1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá trên địa bàn tỉnh bắc kạn hiện nay

108 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 296,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội hoá các hoạt động văn hoá cũng là hoạt động mới mẻ, đã có bớc tiến mới với triển vọng mới, nhng cũng có nhiều khó khăn phức tạp đan xen giữa “ xã hội hoá” và “thơng mại hoá” cùng

Trang 1

Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.

Quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.

Xã hội hoá văn hoá ở nớc ta hiện nay.

Xã hội hoá văn hoá.

Đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc về xã hội hoá văn hoá.

Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở

Đời sống văn hoá xã hội ở tỉnh Bắc Kạn.

Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở

tỉnh Bắc Kạn.

Thực trạng quản lý nhà nớc về hoạt động văn hoá

thông tin.

Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá thông tin.

Thực trạng quản lý hoạt động dịch vụ văn hoá trên

địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hoá trong

555912171722

2525253336

444451555757

5962

66667781

Trang 2

văn hoá trong xu thế xã hội hoá.

Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nớc về xây dựng và

phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta hiện nay.

Chính sách và pháp luật về quản lý hoạt động văn hoá thông tin.

Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt đông văn hoá trong

xu thế xã hội hoá ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay

Quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá.

Tổ chức hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá.

ngời, sức của, của các tầng lớp nhân dân, huy động mọi tiềm năng,

trí tuệ và vật chất của toàn xã hội tham gia vào hoạt động văn hoá

nhằm làm cho các hoạt động văn hoá là họat động của toàn dân,

toàn dân có quyền tham gia sáng tạo, cung cấp, phổ biến và tạo ra

nhiều sản phẩm, tác phẩm, công trình văn hoá có chất lợng, phong

phú và đa dạng, dân tộc và hiện đại, không ngừng nâng cao mức

hởng thụ văn hoá của nhân dân Với quan điểm chỉ đạo và định

hớng của Đảng là ”Nhà nớc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý văn hoá,

đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng nguồn lực đầu t,

đồng thời đổi mới mục tiêu, phơng thức và nguồn vốn đầu t Tập

chung nguồn lực đầu t cho các mục tiêu u tiên, chơng trình quốc

gia về phát triển văn hoá, hỗ trợ đầu t cho các vùng miền núi, biên

giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có

nhiều khó khăn; chuyển đổi toàn bộ các đơn vị sự nghiệp công

Trang 3

lập thuộc ngành văn hoá sang cơ chế cung ứng dịch vụ công ích có

đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức, quản lý và hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi, thực hiện đúng mục tiêu, nhiệm vụ, thờng xuyên nâng cao hiệu quả, chất lợng dịch vụ, sản phẩm đảm bảo quyền lợi và cơ hội sáng tạo bình đẳng của ngời hởng thụ”.

Đây là chủ trơng đúng đắn của Đảng trong việc triển khaithực hiện xã hội hoá hoạt động văn hoá trong cả nớc Trớc xu thế toàncầu hoá, giao lu văn hoá mở rộng cùng với sự tác động mạnh mẽ củacách mạng khoa học công nghệ trên thế giới, sự hỗ trợ của công nghệthông tin viễn thông những thành tựu về văn hoá nghệ thuật củathế giới đã nhanh chóng đến với nhân dân ta Đó là thời cơ thuậnlợi để văn hoá Việt nam phát triển và tiếp thu các tinh hoa của thếgiới, sáng tạo và vun đắp nên những giá trị mới; song cũng nhiềunguy cơ khó lờng, trớc những âm mu diễn biến hoà bình của cácthế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải thận trọng xem xét, nghiêncứu và xác định từng bớc đi thích hợp để đáp ứng xu thế của thời

đại Xã hội hoá các hoạt động văn hoá cũng là hoạt động mới mẻ, đã

có bớc tiến mới với triển vọng mới, nhng cũng có nhiều khó khăn phức

tạp đan xen giữa “ xã hội hoá” và “thơng mại hoá” cùng với sự tác

động của cơ chế thị trờng đã ảnh hởng không nhỏ tới t tởng, hành

vi của các chủ thể tham gia vào hoạt động xã hội hoá.Trớc hết là

đáng lo ngại về tính tự phát trong việc quay lại cái cũ, nhân danh ‘’

trở về nguồn’’ và cả tính tự phát trong việc đón nhận cái mới

.xen lẫn trong những phong tục lành mạnh, đã khôi phục không ítnhng tập tục xấu nh: Bói toán, dồng bóng, rợu chè, mê tín, lễ lạt, cờbạc …cả ở nông thôn và thành thị Trong khi đó, sự du nhập ồ ạtnhững băng hình, tranh ảnh,đĩa hát nớc ngoài, không đợc kiểmsoát đến nơi đến chốn, đã đầu độc đáng ngại đến nhận thức và

Trang 4

thẩm mỹ trong thế hệ trẻ, bắt đầu gây ra những diễn biến xấu

về lối sống Bị mê hoặc về sắc thái thời thợng của văn hoá nớcngoài, nhiều chơng trình điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, sáchbáo… rơi vào con đờng câu khách chạy theo thị hiếu rẻ tiền, laicăng, hoặc có khi bị tê liệt không tìm thấy phơng hớng đến vớicông chúng Nhiều lĩnh vực nghệ thuật bị tiếp tục chao đảo, chatìm đợc hớng đi tích cực

Trớc thực trạng trên, vấn đề đặt ra cho chúng ta là: Làm saovừa mở rộng xã hội hoá lại vừa nâng cao đợc chất lợng nghệ thuật,

đồng thời tăng cờng hiệu quả công tác quản lý nhà nớc nhằm

tạo ra đợc một môi trờng văn hoá phong phú, lành mạnh, văn minh,

đầy tính nhân văn Trớc yêu cầu của quá trình hội nhập và những

đòi hỏi ngày càng đa dạng phong phú các loại hình hoạt động xãhội hoá văn hoá cần chúng ta - những nhà quản lý quan tâm nghiêncứu và làm thế nào để tạo điều kiện mở rộng xã hội hoá các hoạt

động văn hoá mà vẫn đảm bảo định hớng

Trong cơ chế thị trờng, rõ ràng cần phải thay đổi các cách thứcquản lý để tác động thúc đẩy các hoạt động văn hoá nhạy cảmhơn, năng động hơn theo kịp nhu cầu xã hội Bản thân là cán bộquản lý của nghành văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Bắc Kạn vớisuy nghĩ và mong muốn đợc đóng góp một số ý kiến của mìnhvào công tác quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở địa phơng,

nên tôi chọn đề tài: ’’Quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá trên địa bàn tỉnh bắc kạn hiện nay’’để làm khoá luận tốt

nghiệp

2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 5

Đề tài đề cập và nghiên cứu đến công tác quản lý các hoạt

động văn hoá trong xu thế xã hội hoá văn hoá trên phạm vi toàntỉnh Bắc Kạn

3 Phơng pháp nghiên cứu:

- Dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng và các quan

điểm của Đảng và Nhà nớc về việc phát triển văn hoá trong giai

đoạn hiện nay căn cứ vào cơ sở lý luận khoa học của chuyên ngành

và liên ngành kết hợp các phơng pháp:

- Khảo cứu quan sát thực địa và phỏng vấn thăm dò

- Su tầm tổng hợp phân tích t liệu và tổng kết đúc rút kinhnghiệm

- Dựa trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật biện chứng đểnhìn nhận vấn đề

- Về thực tiễn:

Quá trình nghiên cứu có sử dụng các phơng pháp; điều tra, sutầm, khảo cứu, hệ thống hoá, thống kê,phơng pháp kế thừa, phơngpháp chuyên gia, cố vấn

4 Đóng góp của đề tài:

Với những kiến thức và lý luận đợc trang bị trong khoá học

đồng thời là cán bộ quản lý của nghành văn hoá, thể thao &du lịch,nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích góp phần cho công tác quản

lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở địa phơng có hiệu quả hơn,mong muốn đợc các thầy cô giáo bổ xung,chỉnh sửa, đề tài nàynếu đợc công nhận là chính xác và khoa học cũng sẽ là tài liệutham khảo cho những ai quan tâm đến công tác quản lý vănhoá.trong xu thế xã hội hoá hện nay

5 Bố cục của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận,đề tài đợc kết cấu 3

ch-ơng

Chơng I

Xã hội hoá văn hoá và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.

Trang 6

chế thị trờng 1.1 Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng

1.1.1 Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất:

Điểm xuất phát để nhìn nhận hoạt động văn hoá nh một hệthống tổ chức sản xuất là t tởng của học thuyết Mác- xít về sản

xuất vật chất là hai hình thái cơ bản của hoạt động ngời Trong “Hệ

t tởng Đức” Mác và Ăng ghen viết về hai phơng diện hoạt động Sự

chế tác thiên nhiên bởi con ngời và chế tác con ngời bởi con ngời.Trong tập bốn bộ T Bản Mác nói đến hai trờng hợp sản xuất phi vật

chất và nhiều lần ông trở lại t tởng này Chẳng hạn Mác viết “Trong

nền sản xuất phi vật chất, ngay cả nếu chỉ đợc tiến hành để trao

đổi, sản xuất hàng hoá, vẫn có hai trờng hợp”.

+ Những hàng hoá tồn tại tách biệt khỏi ngời sản xuất, do đó cóthể trong khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng trở thành hànghoá

Trang 7

+ Những sản phẩm gắn liền với hành động của ngời sản xuất

(Mác K Ăng ghen Ph Tuyển tập, trang 49, Trang 103 Lý thuyết giá trị thặng d Bản tiếng Nga Gạch dới dạng ý nhấn mạnh là của chúng tôi).

Sản xuất tinh thần không những tạo ra các giá trị tinh thần đợckhách quan hoá mà còn bao hàm cả việc hình thành văn hoá cánhân, văn hoá cộng đồng và sự giao tiếp văn hoá Sản xuất cũng cóthể phân ra đối tợng lao động, quá trình lao động và kết quả lao

động Tuy nhiên ở đây đối tợng lao động có thể là những quan hệxã hội và quá trình t duy nhân loại còn sản phẩm nhân loại có thểtồn tại không tách khỏi hành động sáng tạo của con ngời sản xuấttrực tiếp

Sự phát triển sản xuất tinh thần nh một ngành tơng đối độclập trong hoạt động xã hội đã tạo ra đội ngũ đặc biệt những ngờilàm việc chuyên môn hoá Tuy nhiên, sức phát triển mạnh mẽ đờisống tinh thần còn phụ thuộc vào sự tham gia vào lĩnh vực này của

đông đảo nhân dân lao động ở đây, có ý nghĩa quan trọng là

t tởng Mác về mối quan hệ giũa sự phát triển lực lợng sản xuất vàthời gian tự do, sự phát triển tính cách con ngời thông qua sử dụngthời gian tự do có văn hoá và tác dụng của nó đối với sự phát triểnlực lợng sản xuất

Với tuyệt đại đa số nhân dân lao động, thời gian tự do rất cầnthiết để phát triển tự do, để sản xuất các giá trị tinh thần và trớchết là sản xuất ra bản thân ngời lao động với những thuộc tính vănhoá phong phú

Tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất tinh thần của nhândân trong thời gian tự do là nội dung chủ yếu và thực chất đối tợngnghiên cứu của chúng tôi

Trang 8

Nhìn nhận hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất cónghĩa bộ máy quản lý hành chính không là tất cả, cũng không làchủ yếu, phát triển sự nghiệp này trớc hết phải gắn liền với việc mởrộng mạng lới thiết chế sự nghiệp nh những đơn vị sản xuất trựctiếp tạo ra sản phẩm Sự phong phú số lợng và chất lợng, sự phân

bổ đều khắp mạng lới ấy và một tầng lớp nhân sự chuyên môngắn liền với chúng, hình thành những trung tâm văn hoá tiêu biểucho diện mạo đời sống tinh thần của nhân dân và là dấu hiệu xãhội văn hoá cao

Xuất phát từ yêu cầu quản lý một bộ phận nhất định nhữnghoạt động ngời, có thể xem văn hoá nh quá trình sản xuất tinhthần và khách thể hoá chúng nh những giá trị tinh thần và giá trịvật chất, những thuộc tính của bản thân con ngời với t cách chủthể của quá trình hoạt động

Bất kỳ văn hoá của cộng đồng xã hội có giai cấp nào cũng cấuthành bởi hai dòng văn hoá: Văn hoá chính thống của giai cấp đạidiện cho phơng thức sản xuất hiện hành và văn hoá dân gian củacác giai cấp thực hành phơng thức sản xuất ấy

Về mặt xã hội học lao động, ngời ta gọi văn hoá dân gian là văn

hoá nghiệp d và mặt xã hội học thời gian là “hoạt động rỗi” bởi

phần lớn những hoạt động này chủ yếu diễn ra trong thời gian rỗi

(thời gian tự do ).

Xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị về kinh tế đồng

thời thống trị về tinh thần Tầng lớp đặc biệt, tầng lớp “ Hệ t tởng

của xã hội đã hình thành để thực hiện nhiệm vụ đó” (Mác.K sách

đã dẫn trang 109) Chính tầng lớp này đóng vai trò quyết địnhtrong sản xuất các giá trị tinh thần Hoạt động văn hoá của họ làchuyên nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, diễn ra nh

Trang 9

quá trình lao động xã hội Trái lại, với đại bộ phận nhân dân, thờigian lao động xã hội trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất Nhândân tham gia sản xuất tinh thần chủ yếu dới hình thái hoạt độngrỗi, nghĩa là tự biểu hiện trong nghỉ ngơi, giải trí Vì vậy có thểgọi quá trình thực hiện bản chất ngời ấy là giải trí- sáng tạo vănhoá.

Trớc chủ nghĩa xã hội, văn hoá dân gian là hiện tợng tự phát củanhân dân lao động.và là hoạt động tinh thần của ngời lao động.Một sự thật phổ biến nh không khí, lâu dài nh lịch sử loài ngòi là:Sáng tạo văn hoá là quyền năng của mỗi cá nhân với t cách con ngờixã hội - đơn vị cấu thành xã hội Giải phóng quyền năng sáng tạo ấy

và sự nở rộ các hoạt động ngời chỉ có dới chủ nghĩa xã hội, trớc hết

và cơ bản là mở rộng số lợng và tăng chất lợng thời gian rỗi

Hoạt động là một phơng thức tri thức của cá nhân, là điềukiện thiết yếu tiến hành sản xuất tinh thần cho sự phát triển toàndiện cá nhân Văn hoá quần chúng ngày nay là cái tơng ứng với vănhoá dân gian trớc đây

Tuy nhiên có những khác biệt:

Nếu văn hoá dân gian là hiện tợng tự phát dới các chế độ chínhtrị khác, thì dới chế độ xã hội chủ nghĩa, văn hoá quần chúng là

đồi sống tinh thần của nhân dân đợc Nhà Nớc tổ chức quản lý, đợc

Đảng lãnh đạo và hệ thống các cơ quan chuyên môn tổ chức chỉ

đạo ở đây có hai mặt gắn bó chặt chẽ và quy định lẫn nhau:Một mặt là hoạt động tự thoả mãn nhu cầu cơ bản của quần chúnglao động Mặt khác là trách nhiệm tổ chức quản lý của Nhà Nớc.Chủ nghĩa xã hội tạo cơ sở khách quan cho sự thống nhất hai mặtnày Đây là bản chất văn hoá quần chúng, sản phẩm của sự thốngnhất quyền lợi chính trị - kinh tế giữa Nhà Nớc và nhân dân

Trang 10

Khi so sánh lịch đại sự khác nhau giũa văn hoá dân gian và vănhoá quần chúng là khác nhau giũa hai kiểu sản xuất tinh thẩn trêncơ sở hai kiểu sản xuất khác nhau, là tính liên tục của lịch sử đợcthực hiện bởi sự gián đoạn lịch sử gữa hai loại hình văn hoá trên cơ

sở hai hình thái kinh tế xã hội Khi so sánh đồng loại giữa văn hoá

và văn hoá quần chúng thì văn hoá là tổng thể và văn hoá quầnchúng là bộ phận Tơng ứng với điều ấy, công tác văn hoá là hoạt

động Nhà nớc tổ chức quá trình sản xuất tinh thần, trên cơ sở phùhợp với phơng thức sản xuất mà nó đại diện và phổ cập các giá trịvăn hoá bằng những phơng tiện mà nó sở đắc trong thời đại

Nhng do bản chất chính trị của mình, nhà nớc xã hội chủ nghĩa

có thể tiến hành cả hai phần việc để xây dựng nền văn hoá : Tổchức quản lý văn hoá chuyên nghiệp và tổ chức quản lý văn hoáquần chúng Công tác văn hoá có thể phân ra làm hai mảng:

+ Tổ chức quản lý văn hoá chuyên nghiệp gồm cả sản xuất và

l-u thông phân phối, đem văn hoá đến ql-uần chúng

+ Tổ chức quản lý văn hoá quần chúng bao gồm cả hoạt độngsản xuất, trao đổi và tiêu dùng các giá trị tinh thần, đem quầnchúng đến văn hoá

ở hệ thống thứ hai nhân dân trực tiếp tham gia quá trình sảnxuất sản phẩm văn hoá Đây là hệ thống thiết chế sự nghiệp côngtác văn hoá quần chúng, đối tợng xem xét của chúng tôi trong tiểuluận này

Quá trình xã hội hoá và phát triển cá nhân, sự hình thànhnhân cách văn hoá bao giờ cũng diễn ra bởi hai chiều tác động liêntục đan xen lẫn nhau, dệt thành những nhân cách cụ thể Chiềudọc là sự tác động của văn hoá xã hội đến toàn bộ đến cá nhân,

và chiều ngang sự vận động văn hoá của các nhân ấy, tức các

Trang 11

nhân tự xác định mình trong môi trờng văn hoá Sự vận động nàythống nhất hai mặt giáo dục văn hoá và thoả mãn nhu cầu văn hoátoàn diện của con ngời Tính chất phong phú thực sự về tinh thầncủa cá nhân hoàn toàn tuỳ thuộc vào tính chất phong phú các mốiquan hệ thực sự của chính các nhân ấy ở đây con ngời thể hiệntrong sự vận động văn hoá trên ba mối quan hệ chủ yếu:

1 Cá nhân chiếm lĩnh giá trị văn hoá

2 Cá nhân sáng tạo văn hoá

3 Cá nhân nh đại biểu mang văn hoá, có quan hệ giao lu trao

đổi văn hoá, có quan hệ giao lu trao đổi văn hoá với nhau

Tổ chức quản lý vận động văn hoá theo chiều ngang này nh làmột lĩnh vực sản xuất tinh thần, hệ thống công tác văn hoá quầnchúng bao gồm từ bộ máy quản lý Nhà nớc các cấp đến mạng lới các

đơn vị sự nghiệp Bộ máy quản lý là Bộ văn hoá ở cấp

Trung ơng Sở văn hoá tỉnh thành, Ban văn hoá quận huyện Chứcnăng cơ bản loại hình hoạt động này là quản lý nhà nớc về hành

chính pháp chế (Đờng lối của Đảng, tổ chức, kế hoạch, kinh phí).

Sản xuất tinh thần cũng đợc tổ chức thành hoạt động cụ thể

do các thiết chế sự nghiệp nh những đơn vị cơ sở tiến hành.Hoạt động văn hoá nh một quá trình sản xuất Chức năng quản lýchỉ xuất hiện từ yêu cầu tổ chức và điều hành sản xuất Các cơquan quản lý văn hoá chỉ phát huy tác dụng của mình thông quanhững đơn vị sản xuất nhằm tăng cờng hiệu quả kinh tế văn hoácủa chúng Chỉ có bộ máy quản lý hành chính pháp chế gồmnhững bộ, sở, ban, phòng… tức là cha có đơn vị sản xuất trực tiếp, tạo ra sản phẩm Vì vậy, nếu giáo dục phải có trờng học, y tế phải

có bệnh viện … thì văn hoá quần chúng phải có thiết chế sựnghiệp nh cung văn hoá, nhà văn hoá, th viện, bảo tàng… với t cách

Trang 12

là đơn vị sản xuất, chủ thể trực tiếp của công tác văn hoá quầnchúng.

Có thể phác thảo lợc đồ hệ thống tổ chức sản xuất văn hoá nh sau:

bảo tàng, th viện TWTỉnh, thành Sở văn hoá(Phòng,

ban)

Nhà văn hoá, TTVH, triển lãm,

th viện Bảo tàng tỉnhQuận, Huyện Phòng văn hoá thể

thao

Nhà văn hoá, TTVHTT,Th việnHuyện

Xã, Phờng Ban văn hoá thể thao Nhà văn hoá,TTVHTT xã

1.1.2 Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng:

Đây là một vấn đề thời sự cấp bách đang đặt ra cho ngànhvăn hoá Nếu nh mấy năm gần đây, cơ chế thị trờng tác độngmạnh và có hiệu quả trên lĩnh vực kinh tế thì trên lĩnh vực văn hoádiễn ra khá phức tạp Từ khi xoá bỏ cơ chế bao cấp, các hoạt độngvăn hoá lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn Nhiều đoàn nghệthuật không thể tự trang trải lấy thu bù chi; nhiều nhà văn hoá phải

đóng cửa hoặc biến hành rạp hát, rạp chiếu phim, hầu hết các độivăn nghệ quần chúng, thông tin lu động ở cơ sở không còn hoạt

động Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở chững lại, có nguycơ khó tồn tại Từ thực trạng đó, nảy sinh những hớng suy nghĩ vàhành động khác nhau Một hớng cho rằng nói tới thị trờng là nói tớihàng hoá; văn hoá cũng nh mọi thứ hàng hoá khác, mà không thấy

Trang 13

mại hoá các hoạt động văn hoá, chỉ chạy theo doanh thu, khôngquan tâm tới hiệu quả xã hội Chính vì vậy, trên thị trờng văn hoá

đã xuất hiện nhiều loại sản phẩm độc hại ảnh hởng xấu tới t tởng,tình cảm ngời đọc, ngời xem Hớng khác cho rằng hoạt động vănhoá đã phục vụ chính trị, xây dựng con ngời mới thì ắt Nhà nớcphải bao cấp, phải lo đảm bảo mọi điều kiện hoạt động Từ đódẫn đến thái độ trông chờ, ỷ lại khiến cho hoạt động văn hoá bịngng trệ

Phải nói rằng cơ chế thị trờng có những tác động tích cực tớihoạt động văn hoá làm cho năng động, tuân thủ quy luật giá trịcủa sản xuất hàng hoá, đáp ứng kịp thời nhanh nhạy nhu cầu củangời tiêu dùng sản phẩm văn hoá Nếu nh trớc kia có những hìnhthức hoạt động mòn cũ hàng chục năm không thay đổi, thì naykhông thể tồn tại trong cơ chế thị trờng Cơ chế thị trờng là cơchế điều tiết khách quan theo quy luật giá trị và quy luật cungcầu Trong cơ chế bao cấp, các hoạt động văn hoá thờng xem nhẹnhững quy luật này Dựng một vở kịch, một bộ phim, ngời ta ítquan tâm đến yếu tố ngời xem vì số ngời xem đông hay vắngkhông ảnh hởng tới ngời làm ra sản phẩm, kinh phí đã có Nhà Nớc lorồi ! Nhng trong cơ chế thị trờng, khách đông hay vắng, ảnh hởngtrực tiếp tới túi tiền ngời làm và số phận cơ sở làm ra sản phẩm.Cho nên mọi hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng đều phảixuất phải từ nhu cầu tiêu dùng văn hoá của nhân dân Sản phẩmvăn hoá phải đánh trúng sự mong mỏi và thị hiếu lành mạnh củamọi ngời Đã đến lúc ngành văn hoá cần rà soát lại các hình thứchoạt động ở mỗi lĩnh vực, tìm ra u điểm, nhợc điểm để sáng tạo

ra những hình thực hoạt động thích hợp trong thời kỳ mới, có khảnăng thu hút đông ngời tham gia Các hình thức hoạt động văn hoá

Trang 14

chỉ có thể tồn tại trên cơ sở chất lợng cao và đáp ứng đúng nhucầu văn hoá của nhân dân Từ đó văn hoá vẫn có khả năng làmkinh tế Thực tế đã diễn ra trong lúc nhiều nhà văn hoá đình đốn,thì có một số nhà văn hoá lại hoạt động sầm uất đông vui hơn trớc;trong lúc nhiều đoàn nghệ thuật sống dở, thì một số đoàn lại làm

ăn khấm khá, đi lên Tất cả đều do các cơ sở có chịu năng động

đổi mới hình thức hoạt động, áp dụng tốt ma - két - tinh trong vănhoá hay không Thực tế cho thấy những nhà hát,rạp chiếu phim ởmột số nơi lúc nào cũng đông khách là vì họ luôn đổi mới chơngtrình, hoạt động đa dạng và phong phú từ đó có đủ nguồn thu

để tồn tại và phát triển Để thực hiện quy luật cung cầu của cơ chếthị trờng, tổ chức các hoạt động văn hoá cũng thay đổi Mỗi hìnhthức hoạt động văn hoá không phải cứ tồn tại bất di bất dịch mãi mãi

mà luôn thay đổi, phát triển thêm theo nhu cầu Nhng hoạt độngvăn hoá trong cơ chế thị trờng phải đặt trong sự quản lý chặt chẽcủa Nhà nớc Nh đã nói, văn hoá không giống nh các loại hàng hoá vậtchất khác, ngoài việc thoả mãn nhu cầu còn có trách nhiệm hớngdẫn và điều chỉnh nhu cầu để xây dựng con ngời mới Cho nênkhông phải bất kì hoạt động văn hoá nào cũng có thể kinh doanh

đợc Hiệu quả của sản phẩm văn hoá nhiều khi không thể tínhbằng tiền mà ẩn tàng trong những giá trị tinh thần đã bồi bổ choviệc xây dựng con ngời mới.ở những lĩnh vực này, đòi hỏi Nhà nớc

có những hỗ trợ nhất định Không thể bắt buộc các đoàn nghệthuật truyền thống dân tộc nh chèo, tuồng, dân ca, múa rối nớc,hoặc các đoàn nghệ thuật cổ điển nh âm nhạc thính phòng,nhạc vũ kịch, ba lê cũng lấy thu bù chi nh các đoàn nghệ thuật hiện

đại thời thợng nào khác Không thể không trợ cấp cho những vở

Trang 15

kịch, bộ phim nói về truyền thống nhằm giáo dục phẩm chất conngời mới hoặc những tiết mục nghệ thuật dành cho thiếu nhi.

Sẽ là chung chung nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những quanniệm tởng nh là mâu thuẫn, rằng văn hoá cần trợ cấp và bao cấp,rằng văn hoá cũng có khả năng làm

kinh tế Trong văn hoá có biết bao nhiêu lĩnh vực Cần thiết phảichia các lĩnh vực đó theo nhóm: Nhóm hoàn toàn không doanh thucần bao cấp, nhóm có nhu cầu trợ cấp và tự cấp bao nhiêu phầntrăm, nhóm có thể trang trải Tất nhiên, sự phân chia này khôngthể máy móc tế nhị và phức tạp Dù sao vẫn cần một sự hoạch định

đó để có chính sách đầu t kinh phí hợp lý nhằm phát triển nềnvăn hoá mới dân tộc, hiện đại Rõ ràng hoạt động văn hoá trong cơchế thị trờng cần đợc kế hoạch hoá Kế hoạch là công cụ của quản

lý Song trong tình hình mới, kế hoạch này không phải “Dội” từ trên

xuống mà đợc hình thành từ các cơ sở xuất phát từ nhu cầu vănhoá của nhân dân Có một điều mà các nhà lập kế hoạch nên quantâm tới, đó là tiềm năng văn hoá trong nhân dân Trớc đây, chúng

ta đã đề ra phơng châm “Nhà nớc và nhân dân cùng làm”, thiết

nghĩ trong cơ chế thị trờng phơng châm này càng phải đợc thựchiện triệt để Có nhiều lĩnh vực văn hoá có thể giao cho nhândân, kể cả t nhân nuôi dỡng Nhà nớc chỉ quản lí nội dung và chấtlợng Nguồn kinh phí ít ỏi của Nhà nớc không nên đầu t tràn lan màtập chung vào những vấn đề cốt lõi, ra tấm ra miếng

Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng đang gặp rất nhiềukhó khăn, đòi hỏi tất cả các cơ sở văn hoá năng động, sáng tạo tìmlối ra để tồn tại và phát triển

1.1.3 Quản lý hoạt động văn hoá tromg cơ chế thị trờng:

* Quản lý nhà nớc về văn hoá:

Trang 16

Quản lý nhà nớc về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nớctrong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triểnnền văn hoá Việt Nam Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệthống chính trị, Nhà nớc đại diện cho nhân dân, đảm bảo chomổi công dân đều đựơc thực hiện các quyền cơ bản của mình,trong đó có các quyền về văn hoá nh quyền tự do ngôn luận,quyền tự do báo chí, quyền học tập, sáng tác, phê bình văn họcnghệ thuật…Nhà nớc có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hàihoà giữa các thành tố văn hoá, điều tiết lợi ích văn hoá của các giaitầng, các yêu cầu phát triển và thoả mãn nhu cầu văn hoá của toànxã hội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nớc đóng vai trò rấtquan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn giữa phát triểnkinh tế và văn hoá.

Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc là sự nghiệp của toàn xã hội Nhà nớc thực hiện hoạt độngquản lý đối với văn hoá điều đó không có nghĩa Nhà nớc là ngờisáng tạo ra nền văn hoá mà Nhà nớc có vai trò định hớng cho sự pháttriển của nền văn hoá theo hớng đã đợc xác định là nền văn hoátiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nhà nớc thực hiện những hoạt

động nhằm hớng vào sự thống nhất t tởng, tuyên truyền các chủ

tr-ơng chính sách của Đảng và Nhà nớc, tăng cờng hoạt động giáo dụcxây dựng lối sống đạo đức lành mạnh

Quản lý Nhà nớc về văn hoá đòi hỏi phải tiến hành những hoạt

động cụ thể, do đó cần giới hạn phạm vi khái niệm văn hoá để cóthể xác định đợc những mảng hoạt động quản lý nhà nớc đối vớivăn hoá Có thể chia hoạt động quản lý Nhà nớc về văn hoá thànhcác mảng cơ bản sau:

- Quản lý nhà nớc về Văn hoá nghệ thuât

Trang 17

- Quản lý nhá nớc về Văn hoá - Thông tin.

- Quản lý nhà nớc về Văn hoá xã hội

- Quản lý di sản văn hoá

Việc phân chia hoạt động quản lý nhà nớc về văn hoá thành cácmảng hoạt động nh trên chỉ mang tính tơng đối bởi bản thânkháI niệm văn hoá là khái niệm đa nghĩa, bao trùm lên mọi hoạt

động của con ngời

Trong quản lý văn hoá, Nhà nớc không nên xác lập một khuônmẫu định sẵn cho nền văn hoá vì nh vậy sẽ tạo ra sự áp đặt từtrên xuống, không phát huy đợc tính sáng tạo, tính phong phú vốn

có của văn hoá dân tộc Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vai tròcủa Nhà nớc đối với văn hoá là tạo dựng khung cảnh van hoá - xã hộithuận lợi cho sự phát triển, làm cho văn hoá thực sự trở thành độnglực và mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội Để đạt đợc điều đó,Nhà nớc cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho phát triẻn văn hoá,thiết lập một cơ chế quản lý văn hoá hợp lí đảm bảo đợc các quyền

tự do dân chủ của công dân, xá định rõ thẩm quyền và nâng caochất lợng hoạt động của các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năngquản lý văn hoá Đặc biệt cần phân biệt rõ chức năng, thẩm quyềncủa cơ quan quản lý văn hoá với các cơ quan, tổ chức trực tiếp thựchiện các hoạt động văn hoá

ở trung ơng, cơ quan có chức năng quản lý nhà nớc về văn hoá

là Chính phủ và Bộ văn hoá - thông tin Chính phủ thống nhất quản

lý và phát triển sự nghiệp văn hoá trên phạm vi cả nớc, thi hành cácbiện pháp để bảo tồn , phát triển nền văn hoá dân tộc Việt Nam,bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật,chống việc truyền bá t tởng phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủtục Trong quản lý văn hoá, Chính phủ có một số quyền hạn cụ thể

Trang 18

nh: Trình dự án luật, pháp lệnh về hoạt động văn hoá, quyết địnhquy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp văn hoá, quyết địnhchính sách đầu t, tài trợ, hợp tác với nớc ngoài, ban hành quyết địnhquản lý nhà nớc và các chế độ chính sách khác về văn hoá Với cơng

vị là ngời đứng đầu Chính phủ, Thủ tớng Chính phủ ký các quyết

định, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị về quản

lý văn hoá và hớng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối vớitất cả các ngành, địa phơng và cơ sở; thủ tớng Chính phủ có quyền

đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định về quản lývăn hoá của Bộ trởng Bộ văn hoá - thông tin và uỷ ban nhân dân,chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơngtrái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nớc cấp trên.Các văn bản pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt

động văn hoá khi thực hiện xã hội hoá hoạt động văn hoá trong nềnkinh tế thị trờng, Đồng thời pháp luật cũng quy điịnh những vùngcấm trong hoạt động văn hoá đợc quy định rõ để định hớng vănhoá, khái quat ở 5 điểm sau:

- Nghiêm cấm hoạt động phản động về chính trị ;

- Nghiêm cấm hoạt động làm băng hoại về đạo đức, phá hoạinhân phẩm;

- Nghiêm cấm hoạt đông xâm phạm quyền tác giả;

Quản lý hoạt động văn hoá theo pháp luật sẽ góp phần tích cựcvào việc lập lại trật tự kỷ cơng trong tình hình văn hoá xã hội hiện

đang có nhiều lộn xộn; gữi gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong

điều kiện toàn cầu hoá và mở rộng quan hệ quốc tế, đảm bảoquyền lợi và trách nhiệm của các văn nghệ sĩ và nghệ nhân; tăngcờng hợp tác giữa các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp và các

Trang 19

tổ chức xã hội …và toàn dân tham gia vào các hoạt động và pháttriển văn hoá

* Quản lý hoạt động văn hoá:

Xã hội hoá quản lý văn hoá là xu thế tự nhiên của bất kỳ xã hộinào Ngoài hình thức Nhà nớc trong việc quản lý văn hoá cần thựchiện các hình thức tự quản của nhân dân trong việc bảo vệ vàphát triển văn hoá, đảm bảo đợc tính đa dạng của văn hoá và đápứng đợc nhu cầu văn hoá của toàn dân

Thế giới đã quá quen thuộc với khái niệm thị trờng chỉ thuộckinh tế Và trên lĩnh vực kinh tế, thị trờng và hàng hoá là hai kháiniệm đi đôi với nhau, có cái này mới có cái kia

Thị trờng và hàng hoá đợc phát triển dới chế độ T bản chủnghĩa, đợc coi là thuộc tính của Chủ nghĩa t bản Mời năm trở lại

đây, ở một số nớc xã hội chủ nghĩa, thị trờng và hàng hoá đợc coi

là sự phát triển tất yếu của nhân loại Trung Quốc lại có quan điểm

“Thị trờng xã hội chủ nghĩa” Cho đến nay trong sách báo, thị

tr-ờng là sự phát triển phạm trù chỉ có trong kinh tế chính trị

Trên thực tế, dù kinh tế là yếu tố quyết định, thì một xã hộiphát triển không thể chỉ có kinh tế Kinh tế và văn hoá là nhữngnền tảng của xã hội văn minh: Nền tảng vật chất và nền tảng tinhthần Quan điểm đó phù hợp với định hớng chung của Đảng và Nhànớc ta trong quản lý văn hoá trong cơ chế trị trờng hiện nay

1 Quan hệ biện chứng giữa chấn hng, bảo tồn, phát triển vănhoá dân tộc với việc tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới

2 Quan hệ biện chứng giữa mở cửa, giao lu và sự hứng chịu

trong quá trình đó (sự sùng ngoại và bài ngoại) Mở cửa là điều kiện

của giao lu; giao lu là phải có cái hơn và cái thiệt, cái thiệt, cái mất,nhng nhất thiết phải có định hớng xã hội chủ nghĩa

Trang 20

3 Quan hệ giữa văn hoá chuyên nghiệp và việc xã hội hoã nghệthuật do các thành phần kinh tế khác chi phối.

ở đây phơng pháp, phơng thức, hình thái hoạt động là đadạng, đa sắc, nhng nội dung đề tài, chủ đề, t tởng là do Nhà nớcphải nắm và quản lý

4 Quan hệ giữa tính kế hoạch của nhà nớc và những mặt tíchcực, tiêu cực của kinh tế thị trờng, của thị trờng văn hoá ở đâytính định hớng, tính điều tiết kế hoạch của các cơ quan quản lý

là hết sức quan trọng, có tính chất quyết định

5 Mối liên hệ biện chứng giữa bản thân văn hoá và các hình thái

ý thức xã hội khác nh: văn hoá và chính trị, văn hoá và kinh tế, vănhoá và đạo đức, văn hoá và tôn giáo…

Khi Nhà nớc định ra chủ trơng, chính sách, nghị quyết về vănhoá, phải tính đến mối quan hệ biện chứng giữa chúng; khôngtính đến mối quan hệ đó chính sách văn hoá trở thành một thựcthể tĩnh, không đa lại kết quả, thậm chí sai lầm

6 Lãnh đạo, quản lý văn hoá trong phát triển, một mặt cần

tránh đầu óc cục bộ địa phơng, “khu vực hoá”, làm ngành nào chỉ

biết ngành đó, thiên vị ngành mình, địa phơng mình, khônghay biết gì đến các ngành, lĩnh vực khác

7 Nâng cao dân trí và phát triển khoa học, công nghệlànhững nhiệm vụ hàng đầu trong quản lý văn hoá

8 Trong quản lý văn hoá cần ngăn ngừa và khác phục sự lãnh đạomệnh lệnh, độc đoán, quan liêu, đồng thời đòi hỏi ngời lãnh đạovăn hoá có một nhãn quan mẫn cảm và tầm nhìn rộng lớn trong thời

đại hiện nay Trong tình hình hiện nay thì bảo thủ, trì trệ, thiếunăng động cần tránh, nhng cấp tiến, nóng vội, phóng tay là cũng cótội

Trang 21

9 Quản lý văn hoá ở bất cứ quốc gia nào cũng phải tuân theo

nguyên tắc (từ trờng quyền lực theo cách gọi của alvin Tohler nhà

văn, nhà nghiên cứu ngời Mỹ) gồm 3 thành tố cũng là 3 công cụ của

- Nghiên cứu để tổ chức lại bộ máy Nhà nớc về văn hoá đủ mạnh

từ trung ơng đến cơ sở, nhất là cần tăng cờng quản lý văn hoá ởcấp huyện, xã

- Hoạt động văn hoá thông tin là hoạt động sự nghiệp gồmnhiều ngành nghiều nghề trong mỗi ngành, nghề có đặc thù, cónội dung, có phơng pháp, kỹ thuật riêng và có đội ngũ đợc đào tạochuyên sâu

- Đảm bảo cho Văn hoá Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo và

đồng thời mạnh dạn xã hội hoá các hoạt động văn hoá, vận dụng

cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, cơ chế nhiều thànhphần và cơ chế mở trong hoạt động văn hoá, nhằm khai thác mọinguồn lực bên trong và bên ngoài

- Những sản phẩm văn hoá là loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt mà giá trị của chúng không chỉ bằng tiền.

Phân biệt đợc cơ chế kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá làkhông lấy lợi nhuận làm mục đích, mà tất cả vì sự hởng thụ và sángtạo tinh thần ngày càng cao của nhân dân

- Gia tăng công tác đối ngoại, mở rộng giao lu văn hoá với nớcngoài, đi đôi với cuộc đấu tranh chống các loại văn hoá độc hại,phản động từ bên ngoài vào văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ

Trang 22

vào nớc ta không chỉ bằng đờng bộ, đờng biển mà còn bằng đờng

sóng vô tuyến điện, chống sự xâm nhập “hữu hình” và “vô

hình”.

- Gia tăng đầu t tài chính cho cuộc đấu tranh phòng, chốngnhững âm mu diễn biến hoà bình bằng văn hoá đang diễn raquyết liệt hằng ngày, hàng giờ nhất là ở các vùng hải đảo, sân bay,bến cảng Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành văn hoá, nội

vụ, hảI quan hàng không, biên phòng… và các cơ quan hữu quankhác

- Công nghiệp hiện đại hoá ngành có thể u tiên một số lĩnh vựctrớc

+ Công nghiệp sản xuất nghe nhìn, điện ảnh, phát thanhtruyền hình, nghệ thuật sân khấu âm nhạc

+ Các thiết chế văn hoá nghệ thuật

1.2 Xã hội hoá văn hoá nớc ta hiện nay.

1.2.1.Xã hội hoá văn hoá:

Thuật ngữ xã hội hoá văn hoá theo cách hiểu thông thờng là biếncác hoạt động các nhân, t nhân trở thành hoạt động xã hội, nghĩa

là sẽ thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa vai trò các cá nhân đốivới xã hội, các thành viên đối với cộng đồng Bởi các thành viên, cáccá nhân là những nhân tố cấu thành cộng đồng xã hội Vì vậy họ

có những quyền lợi và nghĩa vụ nhất định, phải có ý thức và tráchnhiệm đống góp xây dựng cộng đồng xã hội Xã hội hoá chính là

đỉnh cao của Nhà nớc và nhân dân cùng làm Xã hội hoá cũng làthành tố trong đặc trng của cơ chế thị trờng

Văn hoá là một hệ thống những giá trị và chuẩn mực xã hội

Nh-ng “giá trị” khôNh-ng tồn tại lơ lửNh-ng, siêu hình Giá trị là nội duNh-ng, là

bản chất của văn hoá bao giờ cũng đợc khách quan hoá, đối tợng hoá

Trang 23

dới những dạng những hình thức (của nội dung), những hiện tợng

(của bản chất), những quan hệ và quá trình xã hội.

Lịch sử cho thấy, trong quy luật sinh tồn của nó, văn hoá là

“giao lu”, là “tiếp biến” là “kế thừa” và “đổi mới” không một thể

chế chính trị nào, một bộ máy quyền lực nào có thể bao cấp vềvăn hoá tinh thần nói chung, về văn hoá chính trị nói riêng bởi một

lẽ hiển nhiên là nền tảng tinh thần của bất kỳ cộng đồng dân tộcnào cũng đợc sản sinh và xây dựng trong chính cuộc sống thờngnhật của mỗi ngời dân chứ không thể chỉ bằng món ăn ngoại nhập

từ ngoài vào hay trên xuống Nền tảng tinh thần ấy là bản sắc dântộc và diện mạo đích thực của họ ở mỗi chặng đờng thăng trầmcủa lịch sử

Trong công cuộc xây dựng một tổ quốc Việt Nam giàu mạnh,

Đảng ta chủ trơng lãnh đạo toàn dân xây dựng một nền văn hoáViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Một trong những t t-ởng chỉ đạo của Đảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cao cả đó

là :

“Văn hoá văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội Phát triển các

hoạt động văn hoá văn nghệ của nhà nớc, tập thể và cá nhân theo

đờng lối của Đảng và sự quản lý của nhà nớc, khắc phục tình trạng

“hành chính hoá” các tổ chức văn hoá nghệ thuật, và xu hớn “

th-ơng mại hóa” trong lĩnh vực này” (Văn kiện Hội nghị lần thứ t Ban

chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII, trang 55 ).Nếu trên lĩnh vực kinh tế, vai trò quản lý của nhà nớc là sự điềutiết theo định hớng xã hội chủ nghĩa thì trên lĩnh vực văn hoá cókhác ở đây không có sự phân chia quyền lợi văn hoá giữa nhà nớc

và công dân, không có đa dạng hoá hình thức sở hữu các giá trịvăn hoá

Trang 24

Nhng việc sản xuất, bảo quản, lu thông và tiêu dùng các sảnphảm văn hoá lại không nhất thiết và không thể bao cấp nhà nớchoàn toàn Đảng ta chủ trơng phát triển các hình thức hoạt độngvăn hoá , văn nghệ của nhà nớc , tập thể và cá nhân.

Xã hội hoá hoạt động văn hoá ở nớc ta hiện nay là nhằm huy

động tiềm năng, nguồn lực, mọi lực lợng, mọi thành phần kinh tế, xãhội cùng tham gia sáng tạo và phát triển sự nghiệp văn hóa, là đadạng hoá, dân chủ hoá nhng không thơng mại hoá hoạt động vănhoá Xã hội hoá hoạt động văn hoá là chuyển một phần công việccủa Nhà nớc cho nhân dân, tổ chức tập thể, t nhân làm, nhng Nhànớc không giảm nhẹ trách nhiệm Xã hội hoá hoạt động văn hoá đợcthực hiện theo phơng thức Nhà nớc và nhân dân cùng làm, các tổchức, cá nhân, các thành phần kinh tế liên doanh liên kết với các

đơn vị Nhà nớc hoặc tự bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh làm dich

vụ trong lĩnh vực văn hoá và thực hiện theo đúng pháp luật Đây làmột chủ trơng đúng đắn của Đảng, đợc Chính phủ cụ thể hoábằng Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP

Thực hiện chủ trơng trên, Bộ Văn hoá Thông tin đã kịp thời chỉ

đạo công tác tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân vềxã hội hoá hoạt động văn hoá Đồng thời tổ chức cho toàn ngành họctập, quán triệt ý nghĩa, nội dung Nghị quyết 90/CP và Nghị định73/CP của Chính phủ nhận thức về xã hội hoá hoạt động văn hoá đã

đợc thể hiện nh sau:

- Mặt triển biến tích cực: Đến nay nhận thức chung cho rằng xã

hội hoá hoạt động văn hoá là hoạt động lớn của Đảng và Nhà nớc, là

xu thế tất yếu của sự nghiệp văn hoá thông tin Nhà nớc phải giữ vaitrò chủ đạo, định hớng trong quá trình xã hội hoá, là lực lợng chủchốt cung cấp các sản phẩm văn hoá nghệ thuật dân tộc chất lợng

Trang 25

cao và đỉnh cao, đồng thời tạo cơ chế và hỗ trợ cho các thànhphần kinh tế, cho mọi ngời dân tham gia hoạt động sáng tạo vănhoá nghệ thuật phục vụ xã hội Văn hoá đợc nhận thức lại là côngviệc của toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các bộ,ban, ngành của trung ơng cũng nh cấp uỷ Đảng và chính quyền cáccấp ở địa phơng có chuyển biến về nhận thức trong chỉ đạo đãquan tâm tới văn hoá nhiều

hơn Nhân dân ngày càng đợc nâng cao nhận thức về xã hội hoá,hiểu rõ việc Nhà nớc và nhân dân cùng làm

- Tổ chức triển khai thực hiện:

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 90/CP và Nghị

định 73/CP Bộ văn hoá thông tin đã chỉ đạo từng đơn vị, cơ quanchức năng tiến hành nghiên cứu xây dựng đề án, cụ thể hoá từnglĩnh vực mình phụ trách để hớng dẫn địa phơng, cơ sở triển khai

kế hoạch xã hội hoá hoạt động văn hoá Các Sở VHTT đã phát huy vaitrò tham mu, giúp UBND tỉnh, thành phố xây dựng các văn bản chỉ

đạo, tổ chức thựuc hiện công tác xã hội hoá văn hoá Từ Bộ đến các

địa phơng đều đã xây dựng xong đề án “xã hội hoá hoạt động

văn hóa”, trong đó có nội dung và biện pháp thực hiện cho từng

lĩnh vực Đề án đã đợc phổ biến và triển khai toàn ngành, hàngnăm bộ đều đa công tác xã hội hoá hoạt động văn hóa vào mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm

- Các hình thức xã hội hoá hoạt động văn hoá:

Qua quá trình thực hiện chủ trơng xã hội hoá hoạt động vănhoá, nhiều cơ sở, đơn vị tham gia hoạt động văn hoá đã đợc hìnhthành với các hình thức: Bán công, dân lập, t nhân theo đúng tinhthần Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP của Chính phủ Đặcbiệt còn có nhiều hình thức phogn phú khác nh nhân dân và các

Trang 26

tổ chức xã hội tự nguyện tham gia đóng góp sức ngời, sức của để

tổ chức các hoạt động văn hoá, đầu t cơ sở vật chất, thiết chế vănhoá, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở Công tác xã hội hoá vănhoá đã đợc hình thành và phát triển theo phơng thức:

+ Chuyển đổi một số đơn vị công lập sang, cơ sở bán công,

+ Nhân dân và các lực lợng xã hội tham gia đóng góp cho hoạt

động văn hoá trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa”.

+ Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội

và các nhà tài trợ cho hoạt động văn hoá

+ Phối hợp liên kết mở rộng công tác đào tạo

Thực hiện chủ trơng xã hội hoá hoạt động văn hoá hầu hết cáclĩnh vực thuộc ngành văn hoá thông tin đều mở ra các cơ chế thuhút các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tham gia các hoạt

động văn hoá trong thời gian đã đạt đựoc nhiều thành tích trênnhiều mặt, góp phần quan trọng trong việc phát triển văn hoá của

đất nớc Cụ thể là:

+ Tạo ra lực lợng đông đảo của xã hội tham gia hoạt động vănhoá

Trang 27

+ Xã hội hoá hoạt động văn hoá đã tạo ra mối liên kết và sự phốihợp chặt chẽ giữa ngành VHTT với các ngành, đoàn thể, tổ chức xãhội, nhất là với các hội sáng tạo văn học, nghệ thuật.

+ Huy động nguồn lực xã hội phục vụ văn hoá

+ Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa”.

+ Tạo môi trờng du lịch phát triển

Bên cạnh những mặt chuyển biến về nhận thức trong quátrình xã hội hoá còn có những biểu hiện lệch lạc, nảy sinh t tởngthụ động, coi xã hội háo là huy động đóng góp của dân, làm giảmtrách nhiệm cũng nh việc đầu t kinh phí của Nhà nớc cho văn hoá

Có biểu hiện lỏng lẻo về quản lý Nhà nớc, cho rằng xã hội hoá là sựbung ra của các thành phần kinh tế, cứ để các hoạt động văn hoá

tự phát phát triển Cơ quan chức năng về quản lý kinh tế nhận thức

về văn hoá cha đầy đủ, coi các đơn vị văn hoá nh một đơn vịkinh tế, áp dụng các chính sách về thuế nh đơn vị kinh tế thuầntuý Các cơ quan Nhà nớc, nhất là một số cơ quan có chức năng quản

lý văn hoá còn nặng t tởng bao cấp, có tâm lý trông chờ vào Nhà

n-ớc, kém năng động trong cơ chế thị trờng Do chạy theo lợi nhuậnnên một số hoạt động văn hoá bị thơng mại hoá nảy sinh mặt tiêucực.không ngăn chặn đợc kịp thời trong quá trình xã hội hoá Côngtác

Xã hội hoá hoạt động văn hoá trên cả nớc còn chậm và cha mạnhdạn Xã hội hoá đợc đẩy mạnh nhất vào hai lĩnh vực: xây dựng đờisống văn hoá ở cơ sở và kinh doanh dịch vụ văn hoá Trong quátrình xã hội hoá hoạt động văn hoá đã nảy sinh không ít hiện tợngtiêu cực, lộn xộn trong hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá , làmchomoi tờng văn hoá bị ô nhiễm Mặt trái của xã hội hoá là biểu

Trang 28

hiện phổ biến hiện tợng thơng mại hoá trong trên nhiều lĩnh vựccủa văn hoá cụ thể là:

+ Về hoạt động lễ hội và dịch vụ tại di tích, thắng cảnh : Trong hoạt động dịch vụ đã nẩy sinh nhng hiện tợng tiêu cực, th-

ơng mại hoá hoạt động lễ hội ;mê tín dị đoan, chèo kéo khách, làmmất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trờng, nhất là việc lập động giả, t-ợng giả ở chùa Hơng và nạn trộm cắp cổ vật xảy ra ở nhiều nơi

+ Về xuất bản, in, phát hành: Trong việc liên doanh liên kết

với t nhân để xuất bản,in và phát hành có tình trạng một số nhàxuất bản không quản lý chặt nội dung để đối tác tuỳ tiện, thay,sửa bản thảo, hoặc sách in xong cha nộp lu chiểu các đầu nậu đãphát hành vội ra thị trờng để kiếm lợi , đẫn tới vi phạm Luật XuấtBản,sai phạm về chính trị … vv các cơ sở in nội bộ , bao bì vẫn th-

ờng “vợt rào”tham gia kinh doanh Nhiều xuất bản phẩm mê tín dị

đoan, sách kinh dị, bạo lực xa rời định hớng chính trị xuất hiện

nhiều trên thị trờng; t nhân “núp bóng” Nhà nớc để trốn thuế khá

phổ biến

+ Về biểu diễn nghệ thuật: Chơng trình, nội dung biểu

diễn nghệ thuật của nhiều đoàn, nhóm còn tuỳ tiện, tìm mọi cách

câu khách, bị d luận phê phán Tệ các “bầu sô” lũng loạn hoặc

hình thành những câu lạc bộ trá hình, hoặc đầu t xây dựng tráiphép vi phạm pháp luật xuất hiện ở nhiều nơi

+ Về mỹ thuật: Từ nhu cầu mua tranh, bán tranh phát triển,

nên trên thị trờng ngày càng bung ra việc sao tranh, chép tranhdẫn đến tình trạng tranh thật, tranh giả lẫn lộn, gây nên sự lộnxộn trong thi trờng tranh trong cả nớc Tình hình đó đã làm mấtlòng tin đối với ngời mua tranh, nhất là đối với khách nớc ngoài

Trang 29

+ Về kinh doanh dịch vụ văn hoá: Do thị trờng kinh doanh

băng đĩa, văn hoá phẩm và dịch vụ văn hoá ngày càng mở rộng,thu hút đông đảo các thành phần kinh tế

t nhân tham gia, nên nảy sinh một số t nhân vì hám lợi mà vi phạmquy định của nhà nớc: in sang băng đĩa hình, đĩa nhạc lậu, đĩa

CD, VCD không nhãn kiểm soát, buôn bán trôi nổi khắp nơi Cấchiện tợng tiêu cực, thiếu lành mạnh trái với thuần phong mĩ tục dântộc xảy ra phổ biến trong nhiều hoạt động dịch vụ văn hoá:karaoke, vũ trờng, biểu diễn thời trang, quán cafe – Intenet, quán ăn

sân khấu “hát với nhau”, cafe bar rợu có vũ nữ biểu diễn múa khêu

gợi, điểm trò chơi điện tử mang nội dung bạo lực, kích động, cờbạc…gây nên bao nhức nhối cho d luận xã hội nhiều năm nay

1.2.2 Đờng lối chính sách pháp luật của Đảng Nhà nớc về xã hội hoá văn hoá:

Cơng lĩnh của Đảng ta đã chỉ rõ chính sách xã hội đúng đắnvì hạnh phúc con ngời là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năngsáng tạo của nhân dân trong s nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.Một trong những quan điểm quan trọng về công nghiệp hoá hiện

đại hoá của đại hội lần thứ VIII của đảng ta là ”lấy việc phát huy

nguồn lực con ngời làm yếu tố cho s phát triển nhanh và bền vững” Nguồn lực con ngời bao gồm các yếu tố về thể chất và tinh

thần, trí tuệ và phẩm chất Trong việc chăm sóc, bồi dỡng đào tạo

và phát huy sực mạnh của nguồn lực, văn hoá đóng vai trò quantrọng

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII tại

Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định: “Xuất phát từ nhận

thức rằng chăm lo cho con ngời, cho cộng đồng xã họi là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình, là sự

Trang 30

nghiệp của Đảng, Nhà nớc và của toàn dân; Chúng ta phải chủ

tr-ơng giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hoá hoá, trong đó Nhà nớc giữ vai trò nòng cốt Theo trình độ phát triển kinh tế, nhà nớc tăng dần nguồn đầu t cho khoa học, giáo dục, văn hoá, chăm sóc sức khoẻ và các vấn đề xã hội; đồng thời khai thác mọi tiềm năng của nhân dân, của địa phơng, của các hội đoàn, tranh thủ các nguồn viện trợ từ nớc ngoài và sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con ngời và xã hội…”.

Trong tình hình đất nớc đổi mới, nền kinh tế phát triển theocơ chế thị trờng, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đãtừng bớc đợc xã hội hoá và thu đợc hiệu quả tốt đẹp theo mục tiêu

mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra: “Dân giàu, Nớc mạnh, xã hội công

bằng, dân chủ, văn minh” Trong lĩnh vực văn hoá, vấn đề xã hội

hoá đợc đặt ra nh một động lực thúc đẩy các hoạt động văn hoáphát triển trong tình hình mới Xã hội hoá các hoat động văn hoámang ý nghĩa cấp bách,trớc hết ,bởi nó góp phần giải quyết ngaynhững khó khăn chồng chất mà hoạt động văn hoá trong cơ chế thịtrờng đang vấp phải Vì vậy hiện nay xã hội hoá các hoạt động vănhoá đợc xem nh là một trong nhng vấn đề nổi bật vừa là mục tiêu

và cũng là phơng thức nhằm khắc phục những khó khăn mà hoạt

động văn hoá đang gặp phải, điều tiết nó phù hợp với cơ chế thị

trờng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng

6/1996) nêu rõ:”Đổi mới cơ chế quản lý theo hớng xã hội hoá các hoạt

đông văn hoá thông tin, đồng thời tiếp tục xây dựngvà hoàn chỉnh các chế độ chính sách phù hợp với đặc điểm của ngành… nhằm đảm bảo sự nghiệp văn hoá thông tin phát triển nhanh trong quá trình đổi mới” Nghị quyết Trung ơng V khoá VIII (tháng

7/1998) đã xác định “Chính sách xã hội hoá các hoạt động văn

Trang 31

hoá nhằm động viên sức ngời,sức của các tầng lớp nhân dân,các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển văn hoá Chính sách này đợc tiến hành đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm củầ Nhà Nớc.Các cơ quan chủ quản về văn hoá của Nhà Nớc phải làm tốt chức năng quản lý và hớng dẫn nghiệp vụ đối với các hoạt động xã hội về văn hoá”.

Trên cơ sở các Nghị quyết của Đảngvề chủ trơng xã hội hoá cáchoạt động văn hoá ngày 21/8/1997 Chính Phủ có Nghị quyết số

90/CP “Về phơng hớng chủ trơng xã hội hoá văn hoá, y tế, giáo dục,

thể dục thể thao” Ngày 19/8/ 1999 Chính Phủ có Nghị định số

73/NĐ-CP “Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối vớicác hoạt

động trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao”

Ngày 18/4/ 2005 Chính Phủ có Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP “Về

đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao” Trong đó đã đa ra quan điểm và định hớng chung nh

sau:

Thực hiện xã hội hoá nhằm hai mục tiêu lớn:

- Thứ nhất là phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trongnhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp văn hoá

- Thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội,đặc biệt là các đối ợng chính sách,ngời nghèo đợc hởng thụ thành quả văn hoá ngàycàng cao

t-Nhà nớc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh việc hoànthiện chính sách,tăng nguồn lực đầu t, đồng thời đổi mới mục tiêuphơng thức, cơ cấu và nguồn đầu t

Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sựnghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ

Trang 32

cung ứng dịch vụ công ích không bao cấp tràn lan và không nhằm

lợi nhuận (gọi tắt là cơ chế cung ứng dịch vụ ).

Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình: Dânlập và t nhân Quyền sở hữu của các cơ sở ngoài công lập đợc xác

định theo bọ luật dân sự Tiến tới không duy trì loại hình báncông Tiến hành chuyển một số cơ sở thuộc loại hình công lập sangloại hình ngoài công lập để tập thể, cá nhân hoàn vốn cho Nhà n-

ớc

Chơng II Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá

trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 2.1 Diện mạo đời sống kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn.

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên:

Thiên nhiên Bắc Kạn nhìn chung đa dạng, phong phú,khá nhiềutiềm năng và dáng vẻ, có đủ điều kiện cơ bản cần thiết cho conngời tồn tại, trong quá trình lịch sử của mình

- Vị trí địa lý: Bắc Kạn án ngữ chính giữa khối thềm cao

cánh cung Việt Bắc, trong hệ tọa độ từ 210,48" đến 220,44" vĩ độBắc, từ 1050,26" đến 1060,14" kinh độ Đông Là vùng đất trungtâm, bốn hớng hoà nhập với địa bàn nhiều tộc ngời thiểu số cùngsinh sống

Về giới hạn lãnh thổ: Phía bắc giáp với các huyện Bảo Lâm,

Nguyên Bình, Thạch An (tỉnh Cao Bằng), phía Tây giáp huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), phía Đông giáp huyện Tràng Định (tỉnh

Trang 33

Lạng Sơn), phía Nam giáp với huyện Phú Lơng, Định Hoá, Vỗ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) Thị xã Bắc Kạn cách Hà Nội 166 km về phía

Bắc trên trục đờng quốc lộ số 3; Diện tích là:4.857,21km2 Dânsố302.786 ngời với 8 đơn vị hành chính gồm 7 huyện và 1 thị xãlà:

- Huỵện Bạch Thông: Huyện nằm ở trung tâm tỉnh, diện tích

508,5km2 Dân số 32.428 ngòi gồm thị trấn huyện lỵ Phủ Thông

và 16 xã phía Bắc giáp huyện Ba Bể và huyện Ngân Sơn, phía

Đông giáp huyện Na Rì, phía Tây giáp huyện Chợ Đồn, phía Namgiáp thị xã Bắc Kạn và huyện Chợ Mới

- Huyện Ba Bể và huyện Pác Nặm: Là hai huyện ở phía Bắc

của tỉnh, Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáptỉnh Tuyên Quang, diện tích của hai huyện 1.151,7km2 Dân số76.998 ngời, huyện Ba Bể gồm thị trấn Chợ Rã và 15 xã, huyện.Pác Nặm gồm 10 xã đợc tách ra từ huyện Ba Bể (25/8/2003)huyện lỵ đợc đặt tại xã Bộc Bố

- Huyện Chợ Đồn: Huyện ở phía tây tỉnh Bắc Kạn ,giáp với tỉnh

Tuyên Quang diện tích 922,2 km2.Dân số 50.596 ngời huyện Chợ

Đồn gồm thị trấn Bằng Lũng và 21 xã

- Huyện Chợ Mới: ở phía Nam của tỉnh, phía Bắc giáp huyện

Bạch thông và thị xã Bắc Kạn Đông giáp huyện Na Rì, tây giáp 2

huyện, Định Hoá và Phú Lơng (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Chợ Đồn, phía Nam giáp 3 huyện Phú Lơng, Võ Nhai, Đồng Hỷ (thuộc tỉnh

Thái Nguyên) Diện tích 572 km2 Dân số 38.757 ngời huyện Chợ

Mới gồm thị trấn Chợ Mới và 15 xã

- Huyện Na Rì: Huyện ở phía Đông của tỉnh, phía Đông giáp

tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp huyện Bạch Thông, Chợ Mới, diện tích

Trang 34

864,4 km2 Dân số 39.998 huyện Na Rì gồm thị trấn Yến Lạc và

21 xã

- Huyện Ngân Sơn: ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, phía Bắc

và phía Tây giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp huyện Ba Bể, phíaNam giáp 2 huyện Bạch Thông và Na Rì, diện tích 644,4 km2 Dân

số 30.157 ngời, gồm thị trấn Nà Phặc và 10 xã

- Thị xã Bắc Kạn: Là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh, diện tích

132,2 km2 Dân số 33.852 ngời gồm 4 phờng và 4 xã

Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao, địa hình mang những

đặc trng của khu vực miền núi phía bắc, đây là vùng có môi ờng tự nhiên mang tính nhiệt đới Đặc điểm nổi bật của khu vựcnày là cấu tạo địa hình cánh cung Các cánh cung đều tụ lại ở dãyTam Đảo, đồi núi Bắc Kạn chiếm trên 80% diện tích toàn tỉnh, độcao trung bình so với mặt nớc biển 500m Đỉnh Phja Dạ 1.640m

tr-(cao nhất), điểm trung bình (thị xã Bắc Kạn) 200 mét, điểm thấp

nhất ở xã Quảng Chu huyện Chợ Mới: 80m Toàn bộ Bắc Kạn chịu tác

động từ cơ tầng địa hình đồi núi chi phối từ hai cánh cung: SôngGâm- phía tây và Ngân Sơn - phía đông làm bình độ Bắc Kạn

cao hơn các tỉnh lân cận (Lạng Sơn, Tuyên Quang) Xen vào giữa

hai hệ thống cánh cung gồm nhiều tiểu vùng lõm tạo thành thung

lũng đồng bằng nhỏ thuộc lu vực các sông lớn nh: Sông Cầu (Tả

Lông), sông Năng (Tả Slo) và sông Bắc Giang (Tả Lơng Thợng) Các

thung lũng tạo nên địa điểm c trú bản địa của ngời Tày và là vùngtrồng lúa chủ yếu Diện mạo

tự nhiên Bắc Kạn theo hớng từ tây sang đông, nổi bật trớc hết là

cánh cung sông Gâm, kéo dài từ núi Phja Dạ (tên cổ là Phja già) thuộc huyện Pác Nặm (hớng Tây Bắc-Đông Nam) chạy về phía

Trang 35

đông sông Gâm xuống các huyện Ba Bể, Bạch Thông rồi đếnhuyện Chợ Đồn Đây là hệ thống gồm các ngọn núi đá, núi đất xen

kẽ nhau với hai dãy núi tiêu biểu: Phja Dạ và Phja Bióoc

Do địa hình cao, nhất là các dãy núi thuộc cánh cung sôngGâm, Ngân Sơn, toàn bộ Bắc Kạn đã trở thành ngọn nguồn phânthuỷ của nhiều con sông chảy sang các tỉnh Tuyên Quang, TháiNguyên, Cao Bằng và Lạng Sơn Từ ngàn xa, núi rừng Bắc Kạn là khotài nguyên động thực vật đa dạng và phong phú, đồng thời lànguồn vật liệu, đợc liệu quý giá tự nhiên Trong cuộc sống của đồngbào từ bao đời nay cũng nh trong cách mạng kháng chiến, núi rừngBắc Kạn luôn là chỗ dựa, nơi gắn bó, che chở nuôi sống con ngời.Bắc Kạn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuần hoàntheo bốn mùa rõ rệt, nhng nổi bật nhất là mùa hạ nóng nực, nắnglắm ma nhiều và mùa đông khô hanh lạnh lẽo bởi gió mùa Đông Bắc.Mùa đông và mùa thu nói chung ngắn, có tính chất giao thời

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 200C đến 220C, (mùa hạ:

0C) Độ ẩm không khí cao nhất vào tháng 7 khoảng 86% Khí hậuBắc Kạn thuộc vùng núi cao nên tính chất á nhiệt đới tơng đối rõrệt: mùa hè mát, mùa đông có sơng muối Do ảnh hởng của gió mùa

Đông Bắc, vào mùa xuân cảnh thiên nhiên tơi sáng, tiết trời ấm áp,núi non phơi phới màu xanh huyền diệu.Với đặc điểm địa hìnhnúi cao, rừng dày xen lẫn các nếp lõm thung lũng sâu nên Bắc Kạn

có mật độ sông, suối, nguồn nớc lớn, lợng nớc lu chuyển phân phối

t-ơng đối đều giữa các vùng Hệ thống sông lớn, nhỏ gồm: Sông Cầu,sông Năng, sông Bắc Giang, nhánh sông Gâm, sông Hiến, sôngTiểu Phó Đáy

Trang 36

Sông Cầu (tiếng Tày là Tả Luông hay Tả Cải, Nặm Cải, sử sách

gọi là sông Đồng Mỗ hoặc Nh Nguyệt) là con sông dài nhất, đoạn

trong nội địa Bắc Kạn dài khoảng 103 km, do hai nhánh chính:

sông Nặm ún (bắt nguồn từ Phơng Viên- Chợ Đồn) và Nặm Cắt (từ

Đôn Phong - Bạch Thông) xuất phát phía đông nam dãy Phja Bjoóc

hợp lu ở Pác Cáp huyện Na Rì Sông Cầu đóng vai trò quan trọngtrong đời sống c dân Dòng chảy lớn, bề mặt sông rộng tạo thành

đờng giao thông thuỷ nối liền các tiểu vùng đồng bằng, là nguồn

n-ớc chủ yếu gieo cấy trồng trọt cây lơng thực Trong kháng chiếnchống Pháp các loại thuyền ván lớn nhỏ là phơng tiện vận tải gạo,muối…và vật dụng từ miền xuôi lên bến Chợ Mới, bến Duộc Tronghoà bình lại vận chuyển tre, nứa, gỗ, củ nâu từ Bắc Kạn về xuôi.Sông Cầu có nguồn thuỷ sản dồi dào, phong phú, nhiều loại cá quý:cá măng, chày đất, chép, võng, nheo, chiên đặc biệt là cá sờn

xanh (tiếng Tày là pja pạu), vào mùa sinh sản hàng đàn cá (có đàn

hàng trăm con) bơi ngợc lên khe suối thợng nguồn, mỗi con khoảng

2kg giống nh cá chày, cá trắm có giá trị dinh dỡng cao, tạo nênnguồn lợi cho ngời dân nơi đây

Hệ thống sông, suối phong phú là nguồn tài nguyên thuỷ lợi, thuỷnăng, thuỷ sản, giao thông, góp phần quan trọng điều hoà khí hậu.Nhng do đặc điểm địa hình đồi núi cao, khí hậu gió mùa, lợng n-

ớc các sông suối hàng năm không đều Mùa ma nớc thờng dâng cao

bất thờng, gây lũ lụt lớn là nạn hồng thuỷ tại các vùng trũng nh thung

lũng sông Năng, sông Nam Cờng

Điểm nhấn nổi bật nhất trong cảnh quan môi trờng tự nhiênBắc Kạn đợc thiên nhiên ban tặng là hồ Ba Bể , một trong 20 hồ nớcngọt đẹp nhất thế giới Tiếng Tày cổ từ xa xa gọi hồ này là Nặm

Pé (nớc biển) Kiến tạo địa chất hình thành hồ Ba Bể là hệ quả

Trang 37

của hiện tợng bào mòn chân núi đá vôi (catxtơ), gây sụt lở vách

núi, chặn dòng chảy ở Đầu Đẳng, nớc dâng lên thành hồ Hồ có độsâu trung bình khoảng 25 mét, cao 150 mét so với mặt nớc biển

Hồ Ba Bể hiện nay thuộc xã Nam Mẫu, diện tích 500 ha nằm

giữa khu bảo tồn thiên nhiên vờn quốc gia Ba Bể (tổng diện tích

6.710 ha là rừng nguyên sinh độc đáo rất nhiêù loại gỗ quý) Hồ Ba

Bể gồm ba hồ nhỏ nối nhau liên tiếp: Pé Lèng, Pé Lù và Pé Lồm,chiều rộng: 700 m, chiều dài: 8000m, phía cuối hồ nối với sông Năng

đổ xuống thác Đầu Đẳng chảy vào sông Gâm Giữa hồ nổi lên hai

hòn đảo, đảo lớn là An Mã, đảo nhỏ là Pò Giả Mải (gò Bà Goá) Xung

quanh hồ có ba con sông nhỏ chảy vào: Pác Ngòi, Nam Cờng và Tả

Han Phía đông trong khu núi đá vôi có ao Tiên (Buốc Cỏng Kíu).

Giữa bốn bề núi non trùng điệp, cây cối xanh tơi một vùng hồ nớctrong xanh biếc với ba hồ hợp thành tạo nên quần thể phức hợp độngthực vật kỳ thú

Hồ Ba Bể hầu nh có đủ các loài thuỷ sản nớc ngọt miền BắcViệt Nam, trong đó có hơn 50 loài cá quý nh cá dầm xanh, anh vũ,chép kính, chiên, chày đất, võng… cá mơng nhiều, kết nổi thành

đám lớn Lỡng ng, bò sát có ba ba gai, kỳ đà, rái cá song Bắc Kạnkhông chỉ có hồ Ba Bể, nơi dồn tụ các loài thuỷ sản, hầu hết trên

ngọn nguồn sông suối lng chừng núi cũng nhiều, chim rừng, cá núi là

hình ảnh về sự phong phú, đa dạng của vùng đất Bắc Kạn

* Vài nét về lịch sử Bắc Kạn và các nhóm tộc ngời:

Bắc Kạn là tên địa danh do ngời Pháp đọc chệch từ chữ Pác

Kạm (tiếng Tày nghĩa là cửa ngõ) hoặc giả thuyết khác gọi là Pác Cáp (nơi hợp lu của các con sông, con suối Nơi đây có ngõ Pác Khuổi Thán, chợ họp ngay sát cạnh nên ngời Tày gọi là chợ Pác Kạm.

Trang 38

Bắc Kạn là vùng đất có nhiều biến đổi về địa giới đơn vị hànhchính trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam

Vào thời hậu Lê, khi Nguyễn Trãi viết D địa chí đã đa ra các

chứng cứ: từ thời Hùng Vơng với nhà nớc Văn Lang (thế kỷ VI-II trớc

công nguyên) Bắc Kạn nằm trong bộ Vũ Định Đến nhà Lý, thuộc phủ

Vĩnh Thông, sang nhà Lê, Bắc Kạn ở tỉnh Thái Nguyên Từ năm

1460, đổi thành thừa tuyên Ninh Sóc Năm 1490, nhà Lê chuyểnThái Nguyên thành phủ Thông Hoá do đó Bắc Kạn trong phủ ThôngHoá Đến đầu thế kỷ XX, Bắc Kạn tách khỏi đạo Quan Binh 2 thành

tỉnh riêng gồm các châu: Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (Ngân

Sơn), Cảm Hoá, Cao Bằng (Na Rì) Năm 1916 lập thêm châu Chợ

Đồn Tổng cộng có 5 châu, 20 tổng, 103 xã, 36.000 ngời, với 5 dântộc: Tày, Dao, Kinh, Nùng, Hoa

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời, hệ thống địa lý hành chính tỉnh Bắc Kạn về cơbản vẫn giữ nh cũ, chỉ có một số thay đổi nhỏ Ngày 25 tháng 3

năm 1948, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 148/SL bãi bỏ

phủ, châu, quận, gọi là cấp huyện Trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp, do yêu cầu giữ bí mật phần lớn địa danh các xã trong tỉnh

đợc đặt theo tên khác Ngày 12 tháng 5 năm 1964, bộ nội vụ có

quyết định số 150/QĐ- NV về việc đổi lại tên (phần lớn trả lại nh

cũ) cho các xã Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nớc địa lý hành

chính tỉnh Bắc Kạn có mấy lần thay đổi điều chỉnh

Ngày 14 tháng 4 năm 1965, sát nhập với Thái Nguyên thành tỉnhBắc Thái, dân số Bắc Kạn có 112.500 ngời

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, hai huyện Ngân Sơn, Chợ Rã (Ba

Bể) tách từ tỉnh Bắc Thái sát nhập vào tỉnh Cao Bằng.

Trang 39

Ngày 16 tháng 7 năm 1990, giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộchuyện Bạch Thông, thành lập thị xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái.Ngày 01 tháng 01 năm 1997, thực hiện nghị quyết của QuốcHội Nớc CHXHCNVN khoá IX, tỉnh Bắc Kạn đợc tái lập trên cơ sở tách

từ hai tỉnh Bắc Thái và Cao Bằng, trở lại địa gới nh trớc tháng 4 năm1965

Tỉnh Bắc Kạn tính đến thời điểm hiện nay có 7 huyện và 1thị xã với 122 xã 4 phờng và 6 thị trấn, gồm 7 nhóm tộc ngời.Dân số

Thần Sa (Võ Nhai- Thái Nguyên), văn hoá Bắc Sơn (Bình Gia- Lạng

Sơn) nổi tiếng (cách đây hàng chục vạn năm đến sáu bảy nghìn năm) Phía tây- tây bắc huyện Chợ Đồn- Ba Bể liên quan với nền

văn hoá đồ đá mới- đồng thau Sông Gâm (Nà Hang- Chiêm Hoá

Trang 40

thuộc Tuyên Quang và Bắc mê thuộc Hà Giang) Gần đây (2001)

các nhà khảo cổ học đã phát hiện ở Thẳm Miều xã Lam Sơn huyện

Na Rì các hiện vật hậu kỳ đồ đá cũ cách đây hàng vạn năm, đồ

đá ở hang Tiên- Ba Bể cách đây gần một vạn năm đồng niên đạivăn hoá sơ kỳ đồ đá mới Hoà Bình Ngoài ra nhiều hiện vật nh:rìu đá mài nhẵn thuộc hậu kỳ đá mới ở Ba Bể, Bạch Thông Đặcbiệt tìm thấy mũi tên đồng thuộc loại hình Cổ Loa ở Nà Buốc-Pắc Nặm Phía đông bắc là vùng còn lu giữ nhiều dấu tích truyện

kể, truyền thuyết về nàng Sao Cải đợc coi là bà tổ của ngời Tàygiống nh Phiêng Pha, nơi khởi nguồn của nghề trồng lúa nớc

C dân bản địa xuất hiện từ thời tiền sử, sơ sử trên vùng đất

Bắc Kạn là ngời Tày cổ, tiếng Tày gọi là cần Tày cốc đin mác nhả

có nghĩa ngời Tày gốc đất hạt cỏ Tộc danh Tày bắt nguồn từ cáchphân biệt các nhóm tộc khác nhau theo đặc trng ám chỉ c dânchuyên nghề cày ruộng, làm lúa nớc với nông cụ tiêu biểu là cái cày,

ngôn ngữ Tày- Thái gọi cày là Mạc thay (hoặc thây) rồi biến âm

thành Tày và Thái, ngoài ra còn có tên gần nh vậy gọi ngời Tày là

Cần nà (ngời cày ruộng)[6, tr 46], ngời Tày Bắc Kạn nói chung đều

tự nhận mình là Cần Tày (ngời Tày) và có hai nhánh chính: Tày

bốc (Tày cạn) làm nơng, đi rừng và Tày nặm (Tày nớc) chuyên làm

ruộng nớc, đánh cá sông Đến thể kỷ XV ngời Tày còn gọi là ngời

Thổ có nghĩa là thổ địa (ngời bản địa).

Trong quá trình lịch sử, ngời Tày kiên nhẫn cần cù trong lao

động, đấu tranh kiên cờng chống thiên tai địch họa, sáng tạo nênnền văn hoá giàu sức sống, in đậm sắc thái riêng không trộn lẫn.Cùng với ngời Tày, một số tộc ngời khác tiếp tục xuất hiện, hoà nhập

và cố kết vào nét văn hoá ban đầu đợc ngời Tày xây dựng Theo

tổng điều tra dân số Việt Nam (1999), Bắc Kạn có 275.165 ngời,

Ngày đăng: 06/11/2017, 22:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w