Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ BÍCH THỦY
NGÔ SÀO THI TẬP CỦA NGÔ THÌ LỮ TRONG
DÒNG THƠ ĐI SỨ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và nghiêm túc
Tác giả luận văn
Lê Bích Thủy
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .1
Chương1: THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA NGÔ THÌ LỮ 7
1.1.Quê hương văn hiến và gia tộc văn hóa 7
1.2.Thời cuộc rối ren, những biến cố của gia tộc và cuộc đời của Ngô Thì Lữ 13
1.3 Chuyến đi sứ năm Kỉ tị (1809) và sự ra đời của Ngô Sào thi tập tiếp nối dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái 17
Chương 2: NGÔ SÀO THI TẬP CỦA NGÔ THÌ LỮ NỐI TIẾP NỘI DUNG THƠ ĐI SỨ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI 21
2.1 Sơ lược về thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam 21
2.2 Nội dung Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ 23
Chương 3: NGÔ SÀO THI TẬP CỦA NGÔ THÌ LỮ NỐI TIẾP NGHỆ THUẬT THƠ ĐI SỨ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI .53
3.1 Thể thơ và bút pháp 53
3.2 Dụng điển 61
3.3 Tính kỷ sự 64
KÊT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC NIÊN BIỂU NGÔ THÌ LỮ 79
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X - XIX đã ghi dấu một thời đại rực rỡ của xã hội phong kiến Việt Nam cũng như chứng kiến sự lụi tàn và suy vong của xã hội ấy Suốt mười thế kỷ, bộ phận văn học này đã đạt được những thành tựu to lớn, làm tiền đề cho các giai đoạn văn học kế tiếp Trong thành tựu chung đó có đóng góp không nhỏ của dòng văn Ngô Thì ở Tả Thanh Oai - một dòng họ duy nhất tự định danh thành văn phái (Ngô gia văn phái), có thành tựu cả về văn và sử, hơn nữa lại có những đặc sắc riêng, được coi là hiện tượng độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam Lịch trình phát triển của Ngô gia văn phái được xây dựng, bồi đắp dần từ thành tựu của mỗi
cá nhân và qua từng thế hệ Có những tác phẩm lớn của văn phái như Hoàng
Lê nhất thống chí được coi là đỉnh cao của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam
đã được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, cũng đã có không ít tác gia của văn phái được coi là tác gia tiêu biểu của văn học giai đoạn thế kỷ XVIII- XIX, được nghiên cứu công phu như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm Những nghiên cứu chuyên sâu đó đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của văn học trung đại Tuy nhiên để thấy được sự tiếp nối của các thế hệ và đặc sắc riêng của mỗi tác gia trong thành tựu chung của văn phái, ngoài những tác gia, tác phẩm đã được nghiên cứu nhiều, chúng ta không thể bỏ qua một số tác gia lâu nay chưa được quan tâm tìm hiểu như Ngô Thì Ức, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hoàng, Ngô Thì Hương, Ngô Thì Điển, Ngô Thì Lữ, Ngô Thì Du, Ngô Giáp Đậu…
Mặt khác, dòng họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai vốn là dòng họ khoa bảng,
có nhiều người đỗ đạt, làm quan, từng được cử đi sứ Trung Hoa Trên hành trình đi sứ, các vị quan - sứ thần của Ngô gia đồng thời cũng là thi nhân, đã sáng tác không ít thơ văn ghi lại hành trình đi sứ, cùng các giao tiếp, thưởng lãm và tâm trạng của chính mình Vì thế cho đến nay trong di sản văn học của
Ngô gia văn phái chúng ta còn biết đến ba tập thơ đi sứ: Hoa trình gia ấn thi
tập (còn gọi là Hoàng hoa đồ phả) của Ngô Thì Nhậm, Mai dịch thú dư của
Ngô Thì Hương và Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ Trong khoảng vài thập
Trang 5kỷ gần đây, việc nghiên cứu về thơ đi sứ và văn học bang giao đã được học giới quan tâm tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau, song cho đến nay chưa có công trình chuyên biệt nghiên cứu về dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái
Chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu về tác giả Ngô Thì Lữ và Ngô Sào thi tập
của ông đặt trong diễn trình/ vận động của dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái cũng là một việc làm rất có ý nghĩa
Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài cho luận văn của mình là“Ngô Sào thi tập” của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia
văn phái
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thơ đi sứ hay còn gọi là thơ sứ trình là bộ phận thơ do các sứ giả sáng
tác trên đường đi sứ Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ là một tập thơ đi sứ
nằm trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái Vì vậy liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi có việc nghiên cứu chung về thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam; mặt khác trọng tâm vấn đề được dành cho các nghiên cứu
về tác giả Ngô Thì Lữ và tập thơ Ngô Sào thi tập trong dòng thơ đi sứ của
Ngô gia Trên đại thể tình hình nghiên cứu nói trên có thể được mô tả trên hai
vấn đề chính:
2 1 Nghiên cứu về thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam
Ngay từ thế kỷ XX việc nghiên cứu về thơ đi sứ và văn học bang giao, chủ yếu là quan hệ bang giao với Trung Quốc đã được học giới quan tâm tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Mốc thời gian đáng chú ý có sự tập trung nghiên cứu về loại hình sáng tác này là thập niên 80 của thế kỷ XX Sau cuộc chiến tranh biên giới chống quân xâm lược bành trướng Trung Quốc năm
1979, chúng ta có một công trình do Viện Văn học chủ trì, nhan đề Văn học
Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược
[95] Công trình này tập trung khá nhiều phần viết về thơ đi sứ, chẳng hạn
Trần Thị Băng Thanh với Khí phách “Đông A” trong thơ sứ trình đời Trần [95, tr.87-113] Vũ Khiêu với Thơ văn Ngô Thì Nhậm trong cuộc đấu tranh
chống xâm lược [95, tr.415 – 431], Bùi Duy Tân với Tình cảm yêu nước, thương nhà trong thơ sứ trình thời Lê Trung hưng [95, tr 344 – 364], Trương
Chính với Tập “Tinh sà kỷ hành” cùng một vài văn kiện ngoại giao của Phan
Trang 6Huy Ích [95, tr.432 - 448], Nguyễn Du và chuyện Trung Quốc [95, tr 513-
530], Nguyễn Đổng Chi với Mấy nét về thơ ca sứ trình thời Nguyễn [95, tr
502 - 512] và Lý Văn Phức, cây bút luận chiến ngoại giao cứng cỏi [94, tr
Nguyễn Đổng Chi có Lý Văn Phức, ngòi bút đấu tranh ngoại giao xuất sắc
đời Nguyễn [7, tr 52 – 58], Bùi Duy Tân có Nguyễn Tông Quai: Sứ giả - nhà thơ nổi tiếng thế kỷ XVIII [66, 36- 47] và Thơ vịnh sử, thơ đi sứ và chủ nghĩa yêu nước [67, 482-503], Trương Chính có Phan Huy Ích và Dụ Am ngâm lục [10, tr 118 – 131 và 137], Đỗ Văn Hỷ có Những vần thơ biên tái [
25 ], Hoàng Văn Lâu có Đào Công Chính với Bắc sứ thi tập [31], Mai Quốc Liên có Thơ đi sứ, khúc ca của lòng yêu nước và ý chí chiến đấu [32], Trần Thị Băng Thanh có Lạng Sơn trong hành trình thơ đi sứ [70, tr.25-31], Ngô
gia văn phái một hiện tượng của văn học trung đại Việt Nam [72, tr.3-12], Tập thơ Giới Hiên thi tập của Nguyễn Trung Ngạn [73, tr.3-26], Nguyễn
Đăng Na có Nguyễn Trung Ngạn – một người tài hoa [46], Nguyễn Thị Thanh Chung có bài Thiên nhiên trong thơ đi sứ của Nguyễn Huy Oánh và Nguyễn
Văn Siêu [13, tr 225- 246], Nguyễn Công Lý có Thơ trung đại Việt Nam viết
về danh thắng ở Hồ Nam – Trung Hoa và trường hợp Nguyễn Trung Ngạn
[39], Diện mạo thơ sứ trình trung đại Việt Nam và thơ đi sứ của Nguyễn
Trung Ngạn [40, tr 95-109], Nguyễn Thị Hoàng Quý có Giới thiệu tác giả tác phẩm Hoa trình tạp vịnh [59, tr 37 – 46] và Dòng họ Phan Huy Sài Sơn
và những tập thơ đi sứ [60, tr.457 – 463], Đỗ Thị Thu Thủy với Cảm hứng văn hóa – lịch sử trong thơ đi sứ giai đoạn cuối Lê – đầu Nguyễn (1740 -
Trang 71820) [82, tr 76 -82], Thơ đi sứ Nguyễn Huy Oánh trong dòng thơ sứ trình thời Lê Trung Hưng (1533- 1788) [83, tr 44-51], Lê Quang Trường với Bước đầu tìm hiểu thơ đi sứ của Trịnh Hoài Đức [86], Nguyễn Hoàng Yến với Tổng quan tình hình nghiên cứu về các tác phẩm đi sứ Trung Quốc của Việt Nam ở nước ngoài [98, tr 64-73]
Đáng chú ý, đã có khá nhiều công trình tuyển dịch tác phẩm thơ đi sứ Chỉ tính riêng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái đã có khá nhiều thơ được tuyển
dịch, chẳng hạn Thơ đi sứ [77] tuyển dịch của Ngô Thì Nhậm 7 bài, của Ngô Thì Vị 5 bài; Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, Quyển 1[51], tuyển Hoàng
hoa đồ phả 98 bài; Thơ Ngô Thì Nhậm [30] tuyển 50 bài; Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 2 [33] tuyển 98 bài; Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3 [52] chọn 115
bài; Tuyển tập Ngô gia văn phái [73] tuyển 18 bài trong Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm, 30 bài trong Mai dịch thú dư của Ngô Thì Hương, 38 bài trong Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ
2.2 Nghiên cứu về tác giả Ngô Thì Lữ cùng tác phẩm “Ngô Sào thi
tập” và dòng thơ đi sứ của Ngô gia
Bên cạnh rất nhiều công trình nghiên cứu về dòng văn Ngô Thì như
một hiện tượng độc đáo của văn học trung đại, tập trung đặc biệt đến Hoàng
Lê nhất thống chí và các tác gia Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, thì gần đây công
trình Tuyển tập Ngô gia văn phái, Nxb Hà Nội, 2010 [73] có giới thiệu khá
đầy đủ về thành tựu của dòng văn và những tác gia tiêu biểu Đặc biệt, trong phần giới thiệu khái quát về dòng văn, Trần Thị Băng Thanh đã rất chú ý đến thơ đi sứ của Ngô gia văn phái: “Cũng có thể xếp vào loại đề vịnh là thơ đi
sứ Chỉ trong vòng ba chục năm, Ngô gia có tới ba tập thơ đi sứ: hai tập của Ngô Thì Nhậm và Ngô Thì Hương dầy dặn, tập của Ngô Thì Lữ mỏng hơn
Nhìn chung thơ đi sứ của Ngô gia, đặc biệt là Hoa trình gia ấn (cũng gọi là
Hoàng hoa đồ phả) của Ngô Thì Nhậm có thể nói đã tiếp nối được hào khí
của thơ đi sứ đời Trần”[73, I, tr.40]
Ngô Thì Lữ là con của Ngô Thì Chí, cháu nội của Ngô Thì Sĩ và cháu gọi Ngô Thì Nhậm là bác ruột Thành tựu văn chương của Ngô Thì Lữ rất khiêm tốn so với ông cha, song thơ ông cũng có những nét riêng, và cũng có bài hay Tuy nhiên về tác gia này trước đây chúng ta chưa có công trình dịch
Trang 8tác phẩm và giới thiệu về tác giả; càng chưa có công trình nghiên cứu chuyên
biệt về Ngô Thì Lữ và sáng tác của ông Do vậy có thể coi Tuyển tập Ngô gia
văn phái là công trình đầu tiên có giới thiệu về ông và dịch trọn vẹn 38 bài
thơ chữ Hán trong Ngô Sào thi tập của ông (bản dịch do Nguyễn Văn Thiệu
và Phạm Văn Ánh thực hiện) [73, I, tr 480- 532] Ngoài lời giới thiệu về tác giả Ngô Thì Lữ ở đầu phần tuyển chọn thơ ông, cũng ở công trình này, trong phần “Khái quát”, nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh đã nhắc đến Ngô Thì
Lữ và thành tựu chung của Ngô gia văn phái có đóng góp riêng của ông [73, I, tr.21], [73, I, tr 111] Cũng có thể nói đây là công trình đầu tiên đưa đến cho độc giả một hình dung về Ngô Thì Lữ và thơ đi sứ của ông trong dòng thơ đi
sứ của Ngô gia văn phái Được gợi ý từ công trình này và từ các nghiên cứu
về thơ đi sứ của người đi trước, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu về Ngô Thì
Lữ và Ngô Sào thi tập của ông trong tương quan với thơ đi sứ của Ngô gia
văn phái nói riêng, thơ đi sứ của văn học trung đại Việt Nam nói chung cũng
là một việc làm rất có ý nghĩa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thân thế sự nghiệp của Ngô Thì Lữ và tập thơ Ngô Sào thi tập, chúng tôi mong muốn giới thiệu kỹ về một tác giả
của Ngô gia văn phái trước đây còn chưa được quan tâm tìm hiểu, đồng thời
làm rõ tính kế thừa tiếp nối và nét riêng của Ngô Sào thi tập trong diễn tiến
của dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái; qua đó góp thêm cứ liệu khẳng định giá trị và những đóng góp về thơ đi sứ của Ngô gia văn phái trong văn học trung đại Việt Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Ngô Thì Lữ; đi
sâu tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của tập thơ Ngô Sào thi tập Trong khi triển khai vấn đề, chúng tôi đặt Ngô Sào thi tập trong liên hệ, so sánh với
Hoàng hoa đồ phả (còn gọi là Hoa trình gia ấn thi tập) của Ngô Thì Nhậm và Mai dịch thú dư của Ngô Thì Hương, từ đó chỉ ra nét riêng và đóng góp của
Ngô Thì Lữ trong thành tựu chung của thơ đi sứ của Ngô gia văn phái
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi là thân
thế, sự nghiệp của Ngô Thì Lữ và tập thơ Ngô Sào thi tập của ông; đồng thời
Trang 9chúng tôi cũng mở rộng phạm vi khảo sát đến Hoàng hoa đồ phả (còn gọi là
Hoa trình gia ấn thi tập) của Ngô Thì Nhậm và Mai dịch thú dư của Ngô Thì
Hương
- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi nghiên cứu tập thơ Ngô Sào thi tập (được dịch giả Nguyễn Văn Thiệu và Phạm Văn Ánh thực hiện), Hoàng hoa đồ phả,
Mai dịch thú dư trong bộ sách Tuyển tập Ngô gia văn phái (2 tập, Nxb Hà
Nội, 2010) Ngoài ra chúng tôi có tham khảo thêm bản dịch Hoàng hoa đồ
phả đầy đủ hơn trong Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3 (Lâm Giang – Nguyễn
Công Việt chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, tr 7 – 260
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học sử, phương pháp
so sánh; phối hợp các thao tác thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn làm rõ hơn về thơ đi sứ trong văn học trung đại và đặc điểm thơ đi
sứ của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái, qua đó bổ sung một góc nhìn văn học sử đầy đủ hơn về dòng thơ đi sứ và thành tựu văn
chương của Ngô gia văn phái
- Luận văn cung cấp các số liệu, dẫn liệu, đặc điểm thơ đi sứ của Ngô Thì Lữ
trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái; đồng thời cung cấp một Niên biểu tương đối đầy đủ về cuộc đời Ngô Thì Lữ và các sự kiện lịch sử, văn hóa đương thời liên quan đến một số tác giả dòng văn Ngô Thì Tả Thanh Oai Những kết quả đó có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người làm
công tác giảng dạy, nghiên cứu về văn hóa, văn học trung đại Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, phụ lục Niên biểu Ngô Thì Lữ, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương1: Thân thế và sự nghiệp của Ngô Thì Lữ
Chương 2: Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ nối tiếp nội dung thơ đi sứ
của Ngô gia văn phái
Chương 3: Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ nối tiếp nghệ thuật thơ đi sứ của Ngô gia văn phái
Kết luận
Trang 10Chương 1 THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA NGÔ THÌ LỮ
1.1 Quê hương văn hiến và gia tộc văn hóa
Ngô Thì Lữ (1773 -1821) còn có tên là Phẩm (vì về sau chữ Lữ được vua ban thêm nét, thành chữ Phẩm) Ông tên tự là Bằng Phủ, hiệu Thuật Trai, sinh ngày 11 tháng Hai năm Quý tị (1773) trong một dòng họ văn hóa nổi tiếng ở làng Tả Thanh Oai, trấn Sơn Nam (từ 1741 đổi là Sơn Nam thượng)1 Dòng
họ ông vốn quê gốc ở làng Động Phang, huyện Yên Định, trấn Thanh Hoa2, khoảng từ đầu đời Lê Trung hưng mới đến lập ấp ở Tả Thanh Oai Chính trên quê hương mới này dòng họ Ngô Thì (lúc đầu lót chữ Đình), đã tìm thấy miền
an cư và khởi phát thực sự
Tả Thanh Oai tên Nôm là làng Tó, hay Kẻ Tó (còn gọi là Tó Tả vì ở bên trái dòng sông Nhuệ) Đây là một vùng văn hiến lâu đời được biết đến với đình Hoa Xá, đình Tổ Thị thờ Lê Hoàn và bà chúa Hến – cô gái làng Tó được
Lê Hoàn lấy làm phi trong dịp dẫn đại quân theo đường sông ra Bắc để tiêu diệt quân xâm lược Tống Đây cũng là nơi có chùa chiền cổ kính, có lễ hội làng và những nghi lễ hát xướng hàng năm đề cao truyền thống văn vật của làng, có những phiên chợ Tó đông vui, thuần phác đã thành phong tục lâu đời Đây cũng là vùng kề cận với kinh thành Thăng Long, nổi tiếng là đất thi thư văn vật, khởi phát về khoa bảng và văn chương Theo Ghi chép về địa dư của
ấp (Ấp địa dư, ký cương giới, giang khê, thị kiều, duyên cách) của Ngô Thì
Đạo thì đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”: “Ấp Thanh Oai ta, nằm ở phía trái dòng sông Nhuệ” [73, tập I, tr 509]: “Bên cánh tay phải đột khởi một ngọn đồi tròn, cùng với các dãy đồi ở Quang Liệt tạo thế nghênh tống, cũng gọi là thế đất “Y quan lại”… Phía đông ấp, núi Huỳnh chiếu ảnh, cho nên nối đời khoa giáp; phía nam ấp có thế Thiên mã chầu cửa khuyết, cho nên đời nào cũng có người ngâm thơ Hoàng hoa mà thả bè sao, tất cả đều do địa linh chung đúc lên vậy” [73, tập I, tr 510] Ngô Thì Sĩ cũng từng mô tả đây là nơi
Trang 11thôn xóm trù mật “quán dựng bên sông trong”, “Nhà cửa dọc ngang như gò kiến; tiếng gà khắp thôn xóm rộn ràng”, là nơi kẻ chợ phồn hoa với những phong tục văn hóa, những lễ hội đình đám “mũ áo tấp nập”, “trống chuông
rền vang” (Tổ thị phong cảnh, tính dẫn) Quan trọng hơn, chính Ngô Thì Sĩ
từng ghi nhận đây thực sự là một miền quê có thi thư giáo hóa, có nhiều bậc tài trí thông minh đỗ đạt, làm quan, biết thu nhận những văn minh tinh túy từ bốn phương hội tụ về để làm đẹp thêm cảnh sắc quê hương
Lần theo gia phả dòng họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai3 có thể thấy ở mấy đời đầu, dòng họ này mới có chút tiếng tăm, hoặc là về sự nghiệp chính trường, hoặc là về đường võ bị, song đường đỗ đạt và khoa hoạn chưa khởi sắc; đến đời thứ tư mới có Cẩn tiết công đỗ Nho sinh trúng thức, ghi dấu ấn từ đây dòng họ đã chuyển sang nghiệp văn: “đời đời theo nghề đao bút, lúc đọc
sách, lúc làm ruộng, được tiếng tốt trong hương thôn” (Tựa gia phả) Song
phải đến đời thứ 9 với “Đan nhạc công Ngô Trân, ông nội của Ngô Thì Sĩ, văn nghiệp dòng họ mới thực sự khởi phát” [73, tập, I, tr 10] Cụ Ngô Trân tuy đỗ đạt muộn và cũng không đỗ cao – năm 73 tuổi mới đỗ khoa Hoằng từ, nhưng là người hay chữ nổi tiếng trong vùng, từng được các nho sĩ kinh thành coi là một trong "Trường An thất hổ" Cụ đã dành nhiều thời gian và tâm huyết truyền thụ kiến thức cho thế hệ con cháu trong dòng họ và đã đào tạo được nhiều người hiển đạt Từ người con trai là Ngô Thì Ức đến các cháu Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Đạo, các chắt Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí đều được cụ Ngô Trân đích thân rèn cặp từ những ngày đầu theo nghiệp sách đèn Truyền thống dạy học của dòng họ có lẽ cũng được bắt đầu từ cụ, để rồi sau này, Thì
Ức, Thì Sĩ, Thì Nhậm, Thì Chí, Thì Hoàng, Thì Điển, Thì Du đều từng có thời kỳ dạy học, vừa để mưu sinh vừa góp phần nâng cao dân trí trong vùng
và đào đạo anh tài cho đất nước Chỉ riêng dưới triều Lê (1427-1786) làng Tó
đã có đến 11 Tiến sĩ, trong đó ngành trưởng của dòng họ Ngô Thì có hai anh
em Ngô Đình Thạc (Tiến sĩ khoa Canh Thìn, 1700), Ngô Đình Chất (Tiến sĩ khoa Tân Sửu, 1721); ngành thứ phát đạt muộn hơn, song đường thanh vân có
3
Chúng tôi dựa theo nghiên cứu gia phả dòng họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai của nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh [73, tập I, tr 7 – 10]
Trang 12phần hiển hách hơn: hai cha con Ngô Thì Sĩ (Hoàng giáp khoa Bính Tuất, 1766), Ngô Thì Nhậm (Tiến sĩ khoa Ất Mùi, 1775) đều là những quan triều được hưởng ơn tri ngộ của vua chúa triều Lê – Trịnh; riêng Ngô Thì Nhậm về sau còn là một trong những nhân vật chủ chốt dưới triều Tây Sơn Như vậy họ Ngô Thì từng được ca tụng "Họ Ngô một bồ Tiến sĩ" cũng không phải là quá lời Mặt khác, xét ở khía cạnh đóng góp văn hóa, ở truyền thống học hành, đỗ đạt, làm quan và sáng tác văn chương, nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh cho rằng, đối với Tả Thanh Oai “xem ra ảnh hưởng của dòng Ngô Thì dày
dặn hơn cả” [73, tập I, tr.15] Theo Tổ thị phong cảnh, tính dẫn của Ngô Thì
Sĩ thì ngành trưởng dòng họ Ngô Thì có Phương quận công Ngô Đình Chất
từng giúp dân làm đường, bắc cầu, bỏ tiền mua đất mở chợ Tó, xây dựng quê
hương thành một nơi dân cư đông đúc, phong tục đẹp Ngành thứ tuy không nhiều đóng góp lớn về vật chất nhưng với trình độ hiểu biết, công lao đắp bồi học vấn, thực hành tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hóa… đã cho thấy ý thức văn hóa rất cao và khả năng lan truyền ảnh hưởng văn hóa của dòng họ Ngay hứng thú xếp đá làm núi, trồng hoa, vẽ tranh, đề thơ, giao lưu với khách văn chương của Ngô Thì Ức, hay những Quan Lan sào ở Thanh Hóa, động Nhị Thanh ở Lạng Sơn của Ngô Thì Sĩ, cũng như ngôi nhà “Sơn Hải kính” “xa lánh bụi trần” ở làng Tó của Ngô Thì Trí đều là những hành vi văn hóa đáng ngưỡng mộ, bắt nguồn từ nếp sống của những người con của một gia tộc văn hóa, lớn lên từ mảnh đất Tả Thanh Oai văn vật Nói cách khác, cùng với họ Nguyễn Khai Khoa, họ Ngô Vi và họ Nguyễn Thế, họ Ngô Thì đã đóng góp, xây dựng cả về vật chất lẫn tinh thần cho vùng đất Tả Thanh Oai mà mình cư ngụ dần trở thành một vùng quê văn hiến có tiếng ở Bắc Hà suốt nhiều thế kỷ
kể từ thời Lê Trung hưng, như Ngô Thì Sĩ từng tự hào khẳng định: “Làng tôi
là đất thi thư văn vật” (Tựa gia phả)
Điều đáng nói là dòng họ Ngô Thì ngay ở sát kinh thành Thăng Long, được giao lưu với các trí thức nho sĩ từ các miền quê về Thăng Long hội tụ, tu rèn học vấn và thi thố qua các kỳ thi tuyển chọn của triều đình Đây là cơ hội
để các cá nhân trong dòng họ Ngô Thì có mối quan hệ hôn nhân và giao lưu văn hóa văn chương với các danh sĩ, các dòng họ nổi tiếng một thời như dòng
Trang 13họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu, dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn, dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền… Phan Huy Ích, con trai của cụ Phan Huy Cẩn trở thành con rể của Ngô Thì Sĩ, anh rể của Ngô Thì Nhậm, cùng nhiều thơ xướng họa, tặng đáp của các cá nhân trong dòng họ với các danh sĩ đương thời còn lưu lại đến nay là minh chứng cho những các mối quan hệ thâm tình đó
Không phải ngẫu nhiên dòng họ Ngô Thì được coi là một dòng tộc văn hóa, vừa thành công về đường học vấn, khoa hoạn, vừa có truyền thống văn chương Trên thực tế, các con cháu dòng họ Ngô Thì Tả Thanh Oai nhiều người đỗ đạt, làm quan; hơn nữa khối lượng trước tác của dòng họ rất đồ sộ, phong phú cả về nội dung lẫn thể loại, tác giả thuộc nhiều thế hệ, “lớp cha
trước, lớp con sau”, được tập hợp trong bộ sách Ngô gia văn phái, đã cho thấy
tầm vóc văn hóa của một dòng tộc đã được định vị như một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn hóa, văn học Việt Nam Trong bộ tùng thư này, cụ Ngô Trân nổi tiếng uyên bác nhưng không có thi tập truyền lại Người con trai cụ
là Ngô Thì Ức (1709- 1736), hiệu Tuyết Trai để lại tập thơ Tuyết Trai thi tập 4
và tập thơ Nam trình liên vịnh thể hiện rõ ràng khí chất của một con người có
tài văn chương nhưng không mặn mà với khoa cử, sớm lui về vui thú điền viên Đây chính là người đã mở lối văn chương cho dòng họ Cũng giống như cha, Ngô Thì Sĩ (1726 -1780), tự là Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong, biệt hiệu là Nhị Thanh cư sĩ, là người nổi tiếng về văn chương Ông đỗ Hoàng giáp năm
1766 nhưng ngay từ trước đó mười năm (năm 1756), qua một kỳ thi tuyển nhân tài, ông đã được tuyển vào ban văn trong phủ chúa, giữ việc soạn thảo giấy tờ, được theo chúa Trịnh Doanh đi kinh lý nhiều nơi Từ sau khi thi đỗ đến cuối đời, ông từng trải các chức: Hiến sát sứ Thanh Hoa, Tham chính Nghệ An, Hiệu lý Hàn lâm viện, Thiêm đô Ngự sử, Đốc trấn Lạng Sơn Ông cũng là người luôn say mê kiếm tìm hứng thú tao nhã từ thiên nhiên, sáng tác
rất nhiều thể loại, cả về văn và sử: Anh ngôn thi tập, Anh ngôn phú tập, Ngọ
Phong văn tập, Bảo chướng hoằng mô, Khuê ai lục, Việt sử tiêu án; ngoài ra
còn tham gia biên soạn Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên
Người con trai thứ hai của Ngô Thì Ức là Ngô Thì Đạo (1732 – 1802), còn có
Trang 14tên là Tưởng Đạo, hiệu Ôn Nghi và Văn Túc Ông là em trai Ngô Thì Sĩ và là thân sinh của Ngô Thì Du, từng đỗ Á nguyên khoa thi Hương năm Quý dậu (1753), đỗ Giải nguyên khoa Hoằng từ năm Đinh sửu (1757), được trao chức Đại lý tự thừa, Hiến sát phó sứ kiêm Ủy phó sứ Kinh Bắc, Thị giảng Đông cung Ông có tài quân sự, từng được sai đi dẹp những toán cướp biển có thanh thế ở vùng Sơn Nam, chấn chỉnh vụ lộn xộn của kiêu binh năm 1782, bôn ba chiêu mộ hào kiệt ủng hộ Chiêu Thống khi Tây Sơn ra bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh Ông trước sau chỉ trung thành với nhà Lê, không chịu cộng tác với Tây Sơn, song cũng không tham gia với nhóm Trần Danh Án cầu viện nhà Thanh giúp Chiêu Thống khôi phục ngôi vị Khi còn làm quan, Ngô Thì Đạo
để tâm nhiều đến việc dạy học, những năm cuối đời Tây Sơn, ông sống cuộc đời một “ông già thôn quê, đóng cửa tạ khách” Tác phẩm của ông tập hợp
thành Hoằng từ Hiến sát Văn Túc công di thảo
Đến đời các cháu, người đóng góp nhiều nhất cho Ngô gia văn phái phải kể đến Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, là con trai trưởng Ngô Thì Sĩ và anh vợ Phan Huy Ích Ông là người thông minh, đọc rộng và thích nghiên cứu Ngay từ năm 16 tuổi, dưới sự hướng dẫn của
cha, ông đã viết công trình sử học đầu tiên, đó là cuốn Nhị thập tứ sử toát yếu
Sau khi đỗ Giải nguyên, Thì Nhậm được bổ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương; sau khi thi đỗ Tiến sĩ (năm 1775), dưới triều Lê Trịnh, ông từng trải các chức
Hộ khoa cấp sự trung ở bộ Hộ, Giám sát ngự sử đạo Sơn Nam, Đốc đồng trấn Kinh Bắc rồi lại được giao kiêm Đốc đồng Thái Nguyên Năm 1788, sau khi Chiêu Thống bỏ chạy, Ngô Thì Nhậm ra cộng tác với Tây Sơn, được trao chức Thị lang bộ Lại, tước Tình phái hầu và dần trở thành một trọng thần dưới thời Quang Trung, có nhiều đóng góp quan trọng, đặc biệt trong đối ngoại với nhà Thanh Dưới thời Quang Toản, không được trọng dụng như trước, ông trở ra Bắc chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật, lập Thiền viện Bích Câu, lấy đạo hiệu Hải Lượng Gia Long lên ngôi, ông (và Phan Huy Ích) bị đem kể tội, đánh đòn đau ở Văn Miếu Thăng Long, rồi mất sau đó Ông sáng
tác nhiều, có các tác phẩm: Hải Đông chí lược, Bút hải tùng đàm, Thủy vân
nhàn vịnh, Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận, Thu cận dương ngôn,
Trang 15Hoàng hoa đồ phả, Cẩm đường nhàn thoại, Kim mã hành dư, Hàn các anh hoa, Bang giao hảo thoại, Xuân thu quản kiến, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh Với dòng họ Ngô Thì, sau khi Ngô Thì Sĩ mất, Ngô Thì Nhậm trở
thành người trụ cột, không chỉ là người chèo chống đại gia đình, mà còn là chỗ dựa tinh thần, là người duy trì, gây dựng cho các em, các cháu tiếp nối nền nếp cùa gia tộc Ông có ảnh hưởng rất sâu sắc đến các em và thế hệ sau của Ngô gia, trong đó có Ngô Thì Hương và Ngô Thì Lữ
Em cùng mẹ với Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Chí (1753- 1788), tên chữ
là Học Tốn, hiệu Uyên Mật Ông là cha Ngô Thì Lữ, từng đỗ Á nguyên Hương tiến, làm quan đến chức Thiêm thư bình chương tỉnh sự, có tác phẩm
Học Phi thi tập, Học Phi văn tập, Hào mân khoa sớ, Quốc sử tiệp lục và 7 hồi
đầu Hoàng Lê nhất thống chí Hai người em cùng cha khác mẹ nhưng chịu
khá nhiều ảnh hưởng của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Trí và Ngô Thì Hoàng cũng đều là những tác gia có thành tựu của Ngô gia văn phái Ngô Thì Trí (1766 -?) hiệu Dưỡng Hạo, dưới thời Tây Sơn làm đến chức Hữu thị lang bộ
Hộ, tước Bính phong hầu là người khởi xướng việc sưu tập tác phẩm của dòng
họ, nhờ vậy mà ngày nay chúng ta có bộ tùng thư Ngô gia văn phái đồ sộ, trong
đó cũng lưu giữ tác phẩm Sóc Nam hành kính của ông Khác với sự nhập cuộc
hăm hở của cha và anh cả Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Hoàng (1770- 1814) không thích làm quan, thích cuộc sống ẩn dật, dạy học và nghiên cứu đạo thiền; từng là nhân vật quan trọng trong nhóm Trúc Lâm ở Bích Câu của Ngô Thì Nhậm, lấy
hiệu là Huyền Trai, biệt hiệu Thạch Ổ cư sĩ Ông có tác phẩm Thạch Ổ di
chương và phần thanh dẫn trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh
Không giống với lớp ông cha, những tác gia sinh sau đẻ muộn của dòng
họ như Ngô Thì Hương, Ngô Thì Du, Ngô Thì Điển, Ngô Thì Lữ sống vất vả hơn, họ sinh ra và lớn lên khi dòng họ đã sa sút, giữa thời buổi rối ren, loạn lạc, họ không được học hành nhiều và cũng không thành đạt như các thế hệ trước, song ít nhiều đã nối tiếp truyền thống văn chương của dòng họ và là những tác gia có thành tựu Ngô Thì Hương (1774- 1821), còn có tên là Vị, tên chữ là Thành Phủ, hiệu Ước Trai, là con trai út Ngô Thì Sĩ Khi Gia Long lên ngôi, ông được thu dùng ngay và được trao chức Thiêm sự bộ Lại, từng
Trang 16hai lần được cử đi sứ nhà Thanh, có tác phẩm Mai dịch thú dư và Thành Phủ
công di thảo Ngô Thì Du (1772 -1840) tên chữ là Trưng Phủ và Văn Bác, là
con của Ngô Thì Đạo và cháu gọi Ngô Thì Sĩ là bác ruột Ngô Thì Du có chí học tập, học giỏi nhưng không đỗ đạt, khoảng gần 40 tuổi, mới ra làm quan với nhà Nguyễn, giữ chức Đốc học Hải Dương, nhưng không bao lâu buồn nản, nhớ quê mà thành bệnh, bèn xin từ chức trở về quê nhà cho đến lúc qua
đời Thơ văn ông được tập hợp trong Trưng Phủ công thi văn, và theo Ngô
gia thế phả, ông còn là tác giả của 7 hồi cuối của Hoàng Lê nhất thống chí
Ngô Thì Điển tự Kính Phủ, hiệu Tĩnh Trai, con trưởng Ngô Thì Nhậm, sinh
năm Tân Mão (1771), có tác phẩm Dưỡng Chuyết thi văn và là người sưu tập chính của bộ tùng thư Ngô gia văn phái
Như vậy, có thể nói, Ngô Thì Lữ được sinh ra trong gia đình dòng dõi, được tiếp thu ảnh hưởng từ quê hương có nền văn hiến lâu đời và từ gia tộc giàu truyền thống văn hóa, đó là mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn, tài năng văn chương của ông từ thuở ấu thơ
1.2 Thời cuộc rối ren, những biến cố của gia tộc và cuộc đời Ngô Thì Lữ
Bước sang thế kỷ XVIII, tình hình Bắc Hà càng ngày càng trở nên rối ren: triều đình vừa có vua, vừa có chúa; vua chỉ là hư vị, chúa mới nắm thực quyền Trong quan hệ giữa vua và chúa, vua thường phải chịu nhân nhượng
để êm mọi chuyện, do vậy, quyền lực ngày càng tập trung trong tay chúa Đến giữa thế kỷ XVIII, triều chính càng xảy ra nhiều mối tệ bởi sự lấn lướt quá đáng của chúa, vua Lê Hiển Tông nhu nhược cầu an đã chấp nhận "rủ áo chắp tay", đàn hát vui chơi, mặc chúa gánh cái lo Bên phủ chúa các chúa Trịnh
thường lo việc ăn chơi và xây dựng chùa chiền nhiều hơn lo việc trị nước Vũ
trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ
- Nguyễn Án từng ghi lại khá chân thực tế những thói ăn chơi xa xỉ của chúa: mỗi năm đến tết trung thu phát gấm trong cung ra làm hàng trăm, hàng nghìn cái đèn lồng treo xung quanh bờ hồ, rồi cảnh chúa Trịnh Sâm mỗi tháng ba bốn lần ngự chơi cung Thụy Liên trên bờ Hồ Tây, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, kẻ nội thần đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà, dàn bày hàng hóa bán để mua vui, hay sự nhũng nhiễu của lính tráng đối với người dân khi đi
Trang 17các nơi thu mua thú lạ, cây cảnh non bộ quý hiếm dâng lên chúa, v.v Người dân phải cung đốn, phục dịch cho những chuyến ngoạn cảnh tuần du của chúa
đã rất khốn khổ, lại thêm mất mùa, đói kém khiến cho đời sống dân gian ngày càng thêm cơ cực Vào cuối đời, Trịnh Sâm ham mê tửu sắc, bỏ con trưởng lập con thứ, gây ra nhiều chuyện lộn xộn, bè đảng tranh giành, cha con anh
em sát phạt lẫn nhau trong phủ chúa khiến Thăng Long trải qua một thời kỳ náo loạn Trong một xã hội đầy rẫy những bất ổn như vậy, các cuộc nổi dậy diễn đã ra ở nhiều nơi; mấy lần kinh thành khói lửa ngút trời, người Thăng Long bồng bế, dắt díu nhau chạy trốn Đến khi vua Hiển Tông băng hà, Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ được lập làm vua, lấy niên hiệu Chiêu Thống, nhưng tình hình cũng không khá hơn, triều đình đã không còn khả năng điều hành đất nước Không những thế chỉ vì lo giữ ngôi vua của mình, Chiêu Thống cam tâm rước quân Thanh vào Thăng Long Rồi sự xuất hiện của Nguyễn Huệ ở Thăng Long năm 1786 và trận đại thắng quân Thanh năm
1789 đã “hoàn toàn phá vỡ thế bùng nhùng của cục diện chính trị đương thời” Dưới thời Quang Trung tình hình xã hội có ít nhiều thay đổi tích cực Nhưng triều Tây Sơn tồn tại không được bao lâu, vua Quang Trung đột ngột băng hà, Quang Toản lên nối ngôi còn nhỏ tuổi, triều Tây Sơn lục đục, Nguyễn Ánh nhân tình thế ấy đã làm cuộc nhất thống và lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long
Trong bối cảnh thời cuộc rối ren ấy, gia tộc Ngô Thì đã không tránh khỏi những biến cố lớn, có ảnh hưởng đến từng cá nhân trong dòng họ ở những mức độ khác nhau Bản thân Ngô Thì Lữ cũng bị tác động nhiều từ hoàn cảnh chung ấy Nhìn vào lịch trình cuộc đời Ngô Thì Lữ5 có thể thấy ông ra đời được ít lâu thì ông nội là Ngô Thì Sĩ được phục chức Hàn lâm hiệu
lý (sau một thời gian bị cách tuột hết chức tước, đuổi về làm sai dịch) Những năm ấu thơ, cảnh bác cả Ngô Thì Nhậm đỗ tiến sĩ vinh quy về làng, em trai ông nội là Ngô Thì Đạo được thăng chức đi trấn nhậm ở Sơn Tây, rồi bác cả Ngô Thì Nhậm đi trấn nhậm ở Thái Nguyên, ông nội Ngô Thì Sĩ đi trấn nhậm
ở Lạng Sơn, có thể đã ghi dấu ấn về sự vinh hiển của dòng họ trong trí óc non
Trang 18nớt của Ngô Thì Lữ Song những ngày tháng thịnh đạt, vẻ vang của gia tộc –
mà do sinh sau đẻ muộn Ngô Thì Lữ chỉ được chứng kiến phần nào - cũng kéo dài không bao lâu, tai họa sau đó liên tiếp xảy ra: năm 1780, ông nội mất ở trấn sở Lạng Sơn; năm 1782, Trịnh Tông lên ngôi, bác cả Ngô Thì Nhậm vì liên quan đến vụ án năm Canh tí phải chạy trốn xuống Sơn Nam, cha của Ngô Thì
Lữ phải thay anh trông nom công việc của cả đại gia đình Rồi những biến động lớn của thời cuộc đã làm đảo lộn trật tự cũ, tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của
cả gia tộc Ngô Thì, các cá nhân trong dòng họ buộc phải lựa chọn gắt gao để có một hướng đi cho mình, điều này được thể hiện rất rõ khi đi sâu nghiên cứu tiểu
sử của từng tác gia trong Ngô gia văn phái: người theo nhà chúa, người trung thành với vua Lê, người theo Tây Sơn, người theo nhà Nguyễn, lại có người vừa phụng sự triều đình Lê -Trịnh, rồi sau lại có nhiều đóng góp cho triều Tây Sơn như trường hợp Ngô Thì Nhậm Điều đáng nói là, dòng họ Ngô Thì coi trọng huyết thống, gia tộc và cũng tôn trọng “khoảng tự do” trong cách nghĩ và hành
xử riêng của mỗi cá nhân trước biến động thời cuộc
Khi Tây Sơn ra bắc lần thứ hai, cha của Ngô Thì Lữ là Ngô Thì Chí theo vua Lê Chiêu Thống chạy khỏi Thăng Long Theo lời khuyên của người bạn
thân là Trần Danh Án, Ngô Thì Chí dâng lên vua bản Trung hưng sách,
khuyên vua chọn nơi hiểm trở làm căn cứ địa, kêu gọi hào kiệt các nơi đem quân ứng cứu, đồng thời xin nhà Thanh ủng hộ bằng kế "Thanh viện"(đóng quân ở biên giới để gây sức ép) Nhà vua bèn phái Ngô Thì Chí lên Lạng Sơn, nơi cha ông từng làm Đốc trấn để chiêu mộ nghĩa quân, nhưng mới đi đến huyện Phượng Nhãn thì ông bị ốm nặng rồi mất ở huyện Gia Bình năm 1788
Gặp lúc đất nước và gia tộc trải nhiều biến động, cha long đong theo vua Chiêu Thống, Ngô Thì Lữ phải cùng các em theo mẹ về quê ngoại ở xã Bảo Triện, thuộc huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc để nương náu Sau khi cha mất, Thì
Lữ cùng gia đình quay trở về quê nhà Tả Thanh Oai, sống gần gũi với các chú bác, anh em trong gia tộc và nhận được sự động viên giúp đỡ từ họ Năm 21 tuổi ông được theo học Tiến sĩ Nguyễn Tả Khê, bạn của bác cả Ngô Thì Nhậm Năm Canh thân (1800) ông đỗ Khóa sinh Quốc tử giám, rồi mở lớp
Trang 19dạy học ở xã Ngọc Cục, sau đó dời sang xã Cao Thọ, một vùng trồng rất nhiều ngô nên ông đã lấy bút danh là "Ngô Sào"
Bên cạnh việc thiệt thòi vì sinh sau đẻ muộn, điều kiện gia đình không thuận lợi như trước, thời niên thiếu gặp khá nhiều trắc trở, điều kiện học hành không nhiều, thì đến thời Ngô Thì Lữ lập thân, đất nước đã tạm thời ổn định trở lại, ông tránh được giai đoạn lịch sử rối ren mà ông nội, bác Ngô Thì Nhậm và cha từng phải trải qua; việc lựa chọn con đường đi của ông rất rõ ràng: trước mắt ông chỉ có một con đường theo nhà Nguyễn để gây dựng sự nghiệp Năm 1807 triều Nguyễn mở khoa thi Hương, Ngô Thì Lữ cũng lều chõng đi nhưng chỉ lọt vào được đến trường ba, vì thế ông lại trở về dạy học, vừa để mưu sinh vừa có thời gian đọc sách vở thánh hiền
Năm 1808 ông được khâm sai Tổng trấn Bắc Thành trao chức Tri huyện Thanh Hà
Năm Kỉ tị (1809) chú ruột Ngô Thì Hương (lúc đó là Tả tham tri Bộ Lại) được cử làm Phó sứ trong đoàn sứ bộ sang cống nhà Thanh Ngô Thì Lữ được chú tiến cử nên được sung làm thư ký cho sứ bộ Sau khi trở về nước, Ngô Thì Lữ lại được phái đi công vụ ở Vạn Ninh, rồi được thăng chức vào Hàn lâm viện, sau chuyển làm Thiêm sự bộ Hộ Tiếp đó ông lại được sai ra Bắc Thành đốc suất công việc và được thăng Hiệp trấn Hải Dương Trong 5 năm ở Hải Dương, thấy tình cảnh dân nghèo vất vả về thuế khóa, ông đề xuất: vụ chiêm thu 3 phần thóc một phần tiền, vụ đông thu 3 phần tiền 7 phần thóc cất tạm vào kho Xích Đằng rồi mới chuyển đi Việc đề xuất chính sách thu thuế mới của ông tốt cho dân nghèo nên được Triều đình coi trọng và cho làm theo Thời gian sau ông bị bệnh, được Tổng trấn Hải Dương cho nghỉ dưỡng bệnh tại trấn, sau lại thăng cho một cấp rồi cho về quê an dưỡng
Ngô Thì Lữ mất năm 1821 tại thôn Đức Lâm Ông có hai người vợ và 5 người con Con trai ông là Ngô Văn Phong, hiệu Lật Trai, cũng là một tác gia
của Ngô gia văn phái, hiện còn tác phẩm Nga thuật thi tập
Như vậy, giữa thời cuộc hỗn loạn, rối ren, gia tộc Ngô Thì cũng xảy ra nhiều biến cố lớn, cuộc đời Ngô Thì Lữ vì thế cũng chịu nhiều va đập từ hoàn cảnh khó khăn đó
Trang 201.3 Chuyến đi sứ năm Kỉ tị (1809) và sự ra đời Ngô Sào thi tập tiếp nối dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái
Như trên đã nói, cha mất sớm, Ngô Thì Lữ được sự giúp đỡ rất nhiều từ
họ hàng; người gần gũi, nâng đỡ ông nhiều nhất chính là người chú ruột Ngô Thì Hương (Vị) kém ông một tuổi Chính người chú này đã dìu dắt ông trên con đường sự nghiệp Nhờ có sự giới thiệu của chú, ông được cử đi sứ và sau
đó được cất nhắc, trọng dụng Đại Nam thực lục ghi rõ về chuyến đi này: “Sai
Tham tri Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận sung Chánh sứ tuế cống (hai lần cống năm Đinh mão, năm Kỷ tị) sang nước Thanh Cai bạ Quảng Bình là Lê Đắc Tấn, Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị sung Giáp, Ất phó sứ (hành nhân 9 người, lục sự 2 người, thư ký 4 người, điều hộ 1 người, thông sự 2 người, đi theo hầu
15 người) Dụ rằng: “Bọn ngươi vâng mệnh đi sứ, từ lệnh phải cẩn thận cho
chương của dòng họ bằng hai tập thơ đi sứ: Ngô Thì Hương có Mai dịch thú
dư, Ngô Thì Lữ có Ngô Sào thi tập ghi chép lại những sự kiện liên quan đến
cuộc đi sứ, những cảm xúc và những điều tai nghe mắt thấy trong suốt cuộc
hành trình Tác phẩm Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ (trong tùng thư Ngô
gia văn phái còn được ghi là Ngô Sào thi thoại) gồm 38 bài thơ được viết
bằng chữ Hán
Nhưng người mở đầu cho dòng thơ đi sứ trong Ngô gia văn phái phải
kể đến là Ngô Thì Nhậm, bác cả của Ngô Thì Lữ Trước Ngô Thì Hương và Ngô Thì Lữ, Ngô Thì Nhậm cũng đã từng đi sứ với trọng trách là Chánh sứ trong đoàn sứ sang nhà Thanh báo tang vua Quang Trung và cầu phong cho Quang Toản vào tháng Hai năm Quý sửu (1793) Trong chuyến đi đó Ngô Thì
Nhậm đã sáng tác Hoàng Hoa đồ phả (Tập thơ họa trên đường đi sứ), còn gọi
là Hoa trình gia ấn thi tập Theo Lời tiểu dẫn tập thơ Hoàng Hoa đồ phả thì
Trang 21hứng thú của Ngô Thì Nhậm được bắt nguồn từ chuyến đi sứ, với mục đích rõ ràng là vẽ lại hành trình: “Đi qua các đất Việt, Sở, Tống, Ngụy, Trịnh, Triệu, Yên, tính ra đi đường dài đến một vạn hai nghìn ba trăm dặm Khi về đường lại dài gấp bội, đi cả ngày lẫn đêm không nghỉ trên đường đi, phàm những chỗ hiểm dị của sông núi, nơi dừng lại, nơi ra đi ở các dịch quán, những di tích của người xưa, những cảnh trước mắt của người nay, nhất nhất đều vẽ lại, rồi đem thơ văn ra làm” Ông mong sau này có ai được sung công việc đi sứ
có thể lấy sách của ông “làm chỉ nam cho đường Hoa chăng?” Với Hoàng
hoa đồ phả, có thể nói Ngô Thì Nhậm đã tiếp nối được hào khí của thơ đi sứ
thời Trần
Như vậy, từ những chuyến bang giao nói trên, chỉ trong khoảng gần hai chục năm, dòng họ Ngô Thì Tả Thanh Oai đã có tới ba tập thơ đi sứ, hình
thành nên dòng thơ đi sứ có nét riêng của Ngô gia văn phái Trong dòng thơ
đi sứ đó không thể không nhắc tới một sự tiếp nối từ Hoàng Hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm, Mai dịch thú dư của Ngô Thì Hương đến Ngô Sào thi tập của
Ngô Thì Lữ, mặt khác cũng cho thấy sự khác biệt trong từng tác giả, trong từng thời kỳ đi sứ khác nhau
Trên cơ sở khảo sát cụ thể Hoàng hoa đồ phả, Mai dịch thú dư và Ngô
Sào thi tập chúng tôi đã sơ bộ phân loại các tập thơ theo các nhóm nội dung đề
tài Dưới đây là Bảng phân loại nội dung đề tài của mỗi tập thơ đi sứ trong
Ngô gia văn phái:
-Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm có 115 bài được tuyển dịch trong Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3 [52, tr 7- 260], phân loại cụ thể như sau:
NỘI DUNG ĐỀ TÀI SỐ LƯỢNG BÀI (%)
3 Thơ cảm tác, thuật hoài bộc lộ tâm sự 24(21%)
Trang 22-Mai dịch thú dư của Ngô Thì Hương có 30 bài được tuyển dịch trong Tuyển tập Ngô gia văn phái, tập II [ 73, tr 358- 411], phân loại cụ thể như
sau:
NỘI DUNG ĐỀ TÀI SỐ LƯỢNG BÀI (%)
3 Thơ cảm tác, thuật hoài bộc lộ tâm sự 8(27%)
- Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ gồm 38 bài được tuyển dịch trong Ngô gia văn phái, tập II [ 73, tr 480-532], phân loại cụ thể như sau:
NỘI DUNG ĐỀ TÀI SỐ LƯỢNG BÀI (%)
3 Thơ cảm tác, thuật hoài bộc lộ tâm sự 6 (16%)
Về cơ bản, chúng tôi dựa vào nội dung chính thể hiện trong các bài thơ
để tiến hành phân loại, nhưng vì trong cùng một bài thơ còn có thể lồng ghép đan xen nhiều nội dung khác nhau nên nhìn chung sự phân loại này ít nhiều cũng mang tính chất tương đối Tuy vậy, qua bảng thống kê phân loại trên
cũng có thể rút ra kết luận: trong cả ba tập thơ đi sứ của Ngô gia văn phái, các
tác giả đều thiên về đề tài vịnh cảnh
Tiểu kết:
Chúng tôi đã trình bày sơ lược về thân thế, tiểu sử, sự nghiệp của Ngô Thì Lữ, một tác gia sinh ra từ miền quê Tả Thanh Oai có nền văn hiến lâu đời
và dòng họ Ngô Thì nổi tiếng về văn hóa, văn chương
Theo suốt chiều dài lịch sử, ở Việt Nam đã hình thành nhiều dòng họ văn hóa, trong đó có dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai Trải qua nhiều
Trang 23đời, dòng họ Ngô Thì luôn có người học hành, đỗ đạt và tham gia quan trường Với câu “Họ Ngô một bồ Tiến sĩ”, đáng xem đây là một gia tộc văn hóa Người có ảnh hưởng quan trọng trong việc gây dựng cho con cháu một nếp sống văn hóa, “người mở lối văn chương cho dòng họ” chính là Tuyết Trai Ngô Thì Ức Con cháu ông sau này học hành đỗ đạt làm quan, có ý thức giữ gìn nền nếp gia phong, phát huy truyền thống và đặc biệt là có truyền nối
về văn chương Chính truyền thống ấy đã tạo nên một dòng tộc văn hóa gắn với nhiều nhân vật nổi danh, hiển đạt, có sáng tác và trước thuật để đời
Lịch sử từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn cực kỳ phức tạp, liên tiếp đổi thay triều đại, hết vua Lê, chúa Trịnh lại đến thời Tây Sơn và sau này là nhà Nguyễn Ở giai đoạn rối ren ấy, sự lập thân lập nghiệp của từng thành viên trong dòng họ Ngô Thì của Ngô Thì Lữ có khi đối nghịch nhau về cách lựa chọn triều đại mà mình phụng sự nhưng vẫn có sự cố kết về tình cảm gia tộc: người đi trước chăm lo mở trường lớp, mời thầy giỏi về dạy
dỗ cho con cháu, kèm theo là viện sách, học điền v.v, tạo ra sự giao lưu văn hóa, văn học với các danh sĩ đương thời và không khí văn chương, chữ nghĩa thấm nhuần sâu sắc trong dòng họ Dòng họ Ngô Thì vì thế đã có một lực lượng sáng tác rất hùng hậu, từ ông đến cháu, từ cha đến con, từ anh đến em
tạo nên bộ tùng thư Ngô gia văn phái đồ sộ, phong phú, hiếm có trong lịch sử
văn học Việt Nam
Chính từ miền quê Tả Thanh Oai, Ngô Thì Lữ đã được tiếp thu ảnh hưởng sâu đậm của quê hương và gia tộc văn hóa, chịu tác động lớn từ thời cuộc rối ren và những biến cố của gia tộc để trưởng thành và trở thành một tác gia có
tác phẩm Ngô Sào thi tập tiếp nối dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái do bác
(Ngô Thì Nhậm) và chú (Ngô Thì Hương) tạo dựng
Trang 24Chương 2
NGÔ SÀO THI TẬP CỦA NGÔ THÌ LỮ
NỐI TIẾP NỘI DUNG THƠ ĐI SỨ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI
2.1 Sơ lược về thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam
Thơ đi sứ, hay còn gọi là thơ sứ trình, là bộ phận thơ được các sứ giả sáng tác trên đường đi sứ (đến thời Nguyễn còn có thêm các chuyến đi dương trình hiệu lực); thời trung đại Việt Nam chủ yếu là thơ đi sứ Trung Quốc
Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử từ xưa để lại, Việt Nam và Trung Quốc
đã có mối quan hệ bang giao kéo dài đến mấy nghìn năm Cả hai nước đã cử các đoàn sứ bộ qua lại hoặc theo thông lệ triều cống định kỳ, hoặc mừng thọ, mừng vua mới lên ngôi, hoặc viếng tang, hoặc cầu phong, hoặc báo tang v.v… Hành trình đi sứ dài ngày, xa xôi, đường đi cả thủy bộ phải trải qua nhiều gian nan khó nhọc, cùng những hạn chế về phương tiện giao thông đi lại, song đó cũng là dịp có nhiều trải nghiệm thú vị đối với sứ thần Các sứ giả thường là những nhà khoa bảng thành danh, thông kim bác cổ, thấm nhuần tri thức văn hóa Trung Hoa, khi được cử đi sứ Trung Hoa là mang trọng trách lớn với đất nước và cũng là dịp được trở về nguồn văn hóa mà họ từng chịu ảnh hưởng sâu đậm Nói cách khác, sứ giả được trực tiếp “mắt thấy tai nghe”, thưởng ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa của Trung Hoa mà họ từng gặp trong sách vở; rồi cảnh sông núi hữu tình hay hiểm trở, cùng những “nền cũ dấu xưa” hoài cổ đã gợi rất nhiều thi hứng cho họ, hơn nữa nhu cầu giãi bày tâm trạng, nỗi niềm xa nước nhớ nhà cũng làm nảy sinh những vần thơ tâm trạng da diết Vì thế, trong các chuyến đi sứ đã có rất nhiều tập thơ nổi tiếng được hoàn thành và lưu truyền đến ngày nay, hình thành nên dòng thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam với những tên gọi
thi tập khá đặc thù: Bắc sứ, Bắc hành, Phụng sứ, Sứ Hoa, Sứ trình, Hoàng
hoa, Hoa trình, Hoa nguyên, Tinh thiều, Tinh sà, Yên hành, Yên đài v.v…
Căn cứ theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2 - 16 [27] và theo khảo
sát của các nhà nghiên cứu đi trước [40], [84], giai đoạn mở đầu cho dòng thơ
đi sứ trung đại là giai đoạn Trần – Hồ, hiện chỉ còn tập thơ Giới Hiên thi tập
Trang 25của Nguyễn Trung Ngạn Đời Lê sơ và đời Mạc để lại rất ít tập thơ đi sứ:
Nghĩa Xuyên quang quan tập của Đào Nghiễm, Tinh thiều kỉ hành của Vũ
Cận, Sứ trình khúc của Hoàng Sĩ Khải, Kim Lăng kí của Đỗ Cận
Thời Lê trung hưng thơ đi sứ có khá nhiều tập nổi tiếng: Mai Lĩnh sứ
Hoa thi tập của Phùng Khắc Khoan, Bắc sứ thi tập của Đào Công Chính, Hoa trình thi tập của Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Đình Sách, Chúc Ông phụng sứ tập của Đặng Đình Tướng, Tinh sà thi tập của Nguyễn Công Hãng, Kính Trai
sứ tập của Phạm Khiêm Ích, Sứ Hoa tùng vịnh của Nguyễn Kiều và Nguyễn
Tông Quai, Sứ trình tân truyện (chữ Nôm) của Nguyễn Tông Quai, Mặc Ông
sứ tập của Đinh Nho Hoàn, Bắc sứ hiệu tần thi của Lê Hữu Kiều, Phụng sứ Yên đài tổng ca của Nguyễn Huy Oánh, Hải An sứ vịnh (Đoàn Hoàng giáp phụng sứ tập) của Đoàn Nguyễn Thục, Hoa trình khiển hứng tập (Dao Đình
sứ Hoa học bộ thi tập) của Hồ Sĩ Đống
Thời Tây Sơn (1789 - 1802), thơ đi sứ không nhiều nhưng cũng có dấu ấn
riêng: Đoàn Nguyễn Tuấn có Hải Ông thi tập, Nguyễn Đề có Hoa trình tiêu
khiển tập, Ngô Thì Nhậm có Hoàng Hoa đồ phả, Phan Huy Ích có Tinh sà kỉ hành, Vũ Huy Tuấn có Hoa nguyên tuỳ bộ tập
Sang thời Nguyễn (1802 - 1884), tính riêng các tập thơ đi sứ Trung
Quốc đã có một số tập đáng chú ý: Trịnh Hoài Đức có Cấn Trai quan quang
tập (Bắc sứ thi tập), Lê Quang Định có Hoa nguyên thi thảo, Ngô Nhân Tĩnh
có Thập Anh Đường thi tập, Nguyễn Gia Cát có Hoa trình thi tập, Ngô Thì Hương có Mai dịch thú dư, Nguyễn Du có Bắc hành tạp lục, Phan Huy Chú
có Hoa thiều ngâm lục, Hoa thiều tục ngâm, Lý Văn Phức có Sứ trình chí
lược thảo, Sứ trình tiện lãm khúc, Ngô Thì Lữ có Ngô Sào thi tập, Trương
Hảo Hiệp có Mộng Mai đình, Phan Thanh Giản có Sứ Thanh thi tập, Sứ trình
thi tập, Phạm Chi Hương có Mi Xuyên thi tập, Bùi Quỹ có Yên đài anh thoại,
Nguyễn Văn Siêu có Phương Đình vạn lý tập, Đặng Huy Trứ có Đặng Hoàng
Trung thi sao, Bùi Văn Dị có Vạn lí hành ngâm, Phạm Phú Thứ có Giá Viên
Trang 26thi tập, Nguyễn Tư Giản có Yên thiều thi văn tập, Yên thiều bút lục, Yên thiều văn thảo, Nguyễn Thuật có Mỗi hoài ngâm thảo 6
Về mặt hình thức ngôn ngữ, nhìn chung, thơ đi sứ phần lớn được viết bằng chữ Hán, chỉ có một số rất ít được viết bằng chữ Nôm Về nội dung của thơ đi sứ, nhà nghiên cứu Nguyễn Công Lý cho rằng: “Các vị sứ thần – thi nhân thường gởi gắm nỗi niềm tâm tư tình cảm của mình trên hành trình đi sứ
xa xôi, đầy khó khăn gian khổ, với trọng trách lớn lao đối với đất nước, nhân dân mà triều đình đã giao phó Bên cạnh những bài thơ mang tính xã giao, thù tạc khi xướng họa, đối đáp, đề tặng thì số còn lại đa phần là thơ tả cảnh, vịnh cảnh, vừa thể hiện nét tài hoa tinh tế, bộc lộ cảm hứng dạt dào yêu mến trước thiên nhiên tạo vật, vừa bộc lộ tâm sự nhớ quê hương, lại vừa phản ánh trách nhiệm đối với đất nước, thể hiện lòng tự hào dân tộc, văn hóa văn hiến Việt Nam” [40, 98] Nói cách khác, thơ đi sứ là một loại hình thơ văn bang giao luôn gắn liền với nhiệm vụ chính trị - ngoại giao của đất nước đương thời, đây là những vần thơ mang tính kỷ sự ghi lại những sự việc, sự vật trên hành trình đi sứ, đồng thời cũng là những áng thơ trữ tình phản ánh thế giới nội tâm
và sự tinh tế của tâm hồn các sứ giả - thi nhân
2.2 Nội dung Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ
Như trên đã nói, Ngô Sào thi tập là tập thơ do Ngô Thì Lữ sáng tác trên
đường đi sứ Trung Hoa Tiếp nối dòng thơ đi sứ của Ngô gia, tập thơ đi sứ của Ngô Thì Lữ cũng mang những đặc điểm chung của loại thơ sứ trình, song
ít nhiều cũng có nét riêng
Trước hết, về số lượng, toàn bộ tập thơ Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ chỉ gồm 38 bài, số lượng ít hơn Mai dịch thú dư của Ngô Thì Hương, càng ít hơn rất nhiều so với Hoàng Hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm Xét riêng phần thống kê và phân loại Ngô Sào thi tập của Ngô Thì Lữ chúng tôi nhận thấy số
lượng thơ đề vịnh chiếm phần lớn (22 bài, 58%), xếp thứ hai là thơ thù tạc (10 bài, chiếm 26%), và cuối cùng là thơ viết về gia đình, tâm sự bản thân (6 bài, chiếm 16%) Cụ thể các bài như sau:
6
Thống kê về tác giả, tác phẩm thơ đi sứ trong văn học trung đại Việt Nam chúng tôi có tham khảo bài viết của Nguyễn Công Lý [40], và luận án của Đỗ Thị Thu Thủy [84].
Trang 27- Thơ đề vịnh 22 bài: gồm 13 bài tả cảnh, vịnh hoài (1 Thiên Thai sơn
tự, 2 Huyền Quang tự, 3 Đăng Bát Vạn sơn, 4 Đăng trình hiểu phát, 5 Quá quan, 6 Yết Phục Ba miếu, 7 Quá Ngũ Hiểm than, 8 Hoài Bạch Cư Dị, 9
Đề Phi Hà tự, 10 Du Tương Sơn, 11 Động Đình thu phiếm, 12 Đăng Nhạc Dương lâu, 13 Thiên hà), 3 bài vịnh vật (1 Họa phượng ứng chế, 2 Tịnh đầu
liên ứng chế, 3 Đề liên) và 6 bài vịnh sử
- Thơ thù tạc 10 bài: gồm 1 Trùng dương ký thượng Phan gia huynh
sách ẩm, 2 Tống biệt, 3 Ký thượng thân thúc Lại bộ Lễ Khê hầu, 4 Đại bộ như Thanh giáp sứ Gia Đình hầu lưu giản nguyên vận, 5 Hựu tống y quan đăng trình, 6 Ức cựu du trình thân thúc Huyền Trai công, 7 Ức cựu du trình thân hữu, 8 Tống Đương trung hầu, 9 Tặng Gia Định huyện doãn, 10 Canh Ngọ nguyên đán Nhạc Dương thành cung họa thân thúc quan khai bút đề
- Thơ cảm tác, thuật hoài bộc lộ tâm sự 6 bài: gồm 1 Đề lão ông
kính, 2 Khí phụ tự tình, 3 Trùng dương cảm tác, 4 Tạ đế kinh, 5 Bắc Giang học quán, 6 Lữ thứ thuật hoài.
Thực tế có một số bài thơ của Ngô Thì Lữ khiến chúng tôi băn khoăn
nhiều hơn về ranh giới khi phân loại như bài Trùng dương cảm tác, Đề lão
ông kính… Những bài này tuy có vịnh cảnh vật, tiết khí hay đồ vật, song xét
thấy nội dung hàm chứa rõ ràng và nổi bật những suy tư, tâm trạng và thái độ của tác giả, do vậy chúng tôi đã tách những bài này ra khỏi thơ đề vịnh và tạm
xếp chúng vào nhóm đề tài thứ ba Xét cụ thể từng đề tài nội dung của Ngô
Sào thi tập, có thể thấy sự kế thừa tiếp nối dòng thơ đi sứ Việt Nam thời trung
đại và ít nhiều nét riêng, đóng góp của Ngô Thì Lữ trong dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái
2.2.1 Thơ đề vịnh
Thơ đề vịnh là một bộ phận quan trọng trong thi ca cổ Trung Quốc và Việt Nam Loại thơ này có nền tảng triết học từ quan niệm “tâm vật tương liên” (tâm và vật có mối liên hệ với nhau), “thiên nhân thống nhất” (trời và người là một thể thống nhất) của Nho gia Cho dù đối tượng đề vịnh khác nhau – vịnh cảnh, vịnh sử hay vịnh vật, nhưng xét đến cùng thì đề vịnh chỉ là
Trang 28cái cớ để tác giả bày tỏ những suy nghĩ trong tâm của mình, "vật" (cảnh vật, nhân vật, sự việc, sự vật…) bao giờ cũng được gán một ý nghĩa nhất định Nói cách khác, thơ đề vịnh là sự phát huy cao nhất truyền thống “ngụ ý” của văn học nhà Nho: “mượn cảnh vịnh hoài”, “thác vật ký hứng”
2.2.1.1 Thơ vịnh cảnh
Thơ tả cảnh, đề vịnh thiên nhiên là một đề tài truyền thống, bởi thiên nhiên luôn là là nguồn cảm hứng, là “kho thi liệu” phong phú bậc nhất của thi nhân mọi thời đại Chính vì vậy qua khảo sát ba tập thơ đi sứ của ba tác giả Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Hương, Ngô Thì Lữ chúng tôi nhận thấy như thông
lệ của thơ đi sứ, thơ vịnh cảnh đều chiếm số lượng nhiều nhất trong các thi tập
đi sứ của dòng họ Ngô Thì Tả Thanh Oai
Trên dọc đường hoàng hoa, cũng như các sứ giả khác, Ngô Thì Lữ đã được chiêm ngưỡng nhiều cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ hoặc hiểm trở,
có những phút giây gian nan, hiểm nguy, tưởng cận kề cái chết, nhưng cũng
có những phút giây yên bình, nhàn ngắm cảnh sông nước mây trời; mặt khác ông cũng được chứng kiến các nghi lễ sứ giả, được có nhiều cuộc gặp gỡ và
trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc Trong Ngô Sào thi tập, ông đã ghi lại
những dấu mốc quan trọng, những cảnh vật, sự vật, sự việc diễn ra trên lộ trình dài vạn dặm đến Trung Hoa từng để lại ấn tượng cho mình
Hành trình đi sứ bắt đầu từ việc qua quan ải để đi sang xứ người, rất nhiều sứ giả đã có thơ về thời điểm này Cùng trong tâm trạng bồi hồi của người lần đầu đi sứ, Ngô Thì Lữ cũng như chú mình (Ngô Thì Hương) đã ghi lại quang cảnh lúc đoàn sứ đi qua quan ải và cảm xúc của mình trong hai bài
thơ cùng tên “Quá quan” Với Ngô Thì Hương, người giữ vai trò phó sứ trong
đoàn sứ bộ thì việc qua cửa ải được ông ghi lại với phong cách nghiêm cẩn đặc trưng của mình: vừa có phần tiểu dẫn bằng văn xuôi vừa có bài thơ thất ngôn bát cú như yếu tố phụ trợ không thể thiếu để mô tả một cách tỉ mỉ, chi tiết sự việc và bộc lộ tâm trạng riêng của mình Người đọc có thể hình dung khá rõ bức tranh toàn cảnh về thủ tục “quá quan” đã diễn ra như thế nào và cũng tiếp nhận một cách chân thực tâm trạng của sứ giả ngày xưa lúc phải rời
Trang 29Lạng Sơn, để lại phía sau non sông cố quốc, người thân, mở ra trước mắt quang cảnh đất nước Trung Hoa lạ lẫm từ phong cảnh, con người, đến âm thanh giọng
nói: “Quan trong nội địa Trung Quốc kiểm tra đồ cống xong vội giục sứ thần
lên xe rồi truyền lệnh đóng cửa quan Các quan ở Lạng Sơn cùng binh viên hộ tống sứ đoàn cũng thu xe về thành Khua chiêng gióng trống, giương cờ bắn tên, tiếng người ngựa đi âm thanh vang động núi hang Ta cùng người trong đoàn cùng tiến, kẻ trước người sau, không giúp được gì cho nhau Phu xe kiệu hò hét nói cười bọn ta nghe đều không hiểu Đường phía trước xa vạn dặm, dần xa đất nước quê hương Tuy non sông vẫn vậy, song phong cảnh khác vời, bất giác rầu
rĩ với niềm cảm xúc của kẻ đi người ở”
Khác với Ngô Thì Hương, Ngô Thì Lữ đi sứ với tư cách thư ký của sứ đoàn nên vai trò trách nhiệm bớt nặng nề hơn chú, dường như ông có thời gian vừa quan sát vừa nghĩ ngợi Ngoài việc miêu tả cảnh chia tay nơi biên giới rực rỡ sắc cờ và âm vang tiếng thanh la cùng những bịn rịn, quyến luyến gia đình, quê hương, xứ sở giống như trong thơ của chú, Ngô Thì Lữ còn thể hiện tâm tư và cách nhìn riêng Thơ ông cho thấy sự phấn chấn, hào hứng trước không khí tiễn đưa và những điều mới lạ diễn ra trước mắt, cả những phấp phỏng, âu lo về những hiểm nguy bất ngờ có thể đang chờ đón phía trước:
Lưỡng Việt yết hầu thử cực biên, Tiền trình vạn lý đạt U, Yên
Vân khai kỳ sắc thông quan thược, Phong tống la thanh xúc sứ biền
…Đình xa trù trướng tình hà tự, Nhất khứ du du hựu cách niên
(Nơi đầu biên giới này là yết hầu Lưỡng Quảng,/Lộ trình phía trước dài hàng vạn dặm tới mãi châu U, châu Yên./Mây rực rỡ sắc cờ, cửa quan ải đã thông;/Gió đưa tiếng thanh la giục giã xe sứ giả/ …Tần ngần dừng xe, tình
cảm thật khó tả, /Một lần ra đi đằng đẵng hàng năm trời)
(Quá quan)
Người đi sứ hiểu rõ cương vực, lộ trình dài hàng vạn dặm phía trước, nhưng ở đây không phải không ánh lên niềm tự hào của sứ giả một đất nước
Trang 30được phân định với Trung Hoa bởi cương vực, lãnh thổ, giang sơn riêng:
Cương vực tài phân tam xích điệp, Giang sơn tiện biệt nhất hồ thiên (Bức tường ba thước phân rõ cương vực, Giang sơn như một bầu trời riêng) Rõ ràng đây không còn đơn thuần chỉ là những vần thơ tả cảnh mà như một sự khẳng định cương vực, lãnh thổ, giang sơn bằng thi ca Niềm tự hào này cũng
có thể coi là sự tiếp nối hào khí Đông A của thơ đi sứ đời Trần và truyền thống thơ đi sứ của Ngô gia từng được thể hiện bằng nụ cười mỉm đầy tự hào của Ngô Thì Nhậm: “May thay! Sinh ra ở nước Nam/ Đường hoàng cân đai
áo mão” (Hoãn nhĩ ngâm), hay một tư thế đàng hoàng khẳng định vị thế sứ
giả Việt Nam của Ngô Thì Hương: “Việt Nam sứ giả Ngô Thì Vị/ Cả gan đề
thơ ghi lại chuyến đi này” (Đề Hoàng Hạc lâu)
Giống như thông lệ của thơ sứ trình, trong mảng thơ vịnh cảnh của Ngô Thì Lữ có khá nhiều bài là những bức tranh thiên nhiên mỹ lệ, mang đậm dấu
ấn văn hóa: Du Tương Sơn (Chơi Tương Sơn), Đăng Nhạc Dương lâu (Lên
lầu Nhạc Dương), Động Đình thu phiếm (Ngày thu thả thuyền trên hồ Động
Đình) Đó là những cảm hứng bột phát của nhà thơ trước những danh thắng nổi tiếng vừa mang vẻ đẹp vốn có của khung cảnh thiên nhiên mới lạ, phong phú trên đất Trung Hoa, vừa gắn với những di tích lịch sử, văn hóa từng được đọc trong sách vở Trong bài Động Đình thu phiếm (Ngày thu, thả thuyền trên
hồ Động Đình), Ngô Thì Lữ miêu tả cảnh hồ với vẻ đẹp tự nhiên lấp lánh, nên thơ, và những dáng vẻ tự nhiên ấy qua cảm nhận của ông vừa có nét chân thực, vừa mang sắc thái của tâm trạng:
Cửu Giang tân lạo vị lai thì, Liễm diễm hồ quang tiếp thúy vi
Phong lược viễn chu phù giới tử,
Ba hàm dao điểu phiếm lư tư
Dạ trừng nguyệt ảnh ưng trường chiếu, Thu độ sương hàn chính quyện phi
Sở trạch, Ngô cung hà xứ thị, Mang mang nhất sắc bích liên y
Trang 31(Khi nước lũ Cửu Giang chưa tràn về, /Mặt hồ lấp lánh tiếp liền với núi./ Gió lướt qua những chiếc thuyền ngoài khơi nổi như hạt cải, /Sóng trùm lên những con chim phía xa, những con cốc nổi dập dềnh./Đêm trong, ánh trăng chiếu rất xa,/Thu đến, cánh chim mệt mỏi bay trong sương./Đầm Sở, cung Ngô ở nơi nào?/Chỉ thấy mênh mang một màu sóng biếc)
Trung Hoa là mảnh đất của văn hóa Hán mà các nhà nho ta từng chịu ảnh hưởng sâu nặng, do vậy đi sang Trung Hoa, sứ giả Việt Nam như được trở về nguồn văn hóa Mỗi một danh lam, thắng tích có dấu chân thưởng ngoạn của du khách, văn nhân thi sĩ Trung Hoa đến đề thơ, viết ký, xướng họa thơ văn, từng tạo nên những danh tác lưu truyền hậu thế đều khiến cho các sứ giả - nhà thơ Việt Nam mong muốn tìm đến chiêm ngưỡng Vì thế những Nhạc Dương lâu, Tỳ Bà đình, Tương Sơn tự, Động Đình hồ , đều có thể gợi nên một đồng cảm văn hóa cùng biết bao cảm xúc hoài niệm của sứ giả - nhà thơ Việt Nam Qua đình Tỳ Bà, Ngô Thì Lữ đã xúc cảm viết bài thơ
vịnh hoài về nhà thơ nổi tiếng đời Đường Bạch Cư Dị - tác giả bài thơ Tỳ Bà
hành nổi tiếng Trong bài thơ này ông vừa như để nói về mình, nói với chính
mình trong niềm đồng cảm với bậc tài danh cách rất xa mình cả về thời gian
và không gian địa lý:
Tài danh lưu lạc cận thiên nha, Khứ quốc sầu xâm lưỡng mấn hoa
Đồng bệnh bất duyên liên phấn đại,
Đa tình vị chí khấp tì bà
(Bậc tài danh lưu lạc tận chân trời,/Xa nước, mối sầu làm hai mái tóc đốm bạc./Đồng bệnh, nhưng không có duyên để thương người má phấn,/Đa tình cũng chưa tới mức khóc cho người chơi đàn tì bà)
(Hoài Bạch Cư Dị)
Bài thơ cho thấy tâm hồn đa cảm của Ngô Thì Lữ Tâm trạng của ông cũng không khác mấy với nỗi cảm thương người đánh đàn tì bà và sự đồng cảm sâu sắc với nhà thơ họ Bạch của Ngô Thì Hương, có khác chăng là ông không có phần tiểu dẫn bằng văn xuôi rất đậm tính chất khảo cứu về địa danh
Trang 32Lầu Nhạc Dương cũng là một thắng cảnh rất nổi tiếng của Trung Hoa được nhiều văn nhân thi sĩ đến đây đề thơ Chính Ngô Thì Nhậm người mở đầu dòng thơ đi sứ của Ngô gia, vào năm 1793, trên đường đi sứ, khi ghé thăm nơi này cũng đã từng có bài Nhạc Dương ký thắng Bài ký của Ngô Thì Nhậm rất giàu chất tả thực và trữ tình, vừa có phần văn xuôi ghi chép tỉ mỉ, ngôn ngữ tươi đẹp, vừa có phần thơ tràn đầy cảm xúc Nối tiếp Ngô Thì Nhậm, khi lên lầu Nhạc Dương, Ngô Thì Lữ cũng ghi lại những cảm xúc của mình trước cảnh bao la, hùng vĩ, trời nước mênh mông của phong cảnh ở nơi danh thắng này:
Ba Lăng thành ngoại nhất duy chu, Tráp cấp đăng cao mịch thắng du.
Thủy tế nhạn thanh hòa nhật lạc, Thiên biên phàm ảnh tiếp vân phù
Cửu Giang lạo trưởng liên thanh thảo, Vạn khoảnh bình ba kiến tố thu
Cực mục quan sơn yên thụ viễn, Nhạc Dương nhân ỷ tịch dương lâu
(Tạm buộc thuyền ngoài thành Ba Lăng, /Lom khom trèo từng bậc lên cao thưởng lãm cảnh đẹp./Nơi khoảng nước bao la có tiếng chim nhạn hòa cùng cảnh mặt trời lặn,/Bên trời bóng cánh buồm bồng bềnh cùng mây./Cửu Giang, nước lũ dềnh lên bãi cỏ xanh,/Muôn nơi sóng lặng, thấy cảnh thu trong trẻo./Phóng hết tầm mắt thấy núi non, cây khói xa xôi,/Trên lầu Nhạc Dương, người đứng tựa lầu dưới bóng tịch dương)
Rõ ràng đây là cảnh được nhìn từ trên cao xuống: một buổi chiều tà mênh mang sông nước, phía chân trời xa cánh buồm bồng bềnh cùng mây, thấp thoáng trong khoảng không mông mênh âm vang tiếng nhạn kêu chiều,
và dòng nước Cửu Giang ngập tràn bãi cỏ Cũng có thể nói, Ngô Thì Lữ đã thừa hưởng sự tinh tế sâu sắc trong cách cảm, cách nghĩ của những người nổi tiếng trong dòng họ Ngô Thì khi miêu tả cảnh thiên nhiên ở lầu Nhạc Dương
Trang 33với vẻ đẹp vốn có của nó Dường như khi được buông mình chìm trong hứng thú thưởng lãm cũng là lúc tâm hồn nhà thơ thanh thản, tĩnh lặng, hòa nhập hoàn toàn vào cảnh đẹp kỳ thú này
Thiên nhiên không phải lúc nào cũng đẹp trong vẻ hùng vĩ hoặc nên thơ, mà còn có cả những cảnh núi non hiểm trở, lúc gió mưa dữ dội, biến chuyển bất ngờ của thời tiết… Trên dọc sứ trình, hầu hết các đoàn sứ đều phải vượt qua ghềnh Ngũ Hiểm và rất nhiều người đã bị ấn tượng mạnh về sự hung hiểm kỳ quái của của nó và cũng khá nhiều sứ giả đã làm thơ về điều đó Cả
ba tác giả nhà họ Ngô đều có thơ vịnh nhan đề Ngũ Hiểm than Mở đầu là
Ngô Thì Nhậm, ông từng ghi lại tỉ mỉ sự chênh vênh, hiểm trở của ghềnh Ngũ Hiểm qua hai bài thơ:
Kiếm khí quang phân đằng ngạn tuyết, Pháo thanh hưởng xuất hồng tuyền lôi
(Tuyết bay bên bờ như ánh gươm ngời sáng, Sấm gầm lòng suối tựa tiếng pháo vang)
(Ngũ Hiểm than, kỳ nhất)
Bác Thố ẩn long tam phiến thạc;
Quải Xà phún kích lưỡng điều xuyền
Long môn mân tái thừa long khách;
Hổ Dược hoàn thiêm phục hổ đan
Bích lập từ tiền ưng Khởi Kính, Đại đô lương hiệp hoán nguy than
(Thác Bác Thố đá ngầm ba tảng lớn;/Thác Quải xà phun nước, chảy xiết hai dòng./Thác Long Môn chở đầy những khách cưỡi rồng;/Thác Hổ Dược lại chảy ra thuốc bắt hổ/ Vách đứng trước hẳn là thác Khởi Kính, Gọi là Thác Hiểm bởi phần lớn đều chênh vênh)7
(Ngũ Hiểm than, kỳ nhị)
7
Dựa theo bản dịch Ngô Thì Nhậm toàn tập (Lâm Giang – Nguyễn Công Việt chủ biên),
tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005
Trang 34Ngay cả Ngô Thì Hương là người đi sau, mặc dù đã từng nghe nói về Ngũ Hiểm than qua thơ của anh cả Ngô Thì Nhậm, nhưng khi được thấy tận mắt cảnh năm ghềnh đá nguy hiểm “lừng lững nối liền nhau”, ông vẫn không khỏi bất ngờ, đến nỗi phải thốt lên:
Viết xà viết thố kim giai kiến,
Vi hổ vi long thế thực kì
Phù thạch bất như trầm thạch ác,
Bỉ than diệc tự thử than nguy
(Là rắn hay là thỏ thì nay đều đã thấy,/Như hổ như rồng, thế thật kì lạ./Đá nổi không hiểm bằng đá chìm,/Ghềnh kia cũng hung hiểm giống như ghềnh này
(Ngũ Hiểm than)
Đến Ngô Thì Lữ, khi viết về ghềnh Ngũ Hiểm, giống như chú, bác của mình, ông cũng tập trung mô tả các chi tiết đặc trưng về sự dữ dội, nguy hiểm của ghềnh thác khó vượt này Chỉ với những cái tên “Quải Xà”, “Chuyển Quỷ”
đã gợi biết bao ghê sợ, lại còn thêm những hình ảnh vừa tả thực vừa tượng trưng giàu sức gợi như “tuyết phun”, “sấm động”, “sóng giận dữ tung bọt”, những tảng
đá “cao chót vót” mà bè của sứ thần ta phải vượt qua càng khiến gợi nên bao nỗi kinh sợ:
Quải Xà, Chuyển Quỷ than danh dị, Phún tuyết, minh lôi thủy thế hùng
Hung dũng nộ đào phiên hạc chử, Toàn ngoan quái thạch khám giao cung
(Nào là Quải Xà, Chuyển Quỷ, tên ghềnh thật lạ,/Tuyết phun, sấm động, thế nước hùng mạnh./Sóng giận dữ tung bọt đổ lên bến chim hạc,/ Những tảng đá quỷ quái cao chót vót nhòm vào cung giao long)
(Quá Ngũ Hiểm than)
Bài thơ của Ngô Thì Lữ không có phần ghi chép bằng văn xuôi, tính kỷ
sự giảm bớt, nhưng những vần thơ thiên về hình ảnh và cảm nhận trực giác
Trang 35này có lẽ cũng cho ta không chỉ cảm nhận về sự hung dữ của ghềnh Ngũ Hiểm, mà còn cảm nhận được cả vẻ hùng vĩ của nó
Đáng chú ý là, trong Ngô Sào thi tập, Ngô Thì Lữ còn có hẳn một chùm thơ vãn cảnh chùa miếu: Thiên Thai sơn tự (Chùa trên núi Thiên Thai),
Huyền Quang tự (Chùa Huyền Quang), Yết Phục Ba miếu (Viếng miếu Phục
Ba), Du Tương Sơn (Chơi Tương Sơn), Đề Phi Hà tự (Đề thơ chùa Phi Hà)
Như vậy, dù đi qua những vùng đất thân thuộc của Tổ quốc, lặng ngắm những ngôi chùa cổ quê nhà hay khi đã đặt chân lên đất nước Trung Hoa, chiêm ngưỡng những thắng cảnh chùa chiền từng nghe danh từ lâu trong sách vở, Ngô Thì Lữ đều có thơ ghi lại Phải chăng khi thăm nhiều chùa chiền như vậy Ngô Thì Lữ ít nhiều cũng có lòng mến mộ Phật giáo như bác Ngô Thì Nhậm lúc cuối đời hay như chú ruột Huyền Trai công Ngô Thì Hoàng của ông? Dù sao, đối diện với cảnh sắc thanh tĩnh chốn Phật môn, Ngô Thì Lữ như được dịu lòng trở lại, được hòa tâm hồn mình với cái thanh tĩnh chốn cửa thiền Đó
là khi nhà thơ đến thăm chùa Huyền Quang, trong lòng chợt bâng khuâng bởi bao nhiêu chuyện diễn ra ở nơi này giờ chỉ còn là truyền thuyết, thời gian đã xóa nhòa dấu vết của những câu chuyện cũ, chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ với
vầng trăng trên sông, gió trên ngọn thông và tiếng chuông chùa ((Huyền
Quang tự); đó cũng là khi nhà thơ không ngại men theo vách đá cheo leo lên
chùa Thiên Thai để hoài niệm những dấu tích xưa cũ về vị vua hóa hổ Lý
Thần Tông ( Thiên Thai sơn tự) Những không gian chùa chiền ấy được Ngô
Thì Lữ vẽ lên trong những vần thơ giản dị của mình giống như những bức tranh thiên nhiên đẹp một cách thanh tao, thoát tục
Tự coi mình là một kẻ du tử, chính Ngô Thì Lữ cảm thấy mình rất may mắn được một lần đến thăm chùa Phi Hà – một địa danh nổi tiếng nhất vùng Nam Sở, Trung Hoa mà ông từng được nghe danh từ lâu:
Đệ nhất thiên danh quán Sở nam, Đăng lâm tuân thị cổ danh lam
Chân tiên di tích tồn thâm động, Thọ Phật thê thần bạng thúy lam
Biến mịch sơn nham quan cổ triện,
Trang 36Lãng phi bối diệp khán điêu đàm
(Tiếng tăm đứng đầu cả vùng nam Sở/Trèo lên thì quả thật là một danh lam cổ./Dấu vết tiên còn sót lại trong hang sâu,/Thọ Phật tinh thần còn ở nơi khói biếc./Tìm khắp vách núi đá, xem chữ triện cổ,/Mở xem kinh Phật, thấy những điều còn ghi lại)
(Đề Phi Hà tự)
Đôi khi trong thơ vịnh cảnh chùa, Ngô Thì Lữ dường như đã thể hiện một cách giản dị bằng ngôn ngữ thi ca quy luật sinh sinh hóa hóa, biến ảo vô thường, tự nhiên, không hình tướng của đạo Phật, khiến cho bài thơ vịnh như
có thêm màu sắc tôn giáo, triết học:
Nguyệt tự đoàn minh, hoa tự khai;
Như Lai vô khứ diệc vô lai
Tướng kim khởi tất lưu thần xá, Muội hỏa hoàn ưng hóa kiếp hôi
(Trăng tự sáng tròn, hoa tự nở;/Đức Phật Như Lai không đi, cũng không đến./ Sắc tướng vàng há rằng nhất định phải lưu lại nơi thờ thần,/ Ngọn lửa Tam muội lại hóa kiếp thành tro)
(Du Tương Sơn)
Đó chính là nét tương đồng giữa cảm nghiệm về “dư ảnh” đức Phật giữa mây núi chùa Tương Sơn của Ngô Thì Lữ với cảm nghiệm của Ngô Thì Nhậm khi lên chùa Tương Sơn gần hai chục năm trước:
Khâm khâm bảo tháp truyền đăng xứ, Ước lược kim tiên trác tích thu
Thiền quả sắc không vân nhiễu tụ, Tuế hoa kim cổ thạch lâm lưu
Trang 37(Tháp báu chon von là nơi truyền đạo,/Tiên vàng thấp thoáng là khi trụ trì./Đạo thiền “sắc” “không” mây vờn quanh núi,/Tháng năm xưa nay, đá kề bên sông)8
(Tương Sơn tự ký thắng)
Vậy là cùng một chặng đường đi sứ, cùng ngắm cảnh vật trên đường, nhưng mỗi người trong Ngô gia đứng ở góc độ khác nhau nên có sự nhìn nhận, ghi chép và miêu tả có đôi phần khác nhau, tạo nên sự phong phú, đa dạng cho dòng thơ đi sứ của Ngô gia văn phái Điều cần nhấn mạnh là, phần
thơ vịnh cảnh trong Ngô Sào thi tập cũng có rất nhiều cảnh đẹp, có ánh trăng,
sông nước, hoa cúc vàng mùa thu, tiếng chuông chùa và không gian tĩnh lặng chốn chùa chiền thanh u như ta vẫn gặp nhiều trong thơ ca cổ điển, nhưng trong mảng thơ đề vịnh thiên nhiên này cũng có không ít những khung cảnh
cụ thể rất riêng của cả Việt Nam lẫn Trung Hoa Đó cũng có thể coi là sự tiếp nối của Ngô Thì Lữ vào nét riêng của Ngô gia mà nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh từng nhấn mạnh: “Vì tính cụ thể cá biệt như vậy nên thơ đề vịnh
thiên nhiên của Ngô gia văn phái tuy có bớt đi tính uyên áo, sách vở nhưng lại
tươi tắn, quen thuộc, sinh động sắc màu cuộc sống đời thường và cũng không
ít nỗi niềm suy tư thế sự Đó cũng là một điều kiện đạt để tới tiêu chuẩn thơ
phải “giản dị”, phải “thực” và “để tỏ lòng” của Ngô gia” [73, tập I, tr 40]
2.2.1.2 Thơ vịnh sử
Không chỉ miêu tả các danh thắng thiên nhiên, Ngô Thì Lữ còn làm thơ
vịnh sử Phần thơ vịnh sử của ông trong Ngô Sào thi tập đề là “Ngũ thủ”,
nhưng thực chất có tới 6 bài thơ vịnh sử Tuy số thơ vịnh sử không nhiều so với tổng số 38 bài của cả tập thơ, song ít nhiều cũng cho thấy ông là người có hứng thú với sử, và có lẽ điều này ông chịu ảnh hưởng từ ông nội (Ngô Thì Sĩ) và bác cả (Ngô Thì Nhậm), cũng là sự tiếp nối truyền thống “trọng sử chuộng văn” của dòng họ
8
Dựa theo bản dịch Ngô Thì Nhậm toàn tập (Lâm Giang – Nguyễn Công Việt chủ biên),
tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005
Trang 38Chúng ta đều biết thơ vịnh sử là một bộ phận trong dòng thơ đề vịnh,
đề tài được gợi lên từ cảm hứng lịch sử Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, khác với một tác phẩm sử biên niên hay một tác phẩm sử học trong đó tính biên niên, tính nghiêm cẩn của sử bút được đề cao hàng đầu, thơ vịnh sử dùng hình tượng văn học và ngôn ngữ thi ca để đánh giá và bình luận về một nhân vật hoặc một sự kiện có thật trong lịch sử nhưng đã có độ lùi về thời gian Nhân vật, sự kiện trong thơ vịnh sử là đối tượng thưởng thức của tác giả, được lựa chọn theo cảm hứng riêng của chính tác giả; thông qua quá trình vịnh, tác giả luận bàn, đánh giá, thể hiện cách nhìn của mình về nhân vật hay
sự kiện lịch sử ấy, đồng thời rút ra bài học, gửi gắm quan điểm nhân sinh, chí hướng, cảm khái của chính mình “Làm thơ vịnh sử chủ yếu để gửi gắm cái ý
khen chê” (Việt giám vịnh sử tập tự) là như vậy Thơ vịnh sử của Ngô Thì Lữ
cũng không phải là ngoại lệ
Khảo sát thơ vịnh sử của Ngô Thì Lữ, chúng tôi thấy đó là những bài rất ý nhị kín đáo, không chỉ rõ đối tượng vịnh sử là lịch sử của thời kỳ nào, cũng không rõ vịnh về nhân vật, sự kiện nào Theo quan sát của chúng tôi, bài
thơ vịnh sử số 3 có nhắc đến Quy Nhơn, thành Phú Xuân, lại có câu “Dĩ thập
tam tuyên dịch nhất thành” cho thấy đây có lẽ là thơ vịnh sử Việt Nam vì
Tuyên vốn là một đơn vị hành chính của nhà Lê; hơn nữa trong bài số 6 lại
cũng nhắc đến núi Tản, sông Lô Mặt khác, trong Hoàng Việt Long hưng chí,
Ngô Giáp Đậu (1853 –?) một tác gia đời sau của dòng họ Ngô Thì khi ghi chép về những trận giao tranh cuối cùng giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn đã từng có những dòng ghi chú rất rõ về xuất xứ 3 bài thơ vịnh sử của Ngô Thì Lữ: “Nguyễn Quang Diệu bắt đầu đánh thành Bình Định tháng 12 năm Kỷ Mùi (1799) đến tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802) phải rút lui, tất cả là hai mươi tám tháng Trải qua bao trận đánh gian khổ, đến bây giờ quan quân Nam triều lại thu phục thành Bình Định Đời sau, Hiệp trấn Hải Dương là Ngô Thì Lữ cảm tác thơ vịnh sử có làm ba bài tứ tuyệt9”[45, tr.1019 -1020] Cũng trong
Hoàng Việt Long hưng chí, Ngô Giáp Đậu đã ghi rõ xuất xứ bài thơ vịnh sử
9
Tức là bài vịnh sử số III, IV, V
Trang 39số 6: “Tiếp được tin thắng trận báo về, Thế Tổ liền đốc suất quân ngự doanh xuất phát, vượt sông Gianh… Quân bộ báo tin tả quân Lê Văn Duyệt và hậu quân Lê Chất đã tiến đánh đến sông Thanh Long, chiếm được kho Kỳ Lân, bắt được con Nguyễn Nhạc là Nguyễn Lân, tiếp đó đưa quân tiến thẳng ra Vĩnh Dĩnh Hiệp trấn Nghệ An của bên Tây Sơn thắt cổ tự tử… Quân Thế Tổ bèn vào chiếm thành Nghệ An Thơ vịnh sử của Ngô Thì Lữ có bài Đường
luật như sau: “Bình Tây tướng sĩ vượt Minh Linh…”10 [45, tr.1034-1035] Từ những lý do trên, chúng ta càng có cơ sở khẳng định thơ vịnh sử của Ngô Thì
Lữ là thơ vịnh Nam sử
Trong 6 bài thơ vịnh sử của Ngô Thì Lữ có hai bài thơ đầu là thơ vịnh nhân vật (không rõ là ai) Bài Vịnh sử I thể hiện rõ ý ngợi ca khí tiết, tinh thần trung nghĩa của một võ tướng – người anh hùng chiến bại trong một cuộc chiến không cân sức Được ví như một cây gỗ đơn độc không thể “chống được ngôi nhà lớn nghiêng đổ”, người anh hùng ở đây vì mối thâm thù xã tắc, không chịu đội trời chung với kẻ thù nên đã ung dung chọn cái chết vì nghĩa
để bảo toàn khí tiết Bài thơ gợi nên vẻ đẹp vô cùng bi tráng, là biểu tượng của nhân cách theo quan niệm đạo đức của nhà nho:
Nhất mộc nan chi đại hạ điên, Thung dung tựu nghĩa tiết câu tuyền
Hải sơn hữu ước cam đồng huyệt,
Xã tắc thâm cừu khẳng cộng thiên
(Một cây gỗ khó mà chống được ngôi nhà lớn nghiêng đổ,/Ung dung chết vì nghĩa, khí tiết thảy vẹn toàn./Hẹn bể thề non, cam lòng chết chôn một huyệt,/Vì mối thâm thù của xã tắc, há đội chung trời)
(Vịnh sử, I)
Bài thơ vịnh sử thứ hai dường như là một sự khẳng định khác về sự bất
tử của tinh thần, coi danh tiết con người có thể sánh với sự sáng trong, cao cả,
Trang 40
vĩnh cửu của trăng sao Ở đây có lẽ nhà thơ muốn ví hình ảnh tinh thần của một người phụ nữ đã tồn tại cùng với ngôi võ miếu sừng sững:
Chính khí bất kham khu xác hóa, Cao danh trực dữ nhật tinh huyền
Đĩnh nhiên vũ miếu giai nhi phụ, Bào huyết chi trung giác độc hiền
(Chính khí không chịu tan biến như thân xác,/Danh tiết cao vời sánh cùng nhật nguyệt./Võ miếu sừng sững, có người con gái tốt,/Trong chỗ ruột thịt chỉ thấy riêng người ấy là tài giỏi)
(Vịnh sử, II)
Bốn bài thơ vịnh sử sau rõ ràng là thơ vịnh Nam sử, trong đó có nhấn mạnh đến sự thực lịch sử là cuộc chiến thu lại đất cũ, chuyện kinh đô Phú Xuân và thành Quy Nhơn, việc “bóc lột kẻ vô tội để làm tàu chiến”, chuyện
“suốt năm lênh đênh trên biển”, và “hàng nghìn chiến hạm vượt ra ngoài cửa biển”… Ở các bài thơ vịnh sử này tinh thần đánh giá, phê phán được thể hiện
rõ ở những câu hỏi, ở lập luận có tính kết buộc: “thiêu hết máu mỡ của muôn nhà”; nhà thơ cũng ngầm bày tỏ nỗi thương cảm người dân vô tội và muôn nhà bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến Hơn nữa, tình thế rối ren, một số diễn biến chi tiết/ sự kiện cụ thể còn được Ngô Thì Lữ thể hiện trong bài vịnh sử số VI:
Bình Tây tướng sĩ độ Minh Linh
Lô Tản sơn hà khởi chiến tranh
Thất trận dĩ văn phu đế tử, Tiệt lưu phương thả tiệt dân đinh
Ác trù chấp chính tiên thâu quốc, Họa bính tướng quân tái khí thành
(Tướng sĩ bình Tây vượt sông Minh Linh,/Núi Tản sông Lô xảy ra chiến tranh /Nghe tin thất trận, con vua đã bị bắt làm tù binh,/Ngăn được dòng sông mới có thể ngăn được dân đinh./Bày mưu chấp chính thế mà để mất nước trước tiên,/Tướng quân như bánh vẽ, bỏ mất thành)