NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ .... Theo thống kê của Hội Liên hiệp phụ nữ LHPN huyện và phòng Lao động – Thương binh và xã hội h
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUYÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS LÊ THỊ HOÀI THU
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Lê Thị Hoài Thu
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Quyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Lê Thị Hoài Thu là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm và tất cả các thầy, cô trong Khoa Công tác xã hội- Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Học viện
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo huyện Quốc Oai, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Quốc Oai, Hội Phụ nữ huyện Quốc Oai, Ban chỉ đạo giảm nghèo 21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẨU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ 12
1.1 Lý luận về nghèo và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 12
1.2 Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 18
1.3 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài 21
1.4 Cơ sở pháp lý về hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 26
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 31
2.2 Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội 34
2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 47
Chương 3 ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 57
3.1 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc giảm nghèo bền vững đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 57
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 70
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ BẢNG
Bảng 2.1 Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ của Huyện Quốc Oai- Hà Nội 32
Bảng 2.2 Kết quả thống kê mức độ tham gia của phụ nữ nghèo đơn thân vào các tổ chức, Đoàn – Hội tại Huyện Quốc Oai, Hà Nội 34
Bảng 2.3 Nội dung sinh hoạt nhóm đối với phụ nữ 38
Bảng 2.4 Nhu cầu phụ nữ đơn thân và ưu tiên thực hiện 39
Bảng 2.5 Hình thức tham vấn được phụ nữ đơn thân lựa chọn 40
Bảng 2.6 Nội dung tham vấn nhóm mà phụ nữ nghèo đơn thân đã được tiếp cận 41
Bảng 2.7 Mức độ hài lòng của hoạt động tham vấn tâm lý trong nhóm 42
Bảng 2.8 Các yếu tố cần cải thiện để nâng cao hiệu quả tham vấn tâm lý 43
Bảng 2.9 Nội dung truyền thông, nâng cao nhận thức đã tổ chức cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ năm 2017 tại huyện Quốc Oai 46
Bảng 2.10 Trình độ học vấn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 48
Bảng 2.11 Cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ 49
Bảng 3.1 Mô tả thành phần nhóm 61
BIỂU Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động vay vốn từ các hình thức nhóm 37
Biểu đồ 2.3 Số buổi truyền thông, nâng cao nhận thức cho phụ nữ đơn thân nghèo nuôi con nhỏ qua các năm 45
Biểu đồ 2.4 Trình độ của cán bộ xã hội 51
Biểu đồ 2.5 Đánh giá năng lực làm việc của nhân viên công tác xã hội 52
HÌNH Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow 23
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Tương tác thành viên trong nhóm PNNĐT nuôi con nhỏ 67
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều hướng tới mục tiêu bình đẳng, bác ái Trong những mục tiêu đó, bình đẳng giới luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu và được đầu tư nhiều mặt Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra khá phổ biến ở hầu khắp các khu vực, các quốc gia và diễn ra ở tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nạn nhân của bất bình đẳng giới chủ yếu là phụ nữ Họ phải gánh chịu những quan niệm, định kiến bất công và bị phân biệt đối xử trong đời sống xã hội
Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của nho giáo và chế độ phong kiến, vì vậy, từ xa xưa tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người Việt Đảng và nhà nước ta đang nỗ lực đổi mới, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới bằng cách đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện và
cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động; hướng tới giải phóng người phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nước công bằng, văn minh
Có thể thấy, trong những năm qua, phong trào phụ nữ và bình đẳng giới của nước ta
đã đạt được những thành tựu rực rỡ Phụ nữ Việt Nam đã có những bước trưởng thành và phát triển mạnh mẽ, có những đóng góp to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá- xã hội, khoa học – công nghệ, xây dựng Đảng, Chính quyền và hợp tác quốc tế Nhận thức xã hội về bình đẳng giới được nâng lên Phụ nữ được tôn trọng
và bình đẳng hơn, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càng được cải thiện Bình đẳng giới của Việt Nam được Liên hiệp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình phụ
nữ và công tác phụ nữ còn nhiều mặt hạn chế, đồng thời lại có những vấn đề mới đặt ra với nhiều thách thức Phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội có việc làm
và thu nhập do trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp còn thấp, phụ nữ thiếu việc làm, di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng Ở miền núi, vùng sâu, xa, tỷ lệ phụ nữ mù chữ và phụ nữ nghèo còn cao
Trang 8“Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng” là quy luật bao đời nay vẫn vậy, là người phụ nữ, ai cũng mong muốn có một mái ấm gia đình hạnh phúc, có một người chồng để sẻ chia, để được nương tựa, được sống đúng nghĩa một người vợ, người mẹ Nhưng đâu phải ai cũng được hưởng sự viên mãn, tròn trịa ấy, có những người đã có chồng nhưng lại ly hôn hoặc chồng mất sớm phải nuôi con một mình, hay có những chị mang trên mình một khiếm khuyết nào đó, hoặc do “duyên phận
lỡ làng”, “quá lứa nhỡ thì”, họ chấp nhận không xây dựng gia đình nhưng lại khao khát được thực hiện thiên chức của một người mẹ, vì vậy họ quyết định lựa chọn có con với một người đàn ông “dấu mặt” Những người phụ nữ này luôn phải chịu những định kiến xã hội, bị coi là “hư hỏng”, “không chồng mà chửa”, phải chịu sự soi mói, khinh thường và dị nghị của những người xung quanh,… Tất cả những phụ
nữ ấy đều là những phụ nữ đơn thân nuôi con, họ gặp vô vàn những khó khăn trong cuộc sống Trong hoàn cảnh “một vai hai gánh”, người phụ nữ đơn thân phải gồng mình lên để bươn trải kiếm sống không chỉ để nuôi bản thân mình mà còn nuôi con Không chỉ là một người mẹ đơn thuần mà họ còn phải gánh vác cả trách nhiệm của người chồng, người cha trong gia đình Ngày nay, quan niệm về người phụ nữ đơn thân không còn quá khắt khe như trước, song vẫn còn đó vô vàn những khó khăn mà họ phải đối mặt Đây là đối tượng rất cần sự quan tâm, trợ giúp của cộng đồng, xã hội để có thể vượt lên khó khăn, vượt lên chính họ, hòa nhập cộng đồng Trách nhiệm ấy không chỉ thuộc về xã hội hay một tổ chức nào đó, mà nó đã trở thành một trong những lĩnh vực mà ngành Công tác xã hội (CTXH) cần quan tâm
để có những giải pháp can thiệp, hỗ trợ hiệu quả nhất
Huyện Quốc Oai, thành phố (TP) Hà Nội là một huyện ngoại thành, nông nghiệp vẫn là nguồn nhập chủ yếu và còn mang nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ” Theo thống kê của Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) huyện và phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện, tính đến năm 2016, toàn huyện có hơn 400 phụ
nữ đơn thân nuôi con nhỏ, trong số đó có tới 121 phụ nữ thuộc diện hộ nghèo {đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân (PNNĐT) nuôi con nhỏ} [25], họ đang gặp vô vàn những khó khăn và đây là một nhóm yếu thế trong xã hội rất cần được nhìn nhận và quan tâm đúng mực, cần được nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học và
Trang 9bài bản để từ đó có thể đưa ra các giải pháp, mô hình hỗ trợ hiệu quả và mang tính bền vững
Với vai trò là một công chức cấp xã phụ trách mảng Lao động – thương binh,
xã hội của địa phương tác giả nhận thấy bản thân cần có trách nhiệm với đối tượng mình đang quản lý, sử dụng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù ngành CTXH để hỗ trợ nhóm PNNĐT nuôi con nhỏ vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Công tác xã hội
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu đề tài
Trong các nhóm phụ nữ yếu thế ở Việt Nam hiện nay thì nhóm PNNĐT là nhóm ít nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ phía cộng đồng, xã hội Trong các nghiên cứu khoa học xã hội thì vấn đề phụ nữ đơn thân nói chung và phụ nữ đơn thân nuôi con cũng ít được bàn tới Vấn đề này chỉ được đề cập đan xen trong các công trình nghiên cứu về phụ nữ nông thôn, các nghiên cứu về ly hôn và các công trình nghiên cứu về nhóm phụ nữ nghèo Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, tác giả nhận thấy rằng tính đến thời điểm hiện nay những nghiên cứu riêng về phụ nữ đơn thân ở Việt Nam chỉ có một vài nghiên cứu, ngoài ra chủ yếu là các bài viết trên các tạp chí và các bài báo
2.1 Những nghiên cứu về quyền của phụ nữ
Phát biểu tại diễn đàn “Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững”, Chủ nhiệm
Ủy ban các vấn đề xã hội Trương Thị Mai nhấn mạnh: “Phụ nữ phải gánh chịu ảnh hưởng của nghèo đói nhiều hơn nam giới và họ chính là những người nghèo nhất trong số những người nghèo” (Ngày 02/6/2008, Diễn đàn Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững tại Hà Nội, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội), chính vì vậy, những nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình, xóa đói giảm nghèo bền vững trong những năm gần đây đã được thực hiện rất nhiều [1]
“Quyền của phụ nữ” – khía cạnh được đề cập đến ở nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp luật, góc nhìn xã hôi, vấn đề an sinh và quyền con người Về vấn đề này
Trang 10có một số công trình nghiên cứu nổi bật như luận văn thạc sĩ “Quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Mai Hiên – khoa luật trường Đại học
Quốc gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về quyền của phụ
nữ và pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam Phân tích thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về các quyền của phụ nữ Việt Nam trong một số lĩnh vực như chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế….Đề xuất một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về quyền của phụ nữ và những giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay [3]
Cũng đề cập đến vấn đề quyền của phụ nữ, Thông tấn xã Việt Nam có bài
viết “LHQ kêu gọi gia tăng quyền cho phụ nữ vùng nông thôn” (Đăng tải ngày
16/12/2012) đã phát động thông điệp khẳng định việc không ngừng mở rộng quyền và khả năng của phụ nữ nông thôn Ngoài ra thông điệp của ông Banki-
moon – Tổng thư kí LHQ cũng đã khẳng định: “Trách nhiệm giải quyết tình trạng phân biệt đối xử đang thuộc về mọi quốc gia, mọi dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, phải làm sao để phụ nữ có được tối đa quyền phát triển”, việc này có ý
nghĩa đặc biệt to lớn trong việc xóa bỏ nghèo đói bần cùng và tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ, bất bình đẳng giới và nó cũng rất có ý nghĩa khi mà hầu hết những người phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ ở những vùng nông thôn đều phải chịu sự phân biệt đối xử này [15]
Quyền của phụ nữ được đề cập đến trong “Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, bên cạnh những điều khoản thể hiện quyền và lợi ích của
công dân nói chung, hiến pháp cũng có những quy định cụ thể về việc đảm bảo quyền và lợi ích cho đối tượng phụ nữ Đây là căn cứ để chúng ta có thể trợ giúp cho những đối tượng là phụ nữ đơn thân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cũng như việc bảo vệ các lợi ích chính đáng của họ Cụ thể, trong điều 40 của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định “Nhà nước, xã hội và mọi công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc cho bà mẹ và trẻ em”; trong điều 52, chương 5 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Hay tại điều 63 của chương này cũng khẳn định: “Công dân nữ và nam có
Trang 11quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ
nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ
có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công
ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình
độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ” [27]
2.2 Nghiên cứu về chính sách đối với phụ nữ
Chính sách xã hội được coi như hành lang pháp lý trong việc trợ giúp cho
phụ nữ đơn thân Cuốn sách “Chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn – Quá trình xây dựng và thực hiện” của tác giả Lê Thi, NXB khoa học xã hội, năm 1998
đã phân tích, lý giải và chỉ ra yêu cầu cần phải có những chính sách xã hội dành cho đối tượng là phụ nữ nông thôn Trong đó, tác giả chỉ ra những điều kiện thiệt thòi của phụ nữ đơn thân và khuyến nghị với các nhà hoạch định chính sách cần phải lưu
ý đến các vấn đề như: Chế độ ưu đãi đối với những nữ thanh niên xung phong đang sống cô đơn; chính sách ưu tiên, hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho phụ nữ góa (chồng
đã từng tham gia phục vụ kháng chiến); kiểm tra, thực thi các điều luật về Hôn nhân gia đình để đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ sau ly hôn, ly thân [12]
2.3 Những nghiên cứu về phụ nữ đơn thân
Phụ nữ đơn thân có rất nhiều loại hình: Đơn thân do chồng mất, đơn thân do
ly hôn, ly thân, đơn thân do bị chồng ruồng bỏ… Đối với mỗi một loại hình người phụ nữ đơn thân lại có những hoàn cảnh và vấp phải những khó khăn khác nhau
Trong cuốn sách “Ly hôn – nghiên cứu trường hợp Hà Nội” của Trung tâm nghiên
cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, NXB Khoa học xã hội, năm 2002 đã chỉ ra hậu quả mà ly hôn để lại phần nhiều ảnh hưởng đến phụ nữ và con cái của họ Nghiên cứu đã mô tả thực trạng cuộc sống cũng như tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng của phụ nữ đơn thân nuôi con sau ly hôn qua một số trường hợp điển cứu [20]
Trang 12Nghiên cứu tiếp theo mà tác giả muốn đề cập đến là cuốn sách “Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” của Trung tâm nghiên cứu Khoa
học về Gia đình và Phụ nữ Cuốn sách là công trình nghiên cứu GS Lê Thi về phụ
nữ đơn thân ở Việt Nam Tác giả công trình đã tập trung làm rõ các vấn đề như: Phụ
nữ đơn thân - họ là ai; những quan niệm, định kiến xung quanh phụ nữ đơn thân, thực trạng cuộc sống của họ, những khó khăn mà những người phụ nữ đơn thân phải đương đầu Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm lý và nhu cầu của người phụ nữ đơn thân Đặc biệt, nghiên cứu đã dành riêng một phần để tìm hiểu và đánh giá về vai trò của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc hỗ trợ những đối tượng này [13]
Cuộc sống của những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam trong bối cảnh đất nước những năm 80, đầu 90 cũng được trình bày
khá chi tiết trong cuốn sách “Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của Trung tâm
nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ (xuất bản năm 1996) Đây là kết quả nghiên cứu của
dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, bắt đầu tiến hành từ năm 1989, dưới sự tài trợ của tổ chức SAREC của Thụy Điển Các tác giả đã đi sâu phân tích từng loại hộ gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng đó phụ nữ góa bụa, ly hôn,
ly thân, bị chồng ruồng bỏ, không có chồng nhưng có con…, điều kiện sinh sống, hiện trạng kinh tế và đời sống tình cảm của họ, những khó khăn mà họ gặp phải, bên cạnh đó có sự so sánh với các gia đình đầy đủ cả vợ và chồng Theo các tác giả,
ở khu vực nông thôn miền núi phía Bắc Việt Nam, phần lớn số người được hỏi cho rằng vấn đề khó khăn về kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình, nhất là trong việc chăm sóc, nuôi dậy con cái [19]
2.4 Những nghiên cứu về phát triển kinh tế đối với phụ nữ, phụ nữ đơn thân
Một nghiên cứu khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng” do trung tâm nghiên cứu khoa học
về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006 Đề tài tập trung nghiên cứu cứu
cụ thể: Đặc điểm của khu vực nghiên cứu (đồng bằng sông Hồng) và vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh vấn đề vai trò của phụ nữ nông thôn trong đổi mới kinh tế Các nội dung nghiên tế nông thôn và cụ thể trong phát triển kinh tế hộ gia đình ;
Trang 13Những khó khăn và thuận lợi đối với phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế gia đình; Đánh giá tiềm năng của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn và một số khuyến nghị cho hoạch định chính sách đối với phụ nữ khu vực nông thôn [21]
Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trường hợp
hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 2008, đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương Luận văn đã làm rõ được hoạt động của các đoàn thể với công tác xóa đói giảm nghèo đặc biết là Hội Liên hiệp phụ nữ của hai xã Đồng thời, luận văn đã đưa
ra được một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức quần chúng trính chị - xã hội trong hoạt động xóa đói giảm nghèo tại địa bàn xã Xuân Phương
và xã Cổ Nhuế [4]
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm Ly với đề tài: “Phụ nữ nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến lược thoát nghèo” (năm 2010) đã phân tích thực trạng đời sống của phụ nữ nghèo ở thành phố
Vinh, thu thập các nguồn dữ liệu định tính và định lượng cần thiết liên quan và tìm hiểu các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng nghèo của phụ nứ nghèo Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra được các chiến lược mà họ đã và đang sử dụng để nỗ lực đưa bản thân và gia đình thoát nghèo Luận văn đã dự báo được các xu hướng hành
vi tìm cơ hội thoát nghèo của phụ nữ nghèo trong hiện tại và tương lai [7]
Đối với đề tài phụ nữ đơn thân nghèo, có thể kể đến đề tài “Thực trạng công tác
hỗ trợ phụ nữ đơn thân phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bá Xuyên, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Chu Thị Thu Trang, trường Đại học Khoa học –
Đại học Thái Nguyên trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Qua khảo sát, tìm hiểu cuộc sống của phụ nữ đơn thân tại xã Bá Xuyên, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên cho thấy PNĐT là một trong những nhóm phụ nữ yếu thế, gặp rất nhiều vấn đề khó khăn Vấn đề nổi bật mà các hộ gia đình phụ nữ đơn thân ở đây gặp phải là những khó khăn về kinh tế Mặc dù chính quyền địa phương đã có rất nhiều nỗ lực trong hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân trên địa bàn xã nói riêng, nhưng tỷ lệ nghèo và
Trang 14cận nghèo trong nhóm phụ nữ đơn thân năm 2012 vẫn chiếm trên 40% Để giúp họ thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đòi hỏi phải có sự chung tay giúp sức của cả cộng đồng, xã hội Các nguồn lực hỗ trợ từ phía cộng đồng sẽ tạo cơ hội và điều kiện
để họ nâng cao năng lực phát triển kinh tế, phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc dù đó là một gia đình khuyết thiếu [18]
Như vậy, tất cả các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ đơn thân gặp phải rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và họ nghèo về nhiều mặt: nghèo về tinh thần, nghèo
cả về vật chất Có rất nhiều dạng rất nhiều loại hình: Đơn thân do chồng mất, đơn thân
do ly hôn, ly thân, đơn thân do bị chồng ruồng bỏ, tất cả đều vô cùng khó khăn và họ
có mặc cảm, tự ti với cuộc sống hiện tại Các nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp giúp phụ nữ đơn thân phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo, khẳng định quyền làm chủ cuộc sống của họ Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu đi sâu vào khai thác nhóm phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài hướng vào giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, CTXH, CTXH nhóm, CTXH nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, lý thuyết ứng dụng CTXH nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc can thiệp với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích thực trạng công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Trang 15- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong can thiệp, trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
- Đề xuất biện pháp góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trong địa bàn nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
CTXH nhóm đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiễn huyện Quốc
Oai, TP Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là chủ đạo, bao gồm: hoạt động tham gia vào các tổ chức Đoàn – Hội, hoạt động tham vấn tâm lý, hoạt động trợ giúp nuôi dạy con cái
Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội (gọi tắt là phụ nữ nghèo đơn
thân nuôi con nhỏ Số lượng PNNĐT được nghiên cứu là 121 người Đây là nhóm đối
tượng chính mà đề tài hướng tới Ngoài ra, khách thể nghiên cứu còn có lãnh đạo Hội Phụ nữ cấp xã, cấp huyện, các lãnh đạo xã, thị trấn tại huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong
can thiệp, hỗ trợ PNNĐT nuôi con nhỏ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:
Trang 16- Đọc, nghiên cứu các tài liệu, sách báo, các đề tài luận văn thạc sỹ, tiến sỹ… về công tác xã hội nhóm, về nhu cầu, đặc điểm của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ… để khái quát những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Các báo cáo: Báo cáo tổng kết hàng năm của Hội phụ nữ về công tác xã hội,
về chính sách giảm nghèo cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ nhằm bổ sung cho thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Các chương trình hỗ trợ giảm nghèo cho cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Tác giả xây dựng bảng hỏi với câu hỏi đóng và câu hỏi mở soạn sẵn, người điều tra bảng hỏi, hướng dẫn cách trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bản Mục đích nhằm thu thập thông tin khảo sát từ phía người được hỏi bằng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn
+ Cỡ mẫu: 121
+ Cách thức chọn mẫu: chọn toàn bộ 121 phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ thuộc
hộ nghèo trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
+ Địa bàn khảo sát: 21 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với nhóm, là những cuộc đối thoại được lặp
đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin cá nhân của những phụ nữ nghèo đơn thân khác nhau để so sánh kết quả bổ trợ thêm cho các kết quả nghiên cứu
từ điều tra viết
Thực hiện phỏng vấn sâu với 30 đối tượng gồm: 21 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ, 03 thành viên Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp huyện, 03 trưởng Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp xã, 03 Chủ tịch Hội Phụ nữ cấp xã
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Dưới góc độ tiếp cận của lý thuyết xã hội học, lý thuyết công tác xã hội đặc biệt
là CTXHN cùng với việc sử dụng các kỹ năng và các phương pháp thu thập, phân tích
Trang 17thông tin, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm nguồn lý luận phong
phú cho việc ứng dụng các lý thuyết và các phương pháp này trong thực tiễn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trình CTXHN với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ dựa trên khảo sát chính nhu cầu của họ Việc ứng dụng tốt tiến trình này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho họ bởi thông qua đó họ
có cơ hội bày tỏ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, những tâm tư nguyện vọng cũng như những đường hướng để vươn lên XĐGN, ổn định cuộc sống
Nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho địa phương vận dụng, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo cho phụ nữ Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho các
tổ chức hoạt động vì cộng đồng trong việc định hướng can thiệp giảm nghèo cho các nhóm yếu thế trong xã hội đặc biệt là nhóm phụ nữ
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về công tác xã hội với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Chương 2 Thực trạng Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Chương 3: Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ từ thực tiện huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ 1.1 Lý luận về nghèo và phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực"
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại."
Nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế"
Xác định giàu nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau
Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, gồm 2 tiêu chí là thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản [17]
Trang 19Tiêu chí về thu nhập, chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/ người/ tháng; khu vực thành thị 900.000 đồng/ người/ tháng Chuẩn cận nghèo khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/ người/ tháng; khu vực thành thị 1.300.000 đồng/ người/ tháng
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm 5 dịch vụ:
y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: Tiếp cận các dịch vụ y tế; BHYT; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh;
sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Tiếp cận theo hướng đa chiều, những người ở nông thôn có thu nhập từ 700.000 đồng trở xuống, hoặc thu nhập từ 700.000 đồng đến 1 triệu đồng nhưng thiếu 3 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản sẽ được coi là nghèo; đối với dân cư sống tại thành thị cũng tương tự, người nghèo là người có thu nhập từ dưới 900.000 đồng, hoặc thu nhập từ 900.000 đồng đến 1,3 triệu đồng nhưng thiếu hụt 3 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế-xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020
1.1.2 Lý luận về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.1.2.1 Một số khái niệm
Khái niệm Phụ nữ
Đề tài sử dụng khái niệm phụ nữ như sau: “Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất
cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất
là không xấu đến những giá trị, đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này” [18]
Khái niệm Phụ nữ đơn thân - Phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ
Trang 20Khi nói đến khái niệm phụ nữ đơn thân ai cũng nghĩ rằng đó là một khái niệm
dễ hiểu, bởi bản thân cụm từ “đơn thân” dường như đã phản ánh bản chất của khái
niệm này Tuy nhiên, khi đi vào phân tích để đưa ra được một khái niệm cụ thể, chi
tiết thì đó lại là điều không dễ
Cũng trong một cuốn sách khác của GS Lê Thi, cuốn sách mang tên “Single women in Viet Nam” (Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam),
bà đã đưa ra một định nghĩa khá cụ thể về khái niệm phụ nữ đơn thân: “Họ là những phụ nữ chưa kết hôn hoặc đã từng kết hôn nhưng vợ chồng họ sống xa cách với nhiều lý do khác nhau” [13]
Tác giả Lê Thi chia phụ nữ đơn thân thành hai nhóm chính:
- Phụ nữ đã kết hôn: Bao gồm những người phụ nữ rơi vào tình trạng góa bụa,
ly hôn, ly thân hoặc thiếu vắng chồng trong một thời gian dài
- Phụ nữ chưa kết hôn: Những người phụ nữ không lấy chồng hay không bao
giờ lấy chồng Những người phụ nữ này lại được chia thành hai nhóm, đó là: Những người phụ nữ không lấy chồng nhưng lại có con ngoài giá thú hoặc nhận con nuôi
và những người phụ nữ sống độc thân, không xây dựng gia đình
Nếu theo cách hiểu này thì chúng ta lại đặt ra một câu hỏi: Tại sao một số người phụ nữ chưa có chồng lại xếp vào nhóm phụ nữ đơn thân? Điều này được lý giải như sau: Ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, những người phụ nữ ngoài 30 tuổi sẽ rất khó khăn trong việc kết hôn, xây dựng gia đình bởi ở độ tuổi
này người phụ nữ bị coi là già, bị gọi là những người phụ nữ “quá lứa nhỡ thì” hay còn cách gọi khác là “gái già” Những người phụ nữ này họ cô đơn về mặt tình
cảm, họ phải tự trang trải cho cuộc sống của bản thân Vì vậy, họ cũng được xếp vào nhóm phụ nữ đơn thân
Dựa vào hai khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu phụ nữ đơn thân: Là những người phụ nữ chưa lấy chồng hoặc không muốn lấy chồng, những người phụ nữ góa bụa, ly hôn, ly thân hoặc bị chồng ruồng bỏ Họ có thể có con (hay con nuôi) hoặc không có con Họ có thể sống một mình hay sống cùng con cái, gia đình, họ hàng
Tuy nhiên, đề tài chỉ đề cập đến những phụ nữ đơn thân đang nuôi con dưới 18 tuổi,
Trang 21vì vậy những người phụ nữ đơn thân không có con hoặc có con nhưng con của họ
đã ở độ tuổi trưởng thành thì không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ là một đối tượng hưởng trợ cấp Bảo trợ
xã hội ở nước ta, theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP, họ được xếp vào nhóm đối tượng Người đơn thân nuôi con nhỏ thuộc hộ nghèo [16]
Theo khoản 4 Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CPcó quy định: “Người đơn thân nghèo đang nuôi con nhỏ là người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không
có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất” [16]
Theo điểm g, h Khoản 1 Điều 6 Nghị định 136/2013/NĐ-CP áp dụng cho phụ nữ nghèo đơn thân đang nuôi con nhỏ: Người thuộc hộ nghèo không có chồng;
có chồng đã chết; có chồng mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ
nhất sẽ được hưởng trợ cấp hang tháng ở mức: Hệ số 1,0 đối với người đang nuôi 1 con (tương đương với 270.000đ/tháng); Hệ số 2,0 đối với người đang nuôi 02 con trở lên (tương đương với 540.000đ/tháng [16]
Riêng đối với thành phố Hà Nội, mức hỗ trợ cao hơn so với mức trung bình của cả nước được quy định tại NĐ 136 là hệ số 1,0 là 350.000đ/tháng, hệ số 2,0 là 700.000đ/tháng
1.1.2.2 Những khó khăn của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Một phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ gặp vô vàn khó khăn trong cuộc sống,
cả trong đời sống vật chất cũng như tinh thần Họ phải gánh lấy trách nhiệm và vai trò của cả người cha lẫn người mẹ, phải chu toàn cùng lúc công việc ngoài xã hội cũng như trong gia đình và phải gánh chịu những luồng dư luận hà khắc trong xã hội [13]
Khó khăn về kinh tế
Phụ nữ đơn thân phải làm việc nhiều hơn, điều đó khiếnhộ gặp nhiều sức ép tâm lý, cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ Đồng thời cũng lấy của họ nhiều thời
Trang 22gian mà đáng lẽ ra đó là thời gian họ dành cho con cái và bản thân mình Nỗi lo
“cơm áo gạo tiền” gây cho phụ nữ đơn thân rất nhiều áp lực và đôi khi khiến họ có
cư xử hay tác động tiêu cực đến con cái Đối với những người phụ nữ đơn thân nghèo nuôi con nhỏ, họ dựa chủ yếu vào nguồn trợ cấp Bảo trợ xã hội ít ỏi của nhà nước, họ không tự quyết định được cuộc sống của mình và rất khó để thay đổi được cuộc đời
Quá bận rộn với công việc
Là phụ nữ đơn thân, họ phải một mình lo mọi việc và không tránh khỏi bị quá tải công việc Họ phải tìm cách để xoay sở cho cuộc sống của mình, không chỉ làm việc cật lực, họ còn lo nhiều việc khác, đặc biệt là chăm con, một mình họ ghồng gánh, chèo lái gia đình Đây là những áp lực không nhỏ khiến cho những phụ
nữ đơn thân có nhiều suy nghĩ tiêu cực
Thiếu thốn tình cảm
Đây là điều có lẽ những người phụ nữ đơn thân luôn gặp phải, không tránh khỏi những lúc họ có cảm giác cô đơn chỉ có một mình, nhất là vào mỗi đêm hoặc khi chứng kiến những gia đình hạnh phúc, có vợ có chồng Dù họ có muốn hay không muốn đến với mối quan hệ mới và luôn có con ở bên cảm giác cô đơn vẫn không mất đi trong họ Hơn bao giờ hết họ vẫn muốn được chia sẻ nỗi niềm của mình và tâm sự giấu kín trong lòng, khi một mình phải lo toan tất cả mọi thứ, họ gần như không có thời gian tụ tập với bạn bè, không có sự chia sẻ đây là điều càng khiến họ luôn cảm thấy cô đơn Họ khát khao có một mái ấm trọn vẹn, và hơn ai hết, họ mong cho những đứa con của mình có một người cha như bao đứa trẻ khác
Gặp khó khăn trong việc giáo dục con cái
Những đứa con của các phụ nữ đơn thân luôn gặp nhiều khó khăn khi là không có một người cha bên cạnh, trong khi những người phụ nữ ấy luôn cố gắng dành những điều tốt đẹp nhất cho con, để con thoải mái, an toàn và được yêu thương thì có những khoảnh khắc những đứa trẻ ấy thấy như bị bỏ rơi và thiếu sự quan tâm, chăm sóc Có thể chúng sẽ tỏ ra cáu giận, chán nản thậm chí là nổi loạn, những tình huống như vậy khiến những người phụ nữ đơn thân gặp khó khăn trong việc đặt ra các quy định cho con của mình Hoặc họ quá nuông chiều con để bù đắp
Trang 23cho sự thiếu thốn tình cảm của người cha thì vô tình, họ đã làm hư con cái và khó
có thể dạy dỗ chúng theo ý của họ
Khó khăn từ định kiến xã hội
Có thể nói, cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân khó có niềm vui trọn vẹn, vì từ điều kiện cuộc sống, những ứng xử, đối xử trong gia đình, cộng đồng làng xóm dễ ảnh hưởng đến tâm trạng, tình cảm, mặc cảm riêng tư của chị em Những người phụ nữ góa chồng khác với những phụ nữ không lấy chồng mà vẫn có con hoặc phụ nữ ly hôn Những từ ngữ “ế chồng, không chồng mà chửa, chửa hoang,….” Đã vô hình chung khiến cho phụ nữ đơn thân rơi vào tình trạng mặc cảm nặng nề, thiếu tự tin Những quan niệm lạc hậu trong xã hội khiến cho phụ nữ đơn thân phải chịu đựng cảnh “nước mắt chảy vào trong”
1.1.2.3 Những nhu cầu của phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Cũng giống như những người phụ nữ khác, PNNĐT nuôi con nhỏ có nhu cầu của một người phụ nữ bình thường, nhưng những nhu cầu đó ở mức cao hơn, cần thiết và cần được hỗ trợ để thỏa mãn Theo tác giả Lê Thi, có thể chia nhu cầu của PNNĐT thành ba nhóm sau: [13]
Nhu cầu nâng cao đời sống vật chất
Hơn ai hết, những người phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ mong muốn một cuộc sống đủ đầy về vật chất, đáp ứng những nhu cầu tối thiểu hàng ngày Trong đó có thể kể đến những nhu cầu cơ bản như: hỗ trợ vay vốn, học nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở, …
Nhu cầu tham vấn, tư vấn
Là một nhóm yếu thế trong xã hội và vô cùng nhạy cảm, tự ti, PNNĐT nuôi con nhỏ có những nhu cầu tinh thần rất lớn, mạnh mẽ Họ luôn khát khao một cuộc sống hạnh phúc, trọn vẹn, luôn mong muốn có một mái ấm, một chỗ dựa vững chắc cho họ và con của họ Những người PNNĐT rất cần được sẻ chia, được tư vấn tâm
lý, sức khỏe, cũng như cách thức nuôi dạy con cái Họ mong muốn xã hội nhìn nhận
họ với con mắt cảm thông chứ không phải dò xét, dèm pha Hơn ai hết, họ luôn muốn hòa nhập cộng đồng, muốn được tham gia các hoạt động xã hội như những người phụ nữ khác
Trang 24 Nhu cầu hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái
Đối với PNNĐT nuôi con nhỏ, con cái là tất cả những gì họ có được, là điều quý giá nhất của cuộc đời họ, họ có thể hy sinh tất cả để dành cho con những điều tốt đẹp nhất Họ luôn muốn bù đắp những thiệt thòi, thiếu thốn tình cảm của người cha cho con họ Tuy nhiên, chính vì sự chiều chuộng một cách thái quá đôi khi đã làm cho những người PNNĐT ấy làm lệch lạc đi những chuẩn mực trong nuôi dạy con cái Với hai vai phải gánh vác, họ rất cần có được những kiến thức, kỹ năng, phương pháp nuôi dạy con cái một cách hợp lý và hiệu quả nhất, để con cái của họ trở thành một công dân tốt, và là chỗ dựa cho họ khi về già
1.2 Công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.2.1 Một số khái niệm
Khái niệm Công tác xã hội
Năm 1970, Hiệp hội Quốc gia các CTXH – NASW(Hoa Kỳ) định nghĩa: Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng
xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu
ấy
Định nghĩa Công tác xã hội của Philippin: Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội
Theo Từ điển bách khoa ngành công tác xã hội: Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội
Từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của CTXH trên cả phương diện lý thuyết và thực hành, khoa học và nghề nghiệp chuyên môn, tiếp thu các giá trị, phân tích các định nghĩa, các quan niệm của các học giả, các tổ chức, các hiệp hội chuyên ngành ở trong và ngoài nước, có thể đưa ra một định nghĩa chung,
khái quát về CTXH như sau: “CTXH là một nghề nghiệp chuyên môn, một ngành khoa học nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng) giải
Trang 25quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững”
Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) là những người có trình độ chuyên môn, được trang bị kiến thức, kỹ năng về CTXH chuyên nghiệp và sử dụng kiến thức, kỹ năng đó trong quá trình tác nghiệp trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng) có vấn đề xã hội giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên trong cuộc sống [22]
Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Theo tác giả Nguyễn Thị Thái Lan: CTXH nhóm là một phương pháp CTXH nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm giữa các thành viên, giúp củng cố tăng cường các chức năng xã hội và khả năng giải quyết các vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành
vi và khả năng đương đầu với vấn đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực [6]
CTXH nhóm là một phương pháp trợ giúp các cá nhân thông qua hoạt động nhóm Khi tham gia vào nhóm đó, các thành viên đều là những người có cùng vấn
đề, nhu cầu, mục đích và đặc biệt họ có sự phân chia vai trò và có sự tương tác qua lại với nhau cùng với sự hỗ trợ của các CTXH, từ đó các thành viên trong nhóm có thể vượt qua khó khăn và tự vươn lên phát triển, tạo nên sự phát triển bền vững cho con người [6]
Từ những khái niệm trên, tác giả đã rút ra khái niệm về CTXH nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ là là một phương pháp trợ giúp những PNNĐT nuôi con nhỏ thông qua hoạt động nhóm Khi tham gia vào nhóm đó, các chị em có cùng vấn đề, nhu cầu, mục đích và đặc biệt họ có sự phân chia vai trò và có sự tương tác qua lại với nhau cùng với sự hỗ trợ của các CTXH, từ đó các chị em phụ nữ trong nhóm có thể vượt qua khó khăn và tự vươn lên phát triển, tạo nên sự phát triển bền vững cho chính họ
Trang 261.2.2 Tiến trình thực hiện công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm thực hiện theo quy trình thống nhất, gồm 4 bước sau: [6] Bước 1: Thành lập nhóm
Ở bước thành lập nhóm, trước hết phải đánh giá được tình hình, vấn đề, nhu cầu của các cá nhân và đặc biệt cần xác định rõ được môi trường của các cá nhân sẽ tham gia vào nhóm Môi trường của các cá nhân tham gia vào nhóm có thể xác định
là nhóm trong các cơ sở BTXH như: nhóm trẻ mồ côi, nhóm người già, nhóm người nghèo… từ đó sẽ có cách thức trợ giúp khác, và với những nhóm bên ngoài sẽ có những cách thức can thiệp nhằm đáp ứng phù hợp với tình hình, vấn đề và nhu cầu của các cá nhân Một số hoạt động cơ bản bước này là: các thành viên làm quen với nhau, bầu trưởng nhóm, đặt ra các quy tắc của nhóm…
Bước 3: Thực hiện các hoạt động nhóm
Đây là bước chính trong CTXH nhóm, bước tạo ra những thay đổi lớn Vì vậy lúc này là NVCTXH chứng tỏ khả năng chuyên môn của mình Nhân viên CTXH quan tâm đến việc chia sẻ thông tin, cảm xúc giữa các thành viên trong nhóm với nhau Đặc điểm của bước này là sự bộc lộ, mong mỏi được phản hồi trong bước này, các thành viên nhóm trao đổi thông tin về cá nhân, về công việc, tìm hiểu hành vi và ý nghĩ hành vi của nhau, bắt tay vào thực hiện các công việc cũng như lượng giá các công việc đó Nếu hướng đi chưa đúng sẽ có những điều chỉnh nhất định để đạt được mục tiêu của nhóm
Bước 4: Kết thúc – Giải quyết vấn đề và đạt mục đích
Sau khi các thành viên nhóm thực hiện các công việc đã đặt ra và họ cảm thấy thoải mái khi làm việc với nhau thì tới giai đoạn 4 là giai đoạn kết thúc và các vấn đề của nhóm được giải quyết
Trang 27Vào giai đoạn kết thúc này có nhiều trường hợp xảy ra, có thể nhóm tiếp tục duy trì, cũng có thể nhóm đã hoàn thành mục tiêu và họ có thể tan dã Tới giai đoạn cuối này có một công việc rất quan trọng, đó là hoạt động lượng giá Hoạt động lượng giá sẽ được thực hiện theo giai đoạn và khi kết thúc tiến trình CTXH nhóm Việc lượng giá giúp cho NVCTXH cũng như các thành viên nhóm nhìn lại những gì mình đã làm được, các công việc đó có đúng với mục đích đề ra không và những gì chưa làm được, nguyên nhân do đâu, cần phải rút kinh nghiệm như thế nào
1.2.3 Các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
1.2.3.1 Hoạt động thành lập các tổ chức Đoàn – hội, nhóm
Các tổ chức Đoàn – Hội, nhóm tại địa phương được thành lập là nơi sinh hoạt của các PNNĐT nuôi con nhỏ và những đối tượng khác Đây là nơi các thành viên được giao lưu, học hỏi, được thể hiện bản thân CTXH nhóm hỗ trợ cho các đối tượng thông qua các hình thức như: vay vốn để đầu tư phát triển kinh tế, tăng thu nhập; chăm sóc sức khỏe, tham vấn tâm lý, có môi trường sinh hoạt, giải tỏa tinh thần; hỗ trợ các kiến thức chăm sóc nuôi dạy con cái; đào tạo nghề, hỗ trợ việc
làm,…
1.2.3.2 Hoạt động tham vấn tâm lý
Tham vấn tâm lý là hoạt động tương tác với phụ nữ đơn thân nhằm giúp những phụ nữ này giải tỏa được cảm xúc và có những định hướng phù hợp trong cách giải quyết vấn đề khó khăn
Thông qua hoạt động tham vấn tâm lý, giúp PNNĐT vượt qua mặc cảm, nâng cao điều kiện sống, tự giải quyết được các vấn đề khó khăn trong cuộc sống, phát triển bền vững, tìm kiếm các nguồn lực và kết nối các nguồn lực,
từ đó các chị em có được cơ hội phát triển tốt hơn
Các hình thức tham vấn như: Tham vấn trực tiếp 1- 1; tham vấn nhóm; tham vấn gián tiếp: qua điện thoại, hộp thư, email, đường dây nóng, ; và các hình thức khác
Nội dung tham vấn được thể hiện như: chăm sóc con cái, hướng
Trang 28nghiệp, dạy nghề, làm kinh tế, sức khỏe, tâm tư, tình cảm,…
1.2.3.3 Hoạt động truyền thông, nâng cao năng lực nhóm
Truyền thông nâng cao năng lực nhóm là bao gồm các hoạt động trang bị kiến thức cho phụ nữ nghèo đơn thân nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết, tiếp cận thông tin và trao đổi thông tin, tăng kiến thức về xã hội và thỏa mãn nhu cầu học hỏi của mỗi cá nhân
Truyền thông nâng cao năng lực cho thành viên trong nhóm bằng nhiều hình thức như nhóm tự trang bị kiến thức bằng cách chia sẻ giữa các thành viên hoặc bằng hình thức mời những người có chuyên môn thuộc lĩnh vực liên quan đến nói chuyện, chia sẻ, tập huấn
Nội dung của các buổi truyền thông được cụ thể như: Truyền thông về kiến thức chăm sóc sức khỏe, nuôi dạy con cái; kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt; hội thảo kết hợp với giới thiệu sản phẩm từ các doanh nghiệp trên địa bàn, phổ biến pháp luật, chính sách vay vốn,…
1.3 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu đề tài
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow
Là con người trong xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và luôn phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của con người Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tuỳ theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hoá, nhận thức và vị trí xã hội của họ
Để tồn tại con người cần phải được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống, như: ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế…; để phát triển, con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định Xét cho cùng sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu của con người Việc đáp ứng các nhu cầu con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic
Trang 29psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism)
Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của
nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu cơ bản (basic needs): bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người
như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất
và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu
ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Nhu cầu cơ bản này phù hợp với quan
Trang 30điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Con người trước hết phải được đáp ứng các các nhu cầu ăn, mặc ở
Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an ninh này
thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn
Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong
muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tâm lý
Nhu cầu được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu
cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Nhu cầu của một cá
nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả, cống hiến cho cộng đồng xã hội
Thông qua lý thuyết về thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, CTXH sẽ tìm hiểu và chỉ ra hệ thống những nhu cầu của thân chủ Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầu tiên quyết, không thể thiếu quyết định hiệu quả của các hoạt động trợ giúp; việc tìm hiểu nhu cầu của nhóm thân chủ
là khâu không thể thiếu trong việc thực hành công tác xã hội
Thuyết nhu cầu của Maslow là căn cứ cho việc nhận định những nhu cầu của con người nói chung Tuy nhiên đối với mỗi đối tượng cụ thể và nhất là đối với từng cá nhân cụ thể lại có những nhu cầu khác nhau, vì họ là những cá thể độc lập với những đặc điểm riêng, nằm trong những bối cảnh không giống nhau Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên CTXH tránh được việc “đánh đồng” hay “chủ quan” khi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ Thay vào đó nhân viên xã hội cần tìm kiếm những nhu cầu thực mà đối tượng đang mong muốn được thoả mãn Đối tượng và vấn đề
Trang 31của họ được đặt vào vị trí trung tâm chứ không phải ý muốn chủ quan của cơ quan
hỗ trợ hay của nhân viên xã hội Cung cấp đúng các dịch vụ mà đối tượng mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn đề mà đối tượng gặp phải
Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn Tính nhân văn thể hiện ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân họ Tiếp cận theo thuyết nhu cầu của Maslow, nhân viên CTXH đặt những người phụ nữ nghèo đơn thân đang nuôi con được hưởng trợ cấp BTXH và những đặc điểm riêng của họ vào vị trí trung tâm Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên xã hội loại bỏ tính chủ quan khi tiếp cận và nhận diện các đối tượng Thay vào đó nhân viên xã hội cần phải lắng nghe để cảm thông một cách sâu sắc với những mong muốn của đối tượng Tính nhân văn còn được thể hiện ở việc tin tưởng vào khả năng của con người trong việc tự làm chủ những vấn đề của mình Nhân viên xã hội với cách tiếp cận theo nhu cầu luôn tin tưởng đối tượng có khả năng tự giải quyết vấn đề của chính họ Vì thế, sau khi tìm ra những nhu cầu của thân chủ, nhân viên xã hội sẽ cố gắng một cách tối đa để động viên, khích lệ thân chủ tham gia vào quá trình hiện thực hoá các nhu cầu của họ, cùng với sự hỗ trợ của các nguồn lực cần thiết
Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ đối tượng phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con:
Thứ nhất, hầu hết phụ nữ đơn thân nuôi con thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và gia đình Trong đó có những người đặc biệt khó khăn không có khả năng tự đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân nhân như việc lo
ăn, học hành, chữa bệnh cho con cái… và thậm chí có nguy cơ bị đe doạ đến sự an toàn của cuộc sống Những đối tượng này rất cần sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội
và đặc biệt là ngành CTXH
Thứ hai, việc đáp ứng các nhu cầu con người chính là động cơ thúc đẩy họ tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội Nếu không đáp ứng các nhu cầu của con người thì họ cũng mất dần động cơ tham gia đóng góp cho xã hội
Thứ ba, tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp các hỗ trợ giảm chi phí và tăng hiệu quả khi tránh được những dư thừa hay không đầy đủ khi trợ giúp cho thân chủ
Trang 321.3.2 Lý thuyết thân chủ trọng tâm
Lý thuyết thân chủ trọng tâm là một trong những lý thuyết căn bản của ngành CTXH do nhà tâm lí học người Mĩ Carl Rorgers sáng lập Lý thuyết này nhấn mạnh sự tự do, những giá trị, khuynh hướng tự chủ, sáng tạo, những kinh nghiệm và sự hài hước của con người
Lý thuyết này luôn nhìn nhận thân chủ theo một hướng tích cực, mỗi cá nhân con người trong quá trình tồn tại luôn tự hoàn thiện mình Với những người phụ nữ đơn thân, trong cuộc sống họ luôn phải đối mặt với những khó khăn thử thách, có những người còn thiếu hụt một số chức năng nhưng bản thân họ vẫn có những điểm mạnh mà họ có thể không nhận thức được, hoặc có nhưng chưa phát huy được, đó chính là tiềm năng của họ và trách nhiệm của người nhân viên Công tác xã hội là khơi dậy, phát huy những nguồn tiềm năng đó để họ có thể tự giải quyết được vấn đề của mình Đó chính là sự nhìn nhận tích cực
Lý thuyết thân chủ trọng tâm còn nhấn mạnh đến việc đặt thân chủ vào vị trí trung tâm của tiến trình CTXH, từ khi tiếp cận đến quá trình tìm hiểu, chẩn đoán, trị liệu NVXH phải luôn đặt thân chủ là mối quan tâm hàng đầu, gạt bỏ những mặc cảm, tự ti hay những cảm xúc tiêu cực Đồng thời lý thuyết này nhấn mạnh đến sự tự chủ của cá nhân, làm chủ cuộc sống NVXH chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, trợ giúp cho thân chủ trong quá trình giải quyết vấn đề, quyền quết định thuộc về thân chủ
1.4 Cơ sở pháp lý về hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo
đơn thân nuôi con nhỏ
1.4.1 Cơ sở pháp lý về phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước Bồi dưỡng, phát huy sức mạnh tiềm năng và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, luôn được thể hiện nhất quán trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, vấn đề “thực hiện nam nữ bình quyền” được xác
Trang 33định là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam Quan điểm này tiếp tục được thể hiện trong Hiến pháp 1992: “Phụ nữ có quyền và ngang quyền với nam giới trong việc tham gia bầu cử, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tham gia quản lý nhà nước và tham gia các hoạt động chính trị; công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về kinh tế”
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm về chăm lo, tạo điều kiện phát triển cho phụ nữ vẫn được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng Nghị quyết 04/NQ-TƯ của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ
nữ trong tình hình mới” đã khẳng định giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta; xác định sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình Trên cơ sở nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, Đảng đã chỉ ra những khiếm khuyết về công tác phụ nữ trong bước chuyển giai đoạn là “Còn nặng về huy động khai thác sự đóng góp của phụ nữ, mà chưa coi trọng đúng mức việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn mới” và “trong công tác chỉ đạo có nơi, có lúc còn thoả mãn về thành tựu giải phóng phụ nữ trên lĩnh vực chính trị, chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu, nội dung giải phóng phụ nữ về kinh tế – xã hội” Nghị quyết đã
đề ra: “Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam
nữ bình đẳng Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khoẻ, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu” Quan điểm này được duy trì và thực hiện trong suốt những năm đổi mới vừa qua, thể hiện hướng đi đúng trong công tác phụ nữ của Đảng
Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27 - 4 - 2007 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định vai trò quan trọng của lao động
Trang 34nữ trong sự phát triển kinh tế của đất nước Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 trong Đại hội XI của Đảng, năm 2011, đã nêu rõ mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta trong 10 năm tới, trong đó khẳng định: “Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc; Thực hiện tốt bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ” (ĐCSVN, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng, 4 - 2010)
Trong đường lối của Đảng về công tác phụ nữ, vấn đề đào tạo nghề nghiệp, tạo việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khoẻ phụ nữ được chú trọng Nhận thức được vai trò, sự đóng góp to lớn của phụ
nữ trong việc phát triển kinh tế gia đình và xã hội, các chiến lược phát triển kinh
tế của quốc gia đã tập trung hướng vào giải quyết vấn đề lao động, việc làm, việc làm có thu nhập cao và cải thiện điều kiện làm việc cho phụ nữ Đây là điều kiện
để nâng cao năng lực, trình độ mọi mặt cho phụ nữ, tạo cơ hội để lực lượng lao động nữ phát huy được tài năng của mình
1.4.2 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang có sự tác động mạnh mẽ đến đời sống của phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân nói riêng Công tác hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân và các nhóm phụ nữ yếu thế khác trong xã hội được thực hiện dựa trên các chủ trương, đường lối và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020, với mục tiêu Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên
và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
Có thể nói ở Việt Nam hiện nay các quyền tự do cơ bản của con người đã được pháp luật quy định, được tôn trọng và được bảo vệ Trong đó phải nói đến
Trang 35quyền tự do kết hôn và không kết hôn, không lập gia đình của nam nữ; quyền tự
do sinh con và nuôi con của người phụ nữ, mặc dù họ chưa lập gia đình: quyền của trẻ em sinh ngoài giá thú phải được đối xử bình đẳng như trẻ em khác
Nhưng ở nước ta do ảnh hưởng các tư tưởng lạc hậu và nguyên nhân xã hội khác, đã dẫn đến những quan niệm đánh giá khác nhau trong dư luận xã hội, khiến cuộc sống đơn thân của người phụ nữ trở thành đối tượng không bình thường dưới con mắt của gia đình, cha mẹ, cộng đồng, làng xóm, để rồi chính họ cũng có mặc cảm tự ti về thân phận mình
Mỗi phụ nữ đơn thân lại có hoàn cảnh, số phận riêng dẫn họ đến tình trạng không có người chồng bên cạnh Tuy hoàn cảnh số phận riêng của họ đa dạng, phức tạp, nhưng giữa họ lại có những nét chung bộc lộ khá rõ, từ điều kiện sinh sống đến tâm trạng nguyện vọng Nhà nước cần sớm có những chính sách hỗ trợ cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh của họ
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu chuyên biệt trong lĩnh vực phụ nữ cho thấy sự quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề phụ nữ nói chung và phụ nữ đơn thân nói riêng Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về CTXH nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Hoạt động CTXH nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ bao gồm: hoạt động
thành lập các tổ chức Đoàn – hội, nhóm; tham vấn tâm lý; truyền thông, nâng cao năng lực nhóm
Để thực hiện CTXH nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ cần áp dụng các lý thuyết như: lý thuyết nhu cầu của A.Maslow, lý thuyết thân chủ trọng tâm
Cơ sở pháp lý về hoạt động CTXH nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ, bao
gồm các cơ sở pháp lý của PNNĐT như: Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, Hiến pháp 1992, Nghị quyết 04/NQ-TƯ của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27 - 4 - 2007 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X); các cơ sở lý thuyết về
hoạt động công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ như
Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 36Việc nghiên cứu hoạt động CTXH nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các chính sách vĩ mô đối với PNNĐT nuôi con nhỏ hiện nay ở Việt Nam, ngoài ra cũng làm rõ bản chất CTXH nói chung và CTXH nhóm đối với PNNĐT con nhỏ nói riêng, từ đó áp dụng vào thực tiễn công tác phát triển kinh tế cho đối tượng trên
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NUÔI CON NHỎ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUỐC OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Qua một quá trình tách, sáp nhập, Ngày 8/5/2009, Chính phủ ra Nghị quyết
số 19/NQ-CP về việc xác lập địa giới hành chính của huyện Quốc Oai gồm có 21 đơn vị hành chính trực thuộc gồm Thị trấn Quốc Oai và 20 xã
Huyện Quốc Oai nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km Phía Đông giáp huyện Đan Phượng, huyện Hoài Đức; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình; phía Nam giáp huyện Chương Mỹ và phía Bắc giáp huyện Thạch Thất và huyện Phúc Thọ
Diện tích: 147,01 km2 Tổng dân số của huyện tại thời điểm tháng 3/2016 là
180 nghìn người, chủ yếu là dân tộc Kinh
Với vị trí địa lý đặc biệt của Huyện Quốc Oai bao gồm hai con sông là sông Tích Giang và sông Đáy cùng với diện tích đất nông nghiệp trên 10.000 ha, diện tích đất núi là 2.847 ha Đất nông nghiệp nông hóa thổ nhưỡng phù hợp với việc sản xuất lương thực - thực phẩm, trồng cây lương thực, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và phát triển kinh tế nông nghiêp
Là một huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, có hệ
thống giao thông rất thuận lợi, có hai tuyến đường giao thông trọng yếu chạy qua là Đại Lộ Thăng Long và đường Hồ Chí Minh cùng với nhiều dự án các khu công nghiệp như: Bắc Phú Cát, khu công nghệ cao Láng Hoà Lạc Đây là điều kiện để kinh tế Quốc Oai phát triển mạnh
Quốc Oai là huyện có những lợi thế về vị trí địa lý, đất đai, giao thông, nguồn nhân lực
Tính đến năm 2016, toàn huyện có 7/21 xã trong toàn huyện được công nhận
là xã nông thôn mới Huyện Quốc Oai đang hướng đến mục tiêu đạt chuẩn Huyện nông thôn mới của thành phố Hà Nội, vì vậy, huyện đã đề ra kế hoạch 138/2016/KH-UBND của UBND huyện Quốc Oai về Kế hoạch giảm nghèo bền vững huyện Quốc Oai giai đoạn 2016 – 2020 Trong kế hoạch nêu rõ, tỷ lệ hộ nghèo
Trang 38của huyện Quốc Oai từ 3,7% năm 2015 sẽ giảm còn 0,5% trong năm 2017 và duy trì đến năm 2020 Như vậy, tổng số hộ nghèo trong toàn huyện chỉ còn 250 hộ, kéo theo số phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ thuộc hộ nghèo chỉ còn lại 121 hộ Chính quyền, các đoàn thể, các phòng ban và các tổ chức chính trị, xã hội trong huyện Quốc Oai đã có nhiều phương án hỗ trợ cho các hộ thoát nghèo như: tặng bò sinh sản, hỗ trợ vay vốn, tặng sổ tiết kiệm, hỗ trợ kinh phí xây mới, sửa chữa nhà ở, Tuy nhiên, những phương án hỗ trợ này chưa phát huy được hiệu quả và chưa đem lại sự giảm nghèo bền vững cho các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ có phụ nữ đơn thân
là chủ hộ
2.1.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên khách thể chính là 121 phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ trên địa bàn 21 xã, thị trấn huyện Quốc Oai, TP Hà Nội theo danh sách hộ nghèo dự kiến của huyện Quốc Oai được lập cuối năm 2016
Có thể thống kê PNNĐT nuôi con nhỏ trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành
phố Hà Nội như sau:
Bảng 2.1 Phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ của Huyện Quốc Oai- Hà Nội
Trang 39(Nguồn: Phòng LĐTBXH huyện Quốc Oai – TP Hà Nội)
Bảng số liệu 2.1 cho thấy:
Tổng số PNNĐT nuôi con nhỏ theo danh sách thống kê là 121 người Tỷ lệ
có sự khác nhau ở mỗi xã theo thứ tự tự cao xuống thấp như sau:
Tỷ lệ cao nhất là xã Đông Yên chiếm 14%; Thứ hai là xã Đồng Quang chiếm 9,9%; Thứ ba là xã Hòa Thạch chiếm 9,1%; xã Cộng Hòa là 8,3% Xã Tuyết Nghĩa
Các xã có tỷ lệ PNNĐT nuôi con nhỏ có tỷ lệ cao là các xã chưa nằm trong
kế hoạch giảm nghèo của huyện
Có 6 xã nằm trong kế hoạch về đích nông thôn mới của huyện Quốc Oai giai đoạn 2016-2017
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự hình thành những gia đình phụ
nữ sống đơn thân Và mỗi người một hoàn cảnh nên tác giả đã lựa chọn toàn bộ 121 PNNĐT nuôi con nhỏ trong danh sách nêu trên để có thể thu thập được những thông tin đa dạng nhất và đưa ra những giải pháp phù hợp nhất đối với hoạt động CTXH
Trang 40nhóm đối với PNNĐT nuôi con nhỏ ở huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
2.2 Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ
Trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội đã có rất nhiều hoạt động mang tính CTXH nhóm nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các thành viên là PNNĐT nuôi con nhỏ Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào phân tích tìm hiểu thực trạng hoạt động của các hoạt động sau
2.2.1 Hoạt động thành lập các tổ chức Đoàn – Hội, đội, nhóm tại địa phương
2.2.1.1 Mức độ tham gia các tổ chức Đoàn – Hội, đội, nhóm tại địa phương
Đoàn – Hội là các tổ chức chính thức được lập ra có sự quản lý của cơ quan nhà nước, với quy định chức năng vai trò rõ ràng để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của xã hội các tổ chức Đoàn – Hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ huyện, Hội phụ
nữ xã, Hội nông dân, …
Ngoài các tổ chức Đoàn – Hội chính thức thì còn có các Hội nhóm, Câu lạc
bộ mang tính tự phát hoặc được lập ra nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý, tình cảm,
sở thích, như: nhóm các bà mẹ có con tự kỷ, nhóm phụ nữ tự giúp, nhóm kiết kiệm tín dụng, nhóm chơi cầu lông, nhóm thể dục thẩm mỹ, nhóm từ thiện,…với số lượng thành viên không nhiều và đều cùng một mục đích là thỏa mãn nhu cầu của một cá nhân Mỗi nhóm có một quy định và mục đích hoạt động riêng
Bảng 2.2 Kết quả thống kê mức độ tham gia của phụ nữ nghèo đơn thân vào
các tổ chức, Đoàn – Hội tại Huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
Đoàn – Hội đang tham gia Số lượng Tỷ lệ (%)
Câu lạc bộ, Hội nhóm chính thức: vay vốn, tiết kiệm, văn
hóa, kinh tế, giáo dục…
Hội nhóm phi chính thức: từ thiện, thể thao, tiết kiệm hình
thức “ hụi”,…
Không hoặc đã từng tham gia một đội nhóm chính thức tại
địa phương nhưng giờ thì không
(Nguồn: Điều tra XHH của tác giả)