và VKS,
Điều 147 BLTTHS 2015 quy định: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố
giác,tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:
Quyết định khởi tố vụ án hình sự;Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”
Hoạt động của VKS trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin về tội phạm bao gồm những nội dung: Kiểm sát việc tiếp nhận (thụ lý) thông tin về tội phạm ma túy ở CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra VKSND có nhiệm vụ kiểm sát việc CQĐT đã phát hiện và thụ lý đầy đủ các vi phạm và tội phạm xảy ra trên địa bàn mình quản lý hay chưa, có trường hợp nào CQĐT không thụ lý hay không? Lý
do không thụ lý Trong trường hợp VKS nhận được tố giác và tin báo về tội phạm nhưng
CQĐT chưa nhận được thì VKS chuyển đến cho CQĐT để tiến hành xác minh
Đối với hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận (thụ lý) các tố giác, tin báo về tội phạm ma túy của VKS thì đây là một công việc có tính chất phức tạp, bởi quy định về thụ lý các thông tin về tội phạm của CQĐT cũng như các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hiện nay thường do ngành dọc quy định, nên đòi hỏi người cán bộ kiểm sát bên cạnh việc nắm rõ quy định chung của BLTTHS, còn phải nắm được quy định của CQĐT về việc thụ lý, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT Mặt khác còn phải nắm được phương pháp nghiệp vụ về điều tra án hình sự thì mới có thể phát hiện được các vi phạm của CQĐT Ví dụ, trong thực tế hiện nay có nhiều thông tin về ma túy được chuyển đến CQĐT bằng nhiều hình thức như báo có nhóm người tổ chức sử dụng ma túy, có gia đình có dấu hiệu buôn bán ma túy vì giàu nhanh một cách bất thường những lời tố cáo tưởng như không
có phương hướng, xác minh làm rõ được nên CQĐT đã bỏ ngoài sổ sách thụ lý những đơn
Trang 34thư tố giác của công dân, từ đó mà VKS không thể kiểm sát đầy đủ số thụ lý các tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT Trong trường hợp đó các kiểm sát viên có thể thông qua việc yêu cầu xem các báo cáo của Công an khu vực, Công an các phường về việc phản ánh các sự kiện có dấu hiệu tội phạm trong khu vực, sau đó đối chiếu với sổ thụ lý cùng thời điểm sẽ phát hiện ra CQĐT có vào sổ thụ lý hay không
Về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra: Trong nội dung này VKS tập trung kiểm sát về thời hạn giải quyết và các biện pháp mà CQĐT áp dụng khi tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh có đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay không Cụ thể, về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Điều 86 BLTTHS 2003 và tại điều 147 BLTTHS 2015, nội dung quy định đó vẫn được giữ nguyên chỉ có sự chỉnh sửa về khái niệm
không dùng cụm từ “Tố giác hoặc tin báo về tội phạm” mà thay thế bằng cụm từ “tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”, mở rộng chủ thể giải quyết tin báo không chỉ CQĐT mà
cả các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra, cụ thể điều 147 BLTTHS 2015 quy định:
“Trong thời hạn 20 ngày kể từ khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,
CQĐT,cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”
Một điểm mới trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quy định trong BLTTHS 2015 là thủ tục tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, theo BLTTHS 2003 thì không có thủ tục này CQĐT chỉ ra 1 trong 2 quyết định là khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án, theo BLTTHS 2015, có thể tạm đình chỉ nếu có căn cứ để giải quyết thì phục hồi để giải quyết (tương tự như tạm đình chỉ giải quyết vụ án hình sự), đồng thời quy định rõ các căn cứ trách nhiệm của VKS khi kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, theo đó VKS có quyền hủy quyết định tạm đình chỉ nếu quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ (điều 148 BLTTHS 2015)
“Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố
có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác, tin báo có thể dài, nhưng không quá 02 tháng Trường hợp chưa thể kết
Trang 35thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng VKS cùng cấp hoặc Viện trưởng VKS có thẩm quyền có thể gia hạn 1 lần nhưng không quá 2 tháng”
Cùng với hoạt động kiểm sát về thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo tội phạm, VKS còn phải tiến hành kiểm sát tính hợp pháp của những biện pháp mà CQĐT áp dụng trong quá trình kiểm tra, xác minh Hoạt động kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT nhằm để xác định có dấu hiệu của tội phạm đã xảy ra hay không và trên cơ
sở kết quả kiểm tra, xác minh quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, mà chưa
cần phải làm rõ đối tượng phạm tội Theo quy định tại điều 147BLTTHS 2015 “Khi giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động: Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; Khám nghiệm hiện trường; Khám nghiệm tử thi; Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản” Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc giải quyết các tố giác và tin báo về tội phạm, VKS phải kịp thời phát hiện và yêu cầu khắc phục ngay những vi phạm của CQĐT trong quá trình xác minh tố giác, tin báo
về tội phạm nếu có, bảo đảm các hoạt động của CQĐT tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật
Trên cơ sở kết quả của quá trình kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm đã thụ lý, CQĐT sẽ đánh giá và xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không để từ đó giải quyết bằng việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự hay tạm đình chỉ giải quyết Với chức năng của mình, VKS tiếp tục kiểm sát việc khởi tố và kiểm sát việc bán hành quyết định tạm đình chỉ, quyết định không khởi tố của CQĐT đảm bảo các quyết định được ban hành có căn cứ và đúng quy định
2.1.2 Kiểm sát quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Việc quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh mối quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa các cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là giữa CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra với cơ quan VKS Mối quan hệ này được phản ánh thông qua việc thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKS
Trang 36Về nguyên tắc, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tố giác, tin báo về tội phạm, nếu phát hiện có dấu hiệu của tội phạm hình sự thì CQĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngược lại nếu xác định không có dấu hiệu của tội phạm hình sự hay có dấu hiệu của tội phạm hình sự nhưng có căn cứ không khởi tố vụ án thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, hoặc ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Tất cả các quyết định này của CQĐT phải được gửi cho VKS để tiến hành kiểm sát việc khởi tố Bản chất của hoạt động kiểm sát bao gồm hai nội dung là kiểm tra tính có căn
cứ và tính hợp pháp của các quyết định
Tính có căn cứ là một nội dung cơ bản mà hoạt động kiểm sát khởi tố hướng vào Điều
83 BLTTHS 2003 và điều 143 BLTTHS 2015 quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi
đã xác định có dấu hiệu tội phạm” Theo quy định trên thì căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án
hình sự đó là khi có đủ cơ sở xác định một cách chính xác có dấu hiệu tội phạm đã xảy ra
Còn dấu hiệu tội phạm được xác định trên 6 cơ sở tại Điều 143 là: “Tố giác của cá nhân; Tin
báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú”
Vì vậy, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm, CQĐT xác định chính xác có dấu hiệu tội phạm thì khi đó mới được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
để mở cuộc điều tra,ngược lại khi xác định không có dấu hiệu tội phạm thì CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, trong trường hợp mặc dù xác định có dấu hiệu của tội phạm nhưng có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 157 BLTTHS 2015 thì CQĐT phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Thông qua hoạt động kiểm sát việc khởi tố xét thấy quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì VKS có quyền ra quyết đinh hủy bỏ các quyết định nói trên
Tính hợp pháp là nội dung quan trong thứ hai mà VKS cần phải xem xét khi thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố Nội dung này bao gồm những vấn đề cần xem xét như về thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án; quyết định không khởi tố vụ án hình sự, nội dung và hình thức của quyết định đó đã đúng theo quy định của BLTTHS chưa…Nếu qua kiểm sát,
Trang 37VKS phát hiện có những vi phạm về thầm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì yêu cầu cơ quan ra quyết định đó có biện pháp khắc phục
Qua nghiên cứu và so sánh quy định về thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 thì nhà làm luật đã có những sửa đổi, bổ sung mới, cụ thể mở rộng phạm vi khởi tố vụ án hình sự của VKS trong ba trường hợp:
+ Khi hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền điều tra
+ VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
+ VKS trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của HĐXX Như vậy, khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, VKS căn cứ vào các quy định của BLTTHS để tiến hành kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định đó một cách chặt chẽ Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố, VKS phải cùng CQĐT phân loại và xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm và giám sát chặt chẽ việc xác minh của CQĐT Đồng thời phải nắm chắc các yếu tố cấu thành tội phạm của những hành vi bị coi là tội phạm được quy định trong BLHS, đặc biệt là những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì bảo đảm phải có căn cứ theo quy định của 143 BLTTHS 2015 Điều 107 BLTTHS 2003 đã quy định liệt kê ra 7 căn cứ để không được khởi tố vụ án hình sự và điều 157 BLTTHS 2015 bổ sung thêm 1 căn cứ đó là các trường hợp tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134,135,136, 138, 139, 141, 143, 155,
156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.Do đó nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự không có một trong các căn cứ quy định tại điều
157 BLTTHS 2015 thì quyết định đó là vi phạm pháp luật và VKS phải ra quyết định hủy bỏ ngay quyết định trái pháp luật đó của CQĐT và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra vụ án
Về trình tự, thủ tục kiểm sát việc khởi tố, điều 154 BLTTHS 2015 quy định: “Trong
thời hạn 24 giờkể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sựCQĐT, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu đến VKS có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố” Đối với quyết định khởi tố của Tòa án khi được
Trang 38chuyển đến VKS để yêu cầu điều tra Nếu qua kiểm tra, xem xét thấy không có căn cứ thì VKS kháng nghị lên Tòa án cấp trên để xem xét, đồng thời báo cáo VKS cấp trên biết Việc quy định như vậy là đảm bảo cho VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc khởi tố được kịp thời, nhằm hạn chế những vi phạm trong việc khởi tố của CQĐT Mục đích kiểm sát là bảo đảm không một người nào không thực hiện hành vi phạm tội thì họ không thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của luật tố tụng hình sự, như bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam, hạn chế các quyền công dân
Để thực hiện chức năng kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự, VKS có thể tiến hành thông qua hai phương pháp sau:
+ Trực tiếp tham gia cùng CQĐT phân loại các tố giác, tin báo về tội phạm ngay từ đầu
để xem xét việc quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự ngay, còn nếu thông tin tội phạm nào phải tiến hành kiểm tra xác minh mới xác định có hay không dấu hiệu tội phạm thì yêu cầu CQĐT tiến hành kiểm tra xác minh thông tin đó
+ Gián tiếp thông qua nghiên cứu các tài liệu liên quan kèm theo quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà CQĐT gửi đến Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu đó VKS có thể xem xét việc khởi tố của CQĐT có đúng hay không
Tóm lại, thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thông qua đó VKS sẽ loại trừ ngay từ đầu các vi phạm pháp luật của CQĐT và yêu cầu CQĐT sớm có biện pháp khắc phục kịp thời để hạn chế việc khởi tố tràn lan không có căn cứ rồi sau
đó phải đình chỉ điều tra hoặc không khởi tố vụ án không có căn cứ dẫn đến bỏ lọt tội phạm
2.2 Kiểm sát hoạt động điều tra
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là bước tiếp theo của quá trình tố tụng, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự do BLTTHS quy định để chứng minh hành vi phạm tội đã xảy ra do ai thực hiện, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội đó Đồng thời làm rõ động cơ mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội trên cơ sở đó đảm bảo các chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Tại điều 11 BLTTHS 2003 quy định: “CQĐT có quyền áp dụng mọi biện pháp hợp
pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những
Trang 39chứng cứ xác định có tội và chức cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can” Điều 15 BLTTHS 2015 đã có sự thay đổi về
việc thực hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, theo đó “Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp của người bị buộc tội”như vậy từ bị can đã được thay thế bằng cụm từ người bị buộc
tội và để xác định sự thật vụ án CQĐT phải áp dụng các biện pháp hợp pháp chứ không phải
có quyền áp dụng như quy định của BLTTHS 2003
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS đối với hoạt động điều tra được quy định khá đầy đủ tại điều 166 BLTTHS 2015, cụ thể: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án….Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra…VKS có quyền yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp tài liệu hoặc tiến hành một số hoạt động điều tra nhằmđảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội;
Với quy định trên cho thấy, toàn bộ hoạt động điều tra của CQĐT đều nằm dưới sự kiểm sát chặt chẽ của VKS Để thấy được cụ thể việc thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự, chúng tôi đi sâu vào phân tích và làm rõ chức năng kiểm sát đối với từng hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra theo quy định của pháp luật Trong phạm vi nội dung của đề tài này chúng tôi chỉ đi sâu phân tích một số hoạt động kiểm sát thể hiện việc thực hiện chức năng kiểm sát các HĐTP của VKS trong giai đoạn điều tra để từ đó làm rõ vai trò, trách nhiệm của VKS cũng như phương pháp, cách thức kiểm sát như thế nào khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra của CQĐT
2.2.1 Kiểm sát khám nghiệm hiện trường
Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động điều tra nhằm phát hiện, xem xét ghi nhận các dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến vụ án trên hiện trường vụ án Vì vậy, nếu làm tốt việc khám nghiệm hiện trường sẽ giúp CQĐT xác định đúng hướng trong quá trình điều tra vụ án, giúp điều tra viên xây dựng đúng giả thuyết điều tra về đối tượng phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội Với tính chất quan trọng của hoạt động khám nghiệm hiện trường nên pháp luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể về
Trang 40trình tự, thủ tục khám nghiệm trong đó có quy định sự bắt buộc tham gia của VKS đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường Việc khám nghiệm hiện trường để lấy cơ sở làm căn cứ xác định dấu hiệu của tội phạm để từ đó có căn cứ quyết định khởi tố vụ án hình sự, nên VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường bên cạnh việc bảo đảm hoạt động khám nghiệm được tiến hành khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, mà còn có thể nắm được rõ các tình tiết liên quan đến vụ án ngay từ ban đầu khi tội phạm xảy ra
để làm cơ sở cho hoạt động kiểm sát tiếp theo như kiểm sát khởi tố vụ án, kiểm sát khởi tố bị can v.v
Điều 201 BLTTHS 2015 quy định“Trước khi khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên
phải thông báo cho VKS cùng cấp biết để cử kiểm sát viên thực hiện kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường”.VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động khám nghiệm phải
bảo đảm các nội dung sau:
Hoạt động khám nghiệm hiện trường phải có tính khách quan: Cụ thể khi tổ chức hoạt động khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến (có thể là đại diện chính quyền địa phương, đại diện các tổ chức, đoàn thể đóng trên địa bàn khám nghiệm hoặc người dân ở địa bàn đó hoặc trong trường hợp nhất định có sự chứng kiến của bị can, người bị hại, người làm chứng), hơn nữa xem xét CQĐT đã mời những người có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể để tham gia việc khám nghiệm hay chưa, ví dụ như: cán bộ kỹ thuật hình sự, bác
sĩ pháp y… Ngoài ra, khi tiến hành hoạt động khám nghiệm phải tuân theo đúng ý kiến của người có chuyên môn, Điều tra viên không được áp đặt ý kiến của mình cho nhà chuyên môn tham gia khám nghiệm, nếu có hiện tượng Điều tra viên áp đặt ý kiến thì Kiểm sát viên phải có yêu cầu chấm dứt ngay
Hoạt động khám nghiệm hiện trường phải đúng quy định của pháp luật và được thực hiện một cách toàn diện: Hiện trường sau khi tội phạm đã xảy ra có thể để lại nhiều dấu vết, thậm chí là có cả vật chứng liên quan đến vụ án, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc chứng minh người phạm tội, mục đích của hoạt động khám nghiệm đặt ra là không bỏ qua bất kỳ dấu vết và vật chứng nào liên quan đến vụ án cho dù dấu vết hay vật chứng đó là nhỏ nhất Do vậy, Kiểm sát viên khi tham gia kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường cần quan tâm và chú trọng tính toàn diện của hoạt động khám nghiệm, vì nếu để xảy ra việc