1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện Chính sách phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non năm tuổi từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng

73 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 905,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phổ cập giáo dục là một trong những chính sách phát triển giáo dục của tất cả các quốc gia trong xã hội hiện đại, Phổ cập giáo dục (PCGD) là một con đường để nâng cao mặt bằng dân trí, trình độ học vấn của dân cư, trên cơ sở đó đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. PCGD quan hệ rất mật thiết với dân chủ hoá giáo dục, thực hiện bình đẳng về cơ hội giáo dục với các chính sách xã hội khác nhau và là con đường để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến giáo dục và đặc biệt là PCGD. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương đúng đắn về giáo dục nói chung và PCGD nói riêng. Ngay từ khi nước nhà mới độc lập ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi "diệt giặc dốt" động viên người biết chữ dạy người chưa biết chữ để toàn dân biết đọc, biết viết nhằm thanh toán nạn mù chữ. PCGD góp phần đặt nền móng cho việc thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị định 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục ghi rõ "Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non (PCGDMN) cho trẻ em năm tuổi, PCGD tiểu học và PCGD trung học cơ sở", như vậy, PCGDMN cho trẻ năm tuổi đã được chính thức đưa vào Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2011; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 về PCGDMN cho trẻ năm tuổi, củng cố kết quả PCGD tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, xác định rõ: "Hoàn thành PCGDMN cho trẻ năm tuổi vào năm 2015"; Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015, xác định: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư và cơ cấu lại chi ngân sách cho các mục tiêu của giáo dục và đào tạo. Ưu tiên ngân sách cho phổ cập giáo dục tiểu học, miễn học phí; phổ cập trung học cơ sở và PCGDMN năm tuổi, trước mắt còn có thu học phí,…” Từ tình hình thực tiễn phát triển GDMN, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, Quốc hội về phát triển GDMN, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015 nhằm nâng cao chất lượng GDMN nói chung và trẻ em năm tuổi nói riêng, chuẩn bị cho trẻ em ở mọi vùng miền, đặc biệt là trẻ em vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo có kỹ năng, thể chất và trí tuệ sẵn sàng vào lớp 1; ngày 09/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 239/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015. So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam thực hiện phổ cập muộn hơn do phải trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài và sự tồn tại lâu dài của chế độ phong kiến. Trong vòng 20 năm cả nước đã hoàn thành mục tiêu PCGD tiểu học, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang thực hiện PCGDMN cho trẻ năm tuổi trên phạm vi toàn quốc, nhiều tỉnh thành đã đạt được những tiêu chí của PCGDMN cho trẻ năm tuổi. Nhiều địa phương đã phấn đấu đạt chuẩn PCGDMN cho trẻ năm tuổi sớm hơn mục tiêu chung của quốc gia nhưng sau đó lại gặp khó khăn trong việc duy trì, giữ vững mục tiêu và nâng cao chất lượng PCGD giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THANH HẢI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI .7

1.1 Một số khái niệm 7

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi 10

1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi .12

1.4 Nội dung các bước thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 18

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 20

1.6 Mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi .24

1.7 Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 29

1.8 Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 30

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI TẠI TỈNH CAO BẰNG 33

2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Cao Bằng ảnh hưởng tới tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 33

2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi tại tỉnh Cao Bằng 36

2.3 Kết quả thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi tại tỉnh Cao Bằng 46

2.4 Đánh giá chung kết quả thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi tại tỉnh Cao Bằng 51

2.5 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế và một số bài học kinh nghiệm 55

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI 58

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 58

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi 60

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 3

BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phổ cập giáo dục là một trong những chính sách phát triển giáo dục của tất cả các quốc gia trong xã hội hiện đại, Phổ cập giáo dục (PCGD) là một con đường để nâng cao mặt bằng dân trí, trình độ học vấn của dân cư, trên cơ sở đó đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài PCGD quan hệ rất mật thiết với dân chủ hoá giáo dục, thực hiện bình đẳng về cơ hội giáo dục với các chính sách xã hội khác nhau và là con đường để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến giáo dục và đặc biệt là PCGD Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương đúng đắn

về giáo dục nói chung và PCGD nói riêng Ngay từ khi nước nhà mới độc lập ngày

19 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi "diệt giặc dốt" động viên người biết chữ dạy người chưa biết chữ để toàn dân biết đọc, biết viết nhằm thanh toán nạn mù chữ PCGD góp phần đặt nền móng cho việc thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị định 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục ghi rõ "Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non (PCGDMN) cho trẻ em năm tuổi, PCGD tiểu học và PCGD trung học cơ sở", như vậy, PCGDMN cho trẻ năm tuổi đã được chính thức đưa vào Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2011; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011

về PCGDMN cho trẻ năm tuổi, củng cố kết quả PCGD tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, xác định rõ: "Hoàn thành PCGDMN cho trẻ năm

Trang 5

2

tuổi vào năm 2015"; Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015, xác định: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư và cơ cấu lại chi ngân sách cho các mục tiêu của giáo dục và đào tạo Ưu tiên ngân sách cho phổ cập giáo dục tiểu học, miễn học phí; phổ cập trung học cơ sở và PCGDMN năm tuổi, trước mắt còn có thu học phí,…” Từ tình hình thực tiễn phát triển GDMN, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, Quốc hội

về phát triển GDMN, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015 nhằm nâng cao chất lượng GDMN nói chung và trẻ em năm tuổi nói riêng, chuẩn bị cho trẻ em ở mọi vùng miền, đặc biệt là trẻ em vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo có kỹ năng, thể chất và trí tuệ sẵn sàng vào lớp 1; ngày 09/02/2010, Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 239/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015

So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam thực hiện phổ cập muộn hơn do phải trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài và sự tồn tại lâu dài của chế độ phong kiến Trong vòng 20 năm cả nước đã hoàn thành mục tiêu PCGD tiểu học, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang thực hiện PCGDMN cho trẻ năm tuổi trên phạm vi toàn quốc, nhiều tỉnh thành đã đạt được những tiêu chí của PCGDMN cho trẻ năm tuổi Nhiều địa phương đã phấn đấu đạt chuẩn PCGDMN cho trẻ năm tuổi sớm hơn mục tiêu chung của quốc gia nhưng sau đó lại gặp khó khăn trong việc duy trì, giữ vững mục tiêu và nâng cao chất lượng PCGD giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi

Trong thời gian qua các chính sách của công tác PCGDMN cho trẻ năm tuổi trong trường mầm non đã đạt được những kết quả nhất định, chất lượng giáo dục trẻ ngày càng tăng lên; hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị đồ chơi được đầu tư theo quy định, phù hợp với điều kiện thực tế; đội ngũ giáo viên được bố trí đủ theo quy định, đáp ứng được yêu cầu về trình độ và tỉ lệ giáo viên trên lớp theo quy định; chế độ của trẻ và giáo viên được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Tuy nhiên,

Trang 6

3

một số nội dung chính sách được ban hành chưa sát với thực tiễn, với đối tượng người thụ hưởng, bên cạnh đó, việc triển khai chính sách cũng nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế Vì vậy, chính sách phổ cập giáo dục cho trẻ em năm tuổi cũng tồn tại một số hạn chế nhất định, tác động đến mục tiêu phát triển của Ngành giáo dục và đào tạo

Cao Bằng là một tỉnh miền núi, biên giới, t lệ hộ ngh o còn cao, ngân sách đầu tư cho giáo dục còn nhiều hạn chế; địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt Ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số đời sống của đồng bào chậm được cải thiện; trình độ dân trí còn hạn chế; địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, một số phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại, một số ít người dân vùng dân tộc thiểu số chưa quan tâm tạo điều kiện cho con đi học, ảnh hưởng tới việc quy hoạch, phát triển trường lớp, tổ chức các hoạt động giáo dục chăm sóc, nuôi dạy, huy động và duy trì sỹ số trẻ đến trường; cơ sở vật chất, phòng học, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, nhà công vụ cho giáo viên, các phòng chức năng đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng; đội ngũ giáo viên mầm non tại một số tỉnh còn thiếu so với quy định Nhiều điểm trường, lớp lẻ rất xa trung tâm xã, phải đi bộ từ 5 – 7 km Kinh phí đầu tư cho PCGDMN cho trẻ em năm tuổi

chưa đáp ứng so với yêu cầu Chính vì vậy đề tài luận văn: “Thực hiện Chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng” có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau, các văn bản của Nhà nước, chính quyền các cấp đề cập tới công tác PCGDMN cho trẻ năm tuổi, cho thấy sự cần thiết của công tác PCGDMN cho trẻ em ở độ tuổi chuẩn bị tới trường ở các địa phương cụ thể như:

Đề tài "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phổ cập giáo dục mẫu giáo năm tuổi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm (Chủ nhiệm đề tài), Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mầm non, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam năm 2011 Đề tài đã đi sâu vào việc nghiên cứu làm rõ thực trạng phổ cập giáo dục mẫu giáo năm tuổi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các

Trang 7

Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng PCGDMN cho trẻ em năm tuổi đồng thời đưa ra những kiến nghị khoa học về các định hướng và giải pháp đối với vấn đề này Tuy nhiên, những nghiên cứu kể trên mới dừng lại ở các nghiên cứu chung về triển khai, quản lý công tác PCGDMN cho trẻ em năm tuổi Trong khi đó, việc thực hiện chính sách phổ cập giáo dục của tỉnh Cao Bằng là vấn đề cần thiết, nhưng hiện nay lại chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy, cần có một công trình nghiên cứu, phân tích chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi tỉnh Cao Bằng Để từ đó

có những kết luận về những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện các chính sách, đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ

em năm tuổi để có cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ

em năm tuổi tại tỉnh Cao Bằng, qua đó đánh giá, làm rõ kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm duy trì, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi tại Cao Bằng trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

3.2.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi và thực tiễn về thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Trang 8

5

3.2.2 Nghiên cứu, phân tích và đánh giá kết quả thực hiện chính sách; khảo sát đánh giá thực trạng thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi tại tỉnh Cao Bằng, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của các hạn chế, bất cập

3.2.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn luận văn nghiên cứu việc thực hiện các chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi Ngành giáo dục và đào tạo Cao Bằng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Tại địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành, xã hội học; vận dụng

phương pháp nghiên cứu chính sách công, lý thuyết nghiên cứu chính sách công được chứng minh qua thực tiễn giúp hình thành lý luận chính sách công

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá (trên cơ sở tài liệu thu

thập được để phân tích, đánh giá, tổng hợp tình hình)

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra Ban chỉ đạo phổ cập các cấp, giáo viên trường Mầm non, cán bộ địa phương, cán bộ quản lý về công tác PCGD

đang tiến hành ở địa phương

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Các kết quả, kết luận rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi nói riêng

Trang 9

có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức đáp ứng yêu cầu của công tác phổ cập giáo dục, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục biểu, bảng

số liệu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 03 chương sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi tại tỉnh Cao Bằng

Chương 3 Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Trang 10

1.1.1 Khái niệm chính sách công

Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm sau:

Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971)

Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978)

Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas

Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran and Eloise F Malone, 1995)

Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ, chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999)

Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ, chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E Cochran, et

al, 1999)

Trang 11

8

Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003)

Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004)

Từ những quan niệm nêu trên ta thấy chính sách công chính là kết quả của các quyết định của chính phủ, các quyết định này nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết “các vấn đề của xã hội” trong đó “là các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội” theo mục tiêu tổng thể của Đảng đã vạch ra từ trước Như vậy,

chính sách công trong trường hợp của Việt Nam có thể định nghĩa như sau: “Chính

sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn

đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải, 2012)

1.1.2 Khái niệm Giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một (Quy định tại Điều 4, Điều 21, Điều 22 của Luật giáo dục)

Về cơ sở giáo dục mầm non, Điều 25 Luật Giáo dục quy định cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:

1 Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi;

2 Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi;

3 Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ

ba tháng tuổi đến sáu tuổi

Trang 12

"Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình"

Như vậy, trong hệ thống các bậc học, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Theo các chuyên gia giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo của trẻ Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy và học bậc mầm non là nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục ngày nay

Nhà nước có trách nhiệm quản lý đầu tư phát triển giáo dục mầm non, tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất đào tạo đội ngũ giáo viên, hỗ trợ và ưu tiên đầu tư các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới nhằm đảm bảo hầu hết trẻ em năm tuổi được đến lớp để thực hiện chương trình giáo dục 2 buổi/ngày đủ 1 năm học

1.1.3 Khái niệm Phổ cập giáo dục

Phổ cập: Theo từ điển Tiếng Việt, phổ cập được hiểu là "làm cho ai cũng biết,

làm cho ai cũng có, làm cho trở thành rộng khắp, đến với quần chúng rộng rãi" [33]

Theo quy định tại Nghị đinh số 31/2011/NQĐ-CP ngày 11/5/2011 có nêu:

"PCGD là quá trình tổ chức để mọi công dân đều được học tập và đạt tới một trình

độ học vấn tối thiểu theo quy định của Nhà nước" [24]

1.1.4 Khái niệm Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi: Thực hiện giáo dục cho toàn bộ trẻ 5 tuổi trong xã hội đều đạt được một trình độ giáo dục, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng nhất định trước khi bước vào lớp 1

Trang 13

10

1.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình

cảm, thẩm mỹ của trẻ Với vị trí là một bộ phận quan trọng của giáo dục mầm non,

giáo dục cho trẻ em năm tuổi luôn là cầu nối và là nền tảng cho các bậc học tiếp theo Vì vậy, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi là một chủ trương đúng đắn, có ý nghĩa to lớn đối với nền giáo dục Việt Nam nói riêng và đối với sự phát triển chung của đất nước Lợi ích mà PCGD mang lại có ảnh hưởng tới bản thân trẻ em, gia đình và toàn xã hội Cụ thể:

* Đối với bản thân trẻ em

Thực tế cho thấy, trẻ em trong quá trình phát triển, những giai đoạn đầu đời nếu trẻ nhận được sự chăm sóc đầy đủ cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt trẻ được làm quen với nội dung học tập như đọc, viết, làm toán sẽ giúp trẻ phát triển

tư duy sáng tạo, bước đầu hình thành ở trẻ thói quen tập trung vào công việc, khơi gợi tình yêu của trẻ đối với việc đến trường, đến lớp Do đó, việc PCGDMN là việc làm có ý nghĩa quan trọng, tạo ra nền tảng vững chắc cho việc học đọc, làm quen với mặt chữ, với các con số, học cách tính toán, phát triển nhận thức, phát triển kỹ năng xã hội ở trẻ em PCGDMN còn là biện pháp giúp cho trẻ em ở tất cả mọi vùng miền đều được đến trường, được hưởng sự quan tâm, chăm sóc từ phía thầy cô, gia đình và toàn xã hội, tạo cho trẻ những tiền đề quan trọng để bước vào học ở bậc phổ thông và trong cuộc sống sau này Mặt khác, thực hiện PCGDMN còn là một những cách thức làm giảm thiểu tình trạng sợ học, nguy cơ mù chữ và tái mù chữ ở vùng sâu, vùng kinh tế khó khăn; động viên, thu hút được số lượng lớn trẻ em đến trường đúng độ tuổi và duy trì việc học tập lâu dài ở các bậc học phổ thông tiếp theo Đây chính là con đường ngắn nhất giúp cho trẻ em có khả năng phát huy được hết khả năng của mình và cống hiến nó cho công cuộc dựng xây đất nước

* Đối với gia đình

PGGDMN cũng có ý nghĩa to lớn đối với bản thân mỗi gia đình đặc biệt các gia đình có hoàn cảnh khó khăn Bởi PCGDMN là biện pháp để giúp con em của tất

cả gia đình trong độ tuổi mầm non đều được hưởng nền giáo dục, nhận được sự chăm sóc về mọi mặt cho trẻ; tạo điều kiện cho trẻ phát triển đầy đủ cả về thể chất

Trang 14

11

lẫn tâm hồn Vì vậy, các gia đình, đặc biệt là các bà mẹ có thêm thời gian rảnh rỗi, tham gia vào các công việc xã hội, cũng như có nhiều điều kiện để chăm sóc gia đình tốt hơn mà không quá bận rộn với con cái

Mặt khác, PCGDMN còn là cách thức để gia đình có trách nhiệm hơn trong việc quan tâm và giáo dục con em mình để trở thành những người công dân có ích cho xã hội Đồng thời, PCGDMN còn giúp cho các gia đình có điều kiện khó khăn vẫn có thể cho con em mình đến trường, đây là nền tảng cho việc xóa bỏ đói ngh o, tình trạng bất bình đẳng trong xã hội

* Đối với Nhà nước và xã hội

PCGDMN có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra tính hiệu quả cao, tiết kiệm về tài chính, đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao tính công bằng xã hội, là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của một quốc gia Bởi trẻ em chính là tương lai của đất nước, nếu trẻ em ngay từ bậc mầm non đã nhận được nền giáo dục tốt từ gia đình, nhà trường, xã hội sẽ giúp trẻ có cơ hội phát triển, tạo ra những động lực quan trọng để các em trở thành những người

có ích cho xã hội, cho quốc gia Vì thế, mà PCGDMN đang cần được đẩy mạnh và thực hiện tốt hơn ở tất cả các vùng miền của nước ta, đó sẽ là cơ sở và tiềm lực lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tính hiệu quả: Khi mọi trẻ em đều được đến trường, sức khỏe, dinh dưỡng

cho trẻ đảm bảo, giảm t lệ tử vong, bệnh tật, do đó giảm các chi phí y tế liên quan, đồng thời tăng khả năng kiếm sống, thu nhập, việc làm khi trẻ trưởng thành; tăng khả năng nhận thức, giảm đi ở trẻ những biểu hiện sai lệch về hành vi

PCGDMN là một việc làm có ý nghĩa quan trọng hơn cả trong việc phát triển nguồn nhân lực cho xã hội Lực lượng lao động cần được định hình và gây dựng ngay từ khâu thấp nhất đó là bậc mầm non Bởi nếu không có sự đảm bảo về dinh dưỡng, sức khỏe, sự hiểu biết cần thiết về kiến thức thì bản thân những đứa trẻ đó sẽ không thể đảm đương được các trọng trách mà xã hội giao cho Việc PCGDMN sẽ

là cây cầu nối cho trẻ vững bước trong cuộc đời, trẻ có cơ hội nhận được sự chăm sóc tốt nhất về mọi mặt để có thể phát triển một cách toàn diện Bên cạnh đó, PCGDMN còn tạo cho trẻ có được sự bình đẳng trong xã hội, giảm thiểu t lệ giàu

Trang 15

và cơ sở vật chất kỹ thuật) cho việc thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi; trong kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách và trong việc xác định hợp

lý thời gian thực hiện chính sách Cùng với xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách, phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách Nếu các kế hoạch trên được xây dựng một cách chính xác và đảm bảo tính khả thi thì quá trình thực thi chính sách sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao đồng thời trong quá trình thực hiện sẽ không phải điều chỉnh, bổ sung kế hoạch Để xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách chính xác, có tính khả thi cao đòi hỏi công chức trong ngành Giáo dục có nhiệm vụ tham mưu, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các giải pháp tổ chức thực hiện

1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi giúp cho cơ sở giáo dục trong ngành (là đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách) hiểu rõ về mục đích, yêu cầu và tính đúng đắn của chính sách để họ tự giác thực hiện Đồng thời, việc tuyên truyền, phổ biến chính sách này giúp cho công chức trong ngành có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức đầy đủ tính chất, quy

Trang 16

13

mô, tầm quan trọng của chính sách để họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện

Để phổ biến, tuyên truyền chính sách đạt hiệu quả cao đòi hỏi cán bộ, công chức phải am hiểu chính sách, phải nắm chính xác, đầy đủ mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính sách Đồng thời, phải nhận thức được đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ của việc tuyên truyền, phổ biến chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi Trên cơ sở đó, xác định lựa chọn các kỹ năng, các giải pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp cho từng đối tượng công chức trong ngành Tùy từng loại đối tượng và tùy từng đặc điểm của mỗi cơ quan làm công tác giáo dục mà có các hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách cho phù hợp như: mở các lớp tập huấn tập trung để quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện chính sách; tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tấn, báo chí để họ tuyên truyền; xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách gửi cho các cơ quan, đơn vị và công chức để họ thực hiện chính sách Ngoài

ra, cũng có thể gửi đăng tải chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi trên các báo, tạp chí của ngành, của cơ quan và các trang thông tin điện tử để cán bộ, công chức biết và thực hiện Trong xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi cũng như các văn bản phổ biến, hướng dẫn chính sách này phải đảm bảo chính xác, đúng với các quy định trong chính sách, làm sao đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện Tuyệt đối không được bổ sung các quy định mang tính chất thủ tục rườm rà, khó thực hiện và làm sai lệch chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách không phải là công việc đơn giản, đòi hỏi cán bộ, công chức làm công tác phổ biến tuyên truyền chính sách phải am hiểu sâu sắc chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi, có trình độ năng lực chuyên môn và

có kỹ năng phổ biến, tuyên truyền chính sách

1.3.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp Sự phân công, phối hợp ở đây không chỉ là giữa các cơ quan trong ngành Giáo dục mà còn là sự phân công, phối

Trang 17

14

hợp giữa các cơ quan ngoài ngành có liên quan Việc phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi bảo đảm cho tổ chức điều hành chính sách này một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý Đó là việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện chính sách; xác định tổ chức, cơ quan, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cá nhân, tổ chức,

cơ quan tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách Đồng thời, thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học, hợp lý sẽ phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

Trong phân công nhiệm vụ thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi cần đặc biệt chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, cơ quan, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và không rõ trách nhiệm Hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc khá nhiều vào việc phân công, phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách một cách hợp lý và khoa học

1.3.4 Duy trì chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Duy trì chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi là bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Trong quá trình thực hiện chính sách, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cần tham mưu,

đề xuất các giải pháp, các biện pháp bảo đảm cho chính sách được duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Khi thực hiện chính sách gặp những khó khăn do môi trường thực tế biến động đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách phải có năng lực hay kiến thức sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách này trên thực

tế Đồng thời, cần chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban hành chính sách và

áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới Việc duy trì chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy tác dụng bền vững Nếu không duy trì chính sách sẽ dẫn đến hiệu quả chính sách thấp, gây lãng phí, không đạt được mục tiêu của chính sách Việc duy trì và bảo đảm sự tồn tại và phát huy tác dụng bền vững của chính sách đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách phải am hiểu sâu sắc về chính sách, phải nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm

Trang 18

15

vụ, đối tượng, giải pháp, công cụ thực hiện chính sách này Đồng thời, phải sử dụng các công cụ quản lý khác tác động đến việc thực hiện chính sách, đề xuất các giải pháp hỗ trợ duy trì chính sách

1.3.5 Điều chỉnh chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Việc điều chỉnh chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Trong quá trình thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không phù hợp với thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu và phù hợp với tình hình thực tế Điều chỉnh các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được thực hiện có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại Thẩm quyền điều chỉnh bổ sung chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi thuộc thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức ban hành chính sách này nhưng việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế thực hiện chính sách diễn ra linh hoạt trong quá trình thực hiện chính sách Để điều chỉnh chính sách hợp lý đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách cần phải có năng lực và kiến thức, kỹ năng đề xuất các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách

để chính sách được thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đề ra Cán

bộ, công chức thực thi chính sách phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách, đồng thời phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách để có

cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách Đồng thời, phải đề cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách, phải tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách Chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi hiện nay có cần phải điều chỉnh hay không hoặc điều chỉnh nhiều hay ít phụ thuộc vào tính hợp lý của chính sách và các vấn đề phát sinh cần điều chỉnh trong quá trình thực hiện chính sách này trên thực tế

Trong điều chỉnh chính sách công nói chung, chính sách PCGDMN cho trẻ

em năm tuổi nói riêng một nguyên tắc cần phải chú ý và chấp hành nghiêm chỉnh là:

Để chính sách tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các giải pháp, công cụ, cơ chế

Trang 19

16

thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách không tồn tại Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý nếu không sẽ làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được Do đó các cơ quan và cán bộ công chức có nhiệm

vụ thực hiện chính sách phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra thực thi mới kịp thời phát hiện những sai sót và bất cập để điều chỉnh, bổ sung

1.3.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi giúp kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách đồng thời chấn chỉnh công tác

tổ chức thực hiện chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, là một khâu quan trọng trong thực hiện chính sách Để theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện chính sách, quy chế và nội quy thực hiện chính sách Muốn theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi cần thu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức hữu quan trong và ngoài ngành, đặc biệt là từ các công chức ngành Giáo dục là đối tượng thụ hưởng chính sách này Trên cơ sở đó, xử lý phân tích thông tin, đối chiếu

so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong kế hoạch, trong quy chế, nội quy thực hiện chính sách để có cơ sở phát hiện phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có), phát hiện sơ hở trong quản lý, trong tổ chức thực hiện, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả chính sách

Trang 20

Để tổng kết, đánh giá chính xác, ngoài các tiêu chí ra còn phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan Các nguyên tắc đó là toàn diện, công bằng và khách quan Việc tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác các ưu điểm, nhược điểm, kinh

nghiệm thực hiện chính sách

Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành thực hiện của các cơ quan trong ngành Giáo dục và các cơ quan phối hợp thực hiện chính sách, còn phải xem xét, đánh giá kết quả thực hiện của đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách là các cơ

sở giáo dục mầm non và các đối tượng thụ hưởng gián tiếp của chính sách Thước đo, căn

cứ để đánh giá kết quả thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu của chính sách, ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan chủ trì thực hiện chính sách ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách và các quy định cụ thể của chính sách

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách công nói chung và chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi nói riêng là công việc khó, phức tạp

Trang 21

18

trong quá trình thực hiện chính sách Điều đó đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong và ngoài ngành và công chức ngành Giáo dục tham gia vào công việc này phải có trình độ năng lực, kiến thức và kỹ năng nhất định, nếu không khó có thể đánh giá được chính xác kết quả thực hiện chính sách, khó có thể rút ra được bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách này

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

1.4.1 Yếu tố khách quan

Một là, tính chất của vấn đề chính sách là PCGDMN cho trẻ em năm tuổi Đây là

một vấn đề lớn có tác động trực tiếp đến đội ngũ công chức, viên chức ngành Giáo dục,

và trẻ em trong độ tuổi năm tuổi; tác động gián tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngành Giáo dục Trong những năm qua, gắn liền với công cuộc đổi mới và đẩy mạnh cải cách hành chính, Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách giáo dục và đào tạo Mặc dù những chính sách đó đã tác động tích cực và giải quyết phần nào được các vấn

đề thực tiễn đòi hỏi, tuy nhiên những chính sách đã được ban hành và thực hiện vẫn chưa thực sự có tính đột phá Điều đó thể hiện tính phức tạp của vấn đề chính sách và là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách này

Hai là, môi trường thực thi chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở

nước ta hiện nay Đó là toàn bộ các thành phần vật chất, phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như: các nhóm lợi ích có được từ chính sách này; các điều kiện vật chất, kỹ thuật trong nền kinh tế; bầu không khí chính trị; trật tự xã hội; quan hệ quốc tế Môi trường thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta

có nhiều thuận lợi Đó là: hệ thống chính trị ổn định; được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật Tuy nhiên, môi trường thực hiện chính sách này cũng đặt ra nhiều thách thức trong quá trình thực hiện chính sách đó là: Ngành Giáo dục là ngành Quản lý nhà nước nhiều bậc học, ngành học bao gồm: Giáo dục mầm non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học, Giáo dục Thường xuyên và Giáo dục Chuyên nghiệp

Ba là, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách PCGDMN cho trẻ em

năm tuổi Đó là thực lực và tiềm năng của mỗi nhóm đối tượng chính sách có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của công chức

Trang 22

19

ngành Giáo dục hiện nay nhìn chung có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện chính sách này

Bốn là, đặc tính của đối tượng chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi

Thực tế cho thấy, do tính chất nghề nghiệp nên công chức ngành Giáo dục đa phần

là những công chức, viên chức có năng lực, trình độ cao, khá nhạy bén và dễ dàng tiếp nhận những chính sách mới và có ý thức k luật cao Đây là mặt thuận lợi trong việc thực thi chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay

1.4.2 Yếu tố chủ quan

Một là, thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quá trình tổ chức thực hiện

chính sách Đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách nói chung và chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta nói riêng Thực hiện chính sách luôn luôn là một chu trình đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các bước, các khâu bởi các bước này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu thiếu một bước thì việc thực hiện các bước sau sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí

có thể làm cho việc thực hiện chính sách đạt kết quả không cao, làm chệch hướng mục tiêu chính sách Thực tế thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay cho thấy đôi khi chưa thực hiện đúng, đủ các bước trong quá trình

tổ chức thực hiện chính sách, đặc biệt là các bước phân công phối hợp thực hiện và

phổ biến, tuyên truyền chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi

Hai là, năng lực thực thi chính sách công chức có trách nhiệm thực thi chính

sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay Có thể nói, chất lượng hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc rất nhiều và năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức có trách nhiệm thực thi chính sách Năng lực thực thi chính sách là kiến thức, kỹ năng và thái độ của đội ngũ cán bộ công chức trong thực hiện chính sách Nói một cách ngắn gọn, năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ công chức chính là khả năng thực hiện chính sách của họ Năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ công chức có nhiệm vụ thực thi chính sách, cụ thể là: Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách; năng lực phân công phối hợp thực hiện chính sách; năng lực đề xuất các giải pháp duy trì chính sách; năng lực đề xuất và sử dụng các giải pháp, công cụ điều chỉnh chính sách; năng lực theo dõi, đôn đốc kiểm tra việc

Trang 23

20

thực hiện chính sách; năng lực tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách Nếu năng lực của cán bộ thực thi chính sách tốt, thì quá trình thực hiện chính sách sẽ diễn ra thuận lợi, thậm chí trong các bước tổ chức thực thi chính sách

có phát sinh các vấn đề thì cũng dễ dàng điều chỉnh để đạt được mục tiêu chính sách Ngược lại, năng lực của cán bộ thực thi chính sách kém, không am hiểu sâu

về chính sách và thực thi chính sách thì quá trình thực thi chính sách sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không đạt được mục tiêu chính sách Chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ một

số hạn chế, bất cập

Ba là, điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách PCGDMN cho

trẻ em năm tuổi Điều kiện vật chất (trong đó đặc biệt là điều kiện tài chính) ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình thực hiện chính sách và hiệu quả của chính sách Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, Đảng, Nhà nước đã có nhiều quan tâm

bố trí điều kiện vật chất cho việc thực hiện chính sách phổ cập giáo dục nói chung

và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi nói riêng, nhưng thực tế cho thấy điều kiện này chưa đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện chính sách này một cách hiệu quả nhất Không đảm bảo điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách cũng sẽ tác động đến việc duy trì chính sách - một trong những bước rất quan trọng

của quá trình thực thi chính sách

Bốn là, sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng thụ hưởng chính sách là các cơ sở

giáo dục mầm non ở nước ta và các đối tượng liên quan Do đây là chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi, mục tiêu của chính sách là làm cho điều kiện học tập của trẻ em năm tuổi được đảm bảo hơn nên chính sách nhận được sự đồng tình ủng hộ thực hiện của đội ngũ công chức, viên chức trong ngành Đó là sự thuận lợi rất lớn trong việc thực hiện chính sách này

1.5 Kinh nghiệm của thực hiện chính sách của địa phương khác và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Cao Bằng

1.5.1 Kinh nghiệm một số địa phương khác

1.5.1.1 Kinh nghiệm PCGD và quản lý PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là một trong 10 tỉnh đầu tiên trong cả nước hoàn thành chương trình PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi Để đạt được kết quả như vậy, Sở Giáo dục và

Trang 24

21

Đào tạo tỉnh Bắc Ninh đã làm tốt công tác tham mưu cho tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch và tập trung chỉ đạo hoàn thành công tác PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi, trong đó tập trung vào chính sách về xây dựng cơ sở vật chất để đảm bảo 100% lớp 5 tuổi có phòng học kiên cố, hỗ trợ kinh phí mua sắm đồ chơi ngoài trời, thiết bị công nghệ thông tin, bộ thiết bị tối thiểu cho các lớp mẫu giáo thực hiện công tác PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi

Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị củng cố, bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có đủ trình độ thực hiện công tác phổ cập, đảm bảo định biên giáo viên/lớp theo quy định; đảm bảo chế độ chính sách cho giáo viên mầm non ngoài công lập mới tuyển được hưởng như giáo viên trong biên chế nhà nước Thực hiện nghiêm túc lộ trình chuyển đổi loại hình trường đảm bảo giáo viên mầm non được hưởng theo thang bảng lương

Ủy ban nhân dân tỉnh Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch tuyển dụng giáo viên theo định mức quy định, đồng thời hàng năm có chỉ tiêu cho Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố được tuyển biên chế đối với những giáo viên đủ tiêu chuẩn quy định

Tổ chức tuyên truyền sâu rộng tới các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân về công tác PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi bằng nhiều hình thức (phương tiện thông tin đại chúng, họp Ban chỉ đạo các cấp, tranh ảnh pamô, áp phích…) để mọi ngành, mọi người hiểu rõ và có trách nhiệm cùng tham gia thực hiện công tác PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi

Kết quả đạt được đến tháng 6 năm 2012 như sau:

Về cơ sở vật chất: Toàn có 571 phòng dành cho lớp 5 tuổi, số phòng kiên cố

560 phòng, đạt 98.7%, còn 7 phòng bán kiên cố, chiếm 1.3% Tổng số lớp 5 tuổi đủ

bộ thiết bị tối thiểu là 562/567 lớp, đạt 99.1 %; có 108/150 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia (đạt 72%) Tổng số kinh phí đầu tư cho công tác PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi tính là 152.6 t đồng 100% các trường mầm non thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non, nhiều đơn vị trang bị cho 100% lớp 5 tuổi máy vi tính và các bộ phần mềm phù hợp với trẻ

Về đội ngũ giáo viên: Toàn ngành có 3.741cán bộ quản lý và giáo viên Trong đó, giáo viên đạt chuẩn đào tạo là 983 người đạt 100 %; trên chuẩn 947

Trang 25

22

người, đạt 96.3% Định biên giáo viên/lớp đối với các lớp 5 tuổi bình quân là 1.73 GV/lớp Mức lương bình quân của giáo viên là 3.200.000đ Trong đó giáo viên dạy lớp 5 tuổi có mức lương bình quân là 3.500.000; cao nhất: 3.800.000đ, thấp nhất: 3.250.000đ

Về tác huy động và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ: Trẻ thường xuyên theo dõi, cập nhật các thông tin và tham mưu thực hiện và hoàn thành PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi một cách vững chắc t lệ trẻ 5 tuổi đến trường mầm non đạt 100%; t lệ trẻ 5 tuổi học 2 buổi/ngày theo chương trình GDMN mới đạt 100%,

t lệ trẻ 5 tuổi được ăn bán trú đạt 84.6 %, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 4.3%; thể thấp còi là 5.6% Số trẻ 5 tuổi được hỗ trợ ăn trưa trong 9 tháng/ năm học

là 1.239 cháu, với tổng kinh phí là 1.338.120.000 đồng

Đến thời điểm tháng 5 năm 2012, tỉnh Bắc Ninh đã hoàn thành PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi

1.5.1.2 Kinh nghiệm PCGD và quản lý PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi tỉnh Hòa Bình

Công tác PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi được sự tập trung chỉ đạo của Tỉnh

ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh, sự chủ động, tích cực của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, đặc biệt là sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ quản lý, giáo viên trong ngành Giáo dục và Đào tạo trong công tác tham mưu xây dựng và ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ PCGD mầm non cho trẻ em 5

Ngay sau khi có Quyết định số 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về PCGD mầm non cho trẻ em 5, UBND tỉnh đã chủ động, tích cực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện PCGD mầm non cho trẻ em 5 Theo lộ trình, năm 2012 tỉnh Hòa Bình phấn đấu đạt chuẩn PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi Căn cứ vào Kế hoạch củatỉnh Hòa Bình, 11/11 huyện, thành phố và 210/210 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đều xây dựng và ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện PCGD mầm non cho trẻ em 5 giai đoạn 2010 - 2015 Hội đồng nhân dân tỉnh, UBND tỉnh

đã quan tâm chỉ đạo thực hiện chế độ chính sách đối với GV Mầm non và những người tham gia làm công tác PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi

Trang 26

23

Ngành giáo dục và đào tạo Hòa Bình đã có nhiều biện pháp chỉ đạo hiệu quả việc thực hiện chương trình GDMN mới; làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non, đặc biệt quan tâm đến giáo viên mầm non dạy lớp 5 tuổi Trong 3 năm từ 2010 đến tháng 6 năm 2012, toàn tỉnh đã chọn cử đi đào tạo vượt chuẩn

1168 giáo viên; tổ chức cho 8640 lượt giáo viên tham gia sinh hoạt chuyên đề nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ trong quản lý và tổ chức hoạt động cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ

Ban chỉ đạo PCGD cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã đã làm tốt công tác kiểm tra việc triển khai thực hiện PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi Trong 3 năm từ 2010 đến nay, Ban chỉ đạo PCGD tỉnh đã tổ chức kiểm tra 7 lần tại 11 huyện, thành phố; Ban chỉ đạo PCGD các huyện, thành phố kiểm tra 100% các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Sở GD&ĐT, cơ quan thường trực Ban chỉ đạo PCGD tỉnh chủ động lồng ghép nội dung kiểm tra PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi thông qua các kỳ thanh tra, kiểm tra chuyên môn các đơn vị Từ năm 2010 đến nay đã tổ chức kiểm tra mỗi phòng GD& ĐT 3 lần và 125 trường mầm non về PCGD mầm non cho trẻ em 5

Kết quả chung: có 205 xã, phường, thị trấn và 11 đơn vị huyện, thành phố đạt PCGD mầm non cho trẻ em 5 Toàn tỉnh có 100% lớp mẫu giáo năm tuổi được

bố trí phòng học kiên cố, bán kiên cố, đủ thiết bị, đồ dùng đồ chơi tối thiểu theo quy định; 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn (trong đó 20% trên chuẩn

và đạt danh hiệu giáo viên giỏi các cấp); 100% giáo viên được hưởng thu nhập theo thang bảng lương; t lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99,9%, 100% trẻ 5 tuổi ra lớp đượchọc học hai buổi/ngày; t lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm xuống còn 6,4%, thể thấp còi 7,2%

Đến thời điểm tháng 6 năm 2012 tỉnh Hòa Bình đã hoàn thành PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Cao Bằng

Việc thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi thì mỗi địa phương thường dựa vào đặc điểm, lợi thế của địa phương mình để xây dựng các chính sách phù hợp, để thực hiện chính sách một cách hiệu quả cần lưu ý một số

điểm sau:

Trang 27

24

Một là: Sự quan tâm của của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự phối kết hợp tốt giữa các thành viên Ban chỉ đạo, các sở, ban, ngành, các hội, đoàn thể Ở đơn vị nào được cấp ủy, chính quyền quan tâm, Ban Chỉ đạo ổn định, hoạt động tích cực, thường xuyên thì ở đó công tác PCGD nói chung, PCGDMNTNT nói riêng đạt kết quả cao Nơi nào cấp ủy, chính quyền ít quan tâm, công tác tham mưu của Phòng GD&ĐT và các nhà trường chưa tốt, các thành viên Ban chỉ đạo thay đổi nhiều thì công tác PCGD nói chung, PCGDMNTNT nói riêng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện

Hai là: Công tác tuyên truyền phải sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân để mọi người nhận thức được vai trò của công tác PCGD, từ đó sẽ nhận được sự đồng tình, ủng hộ của toàn thể nhân dân giúp thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đề ra

Bà là: Phải phát huy tốt vai trò tham mưu của cơ quan thường trực Ban chỉ đạo các cấp; thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho những người trực tiếp làm công tác PCGD Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc kịp thời thực hiện tốt các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra

Bốn là: Đảm bảo đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học để đảm bảo t lệ huy động trẻ ra lớp

Năm là: Thường xuyên điều tra, nắm bắt tình hình dân cư, số đối tượng PCGD từng địa bàn làm cơ sở thực hiện công tác PCGD

1.6 Mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

1.6.1 Mục tiêu chung

Bảo đảm hầu hết trẻ em năm tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện

chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để

Trang 28

25

giáo dục mầm non được học Chương trình giáo dục mầm non mới, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1;

c) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, bảo

đảm 100% giáo viên dạy mầm non năm tuổi đạt chuẩn trình độ đào tạo vào năm

2010, phấn đấu đến năm 2015 có 50% giáo viên đạt trình độ từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, 80% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá;

d) Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho các lớp mầm non năm tuổi ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia tại các huyện ngh o làm mô hình mẫu và là nơi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ giáo dục mầm non;

đ) Đưa số tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi từ 55% năm 2010 lên 85% năm 2012 và 100% năm 2015

1.6.3 Những yêu cầu đối với phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ngoài mục tiêu để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1, còn có mục tiêu hết sức quan trọng là nâng cao trình độ dân trí một cách toàn diện, mở rộng giáo dục mầm non nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Vì vậy, công tác PCGDMN cho trẻ em năm tuổi phải là nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương và phải huy động sự tham gia hưởng ứng của mọi tổ chức xã hội cũng như của mọi người dân, trong qúa trình thực hiện mục tiêu phải hết sức chú trọng tới mặt chất lượng của công tác phổ cập Có như thế chúng ta mới khắc phục được bệnh thành tích trong giáo dục, khắc phục được tình trạng hiện nay của đội ngũ lao động nước ta đông về số lượng nhưng kém về chất lượng Trên tinh thần đó những yêu cầu đặt ra đối với công tác PCGDMN là:

- Công tác PCGDMN cho trẻ em năm tuổi trong phạm vi cả nước phải được

cụ thể hóa thành chủ trương nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương Đây là công tác trọng tâm của ngành giáo dục Chính vì vậy ngành phải tích cực tham mưu chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các chủ trương đó

Trang 29

1.6.4 Nhiệm vụ của phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nhiệm vụ PCGDMN cho trẻ em năm tuổi nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân

- Tăng cường huy động trẻ em năm tuổi đến lớp

- Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giáo dục mầm non

- Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non

- Xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư thiết bị cho các lớp mầm non năm tuổi

- Đẩy mạnh xã hội hóa công tác PCGDMN cho trẻ em năm tuổi

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, tổ chức quốc tế xây dựng một dự án ODA cho để thực hiện PCGDMN cho trẻ em năm tuổi

- Điều tra nắm chắc số lượng đối tượng trong độ tuổi phải phổ cập

- Xây dựng kế hoạch phổ cập, đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên cho công tác phổ cập

1.6.5 Những quy định hiện hành về công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi ở Việt Nam hiện nay (Quy định tại Thông tư số 32/2010/TT- BGDĐT ngày 02 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

1.6.5.1 Các tiêu chí để công nhận đạt chuẩn PCGDMN cho trẻ năm tuổi

a Đối với cá nhân

Trẻ em được công nhận đạt chuẩn PCGDMNTNT phải hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 - 6 tuổi) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trước 6 tuổi

b Đối với đơn vị cơ sở

b.1 Đối với thành phố, thị xã, thị trấn

Trang 30

27

- Bảo đảm có đủ phòng học kiên cố, bảo đảm diện tích xây dựng và các quy định khác về phòng học tại Điều lệ trường mầm non; đủ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị tối thiểu; giáo viên đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

- Huy động 98% trở lên số trẻ em năm tuổi ra lớp, trong đó bảo đảm 90% số trẻ em trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

- Bảo đảm có 90% trở lên trẻ năm tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 - 6 tuổi);

- T lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 95% trở lên;

- T lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) và thấp còi (chiều cao theo tuổi) dưới 10%

b.2 Đối với nông thôn, đ ng bằng

- Bảo đảm có đủ phòng học kiên cố hoặc bán kiên cố, bảo đảm diện tích xây dựng và các quy định khác về phòng học tại Điều lệ trường mầm non; đủ đồ dùng,

đồ chơi, thiết bị tối thiểu; giáo viên đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

- Huy động 95% trở lên số trẻ em năm tuổi ra lớp, trong đó có ít nhất 85% số trẻ em trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

- Bảo đảm có 85% trở lên trẻ năm tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 - 6 tuổi);

- T lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 90% trở lên;

- T lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) và thấp còi (chiều cao theo tuổi) không quá 10%

b.3 Đối với v ng nông thôn đ c biệt khó khăn, v ng núi cao, hải đảo

- Có đủ phòng học bảo đảm diện tích xây dựng quy định tại Điều lệ trường mầm non; đủ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị tối thiểu; giáo viên đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

Trang 31

28

- Huy động 90% trở lên số trẻ em năm tuổi ra lớp, trong đó có ít nhất 80% số trẻ em trong độ tuổi được học 2 buổi/ngày trong một năm học (9 tháng) theo Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

- Bảo đảm có 80% trở lên trẻ năm tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 - 6 tuổi), số trẻ em còn lại được học tăng cường tiếng Việt;

- T lệ chuyên cần của trẻ: đạt từ 85% trở lên;

- T lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) và thấp còi (chiều cao theo tuổi) không quá 15%

c Đối với đơn vị cấp huyện

Bảo đảm 90% số đơn vị cơ sở đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

d Đối với đơn vị cấp tỉnh

Bảo đảm 100% số đơn vị cấp huyện thuộc tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

1.6.5.2 Các điều kiện đảm bảo chất lượng PCGDMN cho trẻ năm tuổi

- Có đủ phòng học theo hướng kiên cố, đạt chuẩn theo quy định tại Điều lệ trường mầm non

- Trường, lớp có bộ thiết bị dạy học tối thiểu để thực hiện Chương trình giáo dục mầm non; ở vùng thuận lợi có thêm các bộ đồ chơi, phần mềm trò chơi ứng dụng công nghệ thông tin, làm quen với máy vi tính để học tập

- Có đủ số lượng giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo; giáo viên được hưởng thu nhập và các chế độ khác theo thang bảng lương giáo viên mầm non

- Trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và các chế độ, chính sách khác theo quy định hiện hành; được chăm sóc giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non, trẻ em dân tộc thiểu số được chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1

Trang 32

tự giác chủ động thực hiện chính sách Đó không phải là sự cưỡng chế hành chính

mà bằng lợi ích vật chất, bằng sự khuyến khích về kinh tế Đây là phương pháp tốt

để thực thi chính sách phát triển đối với công chức ngành Giáo dục Trên thực tế, quyền lợi về mặt vật chất và kinh tế là điều mà ai cũng mong muốn có được, vì vậy

sử dụng phương pháp kinh tế sẽ tác động trực tiếp đến tâm lý và nguyện vọng của công chức, thúc đẩy họ có trách nhiệm và nhiệt tình hơn trong việc thực thi chính sách Trong thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay, các phương pháp kinh tế được sử dụng như đầu tư vật chất, tài chính…

1.7.2 Phương pháp giáo dục, thuyết phục

Phương pháp này được áp dụng để làm cho đối tượng thực thi chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách công chức trong ngành hiểu rõ sự cần thiết của chính sách và tự giác thực hiện chính sách Phương pháp này được tiến hành thông qua tuyên truyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn về chính sách PCGDMN cho trẻ

em năm tuổi và những lợi ích về vật chất và tinh thần mà chính sách mang lại nhằm tác động đến ý thức, trách nhiệm của mỗi công chức để thúc đẩy họ tích cực và trách nhiệm hơn trong quá trình thực thi chính sách này Trong thực tế thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi, phương pháp giáo dục, thuyết phục được chú trọng bởi đội ngũ giáo viên nước ta phần lớn có trình độ đào tạo đảm bảo theo chuẩn, có ý thức k luật và bản lĩnh chính trị vững vàng, vì vậy phương pháp này dễ dàng thực hiện và đem lại hiệu quả cao Phương pháp này được thực hiện thông qua các buổi quán triệt, sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt Đảng, công đoàn…

Trang 33

30

1.7.3 Phương pháp hành chính

Đây là phương pháp tác động trực tiếp của cơ quan, tổ chức có chức năng thực thi chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc trong khuôn khổ quy định của pháp luật lên chủ thể thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng của chính sách là trẻ em Phương pháp này có tính bắt buộc, tính quyền lực và bảo đảm k cương trong quá trình thực thi chính sách Trong thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay, phương pháp này ít được sử dụng do tính chất của chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi là nhằm mục đích cho trẻ em năm tuổi trong các cơ sở giáo dục mầm non được hưởng các quyền lợi về vật chất và tinh thần nên các cơ sở giáo dục trong ngành đều có tinh thần và trách nhiệm thực hiện khá tốt Chỉ khi nào trong quá trình thực thi chính sách, nảy sinh các vấn đề phức tạp như mất công bằng về quyền lợi giữa các đối tượng, gây ra sự mất đoàn kết, khiếu nại…mới sử dụng phương pháp này Trong quá trình sử dụng phương pháp này cũng cần lưu ý tránh lạm dụng phương pháp này và tránh sự lạm quyền

1.7.4 Phương pháp kết hợp các phương pháp trên

Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong quá trình thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay Đó là sự kết hợp của cả ba phương pháp nêu trên Cách thức tác động của phương pháp này khá toàn diện bao gồm tác động đến cả lợi ích vật chất, kinh tế và lợi ích tinh thần, trách nhiệm và ý thức của đội ngũ cán bộ thực thi chính sách và công chức trong ngành Phương pháp này bảo đảm sự hài hòa trong quá trình thực thi chính sách Trong phương pháp này, phương pháp hành chính và phương pháp giáo dục thuyết phục không mâu thuẫn với nhau mà nó bổ sung cho nhau, tác động một cách toàn diện đến quá trình thực thi chính sách

1.8 Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

Chủ thể tham gia thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta bao gồm các chủ thể trực tiếp và chủ thể gián tiếp: Chủ thể trực tiếp là các

cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em

Trang 34

31

năm tuổi và các đối tượng thụ hưởng của chính sách là các cơ sở giáo dục mầm non

và trẻ em trong độ tuổi năm tuổi Chủ thể trực tiếp bao gồm: Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống các Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương, Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố có chức năng hoạch định (lập kế hoạch), chức năng tổ chức, chức năng điều hành (chỉ đạo), chức năng kiểm tra, ngoài ra Sở Giáo dục và Đào tạo còn có chức năng tham mưu, phối hợp với các chủ thể khác như Sở Tài chính,

Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc bố trí ngân sách và hoạch định kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu của đề án; các cơ sở giáo dục mầm non có chức năng thực thi, trẻ em trong độ tuổi năm tuổi là đối tượng hưởng thụ trực tiếp; chủ thể gián tiếp là các cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm phối hợp trong việc thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta hiện nay Chủ thể gián tiếp bao gồm các cơ quan cung cấp nguồn lực (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hội Khuyến học, Đoàn Thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ , các cơ quan cấp tỉnh: Tài Chính, Kế hoạch và Đầu tư, ) các chủ thể này có chức năng phối hợp và hoạch định chính sách thực hiện mục tiêu của Đề án Như vậy, có thể thấy rằng chủ thể tham gia thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ em năm tuổi ở nước ta khá đa dạng, không chỉ mang tính một ngành mà là liên ngành Điều đó đòi hỏi sự phân công, phối hợp hiệu quả trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách để đảm bảo tính hiệu quả và mục tiêu của chính sách này

Tiểu kết chương 1

Hiện nay, việc xây dựng xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người, mọi lứa tuổi được học thường xuyên, học suốt đời là điều tất yếu trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của một tỉnh miền núi như Cao Bằng, nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi cấp bách để các địa phương trong tỉnh nhanh chóng thoát khỏi những khó khăn của một tỉnh kém phát triển, giáo dục và đào tạo có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh, trong đó có việc thực hiện PCGD các bậc học Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp và đề xuất các biện pháp thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ năm tuổi là việc làm cần thiết và quan

Trang 35

32

trọng Chất lượng PCGDMN cho trẻ năm tuổi phụ thuộc rất nhiều vào công tác thực hiện chính sách ở mỗi cơ sở, đơn vị Để nâng cao chất lượng PCGDMN cho trẻ năm tuổi đòi hỏi mỗi đơn vị, cơ sở giáo dục phải làm tốt công tác quản lý

Để làm rõ cơ sở lý luận về chính sách PCGDMN cho trẻ năm tuổi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn hiện nay, đề tài đã nêu và phân tích một số khái niệm liên quan như "Chính sách công, PCGD, PCGDMN cho trẻ năm tuổi đồng thời dựa vào mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay để phân tích một cách sâu sắc và toàn diện những nhân tố ảnh hưởng đến công tác PCGD Để có cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc thực hiện chính sách PCGDMN cho trẻ năm tuổi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn hiện nay đáp ứng yêu cầu, cần thiết phải khảo sát, phân tích thực trạng PCGDMN cho trẻ năm tuổi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong thời gian qua

Trang 36

33

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM NĂM TUỔI

TẠI TỈNH CAO BẰNG 2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Cao Bằng ảnh hưởng tới tổ chức thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

2.1.1 Vị trí địa lý

Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.690,72 km², phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đường biên giới dài trên 332 km, phía Tây giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Đông Nam giáp tỉnh Lạng Sơn Địa hình Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp, miền địa hình núi đá vôi có đặc trưng của địa hình dạng catstơ chiếm diện tích khá lớn, phân bố hầu hết ở các huyện trong tỉnh Đây là một dạng địa hình độc đáo, điểm nổi bật của kiểu địa hình này là

có nhiều hệ thống hang động và sông suối ngầm rất đa dạng và phong phú Tiêu biểu có Động Ngườm Ngao với vẻ đẹp nguyên sơ và được đánh giá đẹp vào bậc nhất Đông Nam Á, Thác Bản Giốc, hồ Thang Hen

Là tỉnh miền núi vùng cao biên giới, xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Bắc và cả nước nhưng Cao Bằng lại có bảy cửa khẩu, trong đó có cửa khẩu quốc tế Tà Lùng Đây là lợi thế quan trọng, tạo điều kiện cho tỉnh giao lưu kinh tế với bên ngoài, nhất là Trung Quốc

Cao Bằng có 12 huyện, 1 thành phố trực thuộc tỉnh và có trên 52 vạn dân có các thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống bao gồm : Kinh, Tày, Nùng, H’mông, Dao, Lô Lô, Sán chay… trong đó có trên 95% là người dân tộc thiểu số Với thành phần nhiều dân tộc, bức tranh văn hóa tộc người của tỉnh Cao Bằng đã được dệt nên bởi nhiều sắc màu phong phú của cộng đồng các dân tộc cùng sinh sống nơi đây

2.1.2 Dân số, dân cư, các vấn đề xã hội

Năm 2015, dân số của tỉnh Cao Bằng ước khoảng 52.453 người Trong đó, dân số đô thị là 13.693 người, chiếm 13,22% dân số T lệ dân số phân theo giới tính của tỉnh khá cân bằng

Dân cư tỉnh Cao Bằng phân bố không đồng đều trên lãnh thổ, giữa các huyện, thành phố có sự chênh lệch đáng kể về mật độ Dân cư tỉnh Cao Bằng tập

Ngày đăng: 07/11/2017, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Trần Khánh Đức (2010) “Giáo dục và phát triển ngu n nhân lực trong thế kỷ XXI”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục và phát triển ngu n nhân lực trong thế kỷ XXI”
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
19. Đỗ Phú Hải (2012), “Quy trình chính sách công tại Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn’’, Đề tài khoa học cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy trình chính sách công tại Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn’’
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2012
20. Đỗ Phú Hải (2014), “Khái niệm chính sách công’’, Tạp chí lý luận chính trị số 02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khái niệm chính sách công’’
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
21. Đỗ Phú Hải (2014), Xây dựng chính sách công “Vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng’’, Tạp chí lý luận chính trị số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chính sách công “Vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng’’
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
22. Đỗ Phú Hải (2014), “Suy nghĩ về chính sách công hiện nay ở Việt Nam’’, Tạp chí Cộng sản số 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Suy nghĩ về chính sách công hiện nay ở Việt Nam’’
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Khác
2. Bộ Chính trị, Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 5/12/2011 về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân lu ng học sinh sau trung học cơ sở và xóa m chữ cho người lớn Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 32/2010/TT-BGDĐT ngày 02/12/2010 quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình công nhận PCGDMN cho trẻ em năm tuổi Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch số 29/2011/TTLT- BGDĐT- BTC ngày 17/7/2011 hướng dẫn thực hiện Quyết định 239/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 48/2011/TT-BGDĐT ngày 25/10/2011 quy định chế độ làm việc đối với giáo viên mầm non Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BGDĐT-BTC-BNV ngày 11/3/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 60/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 34/2013/TT-BGD&ĐT ngày 17/9/2013 về Sửa đổi, bổ sung một số thiết bị quy định tại danh mục Đ d ng - Đ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu d ng cho giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11/02/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Khác
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 36/2013/TT-BGDĐT ngày 06/11/3013 sửa đổi Quy định điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi kèm theo Thông tư 32/2010/TT-BGDĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo Khác
9. Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nghị quyết số 46/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 của Hội đ ng Nhân dân tỉnh về việc phê chuẩn kế hoạch thực hiện Đề án PCGDMNTNT trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010 - 2015 Khác
10. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 phê duyệt Đề án Phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015 Khác
11. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 711/QĐ/TTg ngày 13/6/2011 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 Khác
12. Chính phủ, Nghị định 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục ghi rõ "Nhà nước thực hiện PCGD mầm non cho trẻ em năm tuổi, PCGD tiểu học và PCGD trung học cơ sở&#34 Khác
13. Tỉnh ủy Cao Bằng, Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 12/5/2011 về thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi Khác
14. Tỉnh ủy Cao Bằng, Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 09/2/2012 về việc tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo giai đoạn 2012-2015 Khác
15. Tỉnh ủy Cao Bằng, Chương trình hành động số 26-CTr/TU ngày 21/5/2012 về thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w