Tác giả Dương Thị Nga, với đề tài “Phát triển năng lực thích ứng nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm” [21] đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực thích ứng ng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong Luận văn có xuất xứ rõ ràng và trung thực Luận văn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Các số liệu, kết quả điều tra nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Mai Thị Thêu
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG TÂM LÝ VỚI HOẠT
ĐỘNG ĐIỀU LỆNH CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT
1.2 Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất 24 1.3 Biểu hiện thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất 25 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng tâm lý với hoạt động điều
lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN THÍCH ỨNG TÂM
LÝ VỚI HOẠT ĐỘNG ĐIỀU LỆNH CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT – HẬU CẦN
3.1 Thực trạng thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm
thứ nhất trường Đại học Kỹ thuật Hậu cần Công an nhân dân 40 3.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng tâm lý với hoạt động điều
lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Kỹ thuật Hậu cần
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2 Các mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên qua
các mặt biểu hiện
17
Bảng 3.1 Mức độ nhận thức của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động
Bảng 3.4 Đánh giá của SV và GV về việc hướng dẫn, phổ biến, tập huấn
các quy định, nội quy của nhà trường
Bảng 3.10 Đánh giá chung về 3 mặt thích ứng của sinh viên năm thứ nhất
với hoạt động điều lệnh
59
Bảng 3.11 Mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm
thứ nhất theo giới tính
60
Bảng 3.12 Mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm
thứ nhất theo đối tượng đầu vào
60
Bảng 3.13 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng việc thích ứng với hoạt động
điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
61
Bảng 3.14 Ảnh hưởng yếu tố khách quan tới việc thích ứng với hoạt động
điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
66
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đánh giá của sinh viên về vai trò của hoạt động điều lệnh
đối với người chiến sỹ CAND
40
Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh giữa
sinh viên nam và sinh viên nữ
58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc sống luôn luôn vận động và phát triển, con người không những phải đối mặt với thay đổi về môi trường tự nhiên, môi trường xã hôi, mà còn với yếu tố mới xuất hiện trong cuộc sống như các mối quan hệ, sự thay đổi môi trường sống,… đòi hỏi con người phải thích ứng với những thay đổi đó Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra khả năng thích ứng có vai trò quan trọng trong cuộc sống, nếu con người thích ứng tốt sẽ giúp họ giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi trong cuộc sống, nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc, góp phần tích cực vào quá trình phát triển nhân cách Ở từng môi trường, hoàn cảnh con người lại phải đối mặt với những khó khăn khác nhau, mỗi cá nhân phải tìm được cách ứng phó, điều chỉnh tâm lý, hành vi của mình cho phù hợp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển Do đó việc nghiên cứu sự thích ứng của con người với môi trường để có các phương pháp thích ứng phù hợp
là rất cần thiết
Đối với sinh viên các trường Công an, công việc sau này của các em là bảo
vệ nhân dân, bảo vệ đất nước, phải đối mặt với nhiều môi trường làm việc khó khăn phức tạp, tiếp xúc với nhiều loại đối tượng đa dạng, nhiều tình huống nguy hiểm… Người chiến sỹ Công an luôn tâm niệm “sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất
cứ việc gì khi Tổ quốc, Đảng và nhân dân cần đến”, đòi hỏi người chiến sỹ công an phải có khả năng thích ứng rất tốt Nhận thức được yêu cầu này, các nhà trường trong Công an nhân dân (CAND) đã chú trọng rèn luyện khả năng thích ứng cho sinh viên ngay từ khi bước vào trường thông qua các hoạt động học tập, hoạt động điều lệnh, hoạt động ngoại khóa…Đặc biệt là qua các hoạt động điều lệnh để rèn luyện khả năng thích ứng với môi trường mới, với khó khăn, thách thức trong công việc của người chiến sỹ Công an Nhà trường xác định điều lệnh Công an nhân dân
là sức mạnh để xây dựng, rèn luyện người cán bộ Công an có bản lĩnh chính trị vững vàng, tính kỷ luật chặt chẽ, tinh thần sẵn sằng chiến đấu cao, rèn luyện ý chí vượt qua khó khăn thử thách để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Việc thực hiện hoạt động điều lệnh là hoạt động bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trường Công an nói chung và trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân (ĐH KT – HC CAND) nói riêng Từ môi trường phổ thông tự do, thoải mái sinh viên phải đi vào khuân khổ với các quy định bắt buộc, cứng nhắc, yêu cầu
Trang 8tất cả sinh viên phải thay đổi để thích ứng Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan một bộ phận sinh viên khi bắt đầu bước chân vào môi trường học tập mới tại các trường CAND chưa kịp thích ứng ngay với điều kiện sinh hoạt cũng như hoạt động học tập, rèn luyện tại nhà trường, dẫn đến kết quả học tập chưa cao, bản thân sinh viên có nhiều năng lực chưa được bộc lộ, khả năng giao tiếp chưa tốt Những khó khăn mà sinh viên gặp phải như thay đổi môi trường sống, môi trường học tập, thay đổi thói quen, nề nếp sinh hoạt theo các quy định điều lệnh của ngành, của nhà trường, vì vậy nhiều sinh viên không phân bổ được thời gian cho việc học tập và việc rèn luyện Đặc biệt là những sinh viên xuất thân từ học sinh phổ thông mới vào trường, chưa từng được tiếp xúc với môi trường Công an nên các em gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ khi tiếp xúc với hoạt động điều lệnh.Việc học tập đi đôi với rèn luyện, thực hành, đòi hỏi mỗi sinh viên phải nỗ lực hết mình để hoàn thành nhiệm vụ
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về thích ứng tâm lý của sinh viên, tuy nhiên các công trình tập trung nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên mà chưa có công trình nào nghiên cứu về thích ứng tâm lý với hoạt
động điều lệnh của sinh viên Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Thích ứng
tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân” làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Một số nghiên cứu về thích ứng tâm lý với hoạt động nghề nghiệp
Tác giả B.Hesketh trong bài viết: “Thích ứng tâm lý nghề để đương đầu với
mọi thay đổi” [43] đã đề cập tới việc đào tạo những công nghệ mới cho người lao
động, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng thích nghi với những công nghệ đó và hình thành các kỹ năng cần thiết Tác giả cho rằng, cần cho người lao động thích ứng với tâm lý nghề để họ sẵn sàng đương đầu với những thay đổi, không chỉ cung cấp cho người lao động tri thức nghề mà điều đặc biệt quan trọng là phải hình thành kỹ năng nghề cho họ
Các tác giả Peter Creed, Tracy Fallon, Michell Hood thuộc trường Đại học
Griffth của Australia đã có công trình nghiên cứu về: “Mối quan hệ giữa thích ứng
nghề nghiệp và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ” [44] Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng: Thích ứng nghề nghiệp có mối quan hệ bên trong và có thể bị ảnh hưởng
Trang 9bởi nhân tố đầu tiên (kế hoạch xây dựng nghề, khám phá nghề, xu hướng nghề, sự
ra quyết định nghề…) Những nhân tố nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác
Tác giả Nguyễn Văn Hộ với đề tài "Thích ứng sư phạm" đã đưa ra các khái
niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các nội dung về hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho sinh viên sư phạm, hình thành khả năng thích ứng về tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên sư phạm như: thích ứng với quy trình lên lớp, thích ứng với hoạt động giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thiết kế nội dung công tác chủ nhiệm lớp và thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục Bên cạnh đó, tác giả đề ra một số giải pháp giúp sinh viên đại học thích ứng với nghề sư phạm [10]
Tác giả Dương Thị Nga, với đề tài “Phát triển năng lực thích ứng nghề
nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm” [21] đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến
sự phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên cao đẳng đó là: ảnh hưởng của giáo viên; nội dung chương trình và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên; việc tham gia vào các hoạt động ở trường phổ thông; các phương tiện thông tin đại chúng; môi trường và điều kiện học tập; sự giúp đỡ của bạn bè và người thân; truyền thống gia đình; các yếu tố sinh học thể chất; ý thức của bản thân về giá trị nghề dạy học; động cơ, lý tưởng, hứng thú nghề nghiệp; tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có ở sinh viên; tính tích cực tự giác, sáng tạo trong học tập và ý chí rèn luyện nghề
Tác giả Trần Thu Hương nghiên cứu đề tài “Thích ứng với hoạt động dạy
học của gi ng viên trẻ tại các học viện trường đại học Công an nhân dân” đã chỉ
ra cấu trúc tâm lý thích ứng với hoạt động giảng dạy của giảng viên trẻ là: Nhận thức của giảng viên trẻ về hoạt động dạy học, cảm xúc của giảng viên trẻ với việc thực hiện hoạt động dạy học và hành động thực hiện hoạt động dạy học của giảng viên trẻ Tác giả đã đưa ra các tiêu chí cơ bản để đánh giá sự thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ qua 3 nhóm tiêu chí về mặt nhận thức, nhóm tiêu chí thể hiện qua cảm xúc và kết quả thực hiện hoạt động dạy học của giảng viên trẻ [12]
Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp cho thấy, các tác giả đã đề cập đến khái niệm thích ứng nghề nghiệp, những yếu tố chủ quan, khách quan và những chỉ số đặc trưng cho thích ứng nghề nghiệp Các tác giả đều
Trang 10có xu hướng cho rằng, thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích nghi với những đặc điểm lao động và điều kiện của quá trình lao động Thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích ứng thể hiện ở cả ba mặt của đời sống tâm lý con người đó là: nhận thức, cảm xúc và hành động Các nhân tố bên trong có vai trò quan trọng đến mức độ thích ứng của cá nhân với hoạt động nghề nghiệp như: xu hướng nghề, kế hoạch xây dựng nghề, sự ra quyết định nghề và chỉ số trí tuệ Tuy nhiên, các tác giả chưa phân tích rõ nội dung thích ứng với hoạt động nghề nghiệp cũng như quy trình thích ứng cụ thể để giúp cho đối tượng thích ứng tốt ở những môi trường nghề nghiệp khác nhau và chưa đưa ra một số trường hợp điển hình về đối tượng thích ứng với nghề nghiệp để làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2.2 Một số nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học tập
Công trình nghiên cứu của H.W Bernard đã khẳng định vai trò của mối quan hệ tích cực giữa thầy và trò để thích ứng với hoạt động học tập, không phải chỉ trò tích cực trong hoạt động học mà cả thầy cũng phải tích cực trong hoạt động giảng dạy Qua nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra được các biện pháp cụ thể để giúp học sinh nhanh chóng thích ứng với hoạt động học tập [42]
Tác giả Bren P.Allen đã nghiên cứu vấn đề thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên thông quan hệ thống tác động hình thành kỹ năng học tập cho sinh viên Ông cho rằng sinh viên muốn thích ứng với học tập phải cần các kỹ năng: kỹ năng quản lý thời gian cá nhân, kỹ năng học tập, kỹ năng kiểm soát cảm xúc tiêu cực để vượt qua các khó khăn trong học tập; kỹ năng chọn các hình thức học tập và
sự chủ động hình thành các thói quen mang tính chất nghề nghiệp [41]
Tác giả A.Arkoff trong tác phẩm: “Thích ứng và sức khỏe tinh thần” [40] đã
công bố công trình nghiên cứu của mình về thích ứng tâm lý, bao gồm cả sự thích ứng học tập của học sinh và sinh viên Theo tác giả, sự thích ứng nói chung của con người bao gồm các chỉ số sau: Hạnh phúc, sự hài lòng, lòng tự trọng, sự phát triển cá nhân, sự hội nhập cá nhân, khả năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học tập của học sinh ở các độ tuổi, môi trường khác nhau Tác giả Vũ Thị Nho cùng một
số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự thích ứng với hoạt động học tập
của học sinh tiểu học” [22] Các tác giả xem sự thích ứng với hoạt động học tập là
một dạng của thích ứng xã hội và bao gồm hai khía cạnh chính đó là sự thích ứng
Trang 11với các mối quan hệ trong học tập mà chủ yếu là quan hệ giáo viên - học sinh và thích ứng với các yêu cầu của hoạt động học tập
Tác giả Phan Quốc Lâm với đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động học tập
của học sinh lớp 1” [15], kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 10% học sinh thích
ứng ở mức tốt, 75% ở mức trung bình khá và có đến 15% học sinh cho đến cuối năm lớp 1 vẫn chưa thể thích ứng với hoạt động học tập Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự thích ứng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1, đó là hoàn cảnh gia đình, giới tính, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh, sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho hoạt động học tập Trên cơ sở đó, nhằm nâng cao mức độ thích ứng của học sinh, tác giả đã thử nghiệm tác động đến học sinh thông qua 6 biện pháp: nâng cao hiểu biết của giáo viên về thích ứng, hình thành những hành vi phù hợp ngay từ đầu khi trẻ mới tới trường, tăng cường tính xác định của tình huống học tập, có thái độ ứng xử phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh, cá biệt hóa trong dạy học và phối hợp với gia đình học sinh
Tác giả Lê Ngọc Lan nghiên cứu đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động thực
hành môn học của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội” [18], tác giả kết luận: Thích
ứng là một cấu trúc bao gồm hai thành tố: Nắm được các phương thức hành vi thích hợp đáp ứng với các yêu cầu của cuộc sống và hoạt động; Hình thành những cấu tạo tâm lý mới tạo nên tính chủ thể của hành vi và hoạt động Hai thành tố này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau giúp con người điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có, hình thành được hệ thống thái độ, hành vi phù hợp với môi trường
đã thay đổi Tốc độ và kết quả của quá trình đó phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, ý thức và khả năng của mỗi sinh viên
Có thể thấy rằng, các tác giả Phan Quốc Lâm, Lê Ngọc Lan xuất phát từ quan điểm của tâm lý học hoạt động để nghiên cứu vấn đề thích ứng Với họ, hoạt động vừa là đối tượng, vừa là phương thức của sự thích ứng, nghĩa là thích ứng với hoạt động và để làm được điều này thì cá nhân phải đi vào hoạt động, thông qua hoạt động của chính mình Thông qua quá trình này, cá nhân lĩnh hội được những kinh nghiệm, hình thành nên những cấu tạo tâm lý mới, giúp cá nhân khắc phục được những khó khăn và đảm bảo kết quả hành động Hay nói cách khác, quá trình thích ứng được đặc trưng bởi những biến đổi của cá nhân trên hai mặt: mặt tâm lý
Trang 12(hình thành những cấu tạo tâm lý mới) và mặt hành vi (với việc hình thành những hành vi mới phù hợp với sự biến đổi của môi trường mới)
Các tác giả Nguyễn Thạc, Đỗ Thị Thanh Mai, Đặng Thị Lan, Dương Thị Thoan, Nguyễn Thị Út Sáu đã có các công trình nghiên cứu thích ứng với học tập của sinh viên ở các môi trường nhà trường khác nhau Các công trình này đều chỉ ra rằng: sinh viên chưa có phương pháp học tập phù hợp, chính yếu tố này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mức độ thích ứng của sinh viên chưa cao Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã xây dựng những biện pháp tâm lý - sư phạm cụ thể nhằm nâng cao mức
độ thích ứng với học tập của sinh viên trong các nhà trường khác nhau [27], [20], [17], [30], [25]
Tác giả Mã Ngọc Thể với đề tài nghiên cứu “Thích ứng với hoạt động học
tập của sinh viên các dân tộc thiểu số” nghiên cứu sự thích ứng trên cơ sở sự thay
đổi và biểu hiện trên 3 mặt nhận thức, thái độ, hành vi và đưa ra quan niệm thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập là sự thay đổi tích cực, chủ động của sinh viên về nhận thức, thái độ và hành vi để vượt qua khó khăn trong môi trường đại học, đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động học tập Thích ứng của sinh viên các dân tộc thiểu số được xem xét trên cơ sở biểu hiện qua ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi Thích ứng học tập của sinh viên phải có sự thống nhất giữa
ba mặt với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại Khi sinh viên có nhận thức tốt thì có thái độ và hành vi thích ứng sẽ tốt hơn trong môi trường sống mới Các mức độ thích ứng được đánh giá theo các mức độ thấp, trung bình, khá và tốt [29]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu khá nhiều khía cạnh của thích ứng trong việc học tập của học sinh, sinh viên Các tác giả cũng đã xác định được tiêu chí khách quan để đo các biểu hiện của sự thích ứng với hoạt động học tập và chỉ ra nhiều yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của học sinh, sinh viên Ngoài ra, các công trình đã xây dựng những biện pháp tâm lý - sư phạm giúp học sinh, sinh viên nhanh chóng thích ứng với môi trường nhà trường
2.3 Một số công trình nghiên cứu thích ứng với môi trường và rèn luyện của sinh viên các trường lực lượng vũ trang
Tác giả Đỗ Mạnh Tôn với đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng đối với học tập
và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội” [26], cho rằng: “thích ứng
Trang 13với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội là một phẩm chất phức hợp và cơ động của nhân cách học viên, biểu hiện ở quá trình người học tự tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện của mình dưới sự định hướng của người thầy và nhà trường nhằm phát triển các chức năng sinh lý, các phẩm chất tổng hợp của nhân cách, đạt tới sự phù hợp tối đa với những điều kiện và học tập và rèn luyện ở trường
sỹ quan Kết quả nghiên cứu cho thấy: học viên các trường sỹ quan quân đội có mức độ thích ứng khá cao với hoạt động học tập và rèn luyện, song vẫn còn những hạn chế nhất định và hạn chế tập trung nhất ở mặt kỹ năng, kỹ xảo
Tác giả Nguyễn Minh Châu với đề tài “Kỹ năng thích ứng tâm lý với môi
trường học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học An ninh nhân dân”
nghiên cứu kỹ năng thích ứng ở ba mặt đó là nhận thức về kỹ năng thích ứng, biểu hiện của các kỹ năng thích ứng cụ thể và ý thức rèn luyện kỹ năng thích ứng Tác giả cũng chỉ ra thực trạng nhận thức kỹ năng thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với môi trường học tập chỉ ở mức độ trung bình, sự biểu hiện của kỹ năng bộ phận của kỹ năng thích ứng với môi trường học tập ở mức độ cao, trong đó cao nhất là kỹ năng hợp tác, chia sẻ Sinh viên năm thứ nhất cũng đánh giá cao tầm quan trọng của
kỹ năng thích ứng với môi trường học tập nên cũng đã chú ý quan tâm rèn luyện kỹ năng này [2]
Nghiên cứu của các tác giả đã nêu trên chỉ ra các biểu hiện của thích ứng qua các mặt nhận thức, thái độ và hành vi Các tác giả vừa làm rõ các vấn đề về mặt lý luận vừa tìm hiểu thực trạng vấn đề trên những mẫu nghiên cứu cụ thể, chỉ ra đặc trưng và những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng Tuy nhiên trong hoạt động của sinh viên các trường lực lượng vũ trang ngoài hoạt động học thì các em còn phải thực hiện hoạt động điều lệnh công an nhân dân, đây là hoạt động bắt buộc và cũng đem lại rất nhiều khó khăn cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất Các nghiên cứu của các tác giả
đã giúp cho tôi có định hướng để nghiên cứu thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh tại trường ĐH KT - HC CAND
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh CAND của sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT - HC, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên Từ đó, đề xuất
Trang 14một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
- Chỉ ra thực trạng mức độ thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất với những quy định và hoạt động điều lệnh CAND Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới
sự thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT-HC CAND
- Đề xuất một số kiến nghị giúp sinh viên năm thứ nhất thích ứng tốt hơn với hoạt động điều lệnh trong nhà trường
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu biểu hiện, mức độ thích ứng, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT- HC CAND
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đối với sinh viên các trường lực lượng vũ trang phải chấp hành rất nhiều các quy định điều lệnh: điều lệnh nội vụ, điều lệnh đội ngũ, các nội quy của nhà trường Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tôi chỉ nghiên cứu một số các quy định điều lệnh về ý thức học tập, các quy định về điều lệnh nội vụ, đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành điều lệnh CAND, các quy định về tham gia các hoạt động, phong
trào tập thể, ý thức tự quản của sinh viên
4.2.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu
- Số lượng 226 sinh viên năm thứ nhất, khóa D6 đang học tại trường ĐH KT- HC CAND
- 46 cán bộ, giảng viên đang công tác tại trường ĐH KT- HC CAND
4.2.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường ĐH KT-HC CAND
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Việc nghiên cứu được tiến hành theo các nguyên tắc tiếp cận sau đây:
- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động: xem sự thích ứng như một phẩm chất tâm
lý được hình thành, phát triển và biểu hiện trong hoạt động Nghiên cứu thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh phải thông qua thực tiễn thực hiện các quy định điều lệnh của sinh viên
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: xem xét đối tượng nghiên cứu (thích ứng với hoạt động điều lệnh) với tư cách là một hệ thống cấu trúc, bao gồm các thành tố (nhận thức, thái độ, hành vi) có liên quan với nhau, quy định lẫn nhau, đồng thời nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên trong mối quan hệ tương hỗ với các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội Cụ thể: + Nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài, nhằm thu thập hệ thống các cơ sở lý luận của luận văn, nghiên cứu các phương pháp, số liệu để định hướng, làm cơ sở cho việc nghiên cứu
+ Điều tra bằng bảng hỏi: đây là phương pháp chính của luận văn nhằm đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu
+ Tọa đàm, phỏng vấn: là phương pháp bổ trợ, phỏng vấn trực tiếp một số sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục nhằm chính xác hoá những thông tin thu được từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi hoặc bổ sung những thông tin mới cần thiết cho việc nghiên cứu
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: xử lý số liệu bằng phép toán trên chương trình phần mềm SPSS: tính tần suất trả lời các phương án, tính tỷ lệ %, điểm trung bình nhằm đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản về sự thích ứng, thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất, khái niệm thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh; xác định biểu hiện thích ứng qua ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi, các yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 16sự thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT – HC CAND với hoạt động điều lệnh
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã xác định được mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT - HC CAND, các yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng tới việc thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
Kết quả nghiên cứu thực tiễn là tài liệu tham khảo cho Nhà trường, các thầy
cô giáo, cán bộ quản lý học viên để có các biện pháp tác động giúp sinh viên khắc phục khó khăn, thích ứng nhanh với hoạt động điều lệnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của
sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT - HC CAND
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn thích ứng tâm lý với hoạt động điều
lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường ĐH KT- HC CAND
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG TÂM LÝ VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐIỀU LỆNH CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN 1.1 Các khái niệm cơ bản
- Theo quan điểm của các nhà tâm lý học Hành vi:
Trường phái này, đại diện tiêu biểu là J.B Watson (1878-1958), ông cho rằng thích ứng là việc con người đã học được những hành vi cho phép giải quyết tốt những công việc, đòi hỏi của cuộc sống Những người không thể áp dụng những hành vi đã học vào giải quyết có hiệu quả các yêu cầu do cuộc sống tạo ra là những người có khả năng thích ứng kém Cơ chế của thích ứng với môi trường là thông qua việc học tập, đó là quá trình con người học được những hành vi mới cho phép giải quyết các yêu cầu, đòi hỏi mới của cuộc sống Họ cho rằng con người là một cơ thể sống với hệ thống hành vi, phản ứng, đáp lại kích thích của bên ngoài nhằm thích ứng với môi trường [6]
- Theo quan điểm của các nhà tâm lý học nhân văn
Tâm lý học Nhân văn, với đại diện nổi bật là C Roger và Maslow, đã lấy con người làm trung tâm để xây dựng quan điểm về “thích ứng”, lấy nhân cách làm đối tượng nghiên cứu và xem xét nhân cách như một hệ thống trọn vẹn Nếu như nhân cách được đặt trong môi trường lành mạnh, họ sẽ thể hiện tối đa tiềm năng của bản thân, phát huy hết được khả năng tiền ẩn bên trong của mỗi cá nhân, trở thành con người mà họ có thể trở thành Khi đó mỗi cá nhân sẽ tất yếu hòa hợp được với người khác và thích ứng được với môi trường Maslow coi thích ứng là sự thể hiện
Trang 18được cái vốn có của bản thân trong những điều kiện nhất định mà tiền đề tạo ra sự thích ứng đó chính là việc thỏa mãn những nhu cầu của con người Ông đưa ra hệ thống nhu cầu 5 bậc, được xếp từ thấp đến cao, đó là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự thể hiện bản thân Khi một nhu cầu ở bậc thấp hơn được thỏa mãn thì nhu cầu ở bậc cao hơn sẽ trở thành động
cơ thúc đẩy con người Theo các nhà tâm lý học nhân văn, thích ứng là quá trình con người nỗ lực, cố gắng thỏa mãn nhu cầu của mình, để vươn tới nhu cầu cao hơn
đó là nhu cầu xã hội, gia nhập vào các nhóm trong xã hội, hiện thực hóa được hết tiềm năng của mình, quá trình này ngoài sự nỗ lực của bản thân còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường xã hội Thích ứng của con người liên quan đến việc con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn của bản thân, vươn tới những mục tiêu cao đẹp của cuộc sống, do đó mức độ thành công của con người cũng là một tiêu chí để đánh giá mức
độ thích ứng của họ [1]
Theo quan điểm của trường phái Tâm lý học hoạt động
Đại biểu của trường phái này là L.X Vưgotxki, A.N Leonchiev, X.L Rubinstenin Theo quan điểm của trường phái này, tâm lý con người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, tâm lý con người là quá trình con người lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử, biến kinh nghiệm đó thành tâm lý của bản thân Vì vậy yếu tố quan trọng nhất để phát triển tâm lý và tạo nên sự thích ứng của con người với xã hội đó là tính tích cực của chủ thể khi tham gia vào các hoạt động, giao tiếp [7] Hoạt động là yếu tố quan trọng nhất giúp cá nhân thích ứng tốt với môi trường luôn luôn thay đổi và kết quả của hoạt động là tiêu chí để đánh giá sự thích ứng của cá nhân đó
Có rất nhiều quan điểm, cách giải thích sự thích ứng khác nhau của các nhà khoa học Tuy nhiên, ở phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi quan tâm tìm hiểu khái niệm thích ứng, đặc điểm và tiêu chí để đo biểu hiện của nó Qua nghiên cứu, có thể chỉ ra một số công trình đã định nghĩa về thích ứng như:
Trong Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng xuất bản năm 2008, “Thích
ứng là ph n ứng của cơ thể với những thay đổi của môi trường” Về nguyên tắc có
Trang 19hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi các điều kiện của môi trường:
+ Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan; đây
là phương thức phổ biến với động vật và thực vật
+ Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức; phương thức này chỉ đặc trưng cho động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lý Theo quan niệm này, khái niệm thích ứng cũng có điểm đồng nghĩa với thích nghi [3, tr.805- 806]
Theo từ điển Tâm lý học Quân sự: “Thích ứng là sự thay đổi, điều chỉnh nhất định của con người về năng lực hoạt động, hành vi ứng xử cho phù hợp với điều kiện môi trường sống mới để qua đó có thể ổn định cuộc sống và phát triển” [38]
Tác giả Trần Thị Minh Đức khi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng
của sinh viên năm thứ nhất – Đại học Quốc gia Hà Nội với môi trường đại học” đã
đưa ra khái niệm “Thích ứng là quá trình hòa nhập tích cực với hoàn c nh có vấn
đề qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý – xã hội” [5, tr.30] Tác
giả đã chỉ ra thích ứng thể hiện qua các mặt:
- Hòa nhập tích cực là sự chủ động thay đổi bản thân và sự cải tạo hoàn cảnh trong sự hài hài hòa nhất định Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên
hệ kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh thay đổi phù hợp với bản thân
- Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong kinh nghiệm của cá nhân có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng
- Sự trưởng thành về mặt tâm lý – xã hội: Là sự thoải mái bên trong của mỗi cá nhân, sự phát triển hài hòa và làm chủ trong các mối quan hệ xã hội
Theo tác giả Chu Văn Đức thì: thích ứng tâm lý xã hội là quá trình tương tác tích cực giữa con người với môi trường xã hội, trong đó con người làm quen, tiếp nhận các yếu tố của môi trường xã hội, điều chỉnh cảm xúc, lĩnh hội kinh nghiệm và phương thức hành vi mới, quá trình con người nỗ lực khắc phục khó khăn giải quyết thành công những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xã hội [4, tr 42]
Trang 20Tác giả Lê Thị Minh Loan cho rằng: Thích ứng là quá trình cá nhân lĩnh
hội một cách tích cực, chủ động các điều kiện mới hay hoàn c nh mới qua đó đạt được các mục đích yêu cầu đề ra và sự trưởng thành về mặt tâm lý, nhân cách [19]
Thích ứng được tác giả tiếp cận theo hướng tích cực, chủ động của con người, là sự hòa nhập, lĩnh hội một cách chủ động, tích cực khi con người tham gia vào môi trường sống mới, hoàn cảnh mới để từ đó bản thân có sự lĩnh hội, tiếp thu, tạo nên đặc điểm tâm lý mới
Như vậy, các tác giả nêu trên đều thống nhất cho rằng nội hàm của thích ứng gồm:
- Thích ứng là quá trình tương tác giữa con người với môi trường xã hội, quá trình con người thâm nhập vào môi trường xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp
- Quá trình cá nhân tích cực, chủ động trong các điều kiện hoàn cảnh mới để tạo ra sự thay đổi ở bản thân và có sự phát triển về tâm lý nhân cách
- Là khả năng hòa nhập của con người với những biến động trong một hoàn cảnh mới, là quá trình con người làm quen, tham gia vào một môi trường mới Sự thích ứng luôn diễn ra trong suốt cuộc đời con người vì môi trường sống, môi trường xã hội và con người luôn luôn thay đổi và phát triển Mức độ thích ứng của cá nhân được biểu hiện ở kết quả của quá trình thực hiện hoạt động
ở môi trường mới và mức độ hài lòng của cá nhân khi thực hiện hoạt động trong môi trường đó
Từ nghiên cứu các quan niệm khác nhau về thích ứng tác giả luận văn cho
rằng: “Thích ứng là quá trình con người tích cực thay đổi điều chỉnh nhận thức,
thái độ, hành vi của mình để đáp ứng được với yêu cầu của môi trường mới đem lại hiệu qu trong quá trình hoạt động”
1.1.1.2 Đặc điểm của thích ứng
Sự thích ứng của con người có đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, thích ứng là quá trình tích cực của chủ thể trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường mới, với những hoạt động có những yêu cầu mới
Trang 21- Thứ hai, thích ứng chỉ xảy ra khi chủ thể thay đổi môi trường sống mới hoặc tiến hành các hoạt động với những yêu cầu mới Khi điều kiện kích thích thay đổi, những đặc điểm về cơ thể, đặc điểm tâm lý trong cấu trúc tâm lý không còn thích hợp để phản ứng thích hợp với môi trường sống mới buộc chủ thể phải thay đổi cấu trúc tâm lý bên trong, trên cơ sở đó điều chỉnh, hình thành hành vi mới cho phù hợp với điều kiện kích thích mới
- Thứ ba, kết quả của sự thích ứng là làm thay đổi cấu trúc bên trong hoặc dẫn đến sự thay đổi cấu trúc bên trong của chủ thể Đối với sự thích ứng của con người thì đó là sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của chủ thể thích ứng
- Thứ tư, biểu hiện khách quan nhất, rõ nét nhất của thích ứng là có được hành vi phù hợp với hoạt động, có thái độ hài lòng đối với việc thực hiện hành động đó
1.1.1.3 Tiêu chí đo biểu hiện của sự thích ứng
Theo tác giả Mã Ngọc Thể tiêu chí để đánh giá mức độ thích ứng dựa vào tính tích cực và tính tự giác của cá nhân [29, tr.32- 33]
Tính tích cực biểu hiện qua sự chủ động và tích cực của chủ thể khi tham gia các hoạt động, trong quá trình con người tự nhận thức về vai trò của mình đối với thế giới Ngoài ra, còn biểu hiện trong khả năng hoạt động của họ khi tham gia vào các tương tác khác nhau Những tương tác này phản ánh sự tự ý thức, khả năng điều chỉnh nội dung, hình thức, thời gian và phương pháp hoạt động của chủ thể sao cho thích ứng với môi trường
Tính tự giác thể hiện ở việc các chủ thể có sự sẵn sàng hay không sẵn sàng trong các hoạt động Chủ thể biết đặt mình vào tình huống của đời sống thực tế, được trải nghiệm, quan sát, giải quyết vấn đề đặt ra theo hướng suy nghĩ của mình thông qua làm việc cá nhân, làm việc nhóm, từ đó thu được những kiến thức mới, phát huy tiềm năng sáng tạo, linh hoạt, năng động và biết cách hợp tác với người khác Tác giả cũng chỉ ra các mức độ thích ứng qua các mặt biểu hiện nhận thức, thái độ, hành vi, cụ thể với bốn mức độ thể hiện tính tích cực, tự giác tương ứng với mức độ thích ứng
Trang 22Bảng 1.1 Các mức độ thích ứng qua các mặt biểu hiện Các
MĐTƢ Trung bình
MĐTƢ Khá
MĐTƢ Tốt Nhận
Tương đối rõ ràng nhưng còn thiếu sót
Khá tích cực,
Đã rõ ràng và đầy đủ hơn
Hoàn toàn tích cực
Rõ ràng, đúng đắn, sâu sắc, đúng bản chất
Trông chờ,
Cố gắng khắc phục khó khăn
Khá tự tin, Chưa hoàn toàn làm chủ được tình huống,
Có nhiều thay đổi
Nỗ lực cố gắng khắc phục khó khăn
Hoàn toàn tự tin,
Làm chủ được tình huống, Không nhất thiết phải cố gắng khắc phục khó khăn
Theo nghĩa vụ Tốc độ trung bình
Ít kỹ xảo
Khá chủ động, Linh hoạt
Tương đối thành thạo
Có kỹ xảo
Hoàn toàn chủ động
Khéo léo Thuần thục Hoàn thiện Sáng tạo
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đồng ý với quan điểm trên, từ đó đưa ra tiêu chí đánh giá mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên qua các mặt biểu hiện
Trang 23Bảng 1.2 Các mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên qua các mặt biểu hiện
MĐTƢ Trung bình
MĐTƢ Khá
MĐTƢ Tốt Nhận
Tương đối rõ ràng nhưng còn thiếu sót
Khá tích cực,
Đã rõ ràng và đầy đủ hơn
Hoàn toàn tích cực
Rõ ràng, đúng đắn, sâu sắc, đúng bản chất
Trông chờ
Khá tự tin, Chưa hoàn toàn làm chủ được tình huống
Hoàn toàn tự tin,
Làm chủ được tình huống
Ít kỹ xảo
Khá chủ động, Linh hoạt
Hoàn toàn chủ động
Thuần thục, Sáng tạo
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi nhận thấy trong các mặt biểu hiện thích ứng luôn có sự thống nhất với nhau giữa nhận thức, thái độ và hành
vi Do đó khi nghiên cứu về thích ứng không thể chỉ nghiên cứu một mặt mà phải nghiên cứu cả ba nội dung trên
1.1.2 Thích ứng tâm lý
Sự thích ứng tâm lý diễn ra ở cả người và động vật Đó là quá trình cơ thể sinh vật xác lập được sự cân bằng với môi trường thường xuyên biến động thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện của hệ thần kinh não bộ Sự thích ứng này có được khi hệ thần kinh phát triển, cho phép có khả năng đáp ứng với những kích thích gián
Trang 24tiếp, đón trước, hoặc tái tạo gần kề Như vậy, thích ứng tâm lý đã làm cho cơ thể sinh vật có thể tồn tại và phát triển tốt hơn trong môi trường đầy biến động
Theo tác giả Tremblay Monique thì thích ứng tâm lý – xã hội là tìm kiếm sự cân bằng giữa các xung năng, những ham muốn của bản thân với những đòi hỏi, mong đợi từ phía môi trường bên ngoài
Thích ứng tâm lý: đây là hình thức thích nghi cao hơn thích nghi sinh học,
có thể có ở cả ở người và động vật Đó là quá trình cơ thể xác lập sự cân bằng với môi trường thường xuyên thay đổi, biến động, bằng cơ chế phản xạ có điều kiện của
hệ thần kinh Sự thích ứng này có khi hệ thần kinh phát triển cho phép cơ thể sinh vật có khả năng đáp ứng với những kích thích gián tiếp hoặc đón trước, hoặc tái tạo gần kề Nhờ đó mà cơ thể động vật có thể đảm bảo tồn tại và phát triển tốt hơn trước môi trường đầy biến động [45]
Theo Nguyễn Thị Minh Hằng (2001): thích ứng tâm lý là một hình thức thích ứng bên trong mà kết quả của nó là một trạng thái cân bằng tâm lý của mỗi một cá nhân Biểu hiện của trạng thái cân bằng này là cá nhân cảm thấy thoải mái,
dễ chịu, thảnh thơi và tràn đầy năng lượng cho hoạt động [8]
Như vậy, quá trình thích ứng trong hoạt động được đặc trưng bởi những biến đổi ở cá nhân trên hai mặt Thứ nhất là sự biến đổi về mặt tâm lý với việc phát sinh, hình thành và phát triển của các cấu tạo tâm lý mới Thứ hai là những biến đổi về mặt hành vi với việc hình thành các phương thức hành vi mới Cả hai mặt này đều giúp chủ thể thích ứng tốt với môi trường sống
Từ đó, tác giả cho rằng: thích ứng tâm lý là quá trình con người tích cực,
chủ động thay đổi nhận thức thái độ và hành vi nhằm đáp lại một cách phù hợp những đòi hỏi của điều kiện môi trường sống luôn luôn thay đổi để tồn tại và phát triển
1.1.3 Hoạt động điều lệnh
1.1.3.1 Khái niệm hoạt động điều lệnh
Theo từ điển bách khoa Công an nhân dân: điều lệnh nội vụ của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam là văn bản có tính pháp quy do Bộ Công an ban hành trong lực lượng Công an nhân dân bắt buộc mọi sĩ quan, hạ sĩ quan chiến sỹ công an phải thực hiện khi công tác, chiến đấu, học tập và sinh hoạt, nhằm xây dựng lực
Trang 25lượng công an cách mạng, chính quy tinh nhuệ và từng bước hiện đại Điều lệnh nội
vụ đang được thực hiện trong lực lượng công an hiện nay được ban hành là thông tư
số 17/2012/TT- BCA ngày 10 tháng 4 năm 2012, gồm 8 chương, 50 điều [38]
Hoạt động điều lệnh là những hoạt động thực hiện những quy định về chế
độ sinh hoạt, công tác, chiến đấu, học tập của người cán bộ chiến sỹ Công an nhân dân được quy định trong các văn bản của ngành công an
1.1.3.2 Các quy định điều lệnh
Các quy định điều lệnh được quy định rõ trong thông tư số 17/2012/TT- BCA và thông tư số 18/2012/TT-BCA, đó là các quy định về điều lệnh nội vụ, điều lệnh đội ngũ cho toàn thể cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang, sinh viên trường đại học Công an nhân dân nói chung và sinh viên trường ĐH KT- HC CAND cũng phải tuân thủ theo các quy định điều lệnh đó Nội dung quy định điều lệnh rất đa dạng, trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn thạc sỹ tôi xin nghiên cứu một số quy định điều lệnh tiêu biểu đối với sinh viên trường ĐH KT – HC Sinh viên không được vi phạm các quy định sau:
- Về ý thức học tập:
+ Bỏ xếp hàng điểm danh lên lớp mà không có lý do chính đáng
+ Đến muộn giờ học, giờ thực tập, thực hành không lý do chính đáng
+ Nghỉ học không lý do chính đáng
+ Ngủ gật trong giờ lên lớp, không ghi chép bài, mất trật tự, nói chuyện riêng trong lớp
+ Ngủ hoặc làm việc riêng trong giờ tự học, tự nghiên cứu
+ Vi phạm nội quy, quy chế thi cử
- Về đạo đức lối sống và ý thức chấp hành điều lệnh CAND, nội quy, quy chế trong trường:
+ Mặc trang phục, đi giầy tất…sai quy định hoặc mặc trang phục thường trong giờ học tập, hội họp
+ Học viên nam để tóc, râu, mai tốt; học viên nhuộm tóc, để móng tay dài, sơn móng tay, móng chân
+ Không gấp chăn màn hoặc gấp sai quy định
Trang 26+ Để mũ, treo quần áo, sắp xếp đồ đạc cá nhân không ngăn nắp, không đúng quy định
+ Tự ý đưa khách vào trường, tiếp khách trong giờ học tập chưa xin phép
+ Vắng thể dục buổi sáng không lý do
+ Vắng điểm danh, điểm danh hộ hoặc nhờ người điểm danh, điểm danh không nghiêm túc, nô đùa, nói chuyện riêng
+ Sử dụng điện thoại, laptop (không vì mục đích học tập) trong giờ học tập, sinh hoạt hoặc dùng laptop quá 22h
+ Qua 22h còn bật điện ở phòng ở, ồn ào, mất trật tự, đi lại trong phòng
- Ý thức và kết quả tham gia các hoạt động, các phong trào:
+ Vắng mặt trong lễ chào cờ không lý do
+ Dán tranh ảnh trong phòng ở, sử dụng đồ dùng cá nhân không đúng quy định + Treo, phơi quần áo, khăn mặt, để giày dép sai quy định
+ Không làm vệ sinh phòng ở, hội trường, nơi công cộng theo phân công
+ Vắng tập đội ngũ không lý do
- Tinh thần tập thể, ý thức tự quản và tham gia công tác:
+ Bỏ học ngoại khóa ngoài giờ không lý do
+ Bỏ sinh hoạt tiểu đội, lớp, chi bộ, chi đoàn, hội phụ nữ… không lý do
+ Mặc trang phục sai quy định khi đi ăn cơm, tự ý cắt cơm và nấu ăn tại ký túc xá
1.1.4 Khái niệm và một số đặc điểm của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Công an nhân dân
1.1.4.1 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là những người trong khoảng từ 18 – 25 tuổi, là đại biểu của một nhóm xã hội có tri thức, trình độ học vấn cao, là những người đang học tập chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hoặc tinh thần của xã hội Đây là lực lượng bổ sung đội ngũ tri thức hoặc những người lao động trí óc có chuyên môn, nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng và có ích cho xã hội [22]
Trang 27Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “studens”, tiếng Anh
là “Student”, tiếng Pháp là”Etudiant” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình đang khai thác và tìm kiếm tri thức
Theo X.L Rubinstein: Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho các hoạt động lao động và sản xuất vật chất hay tinh thần cho xã hội Nhóm sinh viên rất cơ động được tổ chức theo mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục Sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo để trở thành người lao động trí óc, với nghiệp vụ cao và được tham gia tích cực vào các hoạt động đa dạng có ích cho xã hội
Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), sinh viên được hiểu là “Người đang học ở bậc đại học” [24]
1.1.4.2 Đặc điểm sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Công an nhân dân Đặc điểm chung của sinh viên:
- Sự phát triển về thể chất: giai đoạn này sự phát triển về thể chất đã đạt đến mức hoàn thiện, có các tố chất về thể lực như sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh tạo điều kiện cho họ điều kiện tham gia vào các hoạt động học tập, lao động đạt hiệu quả cao nhất
- Hoạt động nhận thức của sinh viên là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng thẳng với cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động trí tuệ này vẫn lấy những
sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở Song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế, uyển chuyển, linh động tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề Bởi vậy, đa số sinh viên lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén những vấn đề mà thầy cô giáo trình bày, họ thường ít thỏa mãn với những gì đã biết mà muốn đào sâu, suy nghĩ để nắm vấn đề sâu hơn, rộng hơn
- Một đặc điểm nổi bật của sinh viên là tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục
Tự đánh giúp con người không chỉ biết người mà còn biết mình Tự đánh giá ở thời
kỳ sinh viên phát triển mạnh với những biểu hiện phong phú và sâu sắc, biểu hiện ở việc sinh viên không chỉ đánh giá bản thân mình có tính chất bên ngoài, hình thức
Trang 28mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách, đánh giá cả những hạn chế, giải thích tại sao lại như vậy Tự đánh giá của sinh viên vừa có ý nghĩa tự ý thức, tự giáo dục
Tự ý thức của sinh viên cho thấy mức độ phát triển của những phẩm chất nhân cách này có liên quan đến trình độ học lực cũng như kế hoạch sống trong tương lại của sinh viên Tự đánh giá về mức độ trí tuệ là thành phần quan trọng trong tự ý thức, tự giáo dục ở sinh viên, ảnh hưởng tới động cơ, mục đích học tập của sinh viên Lòng tự tin, tính tự trọng phát triển theo chiều hướng tốt, tạo điều kiện cho sự vươn lên trong học tập và phấn đấu, rèn luyện nhân cách của sinh viên Những phẩm chất tự ý thức, tự đánh giá, lòng tự trọng phát triển mạnh mẽ ở tuổi sinh viên, chính phẩm chất này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực của những trí thức tương lai [22]
- Đặc điểm khác biệt trong sự phát triển tâm lý của sinh viên đó chính là sự phát triển tình cảm nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm, tính độc lập trong các hoạt động ở mức độ cao, sinh viên có lập trường vững vàng hơn, có cách giải quyết vấn đề chính xác, đúng đắn và tự chủ hơn Sự trưởng thành về mặt xã hội, tâm thế sẵn sàng cho việc học tập tri thức mới và kiến thức nghề nghiệp phục vụ cho nghề nghiệp tương lại của bản thân Đối với sinh viên việc xác định nghề nghiệp đã rõ ràng, cụ thể hơn, sinh viên cũng phải đối mặt với những khó khăn nhất định cả về vật chất và tinh thần Sự thay đổi môi trường học tập, phương pháp học tập đòi hỏi sinh viên phải mất thời gian để thích ứng với môi trường học tập mới, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất
Đặc điểm sinh viên các trường Đại học Công an nhân dân
Các trường Đại học Công an nhân dân là nơi đào tạo, học tập, và nghiên cứu phục vụ nguồn nhân lực cho các đơn vị chiến đấu trong lực lượng công an Vì thế, sinh viên trong trường không chỉ yêu cầu về kiến thức mà còn về kỷ luật, thể chất và đạo đức người công an cách mạng Với sinh viên năm thứ nhất khi bước vào trường, các em phải trải qua một tháng tập huấn điều lệnh, quân sự, võ thuật trong đó có tập huấn điều lệnh nội vụ, điều lệnh đội ngũ như: sắp xếp phòng ở ngăn nắp, gập chăn màn gọn gàng, vệ sinh sạch sẽ, ăn mặc tuân thủ đúng theo điều lệnh công an nhân
Trang 29dân, tư thế, tác phong theo các quy định điều lệnh…Ngoài ra sinh viên Công an còn được tập thói quen sinh hoạt có giờ giấc, có kế hoạch trực chiến, nghỉ phép nghiêm túc, lao động, vệ sinh khu vực được phân công đều đặn Việc rèn luyện thân thể trong nhà trường cũng được coi trọng, đối với các trường Công an việc học các môn giáo dục thể chất, quân sự võ thuật là những môn học được đưa vào giảng dạy chính thức và tính điểm học phần, ngoài ra các môn học này còn là một trong những điều kiện làm chuẩn đầu ra cho sinh viên khi tốt nghiệp ra trường Bên cạnh điểm học tập sinh viên trường Công an nhân dân còn có điểm rèn luyện đó là điểm tuân thủ và thực
hiện điều lệnh, các quy định của nhà trường
Sinh viên năm thứ nhất vừa rời trường phổ thông bước vào đại học nên dẫn tới nhiều sự thay đổi về môi trường học tập, môi trường sống, thay đổi về đặc điểm tâm lý Sinh viên có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn trong việc thích ứng hòa nhập môi trường mới
Về thuận lợi, sinh viên năm thứ nhất có tuổi đời còn trẻ, tràn đầy nhiệt huyết, tinh thần phấn chấn, háo hức, sẵn sàng cho việc học tập tiếp thu tri thức mới Việc đỗ đại học là bước đệm cho việc thực hiện ước mơ trở thành người chiến sỹ Công an vì vậy sinh viên năm thứ nhất chắc chắn sẽ có nhiều nỗ lực, cố gắng, tích cực học tập, rèn luyện để trở thành người chiến sỹ Công an giỏi Ngoài ra tâm lý thích khám phá cái mới và sống trong môi trường nội trú sẽ giúp cho sinh viên dễ dàng tham gia vào các hoạt động tập thể, các câu lạc bộ, tạo dựng các mối quan hệ bạn bè, đồng chí đồng đội dễ dàng hơn
Về khó khăn, khó khăn đầu tiên mà các sinh viên năm thứ nhất gặp phải đó
là sự thay đổi môi trường sống, môi trường học tập Sinh viên trường Công an phải
ở nội trú trong trường, thay đổi hoàn toàn môi trường sống, bên cạnh niềm vui, sự hứng khởi với những điều mới mẻ, nhiều sinh viên có tâm trạng buồn bã vì phải xa gia đình, xa bạn bè, người thân, nếu tâm lý này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của sinh viên Ngoài ra, sinh viên còn phải học tập và rèn luyện trong môi trường kỷ luật, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định điều lệnh công an nhân dân, làm việc, sinh hoạt có kế hoạch, giờ giấc, vừa vào trường các em đã trải qua một tháng huấn luyện đầu khóa vất vả, nhiều em không quen với vất vả, rèn luyện nên gặp phải vấn đề về sức khỏe, nản chí, chán nản muốn bỏ về Thêm vào đó, nhiều sinh
Trang 30viên có suy nghĩ lên đại học để “xả hơi” vì vừa trải qua kỳ thi căng thẳng dẫn đến chưa thích ứng được với việc học tập và rèn luyện trong trường
Đó là những đặc điểm tâm lý nổi bật của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân, các em có những thuật lợi nhưng cũng gặp một số khó khăn ảnh hưởng tới sự thích ứng tâm lý với môi trường đại học
1.2 Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
Từ nghiên cứu, tiếp thu những quan điểm về thích ứng của các tác giả có thể đưa ra khái niệm thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất như sau:
Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân là quá trình sinh viên tích cực thay đổi điều chỉnh nhận thức thái độ hành động cho phù hợp với các quy định về điều lệnh của ngành, của nhà trường
Như vậy khi nghiên cứu thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân, luận văn cần làm rõ được chủ thể thích ứng tâm lý, nội dung thích ứng tâm lý, môi trường thích ứng tâm lý, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng tâm lý và tiêu chí để đánh giá mức độ thích ứng
Về chủ thể thích ứng, chủ thể thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất đó chính là sinh viên năm thứ nhất Sinh viên cần điều chỉnh, thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của mình cho phù hợp với những yêu cầu về điều lệnh CAND Hiểu rõ về các quy định điều lệnh, vai trò của việc chấp hành nghiêm điều lệnh CAND trong việc xây dựng, rèn luyện nhân cách người chiến sỹ Công an
Về nội dung thích ứng, đó là việc thực hiện các quy định điều lệnh, việc chấp hành nghiêm túc giờ giấc sinh hoạt, các hoạt động học tập, rèn luyện, các quy định về tư thế tác phong, ăn mặc, giao tiếp với đồng chí đồng đội…
Về môi trường thích ứng, đó là nơi diễn ra các nội dung thích ứng vừa là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thích ứng của con người nói chung Vì
Trang 31vậy môi trường thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên chính là môi trường diễn ra các hoạt động học tập, sinh hoạt, rèn luyện của sinh viên trong trường
Về quá trình thích ứng, đó là quá trình thay đổi, điều chỉnh tâm lý bản thân, vượt qua những khó khăn để chấp hành tốt các quy định điều lệnh Quá trình thích ứng phụ thuộc vào nhận thức, ý chí, ý thức của mỗi sinh viên
Về tiêu chí đánh giá mức độ thích ứng, mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất phụ thuộc vào mức độ nhận thức, mức độ thực hiện các hành động chấp hành điều lệnh, mức độ cảm xúc của sinh viên Đó là tiêu chí để đánh giá mức độ thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh trong nhà trường
1.3 Biểu hiện thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
Các tác giả đi trước cũng đã nghiên cứu và đưa ra các biểu hiện của thích ứng tâm lý, tác giả Đỗ Mạnh Tôn xác định cấu trúc tâm lý sự thích ứng với học tập
và rèn luyện của học viên các nhà trường quân sự gồm: động cơ học tập đúng, xu hướng nghề nghiệp quân sự rõ, ổn định; kỹ năng, kỹ xảo học tập tốt; thói quen sống, học tập, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và hành vi rèn luyện nghiệp vụ sư phạm[36]
Tác giả Trần Thị Minh Đức trong công trình “Nghiên cứu sự thích ứng của
sinh viên năm thứ nhất – Đại học Quốc gia Hà Nội với môi trường đại học” đã chỉ
ra biểu hiện của sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với môi trường đại học là: các chỉ báo tâm lý về sự thích ứng, về nhà trường với sự thích ứng, về thích ứng liên quan đến nhận thức và cách thức tổ chức hoạt động học tập của sinh viên [5]
Tác giả Nguyễn Xuân Thức nghiên cứu: “Sự thích ứng với hoạt động rèn
luyện nghiệp vụ của sinh viên Đại học Sư phạm” đã nghiên cứu trên ba mặt: Nhận thức
về các nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm và hành vi rèn luyện nghiệp vụ sư phạm [33]
Như vậy các tác giả cũng đã đề cập đến các thành phần của cấu trúc thích ứng với hoạt động của con người theo các cách khác nhau nhưng về cơ bản biểu hiện của thích ứng tâm lý được biểu hiện ở ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi cũng tập trung làm rõ biểu hiện
Trang 32thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân với hoạt động điều lệnh theo các mặt biểu hiện: nhận thức, thái độ và hành vi
1.3.1 Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân biểu hiện qua mặt nhận thức
Nhận thức là cở sở, điều kiện để con người hoạt động, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về bản thân, đối tượng và môi trường sẽ giúp cho con người thực hiện hoạt động hiệu quả Để có thể chấp hành nghiêm chỉnh các quy định điều lệnh công
an nhân dân người chiến sỹ công an nói chung, sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân nói riêng cần nhận thức rõ được mục đích của việc thực hiện, chấp hành nghiêm điều lệnh, vai trò của hoạt động điều lệnh đối với việc rèn luyện
tư cách người chiến sỹ công an một cách đầy đủ, sâu sắc các quy định điều lệnh, các hình thức kỷ luật nếu không chấp hành nghiêm điều lệnh, cũng như biện pháp rèn luyện điều lệnh Sinh viên có nhận thức đầy đủ, chính xác về mục đích rèn luyện điều lệnh, vai trò của hoạt động điều lệnh với việc rèn luyện nhân cách người chiến
sỹ công an, nắm rõ đầy đủ các quy định về điều lệnh công an nhân dân, các hình thức khen thưởng, kỉ luật khi không chấp hành đúng điều lệnh
Nhận thức của sinh viên về hoạt động điều lệnh có vai trò quan trọng đối với sự thích ứng của họ, đây là điều kiện để sinh viên thực hiện có hiệu quả hoạt động điều lệnh, tránh những sai sót, hậu quả xấu do chưa nhận thức đúng và đầy đủ Mức độ nhận thức của sinh viên với hoạt động điều lệnh là một mặt biểu hiện mức
độ thích ứng của sinh viên với hoạt động đó
1.3.2 Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân biểu hiện ở mặt thái độ
Khi tham gia vào hoạt động và giao tiếp trong môi trường xã hội, không phải mọi người đều có sự thích ứng như nhau C Mác đã khẳng định hoàn cảnh tạo
ra con người nhưng trong chừng mực nhất định con người tạo ra hoàn cảnh Do vậy,
để thích ứng tốt trong điều kiện tác động từ môi trường sống, chủ thể thích ứng phải
có thái độ tích cực, ý thức quyết tâm khắc phục khó khăn, chủ động tác động vào hoàn cảnh để bộc lộ kinh nghiệm lịch sử xã hội (năng lực người) trong đối tượng hoạt động, chiếm lĩnh nó, hình thành cấu tạo tâm lý mới
Trang 33Mặt thái độ tạo ra động cơ tích cực cho cá nhân trong quá trình thích ứng và
nó được hình thành trên cơ sở nhận thức tốt Thể hiện khát vọng, sự quyết tâm, tính tích cực, tự giác, năng động và sáng tạo của cá nhân trong quá trình thích ứng Thái độ tốt gắn liền với sự biểu hiện cảm xúc tích cực của cá nhân trong quá trình thích ứng
Thái độ trong quá trình thích ứng với nội quy của sinh viên năm thứ nhất qua việc thay đổi nhận thức và hành vi cho phù hợp với những nội quy trong nề nếp sinh hoạt cá nhân, học tập, các hoạt động điều lệnh của người Công an nhân dân Thái độ tích cực, chủ động, sáng tạo khắc phục khó khăn trong học tập để hòa nhập với môi trường mới tốt hơn
Thái độ của sinh viên đối với nội quy, điều lệnh quy định về chương trình học, thời gian học… được biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- Sinh viên tích cực nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về điều lệnh
- Tính tích cực, chủ động của sinh viên khi tham gia các quy định điều lệnh
về nề nếp sinh hoạt cá nhân, học tập;
- Cảm xúc hài lòng, thoải mái của sinh viên khi thực hiện các quy định điều lệnh, thái độ tích cực vượt qua các khó khăn trong việc thích ứng với các nội quy về giờ giấc, phong trào, quy định về trang phục, đời sống văn hóa…
- Mức độ hài lòng của sinh viên đối với các quy định điều lệnh với các văn bản pháp quy về đào tạo của trường, giờ giấc sinh hoạt cá nhân, rèn luyện trong học tập…
1.3.3 Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân biểu hiện qua mặt hành vi
Hành vi điều lệnh của sinh viên là tập hợp các thao tác hợp lý thực hiện hoạt động điều lệnh Hoạt động chính là phương thức thích ứng của cá nhân, của nhóm đồng thời là biểu hiện khách quan của sự thích ứng tâm lý của con người Biểu hiện cuối cùng của các mức độ thích ứng thể hiện trong hoạt động và hiệu quả hoạt động của cá nhân và nhóm
Hành vi thích ứng trong hoạt động điều lệnh của SV năm thứ nhất thông qua việc làm quen với hoạt động tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức người chiến sĩ Công an nhân dân, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về điều lệnh Công
an nhân dân: giờ giấc sinh hoạt cá nhân, ý thức học tập, chấp hành sự phân công,
Trang 34điều động của cán bộ quản lý, ăn mặc trang phục theo đúng quy định của điều lệnh, điều lệnh nội vụ Sinh viên thực hiện tốt các quy định giao tiếp ứng xử, các quy định
về văn hóa lối sống trong nhà trường… Không mắc phải những vi phạm về quy định điều lệnh, quy chế học tập, thi cử, các quy định về trực gác, cấm trại, văn hóa giao tiếp ứng xử với thầy cô, đồng chí đồng đội
Việc sinh viên thích ứng với hoạt động điều lệnh thể hiện ở việc sinh viên tích cực thay đổi hành vi của bản thân trong việc chấp hành điều lệnh từ chỗ bản thân chấp hành điều lệnh mang tính chất bắt buộc đối phó chuyển sang trạng thái tích cực chủ động trong việc chấp hành điều lệnh và các quy định của nhà trường
Các hành vi chấp hành điều lệnh không chỉ thực hiện ở trên lớp học mà trong tất các các hoạt động trong đời sống sinh hoạt, rèn luyện của sinh viên, trên tất
1.4.1 Các yếu tố chủ quan
Động cơ lý tưởng, hứng thú nghề nghiệp
Việc xác định đúng động cơ khi chọn nghề, xây dựng cho bản thân lý tưởng
về người chiến sỹ Công an nhân dân, hình thành hứng thú với nghề nghiệp sẽ ảnh hưởng rất lớn tới quá trình thích ứng tâm lý của sinh viên với môi trường rèn luyện trong lực lượng vũ trang, đặc biệt thích ứng với các hoạt động điều lệnh diễn ra
Trang 35trong trường Khi các em xác định được động cơ nghề nghiệp đúng đắn, có lý tưởng
và hứng thú với nghề sẽ tạo ra động lực thúc đẩy sinh viên tích cực, say mê học tập, rèn luyện, nỗ lực phấn đấu, vượt qua những khó khăn trở ngại ban đầu để trở thành người chiến sỹ Công an Động cơ sẽ chi phối tình cảm, tính tích cực hoạt động của sinh viên Khi không có tình cảm nghề nghiệp, không yêu thích nghề thì rất khó thích ứng với nghề Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên yêu thích nghề Công an, có lý tưởng sống tích cực, thích ứng với nghề nhanh hơn những sinh viên không yêu nghề Đặc biệt, những sinh viên có hứng thú với nghề nghiệp thì quá trình thích ứng càng diễn ra thuận lợi hơn
Tính tích cực tự giác của sinh viên chấp hành quy định điều lệnh
Tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể với khách thể, đối với đối tượng
sự vật xung quanh, là khả năng của mỗi người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh những nhu cầu, năng lực của họ thông qua các mối quan hệ xã hội Theo tác
giả Nguyễn Thị Tình thì “tính tích cực là ý thức tự giác của con người về mục đích
của hoạt động thông qua đó con người huy động ở mức độ cao các chức năng tâm
lý nhằm thực hiện hoạt động có hiệu qu ” [25] Tính tích cực là một trong bốn đặc
điểm cơ bản của nhân cách, là động lực chủ yếu tạo nên giá trị nhân cách cho mỗi
cá nhân, tốc độ phát triển của các phẩm chất, năng lực của từng nhân cách phụ thuộc vào sự gia tăng tính tích cực trong chính các cá nhân ấy, là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành năng lực và quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động Khi sinh viên có tính tích cực trong việc chấp hành điều lệnh thì bản thân các
em sẽ nhận thức sâu sắc mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa của hoạt động điều lệnh đối với việc rèn luyện nhân cách, bản lĩnh của người chiến sỹ công an Ngoài ra, sinh viên có thái độ chấp nhận, ủng hộ việc thực hiện nghiêm điều lệnh, kỷ luật Khi có tính tích cực tự giác sinh viên sẽ cố gắng suy nghĩ, tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm các anh chị khóa trên, các thầy cô giáo, cố gắng vượt qua khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động đó, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Ý chí vượt qua khó khăn trở ngại của sinh viên
Ý chí là sự nỗ lực cố gắng khắc phục khó khăn của cá nhân để đạt được mục đích đã đề ra Ý chí có vai trò quan trọng trong việc đạt kết quả hoạt động của
Trang 36cá nhân bằng cách huy động cao độ tâm trí, sức lực của bản thân để vượt qua những khó khăn trong việc thực hiện hoạt động của cá nhân, hướng đến đạt mục đích đã đề ra
Đây là phẩm chất vô cùng cần thiết đối với sinh viên, đặc biệt là sinh viên trong lực lượng vũ trang Môi trường học tập trong các trường CAND không chỉ đơn thuần là môi trường học tập mà còn là môi trường rèn luyện để tôi luyện bản lĩnh người công an chính quy tinh nhuệ Bước vào trường các em trải qua một tháng huấn luyện đầu khóa, rèn luyện điều lệnh, các quy định kỷ luật của ngành Công an Đây là thời gian huấn luyện vất vả, nhiều thử thách, đòi hỏi các em phải cố gắng nỗ lực mới vượt qua và thích ứng được với hoạt động này Bên cạnh đó sinh viên phải thay đổi về môi trường sống, thay đổi các hoạt động của bản thân cho phù hợp với tập thể, theo đúng chuẩn mực, quy định điều lệnh của nhà trường Chính điều này đã làm cho nhiều sinh viên bị áp lực, khó khăn trong việc thích ứng với môi trường học tập và rèn luyện mới Chỉ khi sinh viên ý thức được vai trò của các hoạt động đó, đồng thời có ý chí vững vàng, nghị lực vượt qua khó khăn thì các em mới thích ứng tốt được với môi trường mới, với các quy định điều lệnh; ngược lại các em sẽ có tư tưởng chán nản, không có ý chí phấn đấu vươn lên, dẫn tới bỏ học hoặc có những biểu hiện tiêu cực
Tính cách và thói quen sống của b n thân
Tính cách là hệ thống thái độ và hành vi của cá nhân, tính cách ảnh hưởng nhiều tới việc sinh viên nhận thức về hoạt động điều lệnh như thế nào, có thái độ ra sao và có hành vi thực hiện điều lệnh như thế nào Ngoài ra thói quen sống sẽ ảnh hưởng tới việc thích ứng nhanh hay chậm của sinh viên với môi trường sinh hoạt, học tập và rèn luyện trong lực lượng vũ trang Việc các em đã có nề nếp sinh hoạt khoa học, tính cách ngăn nắp, biết sắp xếp công việc học lý sẽ bớt bỡ ngỡ với các quy định điều lệnh nội vụ, quy định giờ giấc sinh hoạt trong nhà trường so với những sinh viên có thói quen sinh hoạt tùy tiện Từ đó, sẽ thích ứng tốt hơn với hoạt động điều lệnh
1.4.2 Các yếu tố khách quan
Sự quan tâm của cán bộ giáo viên nhà trường trong việc phổ biến các quy
định và hướng dẫn rèn luyện cho sinh viên
Trang 37Các cán bộ giáo viên nhà trường, đặc biệt là các cán bộ phòng quản lý học viên, các thầy cô giáo bộ môn Quân sự võ thuật là những người trực tiếp giảng dạy hoạt động điều lệnh, quản lý các sinh viên khi mới vào trường là những người có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự thích ứng của sinh viên đối với các hoạt động điều lệnh trong nhà trường Ngay khi vừa vào trường các em cần được các thầy cô cung cấp các kiến thức quy định về điều lệnh, ý nghĩa của việc thực hiện các quy định điều lệnh, ngoài ra còn có sự động viên giúp đỡ, quan tâm tới những khó khăn của sinh viên trong cuộc sống, sinh hoạt tập thể, để các em khắc phục được những bỡ ngỡ, khó khăn tâm lý ban đầu, nhanh chóng thích nghi với hoạt động mới
Sự giúp đỡ của các sinh viên khóa trên
Mức độ thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh cũng phụ thuộc vào sự giúp đỡ của sinh viên khóa trên, những người đã có kinh nghiệm đi trước Sinh viên năm thứ nhất sẽ được các sinh viên khóa trên giúp đỡ, dẫn dắt, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm trong cuộc sống, học tập, rèn luyện tại trường, chia sẻ với các em tân sinh viên những khó khăn, cảm xúc và những thách thức các em có thể gặp phải khi thực hiện các quy định điều lệnh Với sự dẫn dắt các em tân sinh viên tham gia vào các hội, nhóm, câu lạc bộ như hội đồng hương, câu lạc bộ thể dục, thể thao, văn nghệ, các hoạt động Đoàn… Các sinh viên khóa trên đã giúp đỡ sinh viên năm thứ nhất nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới Các anh chị khóa trên cũng là tấm gương để các em sinh viên mới học tập, “bắt chước” theo những hoạt động điều lệnh, kỷ luật trong nhà trường Do đó, sinh viên khóa trên cũng ảnh hưởng tới việc thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh
Sự giáo dục và rèn luyện trong gia đình
Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người, có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách của các thành viên trong gia đình Nếu gia đình quan tâm giáo dục, giúp con có các kỹ năng thích ứng với môi trường mới, hoạt động mới thì các em đó sẽ dễ dàng thích ứng hơn Nếu gia đình
có cách giáo dục, rèn luyện cho con cái tính tự lập ngay từ nhỏ thì khi các em rời gia đình tới một môi trường mới cũng sẽ thích ứng nhanh hơn Việc định hướng,
Trang 38tham gia chọn ngành, chọn nghề phù hợp với sở thích, tư chất của sinh viên, việc chuẩn bị tâm lý trước khi vào học tại một trường công an, và đặc biệt là sự quan tâm chia sẻ, động viên ở giai đoạn đầu của gia đình là những yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến việc thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân với các quy định điều lệnh CAND
Biểu hiện của thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất qua 3 mặt: nhận thức, thái độ và hành vi Các thành tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau, quy định sự thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
Thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó yếu tố chủ quan đóng vai trò quyết định mạnh mẽ đến mức độ thích ứng với hoạt động điều lệnh của sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ nhất trường đại học Công an nhân dân cũng có những đặc điểm giống như sinh viên nói chung nhưng cũng có những đặc điểm mang tính chất đặc trưng của ngành Nâng cao mức độ thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh là hình thành, phát triển các thành phần trong câu trúc tâm
lý và các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng tâm lý với hoạt động điều lệnh của sinh viên
Trang 39Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu Cần CAND được thành lập theo quyết định
số 1945/QĐ-TTg, do Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân ký ngày 21/10/2010, trên
cơ sở nâng cấp từ trường Trung cấp Kỹ thuật nghiệp vụ CAND (được thành lập 1986) Trường là cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc Bộ Công an Hoạt động của trường tuân thủ theo Điều lệ của trường đại học (ban hành theo quyết định số 58/2010/QĐ-TTg, ngày 22/9/2010)
Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND có trụ sở tại thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, có khuôn viên rộng 28 ha, gồm các phân khu giảng đường, khoa, Bộ môn, nhà Hiệu bộ, ký túc xá cho học viên, nhà công vụ dành cho cán bộ, giáo viên Nhà trường còn có khu liên hợp thể thao ngoài trời và trong nhà, với nhiều sân chơi phục vụ cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao của cán bộ, sinh viên
Nhà trường có quy mô hoàn chỉnh gồm 500 cán bộ, giáo viên, 4500 học viên ở hai hệ Đại học và Trung cấp Hiện nay trường có khoảng 2500 học viên với nhiều chuyên ngành đào tạo: Công nghệ thông tin, Điện tử - truyền thông, Kế toán,
Kỹ thuật mật mã và an ninh thông tin, Hồ sơ nghiệp vụ CAND, cùng với các chuyên ngành Tham mưu chỉ huy hậu cần, Quản lý doanh trại, Xăng dầu… liên kết đào tạo với Học viện Hậu cần Cơ cấu đội ngũ cán bộ, giáo viên hầu hết đều có trình độ sau đại học, tất cả cán bộ, chiến sỹ của nhà trường đều đã qua tuyển chọn và đáp ứng được tiêu chuẩn của Bộ Công an "vững về nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn"
Mang đặc thù là một trường kỹ thuật, hậu cần đầu tiên và duy nhất của lực lượng Công an với nhiệm vụ tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học, biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu dạy học, không ngừng cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy nhằm gắn nhà trường với thực tiễn công tác chiến đấu và xây dựng
Trang 40lực lượng CAND; liên kết với các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài nước đào tạo cử nhân kỹ thuật điện tử, tin học, chỉ huy tham mưu hậu cần, kế toán…theo chỉ tiêu của Bộ công an
2.1.1.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là sinh viên năm thứ nhất khóa D6 và cán bộ giáo viên trường ĐH KT - HC CAND
ĐH CĐ khác
CB, CSNV
Giảng viên, cán bộ quản lý
2.1.2 Tiến trình nghiên cứu
Tiến trình nghiên cứu đề tài chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 nghiên cứu lý luận (từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017), giai đoạn 2 nghiên cứu thực tiễn (từ
Nội dung nghiên cứu
Phân tích, tổng hợp, hệ thống các nghiên cứu của tác giả ở trong và ngoài nước về thích ứng nói chung và thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động điều lệnh, từ đó chỉ ra những điểm còn thiếu, chưa đầy đủ để xây dựng nội dung nghiên cứu