1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015 2020

52 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 86,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chế xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trênđịa bàn huyện.Tuy nhiên, bên

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề án

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghinhận Quyền khiếu nại, tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống cácquyền công dân, quyền con người Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là thựchiện quyền dân chủ trực tiếp Một mặt, quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ,phản kháng hợp pháp trước các hành vi vi phạm pháp luật; mặt khác, thôngqua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo công dân tham gia vào quá trìnhkiểm tra, giám sát xã hội; kiểm tra, giám sát nhà nước Như vậy, bằng việcphản hồi thông tin trực tiếp cho các chủ thể quản lý, thực hiện quyền khiếunại, tố cáo còn là sự tham gia của công dân vào quản lý nhà nước, quản lý xãhội Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đóng góp vai trò to lớntrong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, góp phần tích cực vào việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và

kỷ luật nhà nước trong giai đoạn hiện nay Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáocủa công dân là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa nhân dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, phát hiện và khắc phục những sai lầmthiếu sót trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời củng cố mối quan hệ

và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tiếp dân, giảiquyết khiếu nại, tố cáo; trong những năm qua cấp ủy và chính quyền địaphương huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tích cực triển khai quán triệt cácchủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác giảiquyết khiếu nại tố cáo, tăng cường ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai,thực hiện các nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền nhằm nâng caohơn nữa chất lượng công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo ở địaphương, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp

1

Trang 2

chế xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trênđịa bàn huyện.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công tác tiếp công dân,giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế bất cập, một số cấp uỷ chínhquyền địa phương chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếunại, tố cáo của đơn vị; chưa xây dựng được quy chế tiếp công dân, nội quy vàniêm yết lịch tiếp công dân tại nơi tiếp công dân; trách nhiệm xem xét, giảiquyết đơn thuộc thẩm quyền ở một số đơn vị còn chậm, nội dung xử lý chưađảm bảo thủ tục quy định, thiếu chặt chẽ dẫn đến một số vụ việc giải quyếttồn đọng, kéo dài Cá biệt có vụ việc giải quyết không đúng thẩm quyền,nhiều vụ việc phát sinh kéo dài do lịch sử để lại chưa được giải quyết hoặc thihành dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến tình trạng phát sinh đơnthư gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra Mặt khác, song song với việc phát triển kinh

tế xã hội, trên địa bàn huyện trong thời gian tới sẽ có nhiều chương trình dự

án phát triển kinh tế xã hội như: Xây dựng nông thôn mới, chương trình 135

và các xã vùng An toàn khu của huyện sẽ dẫn đến tình hình khiếu nại, tố cáo

về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường … dự báo cóchiều hướng gia tăng, phát sinh những vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, phứctạp, đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp trong thời gian tới

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư,giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, tôi xây

dựng Đề án: “Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn

2015 - 20120”, nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác

tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyệngiai đoạn 2015 - 2020

2

Trang 3

2 Giới hạn của đề án

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề án tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành vềtiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo và tình hình, kếtquả hoạt động Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong tổchức thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại,

tố cáo trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

2.2 Không gian nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư

và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

2.3 Thời gian nghiên cứu

Thu thập số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân,giải quyết khiếu nại, tố cáo của huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm

2015 nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân,giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện giai đoạn 2015 - 2020

3 Mục tiêu của đề án

3.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáotrên địa bàn huyện Bắc Sơn nhằm đề xuất các giải pháp tạo sự chuyển biếnmạnh mẽ trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố

cáo trên địa bàn huyện giai đoạn 2015 - 2020 Góp phần giải quyết những vấn

đề nổi cộm, gây bức xúc trong nhân dân về công tác khiếu nại, tố cáo, đảmbảo ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền vàlợi ích chính đáng cho tổ chức và công dân Tăng cường củng cố hiệu lực hiệuquả quản lý nhà nước, đảm bảo pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc

3

Trang 4

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Đảm bảo các cơ quan, đơn vị thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật vềtiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; các quyết định, kết luận giải quyếttheo đúng trình tự, thủ tục quy định, có tính khả thi, đảm bảo công dân chấp hànhnghiêm quyết định, kết luận đang có hiệu lực thi hành

- Nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việctiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền,giảm tình trạng đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm dẫn đến đơn thư phátsinh vượt cấp

- Rút ngắn thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo và nâng cao chất lượngcủa công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho tổchức và công dân, hạn chế việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài

- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức tiếp côngdân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo Nâng cao vai trò trách nhiệm của

cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ giám sát, tuyên truyền cácchính sách pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đề xuất,kiến nghị người có thẩm quyền giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đúng quy địnhcủa pháp luật

- Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của công dân vềpháp luật tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, giúp người dân nắm được quyền vànghĩa vụ của mình khi thực hiện việc khiếu nại, tố cáo

B NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN

4

Trang 5

1 Cơ sở xây dựng đề án

1.1 Cơ sở khoa học

Khiếu nại, tố cáo là sản phẩm cuộc đấu tranh của nhân loại được hìnhthành và phát triển bởi nguồn gốc bất bình đẳng về quyền lợi kinh tế, chínhtrị Nó thể hiện bằng hình thức trong lịch sử, như đánh trống kêu oan, đếncông đường kêu kiện hoặc viết đơn gửi hệ thống chính quyền các cấp để giảibày oan ức mong được giúp đỡ Tuy chủ thể khiếu nại, tố cáo là cá nhân hay

tổ chức hoặc một bộ phận cộng đồng thì khiếu nại, tố cáo vẫn là sự đòi hỏiquyền lợi thiết thực về sự công bằng của giai cấp bị trị đối với giai cấp thốngtrị, do đó bản chất nó bao giờ cũng mang tính giai cấp và tồn tại khách quankhi xã hội có phân chia giai cấp Trong thế giới hiện đại quyền con người nóichung và quyền khiếu nại nói riêng được công nhận, cam kết, bảo đảm vàđược ghi trong các Công ước, Hiệp ước, Hiến chương quốc tế nó được chứng

minh rằng "Mọi người đều có quyền khiếu nại hữu hiệu đến cơ quan tư pháp quốc gia; Có quyền chống những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của con người đã được Hiến pháp và Pháp luật thừa nhận".

Điều 25 Công ước Châu Mỹ về quyền con người ghi nhận: "Mọi người đều có quyền hưởng một thủ tục khiếu nại đơn giản và nhanh chóng hoặc mọi khiếu nại hữu hiệu khác trước các thẩm phán hoặc các Tòa án có thẩm quyền nhằm bảo vệ người đó chống lại tất cả các hành động vi phạm đến các quyền

cơ bản của họ đã được Hiến pháp, pháp luật hoặc Công ước này thừa nhận, ngay cả khi vi phạm này do những người thi hành công vụ gây ra…" Ngay trong những năm đầu của Chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đã xác định: "Không thể giành thắng lợi cho Chủ nghĩa Xã hội toàn thắng và đưa nhân loại tới sự mất đi của Nhà nước nếu không thực hiện dân chủ một cách đầy đủ".

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác- Lênin vào tiễn cánh mạng Việt Nam Ngay sau khi giành chính quyền

5

Trang 6

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng, củng cố mối quan

hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Người nói: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi” Người đã nhiều lần

chỉ ra ý nghĩa chính trị sâu sắc của công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tốcáo của nhân dân Trong bài nói chuyện với cán bộ Thanh tra tại Hội nghịThanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:

“Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại, tố cáo Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của

họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn” Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giải quyết khiếu nại, tố

cáo của dân chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mốiquan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dânvào Đảng và Nhà nước Trong trường hợp các khiếu nại, tố cáo được các cơquan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời và thỏa đáng thìnhững người dân đi khiếu nại, tố cáo và thậm chí cả những người sống xungquanh họ sẽ cảm thấy Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe ý kiến của họ, quantâm, lo lắng đến quyền lợi của họ và cũng tự nhiên họ thấy Nhà nước gần gũi,gắn bó với họ và đã thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhưngngược lại nếu các khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị của dân được các cơ quan,cán bộ Nhà nước đón nhận bằng một thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm thì cũngchính những người dân đó sẽ hình thành tâm trạng thiếu tin tưởng và có xuhướng xa lánh các cơ quan quản lý Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng,đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, gắn liền với nó là việckhôi phục kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minhnhững người sai phạm, tất yếu sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào

6

Trang 7

chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm chomối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặthơn.

1.2 Cở sở chính trị, pháp lý

1.2.1 Cơ sở chính trị

- Chỉ thị 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của bộ chính trị về tăng cường sựlãnh đạo của đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếunại, tố cáo

- Thông báo số 307-TB/TW ngày 10/02/2010 của Ban Bí thư Trung ươngĐảng về Đề án đổi mới tiếp công dân

- Chỉ thị số 15 - CT/TU ngày 22 tháng 5 năm 2002 của Ban Thường vụTỉnh uỷ Lạng Sơn về tăng cường lãnh đạo công tác tiếp dân và giải quyếtkhiếu nại, tố cáo của công dân

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Hiện nay công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáođược quy định ở nhóm văn bản sau:

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

- Hệ thống văn bản luật, gồm: Luật khiếu nại năm 2011; Luật tố cáonăm 2011; Luật Tiếp công dân năm 2013

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Nghị định số 75/2012ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật khiếu nại; Nghị định số 76/2012 ngày 03/10/2012 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo; Thông tư 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình giảiquyết tố cáo; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh traChính phủ quy định về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Nghị định64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

7

Trang 8

số điều của Luật Tiếp công dân; Thông tư số 46/2012/TTLT-BTC-TTCPngày 16/3/2012 của Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ quy định chế độ bồi dưỡng đốivới cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tốcáo, kiến nghị, phản ánh.

Nguyên nhân phát sinh đơn thư xuất phát từ công tác quản lý, các vănbản chưa kịp thời điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, sự phát triển kinh tế,làm thay đổi đời sống của nhân dân nông thôn và cũng làm xuất hiện nhữngmâu thuẫn, bất đồng nảy sinh do bồi thường giải phóng mặt bằng, các mâuthuẫn cá nhân trong mở rộng sản xuất kinh tế Một số quyết định, bản án giảiquyết đã có hiệu lực nhưng việc thi hành trên thực tế không thực hiện được.Việc thụ lý, giải quyết các yêu cầu của công dân chưa kịp thời; trình độ, nănglực, kiến thức pháp luật của công chức còn hạn chế, việc tiếp nhận, thẩm tra,xác minh, xử lý đơn chưa đảm bảo thời gian quy định, nhiều vụ việc ban hànhkết luận, quyết định, văn bản trả lời công dân chưa thỏa đáng, tình trạng đơn

8

Trang 9

thư công dân gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra Sự hiểu biết về chính sách phápluật của người dân còn nhiều hạn chế, dễ bị lôi kéo, kích động; Công táctuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo chưa thườngxuyên, sâu rộng đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là nhữngnơi vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn

Trước tình hình đó, để nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý,giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo trên địa bàn cần thực hiệnnhiều giải pháp và giải quyết một cách đồng bộ, từ việc nâng cao nhận thức củacấp ủy, chính quyền địa phương về tầm quan trọng của công tác này, tăngcường vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, bố trí cán bộ,công chức có năng lực, trình độ, có khả năng dân vận và nắm vững kiến thứcpháp luật; tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ; đẩy mạnhcông tác tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên và có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đốivới cán bộ công chức, đẩy mạnh việc tuyên truyền các quy định của pháp luậtnhằm nâng cao ý thức trách trách nhiệm của công dân trong việc chấp hành vàtuân thủ pháp luật …

2 Nội dung thực hiện đề án

2.1 Bối cảnh thực hiện

Cùng với các hoạt động cải cách kinh tế, chúng ta đã quan tâm và thựchiện có hiệu quả cải cách về tư pháp và hệ thống pháp luật, trong đó nổi bật làhoạt động cải cách thủ tục hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo là mộtlĩnh vực được chú trọng xây dựng và hoàn thiện Cơ chế giải quyết khiếu nại,

tố cáo là một trong những thể chế rất quan trọng thuộc lĩnh vực quan hệ giữaNhà nước và nhân dân Hoàn thiện cơ chế này sẽ góp phần nâng cao hiệu lực,hiệu quả của hoạt động hành chính công, đồng thời tăng cường việc thực thicác quyền dân sự, chính trị của người dân

9

Trang 10

Quyền khiếu nại, tố cáo của người dân đối với hoạt động hành chínhcủa Nhà nước được pháp luật công nhận và bảo hộ Hiến pháp năm 2013 quy

định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

(Khoản 1 Điều 30)

Trong một thời gian dài, pháp luật khiếu nại, tố cáo đã được sửa đổi, bổsung hoàn thiện nhiều lần, nhưng thực tiễn cho thấy, công tác giải quyết đơnkhiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng bộc lộ nhiềukhó khăn, bất cập và ngày càng gia tăng số lượng các đơn thư khiếu nại, tốcáo của người dân về các quyết định, hành vi hành chính của các cơ quan nhànước, ở tất cả các cấp chính quyền về những việc làm trái pháp luật của cơquan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và trên hầuhết các lĩnh vực dân sinh: đất đai, môi trường, y tế, giao thông, xây dựng,kinh doanh, chế độ chính sách Tính chất và nội dung khiếu kiện ngày càngphức tạp, nó đặt ra một yêu cầu cấp bách là phải giải quyết hiệu quả, nhanhchóng những đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Từ những hạn chế bất cập về cơ chế, chính sách cũng như trình độ,năng lực quản lý ở địa phương trước những yêu cầu khách quan trong quátrình đổi mới và hội nhập, tình hình kinh tế xã hội của huyện Bắc Sơn cónhững chuyển biến căn bản, việc mở rộng quy hoạch đất đai xây dựng cáccông trình công cộng; triển khai các dự án xây dựng nông thôn mới, cácchương trình dự án khác đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số, việc triểnkhai dự án ảnh hưởng và thiệt hại trực tiếp đến đất đai của nhân dân trong sảnxuất nông nghiệp mặt khác các quy định của pháp luật đất đai thiếu đồng bộ,dẫn đến trên địa bàn huyện trong những năm vừa qua vẫn phát sinh nhiều đơnthư liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai do lịch sử

để lại, tranh chấp ranh giới sử dụng đất, yêu cầu giải quyết các chế độ chính

10

Trang 11

sách, các tranh chấp bất đồng nhỏ tại khu dân cư chưa được xem xét hòa giảikịp thời Nhiều vụ việc giải quyết chậm thời hạn, tỷ lệ giải quyết đạt thấp, một

số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chứcthực hiện công tác này Cá biệt có vụ việc giải quyết chưa đúng quy trình gâybức xúc trong nhân nhân

Các quy định về nơi tiếp công dân, quy chế nội quy tiếp công dân, tổchức tiếp công dân chưa đúng quy trình, như chưa lập biên bản, kết luận tạibiên bản tiếp công dân chưa chỉ đạo, phân công công chức, bộ phận chuyênmôn tham mưu thực hiện Cấp huyện hiện nay bố trí được phòng tiếp côngdân riêng nhưng còn chật hẹp, tài liệu, máy tính, ghi âm, camera, máy chiếu,điều hòa chưa được trang bị đầy đủ, khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụcũng như thực hiện công tác kiểm tra, quản lý của người đứng đầu

Đối với các phòng, ban chuyên môn việc bố trí bàn làm việc và tổ chứctiếp công dân còn khó khăn, nơi làm việc chật hẹp, cũng ảnh hướng đến việctiếp công dân theo quy định Đối với cấp xã, chưa bố trí được phòng tiếp côngdân riêng, việc tiếp công dân được thực hiện chung với bộ phận tiếp nhận vàtrả kết quả, cán bộ, công chức kiêm nhiệm làm công tác này trình độ năng lựccòn chế, chế độ đãi ngộ đối với công chức chưa được thực hiện; Công táctuyên truyền gặp nhiều khó khăn, do trình độ dân trí trên địa bàn huyện khôngđồng đều, nhiều đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa, khả năng tiếpcận và hiểu pháp luật hạn chế; từ việc chưa hiểu chính sách pháp luật cũngdẫn đến việc công dân thờ ơ, thiếu trách nhiệm, một số quyết định ban hành

có hiệu lực pháp luật chưa được công dân chấp hành, có thái độ chống đối cơquan nhà nước; một số đồng bào dân tộc H.Mông di cư tự do từ nơi khác đếnsống tại những nơi vùng sâu, vùng xa của huyện cũng có những tiềm ẩn gâybất đồng, mất ổn định, khó khăn cho việc triển khai các quy định của phápluật Những hạn chế bất cập trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa

11

Trang 12

phương trong những năm qua, cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt độngtiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới.

2.2 Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở huyện Bắc Sơn 2.2.1 Đặc điểm tự nhiên xã hội của huyện

Bắc Sơn, là huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâmthành phố Lạng Sơn 86 km Huyện Bắc Sơn có 19 xã và 01 thị trấn, với 119

thôn và khối phố, trong đó: khu vực I gồm 08 xã: (thị trấn Bắc Sơn, xã Hữu Vĩnh, Quỳnh Sơn, Bắc Sơn, Chiến Thắng, Vũ Sơn, Tân Hương và Hưng Vũ); khu vực II gồm 09 xã: (Long Đống, Tân Lập, Vũ Lăng, Nhất Hoà, Đồng Ý,

Vũ Lễ, Tân Thành, Chiêu Vũ và Tân Tri); khu vực III gồm 03 xã: (Trấn Yên, Nhất Tiến, Vạn Thuỷ) Tổng số thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện là

49 thôn, trong đó 22 thôn thuộc xã khu vực II, 27 thôn thuộc xã khu vực III;huyện có 08 xã được công nhận là xã An toàn khu trong thời kỳ kháng chiến

chống thực dân Pháp, bao gồm các xã (Vũ Lễ, Tân Hương, Tân Lập, Vũ Lăng, Bắc Sơn, Quỳnh Sơn, Hữu Vĩnh và Hưng Vũ).

Về đất đai: Tổng diện tích tự nhiên 69.942,56 ha; trong đó đất sản xuấtnông nghiệp là 14.260,6 ha, đất lâm nghiệp là 41.210,25 ha Về dân số 67.307

người (năm 2013), trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 88,80%, (gồm 12 dân tộc cùng sinh sống: Tày, chiếm 67,66%; Dao 11,75%; Nùng 8,59%; H.Mông 0,67%; Mường 0,03%; Sán Chay 0,02%; Sán Dìu 0,008%; Thái 0,01%; Ê Đê 0,001%; Cờ Ho 0,001%; Mơ Nông 0,001%; Cao Lan 0,004%).

Dân tộc Kinh chiếm 11,19% sống tập trung ở thị trấn Bắc Sơn và các thị tứ

Ngả Hai (xã Vũ Lễ), Mỏ Nhài (xã Hưng Vũ) Có 94% người dân tộc thiểu số

sống ở nông thôn và 6% sống ở thị tứ, thị trấn

Về kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, đời sống của một bộphận nhân dân còn nhiều khó khăn; trình độ dân trí không đồng đều, có nhiềuđồng bào dân tộc theo đạo tin lành sống ở vùng sâu, vùng xa dễ bị kích động,

12

Trang 13

lối kéo, mặt khác kinh tế xã hội của huyện từng bước được đầu tư, cácchương trình dự án sẽ có những tác động ảnh hưởng đến việc khiếu nại, tố cáocủa công dân

5 tháng 2015

(lượt/ công dân)

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

Qua theo dõi thống kê nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ tiếp công dântrên địa bàn huyện, thì công dân đến kiến nghị, phản ánh trực tiếp với cơquan, người có thẩm quyền qua các năm như sau: năm 2010: 221 lượt/221công dân chủ yếu phát sinh tiếp công dân tại Uỷ ban nhân dân cấp xã (209lượt/2019 công dân); năm 2011: tiếp 163 lượt/165 công dân (cấp xã 155 lượt/

155 công dân); năm 2012: tiếp 235 lượt/238 công dân; năm 2013: tiếp 68/75công dân (cấp huyện 43 lượt/45 công dân); năm 2014: tiếp 84 lượt/89 côngdân; 05 tháng đầu năm 2015: tiếp 10/12 công dân (cấp huyện 08 lượt/10 côngdân)

13

Trang 14

* Kết quả tiếp nhận và xử lý đơn Biểu số 02

(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn)

- Cấp xã: năm 2010 số đơn thuộc thẩm quyền: 157/183 đơn; năm 2011:138/177 đơn; năm 2012: 165/202 đơn; năm 2013: 135/153 đơn; năm 2014:115/159 đơn; 5 tháng đầu năm 2015: 98/112 đơn

- Cấp huyện: năm 2010 số đơn thuộc thẩm quyền: 19/33 đơn; năm 211:25/25 đơn; năm 2012: 13/33 đơn; năm 2013: 6/44 đơn; năm 2014: 25/54 đơn;

05 tháng đầu năm 2015: 22/48 đơn

* Kết quả giải quyết đơn thuộc thẩm quyền(Biểu 03, 04, 05)

14

Trang 15

Kết quả giải quyết đơn kiến nghị, đề nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã

thuộc huyện Bắc Sơn theo lĩnh vực từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015

Tỷ lệ (%) Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%) Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%) Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%) Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%) Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Trang 16

Kết quả giải quyết đơn kiến nghị, đề nghị thuộc thẩm quyền theo lĩnh vực của UBND huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015

Số vụ đã giải quyế t

Tỷ lệ (%)

Số vụ việc

Số vụ đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Số vụ việc

Số vụ

đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Số vụ việc

Số vụ đã giải quyế t

Tỷ lệ (%)

Số vụ việ c

Số vụ đã giải quyế t

Tỷ lệ (%)

Số vụ việ c

Số vụ đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Trang 17

Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND

huyện Bắc Sơn từ năm 2010 đến tháng 5 năm 2015

Tỷ lệ (%)

Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Tổng số

Số đã giải quyết

Tỷ lệ (%)

Trang 18

- Cấp xã: qua thu thập số liệu không phát sinh đơn khiếu nại, tố cáo, chỉphát sinh đơn đề nghị, kiến nghị về các lĩnh vực đất đai, chế độ chính sách,các tranh chấp dân sự khác, kết quả giải quyết qua các năm đạt tỷ lệ như sau:năm 2010: 93%; năm 2011: 70%; năm 2012: 78%; năm 2013: 35%; năm2014:57%; 05 tháng đầu năm: 19% (Biểu 03).

- Cấp huyện:

+ Kết quả giải quyết đơn đề nghị: năm 2010: 89%; năm 2011: 56%;năm 2012: 92%; năm 2013: 83%; năm 2014: 60%%; 05 tháng đầu năm: 67%.(Biểu 04)

+ Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo: năm 2010: đạt 0%; năm

2011: 0%; năm 2012: 92%; năm 2013: 50%; năm 2014: 67% (số liệu năm

2010, 2011 có 01 vụ việc thụ lý giải quyết không đúng thẩm quyền được thực hiện thu lý từ năm 2006, nhưng chưa ban hành quyết định đình chỉ vụ việc để kết thúc hồ sơ).

Qua thu thập các báo cáo đánh giá kết quả tiếp nhận và xử lý, giảiquyết đơn thư trong giai đoạn 2010 - 2015, huyện Bắc Sơn ít phát sinh đơnkhiếu nại, tố cáo nhưng tình hình đơn thư đề xuất, kiến nghị đề nghị giảiquyết tranh chấp về đất đai, chế độ chính sách, … gia tăng

Trong thời gian qua cấp ủy chính quyền địa phương đã quan tâm xemxét, giải quyết đơn thư theo thẩm quyền quy định, chỉ đạo rà soát, nắm chắccác vụ việc tồn đọng theo Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6/3/2002 của Ban Bí thưTrung ương; Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 27/10/2004 của Thủ tướng Chínhphủ về tình hình khiếu nại, tố cáo và tăng cường trách nhiệm của thủ trưởng

cơ quan Nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; Kế hoạch số345/KH-TTCP ngày 6/3/2008 của Thanh tra Chính phủ về thực hiện Thôngbáo Kết luận số 130-TB/TW của Bộ chính trị; Kế hoạch số 319/KH-TTCPngày 20/02/2009 về việc kiểm tra rà soát các vụ việc bức xúc kéo dài; Kế

Trang 19

hoạch số 1130/KH-TTCP ngày 10/5/2012; Kế hoạch số 2100/KH-TTCP ngày19/9/2013 của Thanh tra Chính phủ về việc kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếunại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài, qua rà soát thống kê trên địa bàn huyệnkhông phát sinh vụ việc cần tiếp tục chỉ đạo giải quyết, đảm bảo ổn định tìnhhình xã hội, không phát sinh điểm nóng về khiếu nại

Việc công dân đến kiến nghị, phản ánh tại nơi tiếp công dân ở cấp xã

có chiều hướng giảm so với những năm trước đây, nhưng có sự gia tăng về sốlượng tiếp công dân tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện Nội dung chủ yếu làtranh chấp đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chế độ, chínhsách Từ thực trạng trên cho thấy chất lượng tiếp công dân ở cơ sở còn hạnchế, một số đơn vị chưa quan tâm đến công tác này, gây bức xúc và thiếu tintưởng của công dân đối với chính quyền cấp xã mà có xu hướng đến cơ quancấp trên để yêu cầu, kiến nghị, phản ánh Mặt khác thể hiện trình độ dân trí,năng lực nhận thức, ý thức pháp luật của công dân còn hạn chế, có tâm lý yêucầu cơ quan cấp trên xem xét thì sẽ được giải quyết nhanh chóng

Việc xem xét, giải quyết đơn kéo dài, chậm thời hạn còn nhiều; tỷ lệgiải quyết đơn đạt thấp, cấp xã đạt 59% vụ việc giải quyết và hòa giải thành,cấp huyện đạt 76% số đơn đề nghị Đơn khiếu nại, tố cáo ít phát sinh, nhưngcác vụ việc đều có tính chất phức tạp, văn bản áp dụng giải quyết có nhiều bấtcập, thường xuyên thay đổi, các vụ việc hầu hết cần phải xin ý kiến cơ quancấp trên; năng lực trình độ, của một một phận cán bộ, công chức chưa đápứng được yêu cầu

2.2.3 Những tồn tại cần giải quyết

Từ đánh giá thực trạng kết quả tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tổcáo trong những năm qua trên địa bàn huyện và dự báo xu hướng khiếu nại, tốcáo vẫn còn những diễn biến phức tạp, số vụ việc khiếu nại, tố cáo sẽ có chiều

có gia tăng, do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Số vụ việc

Trang 20

tranh chấp, đề nghị, kiến nghị chậm giải quyết vẫn còn nhiều, một số địa phươngchưa tập trung chỉ đạo giải quyết đơn thư thuộc thẩm thường xuyên, chưa thựchiện nghiêm chế độ tiếp công dân, một số vụ việc giải quyết chưa xác định đúngthẩm quyền gây bức xúc cho nhân dân, nhân dân chưa tin tưởng vào việc giảiquyết của các cấp chính quyền dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, gâysức ép lên các cấp trên Để xảy ra tình trạng nêu trên là do:

- Một số cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyềnchưa tập trung, quyết liệt trong chỉ đạo, lãnh đạo; chưa huy động được cả hệthống chính trị cùng tham gia vào giải quyết các khiếu nại, tố cáo của côngdân, dẫn đến có nhiều vụ việc phức tạp kéo dài, chưa giải quyết dứt điểm Sựphối hợp giữa lãnh đạo cấp ủy với cơ quan nhà nước trong việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo có nơi chưa chặt chẽ, nhịp nhàng; phối hợp giữa cấp trên vớicấp dưới, giữa biện pháp hành chính với vận dụng chính sách xã hội để giảiquyết khiếu nại tố cáo của công dân có những việc chưa đồng bộ, thống nhất

- Việc chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác tiếp dân, giảiquyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số đơn vị chưa nghiêm túc; giảiquyết vụ việc để kéo dài, còn biểu hiện đùn đẩy tránh né, ngại va chạm Việc

áp dụng pháp luật vào giải quyết các vụ việc cụ thể chưa chính xác

- Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và phápluật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân chưa có chiều sâu, hình thứcchưa phong phú và hiệu quả chưa cao

- Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực như đất đai, tài chínhngân sách, chính sách xã hội ở một số nơi còn lỏng lẻo, tùy tiện để cán bộ lợi dụnglàm trái chế độ chính sách gây thất thoát lãng phí, tạo bức xúc trong nhân dân

- Công tác phối hợp xem xét, xử lý, giải quyết đơn thư giữa các cơ quan, đơn

vị còn hạn chế, nhất là cấp xã chưa chủ động trao đổi, xin ý kiến tư vấn dẫn đến nhiều

vụ việc giải quyết chưa đảm bảo về quy trình, thủ tục và chậm được giải quyết

Trang 21

- Việc xây dựng quy chế, lịch tiếp công dân ở một số đơn vị chưa đượcban hành, việc tổ chức tiếp công dân và mở sổ theo dõi việc tiếp công dân chưađược thống kê đầy đủ, khó khăn cho việc kiểm tra, theo dõi; việc tiếp công dâncủa một số lãnh đạo cấp xã chưa được ghi biên bản và thông báo kết quả tiếpcông dân định kỳ

- Công tác phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, xác định nội dung

và thẩm quyền giải quyết của cán bộ một số cơ quan, đơn vị và cấp xã cònyếu, lúng túng, chồng chéo Đối với cấp xã hồ sơ giải quyết lưu trữ chưa đầy

đủ, chưa lập danh mục hồ sơ lưu trữ theo quy định; quy trình thẩm tra xác minhgiải quyết đơn thuộc thẩm quyền còn hạn chế, bất cập, chưa thể hiện rõ căn cứpháp lý làm căn cứ đề xuất việc giải quyết tại báo cáo xác minh, tại biên bản tổchức hòa giải thuộc thẩm quyền

- Các xã, thị trấn từ năm 2013 đến nay chưa thực hiện chi trả chế độ bồidưỡng đối với cán bộ, công chức thực hiện công tác tiếp công dân theo quyđịnh tại Thông tư 46/2012/TT- LTLT-BTC-TTCP ngày 16/3/2012 của Bộ Tàichính và Thanh tra Chính phủ quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ,công chức làm công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại,

tố cáo, kiến nghị, phản ánh và Quyết định số 01/2013/QĐ-UBND ngày 05/01/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc quy định chế độ bồidưỡng đối với cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thưkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáocủa công dân từ cấp huyện đến cơ cở còn thiếu, yếu về chuyên môn nghiệp

vụ, một số công chức chưa có kinh nghiệm thực tiễn hoặc công chức từ lĩnhvực chuyên môn khác chuyển đến chưa am hiểu quy trình, nghiệp vụ tiếpcông dân, xử lý đơn thư; công chức cơ quan thanh tra lực lượng biên chế ít,được giao 05 biên chế, hiện có 04 biên chế và 01 hợp đồng

Trang 22

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo là công việc khó khăn, phức tạp, lĩnh vựcphạm vi giải quyết rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau;trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêucầu; kinh phí cho hoạt động này còn hạn chế; chế độ, chính sách còn bất cập

do đó hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa cao

- Một bộ phận công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo chưa nắmđược các quy định của pháp luật về lĩnh vực mà mình khiếu nại, tố cáo hoặc

cố tình không chấp hành các quyết định, kết luận của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, mặc dù đã được kiểm tra rà soát nhiều lần, việc giải quyết có lý,

có tình nhưng công dân vẫn khiếu kiện lên cơ quan cấp trên

- Chế độ thông tin, báo cáo tổng hợp về tình hình khiếu nại, tố cáo, kết quảtiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của các cơ quan đơn vị chưa đầy đủ,kịp thời, chính xác khó khăn cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tháo gỡ những khókhăn ở cơ sở

2.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại

* Nguyên nhân khách quan

- Một số văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục tiếp công dân, tiếpnhận xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập, chậm đượcban hành, thiếu cơ chế đồng bộ cho việc xử lý, giải quyết

- Lĩnh vực tranh chấp, khiếu nại, tố cáo diễn ra nhiều lĩnh vực trong đờisống xã hội, chịu sự điều chỉnh tác động của nhiều văn bản quản lý khácnhau, nhiều văn bản bản chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn đến chồng chéo,trùng lắp gây khó khăn, lúng túng cho việc áp dụng giải quyết ở địa phương

- Nhiều vụ việc khiếu kiện có nội dung phức tạp, đan xen giữa khiếu nại,

tố cáo và kiến nghị, phản ánh thời gian phát sinh từ lâu, hồ sơ lưu trữ khôngđầy đủ hoặc bị thất lạc, gây khó khăn trong quá trình thẩm tra, xác minh, giảiquyết dẫn đến chậm thời gian so với quy định

Trang 23

- Một số vụ việc giải quyết, xử lý có căn cứ pháp luật, tuy nhiên khi tổchức thực hiện lại thiếu tính khả thi; dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả giảiquyết của cơ quan nhà nước, gây nghi ngờ bức xúc cho người khiếu kiện.

* Nguyên nhân chủ quan

- Nhận thức của lãnh đạo một số đơn vị trong đó có cả người đứng đầuchưa đúng mức về ý nghĩa tầm quan trọng của công tác tiếp công dân, giảiquyết khiếu nại, tố cáo của công dân Chưa xác định công tác tiếp công dân,giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân là một trong những nhiệm vụ chínhtrị trọng tâm, thường xuyên trong tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm

vụ của cơ quan đơn vị mình mà giao toàn bộ cho bộ phận tiếp công dân thựchiện công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ tiếp côngdân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền ở một số địa phương nhất là

cơ sở trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết liệt, nhiều trường hợp có tâm lý ngại

va chạm, né tránh, đùn đẩy lên cấp trên; có một số vụ việc giải quyết cònchậm; có vụ việc kết luận giải quyết chưa chính xác, khách quan, kịp thời,chưa thực sự quan tâm đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp nên côngdân không nhất trí, tiếp tục khiếu nại

- Lực lượng cán bộ, công chức chuyên môn về lĩnh vực tiếp công dân,giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân cấp huyện còn thiếu, một bộ phậncông chức kinh nghiệm, hiểu biết xã hội còn hạn chế, dẫn đến chất lượng,hiệu quả công tác tiếp công dân chưa cao, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáochưa đúng, thời gian kéo dài

- Hồ sơ quản lý nhất là quản lý về đất đai còn nhiều bất cập; tinh thầntrách nhiệm, ý thức tổ chức của một số cán bộ, công chức chưa cao, chưa gầndân, chưa kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân để giải quyết

Trang 24

kịp thời khi mới phát sinh những vướng mắc dẫn đến khiếu kiện, hiệu quảcông tác hòa giải một số nơi ở cơ sở còn hạn chế.

- Quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, một số đơn vịchưa thực hiện đúng các quy định về trình tự giải quyết các vụ việc khiếu nại,

tố cáo; sự tham gia phối hợp của các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội trongviệc giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân còn hạn chế dẫn đến đơn thưkhiếu nại, tố cáo còn tồn đọng, kéo dài

- Việc kiểm tra thực hiện các quyết định, kết luận giải quyết đơn thưkhiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến việc thực hiện quyếtđịnh, kết luận chưa nghiêm Công tác xử lý đối với cán bộ có sai phạm còn nểnang, chưa triệt để

- Ý thức, am hiểu về pháp luật của một bộ phận công dân khi thực hiệnquyền khiếu nại, tố cáo còn hạn chế, có những vụ việc đã có quyết định, kếtluận giải quyết cuối cùng nhưng công dân cố tình đeo bám khiếu kiện, khôngthực hiện việc khởi kiện ra tòa án, có trường hợp lợi dụng quyền tự do, dânchủ của công dân để khiếu nại, tố cáo sai sự thật, kích động, lôi kéo người nhẹ

dạ cả tin đi khiếu kiện gây phức tạp thêm tình hình

- Kinh phí từ ngân sách cấp huyện cấp cho Hội đồng phối hợp phổ biếngiáo dục pháp luật còn hạn hẹp từ năm 2010 đến nay trung bình mỗi nămđược cấp 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng), nên việc tổ chức tuyên truyền cácquy định của pháp luật nói chung và luật khiếu nại, tố cáo cho các tầng lớpnhân dân số cuộc tuyên truyền ít, chất lượng chưa cao

2.3 Nội dung cụ thể của đề án cần thực hiện

Nhằm giải quyết căn bản những tồn tại hạn chế trong thực hiện côngtác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gianqua trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, góp phần ổn định tình hình

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát

Trang 25

triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới, đề án đề ra mục tiêu cần đạt được tronggiai đoạn 2015 - 2020 như sau:

Thứ nhất, Công tác tiếp công dân: Duy trì lịch tiếp công dân của Chủ

tịch Uỷ ban nhân dân huyện, Thủ trưởng các phòng, ban và Chủ tịch Uỷ bannhân dân các xã, thị trấn theo quy định Định kỳ hàng quý kiểm tra tráchnhiệm tiếp công dân của thủ trưởng các phòng, ban, Chủ tịch Uỷ ban nhândân các xã, thị trấn Chỉ đạo giải quyết kịp thời các kiến nghị của công dân tạicác kỳ tiếp công dân

Thứ hai, Công tác tiếp nhận, xử lý đơn, giải quyết đơn

- Đảm bảo phân loại, xử lý 100% đơn tiếp nhận trong thời hạn, đúngthẩm quyền

- Phấn đấu đạt tỷ lệ giải quyết đơn thư từ 95% trở lên Giải quyết kịpthời, đúng quy định các kiến nghị của công dân và ý kiến, kiến nghị của cửtri, tập trung chỉ đạo giải quyết những vụ việc bức xúc, hạn chế khiếu nại vượtcấp trên địa bàn

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hoà giải, phấn đấu đạt75% số vụ việc hòa giải thành ở cơ sở

Thứ ba, Công tác tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết đơn: Tổ

chức thực hiện dứt điểm các quyết định giải quyết đơn đã có hiệu lực pháp luậtđược ban hành và tổ chức thực hiện dứt điểm các quyết định còn tồn đọng

Thứ tư, Công tác tổ chức tuyên truyền và tập huấn pháp luật: Hằng

năm xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền sâu rộng Luật Tiếp công dân,Luật khiếu nại, Luật Tố cáo đến các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng caonhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của công dân Tổ chức tập huấn,hướng dẫn nghiệp vụ về công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư cho cácphòng, ban, các xã, thị trấn và cán bộ, công chức có liên quan, đảm bảo cán

Trang 26

bộ, công chức có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụtrong tình hình mới.

Thứ năm, 100% các kết luận sau thanh tra, kiểm tra được đôn đốc thực

hiện có hiệu quả, đúng tiến độ Kết quả thực hiện được công khai bằng cáchình thức phù hợp theo quy định của pháp luật hiện hành

Thứ sáu, Tổ chức giao ban hàng quý với các cơ quan, đơn vị để nắm

tình hình, kịp thời tư vấn, định hướng, hướng dẫn đơn vị giải quyết đơn thuộcthẩm quyền đúng hạn, đúng quy định

3 Tổ chức thực hiện đề án

3.1 Các giải pháp thực hiện

3.1.1 Công tác tiếp công dân

- Tiếp tục trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị bổ sung cho Ban tiếpcông dân thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyệnđảm bảo đủ các trang thiết bị, phương tiện hỗ trợ cần thiết phục vụ, gồm: tủđựng tài liệu, điều hòa nhiệt độ, máy phô tô, máy fax, máy chiếu, máy ghi âm

và lắp hệ thống camera để đảm bảo thuận tiện cho việc tiếp công dân, giảithích, hướng dẫn các quy định của pháp luật được thuận tiện; đồng thời hệthống camera giúp thủ trưởng đơn vị quản lý, theo dõi thái độ làm việc vàhành vi ứng xử của công chức đối với công dân Đối với cấp xã cần bố trí nơitiếp công dân phù hợp với điều kiện của cơ quan, đảm bảo nơi tiếp công dân

có các trang thiết bị cần thiết về bàn ghế, sổ sách, máy tính, máy in, máyphôtô tài liệu, nước uống đảm bảo nơi tiếp công dân phải trang trọng, lịch

sự, thể hiện sự tôn trọng và phục vụ chu đáo của cơ quan nhà nước đối vớinhân dân Công khai các quy trình, thủ tục thực hiện tiếp công dân, quy chế,nội quy, lịch tiếp công dân đảm bảo đúng quy định và thuận tiện cho công dântheo dõi

Ngày đăng: 07/11/2017, 08:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w