1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

50 453 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “ Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai“ với mong muốn góp phần giới thiệu

Trang 1

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.Phương pháp nghiên cứu

1.3.2 Cấu trúc và phân bố dân cư

1.3.3 Tập quán mưu sinh

1.3.4 Xã hội truyền thống

1.3.5 Đặc điểm văn hóa vật chất

1.3.6 Đặc điểm văn hóa tinh thần

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ H’MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG BỘ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG

2.1 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình sản xuất nguyên liệu dệt 2.2 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình dệt, nhuộm

2.3 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình may và trang trí hoa văn 2.4 Vai trò của người phụ nữ trong quá trình sử dụng bộ trang phục

Trang 2

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ H’MÔNG TRONG VIỆC BẢO VỆ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI

3.1 Quan điểm Đảng và nhà nước về bảo tồn Văn hóa truyền thống 3.2 Thực trạng về quá trình sản xuất và sử dụng bộ trang phục truyền thống của người H‟Mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

3.3 Nguyên nhân của sự biến đổi trang phục truyền thống của người H‟Mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

3.4 Vai trò hiện nay của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của người Hmông ở huyện Si Ma Cai

3.5 Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ H‟mông ở Si Ma Cai trong việc bảo tồn trang phục truyền thống

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người Hmông là một trong 54 tộc người đang sống trên lãnh thổ Việt Nam Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Hmông sáng tạo ra những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc, góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đa dạng

Trang phục là một trong những thành tố văn hóa vật thể cơ bản không thể thiếu được đối với cuộc sống con người Nó không chỉ có chức năng che đậy, bảo vệ con người về mặt sinh học mà còn là biểu hiện của văn hóa, nếp sống tộc người, thể hiện trình độ kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo thủ công truyền thống và quan niệm thẩm mỹ Ngoài ra trang phục còn là cơ sở

để phân biệt và giúp cho sự nhận biết giữa tộc người này với tộc người khác

Về mặt ý nghĩa khoa học, dưới góc độ văn hóa, lịch sử nghiên cứu trang phục sẽ góp phần làm sáng tạo thêm những nét đặc trưng người và các mối quan hệ liên quan Từ đó có thêm những cứ liệu khoa học, làm cơ

sở vững chắc cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa H‟mông ở huyện Si Ma Cai

Về ý nghĩa thực tiễn, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự biến đổi kinh tế kéo theo những biến đổi về mặt văn hóa và lối sống, nếp sống trong đó, biến đổi về trang phục đang diễn ngày cang mạnh mẽ Xu hướng hòa đồng về lối sống, đặc biệt về trang phục ngày càng tăng Đây là vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với việc nghiên cứu về trang phục của dân tộc nói chung và dân tộc H‟mông ở Si

Ma Cai nói riêng, có ý nghĩa thực tiễn lớn lao nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống của người Hmông ở Si Ma Cai trong bối cảnh giao lưu và hội nhập ngày nay

Là một sinh viên ngành Văn hóa dân tộc thiểu số kiến tập tại huyện

Si Ma Cai tôi nhận thấy sự biến đổi trang phục của dân tôc H‟mông ngày

Trang 4

một bị biến đổi và mất dần Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “ Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai“ với mong muốn góp phần giới thiệu về một

nét văn hóa về dân tộc H‟mông và góp phần bảo tồn vào việc bảo tồn văn hóa truyền thống thông qua trang phục của người Hmông ở huyện Si Ma Cai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang phục truyền thống của người H‟mông đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả như: Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc của Trần Bình

Tuy nhiên, riêng trang phục của người Hmông ở huyện Si Ma Cai thì từ trước tới nay chưa có công trình hoặc bài viết nào đi sâu vào miêu tả một cánh cụ thể, chi tiết Vì thế, đây cũng là một trong những lý do khiến

em chọn đề tài này và địa điểm để nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm tìm hiểu hiểu thực trạng biến đổi trang phục và sự suy giảm về việc mặc trang phục truyền thống của H‟mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai cũng như vai trò của người phụ nữ H‟mông trong việc bảo tồn trang phục truyền thống hiện nay Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ Hmông ở huyện Si ma Cai trong việc bảo tồn trang phục truyền thống

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục của người phụ nữ H‟mông cũng như các hoạt động liên quan đến người H‟mông

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

5.Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Trong bài viết này, phương pháp thực hiện được đề tài sử dụng chủ yếu là phương pháp điền dã Dân tộc học, điều tra, điền dã thực địa, quan sát, phỏng vấn, phân tích, quan sát, thu âm, ghi chép,

Để bổ sung thêm tư liệu cũng như để so sánh đối chiếu, tác giả có

sử dụng việc nghiên cứu thư tịch (sách, báo, tư liệu trên internet )

6.Đóng góp của đề tài

Đề tài đóng góp về mặt tư liệu trong việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữ H‟mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai trong việc bảo tồn trang phục truyền thống

Chỉ ra được những giá trị truyền thống tốt đẹp về trang phục của người H‟mông tại địa bàn nghiên cứu cần được bảo tồn và phát huy

Từ những kết quả nghiên cứu đạt được đề tài sẽ cung cấp những luận

cứ khoa học cho việc đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn

và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp về trang phục truyền thống của người H‟mông

Ma Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MÔNG

Ở HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI 1.1 Đặc điểm tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí

Si Ma Cai là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai và được bao bọc bởi dòng sông Chảy, thị trấn huyện Si

Ma Cai cách trung tâm tỉnh Lào Cai khoảng 100 km về phía Nam

Phía Bắc giáp với huyện Mã Quan-Vân Nam-Trung Quốc

Phía Tây giáp với huyện Bắc Hà

Phía Nam giáp với huyện Mường Khương

Phía Đông giáp với huyện Xín Mần (Hà Giang) và huyện Bắc Hà (Lào

1.1.3 Khí hậu

Si Ma Cai nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới và được chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa tập trung vào khoảng tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, màu khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 18,90C có những tháng Nhiệt độ trung bình xuống dưới 100C Nhiệt độ có

sự thay đổi theo các đai cao khá rõ nét, sự thay đổi này diễn ra ngay trên địa bàn của một xã Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn điều này được thể hiện rõ nhất vào mùa hè, ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ của người dân, gia súc và sản xuất nông - lâm nghiệp

Trang 7

Si Ma Cai là huyện có lượng mưa trung bình thấp so với các vùng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, lượng mưa thay đổi qua các năm từ 1.300 – 2.000mm, lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 các tháng còn lại trong năm mưa ít, cường độ không tập trung Nhìn chung lượng mưa trung bình thấp, cường độ mưa không đều, hiện trạng tài nguyên rừng ít nên hiện tượng xói mòn, sụt lở, rửa trôi vẫn còn xẩy ra khá nghiêm trọng Với nền nhiệt độ thấp, lượng mưa lớn đã tạo điều kiện khí hậu và thời tiết phù hợp để phát triển các loại cây trồng và một số loại cây công nghiệp khác.Tuy nhiên do các hiện tượng như khí hậu lạnh giá, sương mù dày đặc nên đã gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân

1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên nước :

Hệ thống thuỷ văn của huyện Si Ma Cai bao gồm:

- Sông Chảy, bắt nguồn từ huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, chảy sát biến giới Việt- Trung, qua địa phận huyện Si Ma Cai với tổng chiều dài 43km Sông Chảy tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện Mã Quan - Trung Quốc và huyện Si Ma Cai, lòng sông hẹp, sâu, nhiều thác ghềnh, ít

có tác dụng trong giao thông vận tải, trong sản xuất và dân sinh do lượng phù sa thấp, tốc độ dòng chảy lớn, có tiềm năng phát triển thủy điện

- Hệ thống suối nhỏ, do ảnh hưởng của địa hình chia cắt, độ cao lớn, hình thành trên địa bàn huyện Si Ma Cai khá nhiều suối nhỏ Tất cả các con suối đều bắt nguồn từ các dãy núi cao chảy xuống thung lũng, thường khô kiệt vào những tháng mùa khô Đây là nguồn nước chính để phục vụ dân sinh cũng như mở rộng đất canh tác sản xuất của cộng đồng các dân tộc huyện Si Ma Cai Tuy nhiên về mùa mưa, hệ thống khe thường xuyên có lũ

quét, gây trở ngại lớn cho sản xuất và giao thông

Tài nguyên đất:

Tổng diện tích tự nhiên của Si Ma Cai là 23.493,83 ha, trải qua quá trình Feralit, bào mòn, rửa trôi, bồi tụ, hình thành mùn, trên địa bàn huyện

Trang 8

Si Ma Cai có các loại đất sau: Đất mùn đỏ vàng trên đất đá biến chất, loại

đá mẹ Firit (Hs), tầng dầy 50 -120cm, có tổng diện tích khoảng 5.324 ha phân bố rộng trên khắp lãnh thổ; Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fs), có khoảng 1.570 ha phân bố phần thấp ven sông Chảy, loại đất này có tầng dày từ 50 -100cm; Đất đỏ mùn trên đá sét (Hs), diện tích khoảng 2.150 ha, thành phần cơ giới thịt nặng; Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl), chiếm

tỷ lệ không đáng kể; Đất thung lũng dốc tụ trồng lúa (Dl); Đất phù sa, sông suối (Py); Đất mòn, trơ sỏi đá

Tài nguyên rừng:

Theo số liệu thống kê, đến 01/1/2010 diện tích rừng trên địa bàn huyện Si Ma Cai là 6.266 ha chiếm 26,67 % diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó rừng sản xuất 1.905 ha, rừng phòng hộ 4.361 ha Về khả năng đất đai phát triển rừng của huyện trong giai đoạn tới còn khoảng trên 2.000 ha Diện tích rừng của Si Ma Cai chiếm tỷ lệ còn quá thấp so diện tích tự nhiên; đa phần là rừng nghèo, trữ lượng thấp, thực vật đa dạng chỉ còn tập trung ở một số vùng ở các xã: Lùng Sui, Quan Thần Sán, Bản Mế, Thào Chu Phìn

Do rừng ở đây chiếm khoảng ½ là rừng núi đá nên động thực vật phát triển phong phú.Động vật cũng khá đa dạng và phong phú như : chim, sóc, mèo hoang, khỉ …và nuôi nhiều loại cá

Về cảnh quan môi trường rất hữu tình, có con suối rất nên thơ, có nhiều ghềnh thác đẹp và đồng thời cũng là nơi để xây dựng các khu du lịch sinh thái với quy mô tương đối lớn và đồng thời cũng là để giữ gìn, phát triển và bảo vệ môi trường nơi đây

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.2.1 Đơn vị hành chính

Toàn huyện Si Ma Cai có 13 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm các xã: Si Ma Cai, Thào Chư Phìn, Bản Mế, Sán Chải, Lùng Sui, Mản Thẩn, Cán Hồ, Sín Chéng, Lử Thẩn, Quan Thần Sán, Cán Cấu, Nàn Sín, Nàn Sán

Trang 9

Có 3 xã giáp biên giới là các xã: Si Ma Cai, Nàm Sán, Sán Chải, với tổng chiều dài đường biên giới là 12,2 km giáp huyện Mã Quan - tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

Trong đó có 12 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II là các xã: Thào Chư Phìn, Bản Mế, Sán Chải, Lùng

Sui, Mản Thẩn, Cán Hồ, Sín Chéng, Lử Thẩn, Quan Thần Sán, Cán Cấu, Nàn Sín, Nàn Sán

1.2.2 Đặc điểm về dân số, dân tộc, lao động:

Năm 2009, huyện Si Ma Cai có 5.677 hộ với 31.149 người, trung bình 5,49

người/hộ; mật độ dân số trung bình 133 người/ km2 Tốc độ tăng dân

số của huyện bình quân 3%/ năm, trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 2,4%/năm, (bằng 1,3 lần tỷ lệ tăng tự nhiên chung toàn tỉnh) Nhìn chung, Si Ma Cai có mật độ và tỷ lệ tăng dân số cao so các huyện khác trong tỉnh

Si Ma Cai có 11 dân tộc anh em chung sống, trong đó chủ yếu là dân tộc thiểu số, chiếm 96,3%, tổng dân số của huyện

Tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn huyện thời điểm cuối năm 2009 là 16.117, chiếm gần 52% dân số của huyện, bằng 5% số lao động toàn tỉnh Hầu hết số lao động có khả năng làm việc đều có việc làm

Về cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế, đến năm 2009: tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp còn chiếm quá cao (83,2%), lao động công nghiệp, xây dựng chiếm 4,2% và trong dịch vụ có 12,6% Sự chuyển dịch

cơ cấu lao động từ 2005- 2009 diễn ra rất chậm đến năm 2009 so sánh với năm 2005: lao động nông, lâm nghiệp giảm 2% (cả tỉnh giảm 3%), lao động dịch vụ tăng 1,8% và công nghiệp, xây dựng tăng 0,2%

Về chất lượng nguồn nhân lực còn thấp và chưa đồng đều Số dân là đồng bào dân tộc ít người chiếm tỷ trọng cao Cơ cấu lao động còn nhiều bất hợp lý Trình độ văn hoá và trình độ tay nghề của người lao động thấp,

Trang 10

chủ yếu là lao động phổ thông, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất còn thấp

1.3 Khái quát về người Hmông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

1.3.1 Nguồn gốc của người Hmông ở Si Ma Cai

Theo các nhà sử học, các nhà nghiên cứu họ khẳng định rằng người Hmông có nguồn gốc từ Trung Quốc.Trong lịch sử Hán học người Hmông vẫn xuất hiện trong các thời kỳ, triều đại Trung Quốc với tên gọi tộc người

“ Miêu ” hay ngươi “Miao” và xuất hiện sớm nhất ở lưu vực sông Hoàng

Hà Một nhà nghiên cứu khảo cổ học Trung Quốc cũng nhấn mạnh và phân tích ý nghĩa của từ “Miêu” Đây không phải là từ măng ý nghĩa chỉ con Mèo (con vật) mà „Miêu” mang ý nghĩa chỉ về một tộc người trồng lúa nước đầu tiên ở lưu vực sông Hoàng Hà Do nhiều lần xảy ra tranh chấp đất đai giữa người Mông và người Hán ở lưu vực sông Hoàng Hà nên người Mông phải chạy lên núi ở ẩn (Hồ Bắc, Hồ Nam, Qúy Châu, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây) và từ đó người Hmông trở thành một dân tộc thiểu số

Do chính sách cai trị của nhà Hán làm cho người Hmông không chịu khuất phục nên đã nổi dậy đấu tranh và đã bị nhà Hán dàn áp dã man nên người Mông đã di tảng xuống phía Nam và tràn vào Si Ma Cai (Lào Cai) theo 2 thời kỳ :

Thời kỳ đầu: Cách đây 300 năm (từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII) trong cuộc nổi dậy chống chính sách “cải thổ quy lưu” kéo dài từ thời nhà Minh đến thời nhà Thanh tại Qúy Châu Người Mông đã di cư đến mảnh đất Đồng Văn (Hà Giang) và một bộ phận khác đã di cư đến Si Ma Cai - Bắc Hà (Lào Cai) Đây là những nơi người Hmông đã di cư vào sớm nhất Thời kỳ thứ hai:Cách đây khoảng 120 năm đến 160 năm hàng vạn người Hmông (phần lớn từ Qúy Châu,Vân Nam-Trung Quốc đã di cư vào

Si Ma Cai ( Lào Cai ) và một số tỉnh lân cận Đây là thời kỳ gắn với sự kiện người Hmông nổi dậy hưởng ứng phong trào “Thái Bình Thiên Quốc” từ

Trang 11

1840 đến 1868 chống nhà Mãn Thanh Thời gian sau đó người Hmông di

cư rải rác vào Việt Nam

- Phạm vi phân bố :

Người Hmông ở Si Ma Cai phân bố hầu hết tại 13 xã của huyện (Cán Cấu, SiMaCai, Sán Chải, Quan Thần Sán, Lùng Sui, Lử Thẩn, Sín Chéng, Mản Thẩn, Thào Chư Thìn, Bản Mế, Cán Hồ, Nàn Sán, Nàn Sín) , cả huyện gồm 32.762 nhân khẩu với 15 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 78,85% tổng dân số

- Phân loại :

Cùng là một dân tộc Hmông chung sống với nhau tại mảnh đất Si Ma Cai nhưng tiếng nói lại phát âm không giống nhau nên đã dựa theo các ngữ điệu đó để phân loại thì người Hmông ở Si Ma Cai được chia làm 4 loại chính:

Mông Hoa (Hmôngz Lênhl)

Mông Trắng (Hmôngz Đơưz)

Mông Xanh (Hmôngz Ntsuaz)

Mông Đen ( Hmôngz Đuz)

1.3.2 Tập quán mưu sinh

Canh tác nương rẫy

Do điều kiện địa hình nên người Hmông ở Si Ma Cai chủ yếu canh tác trên đất dốc bằng khai thác ruộng bậc thang và làm nương Cây trồng truyền thống là lúa, nương, ngô, kê, đỗ nương, rau cải… Lương thực thu

về đối với gia đình nhiều ruộng, đất thì của cải có thể dự trữ để ăn từ hai năm đến ba năm mà không tích lũy bằng tiền và những giá trị khác bằng kim loại Việc trao đổi, mua bán bằng những nông sản, vật dụng tự làm ra.Vì vậy người Hmông quan niệm ruộng nương là tài sản cố định truyền đời

Chăn nuôi

Trang 12

Ở đây địa hình đồi núi cao thoáng nên thuận lợi về chăn nuôi trâu bò

và gia súc, gia cầm Mỗi gia đình có ít nhất tầm năm đến bảy con trâu bò, ngựa, chăn nuôi trâu bò ở đây được mọi gia đình chú trọng vì „„con trâu là đầu cơ nghiệp‟‟ Do điều kiện nơi đây hầu như là đồi núi nên sức cày kéo, vận chuyển trong nông nghiệp là rất quan trọng

Không chỉ vậy mà các hộ gia đình còn chăn nuôi gà vịt, ngan, lợn rất nhiều, nhiều gia đình đã chuyển từ nghề làm nông sang nghề chăn nuôi và trồng cây ăn quả và giờ đây hầu như chăn nuôi gần như là nguồn thu nhập chính của họ

Thủ công nghiệp

Tộc người Mông ở nơi đây không chỉ có một kho tàng văn hóa mà còn

có nhiều nghề như đan lắt, trồng đay dệt vải, nhiều bản làng vẫn còn giữ nguyên nghề thủ công như dệt thổ cẩm là phổ biến nhất

Thủ công nghiệp của tộc người Mông rất phong phú, hầu mọi dụng cụ trong gia đình là tự chế để dùng Như nghề đan mây tre, rèn, đúc…dệt thổ cẩm, không ít gia đình biết đan các loại như nong, nia, sàng, chiếu, hoặc đan những chiếc rương để đựng quần áo Họ chủ yếu sử dụng những nguyên liệu tự nhiên như tre nứa, song, mây, không chỉ đan cho gia đình sử dụng mà còn mang ra chợ trao đổi mua bán Ngành dệt thổ cẩm ở đây còn thu hút nhiều khách thập phương mua với giá cao

Bên cạnh sản xuất lương thực, thực phẩm là nghề chính, người Mông còn thạo đan lát đồ dùng chắc bền ( địu, rổ, mẹt, ghế ngồi, bàn ăn cơm…), rèn đúc nông cụ sắc bén (dao, rìu, cuốc, xẻng, xà ben…) và thiêu may thổ cẩm tinh xảo được coi là ngành phụ

1.3.3 Đặc điểm văn hóa vật chất

Nhà cửa

Đồng bào tộc người Mông ở đây do định cư trên các sườn đồi nên nhà

ở thường là rất thấp, đáng lưu ý là người Mông thường đáp tường nhà bằng đất, máy lập bằng danh hoặc vỏ cây, nhưng ngày nay hầu như là lập

Trang 13

bằng tấm lập Nhà chủ yếu là nhà cát sét ba gian hoặc bốn gian và hai máy

Tổ tiên, bàn thờ đặt ở gian giữa đối diện với của chính Ở trên là hai gắc để sếp ngô hoặc thóc và một số nông phẩm khác Bếp lửa của tộc người Mông thường để ở hai đầu nhà, bếp chính để ở bên trái, hoặc có nhà thì họ làm nhà bếp riêng, bếp trong nhà to chỉ đẻ tiếp khách

Trang phục

Quần áo của người H‟mông chủ yếu may bằng vải tự dệt, đậm đà tính cách tộc người trong tạo hình và trang trí với kỹ thuật đa dạng

Trang phục nữ người H‟mông có nhiều nhóm khác nhau, trang phục

nữ các nhóm cũng có sự khác biệt Tuy nhiên nhìn chung có thể thấy phụ

nữ H‟mông thường mặc áo bốn thân, xẻ ngực không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy Ông tay áo thường trang trí hoa văn những đường vằn ngang từ nách đến cửa tay, đường viền cổ và nẹp hai thân trước được trang trí viền vải các màu (thường là đỏ và hoa văn trên nền chàm) Phụ nữ Hmông còn dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa ống tay áo Phía sau gáy thường được đính miệng

và trang trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc Váy phụ nữ Hmông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra có hình tròn Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm Hmông (Hóa, Xanh, Trắng, Đen )

Trang phục nam thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng Aáo nam có hai loại: năm thân và bốn thân Loại bốn thân xẻ ngực, hai túi trên, hai túi dưới Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông Loại bốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằn ngang trên ống tay Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu vực Đầu thường chít khăn,

có nhóm đội mũ xung quanh có đính những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi không mang

Ẩm thực

Trang 14

Trước kia người Hmông ở đây ăn mèn mén làm từ ngô là chủ yếu, ngày nay họ ăn cơm tẻ làm từ ruộng, nương, một số gia đình do mất mùa hay năng suất thấp họ thường trộn gạo với sắn nấu thành cơm Thực phẩm dùng trong bữa ăn hàng ngày chủ yếu được chế biến từ các nông sản do họ làm ra và những sản phẩm hoạt động săn bắt, hái lượm trong tự nhiên Ngày nay lương thực trong tự nhiên ngày càng khan hiếm, đồng bào nơi đây đã cải thiện bữa ăn bằng các loại rau quả, củ được chăm sóc trong vườn như: rau cải, rau bí, các loại đậu đỗ Thịt chủ yếu được lấy từ các đàn gia cầm, gia súc nuôi trong gia đình như: gà, vịt, lợn, cá Ngoài ra thức ăn còn được mua ở các quán, chợ tại các dịch vụ buôn bán

Đồ uống chủ yếu uống nước lã, ngày nay họ cũng uống nước chè, hoặc nước nấu với các loại rễ và lá cây rừng, nước đun sôi để nguội Bữa

ăn hằng ngày cũng như trong dịp lễ tết họ không thể không thiếu rượu, họ uống rượu nấu từ các loại nông sản như: rượu ngô, rượu gạo…

Đồ hút: Trước kia họ hút thuốc phiện nhưng từ khi nhà nước cấm trồng cây thuốc phiện thì họ chuyển sang hút thuốc lá, thuốc lào…

Phương tiện vận chuyển

Ngày xưa người H'mông chủ yếu sử dụng gùi, ngựa để thồ hoặc đi lại, sức kéo của trâu bò Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật họ chuyển sang sử dụng các loại phương tiện như xe máy để vận chuyển

1.3.4 Đặc điểm văn hóa tinh thần

Tín ngưỡng , tôn giáo

Tín ngưỡng của người H'mông ở Si Ma Cai chủ yếu là tín ngương nguyên thủy đa thần Do nhận thức hạn chế về thế giới xung quanh cũng như sự bất lực trứơc nhưỡng chi phối của tự nhiên nên họ phải thờ cúng quanh năm Tất cả những lực lượng siêu nhiên được người Hmông coi là

ma Trong các hình thức tín ngưỡng thì việc thờ cúng tổ tiên là quan trọng nhất

Trang 15

Sống hồn nhiên và hòa quyện với thiên nhiên song thiên nhiên vô cùng huyền bí, lại có thế lực siêu phàm nên người Hmông quan niệm loài người có hồn, còn van vật đều có ma (đangz), trong đó lại có ma lành (đangz nheenh) và mà ma hoang (đangz ku) do vậy nên khi ốm đau, mùa màng, gia sản thất bát thì sẽ mời thầy cúng đi cúng Vì vậy những căng bệnh không rõ nguyên nhân thì được chữa bằng cúng; những căng bệnh biết rõ nguyên nhân thì được chữa trị bằng thuốc nam vô cùng phong phú tại bản địa

Hôn nhân

Hôn nhân của người Hmông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời Những người cùng dòng họ không lấy nhau Người Hmông có tục "háy pù", tức là trong trường hợp trai gái yêu nhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, trai gái hò hẹn nhau tại một địa điểm Từ địa điểm đó chàng trai dắt tay cô gái về làm vợ Vợ chồng người Hmông rất ít bỏ nhau,

họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ và đi hội hè

mủ (thầy cúng chỉ đường) về làm lễ "khai kế" đưa đường chỉ lối cho linh hồn người chết về với tổ tiên

Trang 16

Những lễ tang làm to có mổ trâu thường kéo dài từ 3 - 4 ngày với rất nhiều nghi lễ khác nhau như: lễ "treo sáng đù" (giao lễ vật), "Nùng chàn gì" (lễ hỏi đáp), "Tiu rìa kềnh", "Gẩu trùng"… mọi người thổi khèn, đánh trống hát thâu đêm để tiễn biệt người chết

Văn học dân gian

Người Hmông cũng có nhiều thể loại văn học dân gian như thần thoại, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ Hầu hết các loại hình này đựơc lưu truyền bằng phương thức truyền miệng nhiều nơi đều kể giống nhau

Trong kho tàng văn nghệ dân gian truyền thống ngoài truyện cười, ngụ ngôn, câu đố, ngụ ngôn … còn có những truyện dài kể vài đêm Dân ca

có một số chủng loại chính như nghi lễ, hát cưới, truyện ca…với nhiều làng điệu phong phú

Nhạc cụ Hmông nổi bậc nhất là khèn 6 nốt, khi thổi phải bấm hợp âm nhưng giữ âm chủ gần như đàn piano Những động tác múa khèn phức tạp đều là những bài võ hoặc diễn tài tử Ngoài ra còn có sáo lam, sáo dọc, kèn môi, kèn lá, và kèn laux puaz dùng trong lễ hội

Nghệ thuật dân gian

Nghệ thuật tạo hình được thể hiện qua trang phục, đồ dùng sinh hoạt nhưng nổi bật nhất là cách trang trí hoa văn trên trang phục, đặc bịêt là trên váy, áo của ngời phụ nữ

Lễ hội

Trong vòng một năm người Hmông có nhiều ngày lễ tết song nổi bậc nhất là lễ Nào Lồng (naox lôngx) tức là lễ cúng Thần rừng được tổ chức vào ngày 30 tháng 1 hoặc 1 -2 tháng 2 (Âm lịch) tùy theo từng nơi; lễ ăn cơm mới và tết Nguyên Đán Riêng tết nguyên đán có 3 ngày quan trọng nhất là tết tất niên, tết mùng Một bước sang năm mới và tết Rằm gọi là Nả cha (nav chaz) tức là tết Mẹ

Trang 17

Ngày tết những gia đình làm ăn thất bát, sinh con, nuôi con khó hoặc những gia đình không có con trai sẽ cùng với xã hoặc huyện đứng ra chủ trì lễ hội Gầu Tào (gauk taox) cầu mong năm mới làm ăn phát đạt, con cháu đông vui và đồng thời còn là nơi hội tụ vui chơi, trai gái tìm hiểu nhau cùng với nhiều trò chơi thử thách tài trí

Trang 18

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ HMÔNG Ở HUYỆN SI

MA CAI, TỈNH LÀO CAI ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT VÀ

Theo kinh nghiệm dân gian của người H‟mông ở Si Ma Cai, muốn cho cây lanh mọc khoẻ, đồng bào thường chọn những chỗ đất màu mỡ, thích hợp cho việc canh tác Đó thường là những khu đất bằng phẳng, ở những nơi cao ráo nên đó thường là những đám nương dưới chân núi hay gần khu vực chân núi, hoặc cũng có thể là nương ở sườn núi hoặc ven sườn núi, ưu tiên cho cây lanh được trồng những mảnh nương mới phát, mới gieo trồng vụ đầu tiên

Lanh là loại cây ưa ánh sáng nên mảnh đất trồng lanh phải được phát quang làm cho xung quanh thoáng đãng, không có cây to che bóng Để lợi dụng những yếu tố thuận lợi và tránh những yếu tố tiêu cực của tự nhiên, người H‟mông ở Si Ma Cai đã căn cứ vào điều kiện địa hình thành các dạng đồi thoải lượn sóng hoặc phân bậc của địa hình mà lựa chọn địa điểm trồng lanh ở sát cạnh những sườn dốc chắn gió hướng Đông Bắc Những mảnh đất ấy thường là tương đối bằng phẳng

2.1.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc lanh

2.1.2.1 Thời vụ trồng lanh

Để tránh mưa nhiều, gió rét và các hiện tượng thời tiết đặc biệt sảy ra theo chu kỳ đều đặn hàng năm ở đây như dông, mưa đá, mưa phùn, sương

Trang 19

mù và sương muối… gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sợi lanh, người H‟mông ở Si Ma Cai thường trồng lanh từ giữa tháng 2 đến tháng 3 âm lịch, tuỳ theo thời tiết hàng năm, sau khi trồng ngô xong

2.1.2.2 Lựa chọn và bảo quản hạt giống

Hạt lanh giống phải chắc và mẩy Để lấy hạt làm giống, người H‟mông thường để lại các cây lanh cao to mọc xung quanh các đám nương lanh, hay xung quanh các đám nương ngô, hoặc trồng riêng ở những nơi sườn đồi có độ dốc cao nhưng phải gieo thật thưa để cho cây phát triển to nhiều nhánh mới cho nhiều hạt… Những cây lanh ấy do không bị chen lấn, đất nhiều chất dinh dưỡng nuôi cây, quả, nên thường to lớn lại có nhiều cành, nhánh, không dùng để tước sợi mà chỉ để lấy quả, hạt làm giống Lượng hạt giống cho một nương lanh rộng khoảng 100 m2 là 5 ống, tương đương 5 kg

Khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch, sau khi thu hoạch ngô 1 tháng là thời điểm người H‟mông ở Si Ma Cai thu lấy hạt lanh giống Người ta chặt

bỏ những cành có hạt, đập lấy hạt lanh ngay tại nương, đem về cho vào bao tải treo trên gác bếp hoặc bất cứ chỗ nào khô ráo cũng được, vì hạt lanh có nhiều dầu nên không sợ bị mọt Để giữ cho hạt giống được tốt, người H‟mông thường giữ riêng, không để hạt giống tiếp xúc lẫn với bất cứ thứ

gì Xưa nay, hạt lanh giống chỉ để dùng cho một vụ, tức là chỉ bảo quản trong vòng một năm là phải sử dụng hết, không để tới vụ thứ hai nếu không khả năng nảy mầm của hạt sẽ kém và chất lượng cây trồng cũng không cao

2.1.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc lanh

Do đặc điểm bề mặt địa chất ở Si Ma Cai đất mùn lẫn dăm sạn, trơ sỏi

đá và vỏ phong hoá vụn bở nên để tăng độ phì cho đất, trên những khoảnh đất trồng lanh, người ta bao giờ cũng phải làm đất rất kỹ Đất trồng lanh sau khi đã được cày xới, phơi ải và bừa qua, người ta dùng cuốc đập đất cho tơi nhỏ và nhặt sạch cỏ Sau đó, người ta gieo trồng Trước khi gieo hạt, người H‟mông ở Si Ma Cai thường không chọn ngày tốt như khi làm

Trang 20

nương ngô, nương lúa Tuy nhiên, một số người cẩn thận thì vẫn chọn ngày

để mong cho cây mau lớn và khoẻ mạnh, chống chịu được những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết Theo đó, ngày được chọn để trồng lanh thường vào ngày con rồng, ngày con mèo bởi theo quan niệm của họ thì đó là những ngày tốt, trồng vào những ngày này cây sẽ lớn khoẻ, lớn nhanh, cho nhiều sợi

Gieo hạt xong, người ta dùng cuốc cào một lớp đất dầy khoảng 0,5 – 1 cm phủ lên trên hạt giống để giữ độ ẩm đủ cho hạt nảy mầm

Hạt lanh thường nảy mầm trong điều kiện thời tiết thuận lợi chỉ sau ba ngày những lá mầm đầu tiên đã nhô khỏi mặt đất

Kỹ thuật gieo lanh của người H‟mông Si Ma Cai là kỹ thuật gieo vãi hạt Khi gieo, người ta vãy hạt lanh khá dày, như thế các cây lanh mọc xen khít vào nhau, không có cành nhánh, nên vỏ lanh khi thu hoạch sẽ không có mấu, chạc, thuận lợi cho việc se sợi, dệt vải Tuy nhiên, nếu gieo dầy quá cây lanh sẽ còi, sợi mỏng, còn nếu gieo thưa quá cây lanh sẽ mọc nhiều cành phụ không dùng để làm sợi được, nên thông thường mỗi gốc lanh cách nhau một chiều khoảng 1,4 – 1,6 cm và chiều kia khoảng từ 1,5 – 1,8

cm để cây thoáng và dễ hấp thu ánh sáng mặt trời

Từ khi bắt đầu gieo hạt cho đến lúc thu hoạch, người ta gần như không làm cỏ, bón phân, tưới nước cho lanh lần nào Chỉ trừ những trường hợp cây lanh quá còi cọc họ mới dùng nước giải trộn với tro để tưới Đến khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch là thời điểm cây lanh đang trong thời kỳ phát triển tốt nhất, chất lượng lanh khoẻ nhất; và đây cũng chính là thời điểm thu hoạch lanh

Chất lượng vải lanh phụ thuộc nhiều vào chất lượng sợi; đồng thời tính đồng bộ của sợi lanh cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chất lượng vải Tính đồng bộ đó được thể hiện ở chiều cao cũng như độ mập của thân cây và độ dầy của vỏ cây Vì vậy, người ta thường phân loại lanh ngay từ khâu thu hoạch Theo kinh nghiệm dân gian, các cây lanh to

Trang 21

(cao trên dưới 2m; chu vi gốc khoảng 4,4 – 5 cm) được gọi là lanh bố được

bó riêng Sợi của loại lanh này được dùng để bện dây buộc hoặc dệt vỏ bao đựng Các cây lanh nhỏ (cao 1,3 – 1,6 m; chu vi gốc khoảng 3 – 3,5 cm) được gọi là lanh con dùng để dệt may trang phục và các sản phẩm may mặc khác Lanh nhỏ sau đó lại được phân chia thành các loại có độ dài ngắn bằng nhau để các sợi lanh có chiều dài tương đối bằng nhau rồi mới bó lại Sau khi đã róc bỏ hết lá, người ta phơi nắng 3 – 4 ngày theo cách ngày phơi, tối cất Trước khi tươc sợi, cây lanh lại được phơi sương khoang 2 đến 3 tiếng vào buổi tối lúc này lanh có thể tước lấy sợi

2.1.3 Kỹ thuật và các công đoạn chế biến lanh thành sợi

Trong toàn bộ quy trình dệt thì việc làm sợi là mất thời gian nhất và tốn khá nhiều công sức Việc phân công lao động trong quá trình tạo nguyên liệu cho nghề dệt của người H‟mông ở Si Ma Cai diễn ra theo giới tính và lứa tuổi Thông thường, người đàn ông tham gia làm đất, gieo trồng

và thu hoạch lanh, còn tất cả quá trình tạo sợi đều do những người phụ nữ trong gia đình đảm nhiệm

2.1.3.1 Tước vỏ lanh

Sau khi thân cây lanh đã được phơi nắng, phơi sương đủ độ, lanh được tước lấy vỏ Công thức tước vỏ lanh áp dụng cho cả lanh bố và lanh nhỏ

được thực hiện như sau:

Vị trí tước vỏ đầu tiên được thực hiện bắt đầu từ giữa thân về phía ngọn Sau đó, sợi lại tiếp tục được tước từ giữa thân cây về phía gốc Theo công thức đó, người phụ nữ H‟mông dùng hai đầu ngón tay trỏ và ngón tay cái của cả hai bàn tay vê và lắc nhẹ đoạn giữa thân cây cho dập rồi luồn móng tay cái của một bàn tay bất kỳ (với những người mới làm thì người ta thường dùng bên bàn tay thuận) luồn vào giữa lớp vỏ và thân cây để tách sợi Và vẫn với móng tay ấy, người ta sẽ tước đều theo dọc thân lanh vỏ sau khi tước ra phải to đều, không bị rách, không bị sơ, chạy đều suốt từ đầu đến cuối là được Thông thường, với một cây lanh, người ta có thể tước

Trang 22

được 4 sợi, mỗi sợi sau đó lại được tước làm 2 – 3 phần cho kết quả cuối cùng là 8 – 12 sợi/cây Chiều dài của sợi lanh phụ thuộc vào chiều cao của thân cây lanh cho sợi

2.1.3.4 Xe sợi

Sau khi xe và nối sợi bằng tay, sợi được đưa lên guồng xe tiếp một lần nữa Để khỏi bị đứt, các cuộn sợi này được nhúng vào nước từ 15 đến 20 phút trước khi xe cho mềm, tăng độ dẻo dai

Cấu tạo guồng xe sợi của người Hmông cho phép mỗi lần xe sợi, người ta sẽ đưa đồng thời được sợi từ 4 cuộn sợi vào 4 con suốt chỉ Khi xe

Trang 23

sợi, người ta đặt 4 cuộn sợi nằm dàn hàng ngang trên một miếng gỗ phẳng (hoặc cũng có thể đặt vào thùng hay chậu), cách trục đỡ 1,2 m Sợi được đưa lên vắt ngang một thanh tre cao cách mặt đất 1,5 m Từ đây, sợi được dẫn thẳng đến suốt cuốn sợi Người ta sẽ dùng tay cuộn mồi một đoạn khoảng 50 – 60 cm vào con suốt (đầu mỗi cuộn sợi cuốn vào 1 con suốt) Mỗi con suốt được cắm vào một lỗ cắm suốt trên giá đỡ trục Xong những việc đó là hoàn thành công đoạn mắc sợi và người ta có thể tiến hành xe sợi

Người xe sợi ngồi trên một chiếc ghế cao khoảng 50 cm (độ cao này

có thể thay đổi tương ứng với chiều cao của trục đỡ bánh xe và trục đỡ cần đạp) Hai chân người xe sợi để trên cần đạp - một chân đặt ở phía trong, một chân đặt ở phía ngoài trục đỡ cần Hai tay người xe sợi cầm hai đoạn thân cây tre nhỏ hoặc gỗ tròn (đường kính khoảng 2,5 – 3 cm) Đoạn cây bên tay trái dài khoảng 20 – 25 cm được luồn xuống dưới tuyến đi của sợi

4 sợi chạy qua đoạn cây này được luồn qua 4 kẽ ngón tay của người xe sợi

có tác dụng như một sự phân luồng) Đoạn cây bên tay phải dài tầm 1,2 m đặt ở trên và luôn được dìm xuống hay thả lỏng cho các đường sợi dâng lên nhịp nhàng theo từng vòng quay có tác dụng làm cho sợi khi cuốn vào suốt được phân chia đều đặn ở các vị trí trong - giữa – ngoài của con suốt Nói cách khác, cả hai đoạn cây này đều có tác dụng can thiệp vào tuyến đi của sợi (lái sợi) trong lúc vận hành sao cho 4 dòng sợi không bị vướng vào nhau làm rối sợi và để sợi đánh vào suốt được đều theo ý muốn của người

xe sợi

Khi vận hành, hai chân người xe sợi đạp vào cần đạp với nhịp đạp thay đổi đều đặn giữa hai chân, lúc nhấn mạnh đoạn phía trong, lúc nhấn mạnh đoạn phía ngoài sẽ làm cho bánh xe chuyển động theo vòng tròn kéo theo sự chuyển động của suối chỉ Hai tay người xe sợi luôn luôn can thiệp vào đường chuyển động của sợi và đôi mắt phải luôn luôn theo dõi sự can thiệp ấy

Trang 24

Sau khi được xe, sợi đã chuyển từ dạng dẹt và mỏng của vỏ cây sang dạng tròn và xoắn bện của sợi

2.1.3.5 Thu sợi

Sợi sau khi được xe đã đạt được độ mềm mượt, dẻo dai, tròn, xoắn bện và bền chắc cần thiết nhưng lúc này sợi mới chỉ được cuốn vào từng suốt nhỏ Muốn thực hiện được các công đoạn tiếp sau, người ta phải thu sợi thành những bó lớn bằng guồng thu sợi

Để thu sợi, người ta cho các con suốt sợi được vào một vật chứa (rổ đan, thùng gỗ, gùi…) đặt ở một góc nhà Mỗi “mẻ” thu sợi, người ta mắc lên guồng 10 - 12 con sợi (tương ứng với 10 con suốt sợi) Đầu của các con sợi này được buộc gắn với 1 thanh chốt chặn bất kỳ Sau đó, người ta lần sợi mắc vòng quanh guồng 1 vòng làm mồi rồi mới bắt đầu tiến hành khởi động vòng guồng từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái tuỳ theo ý muốn của người thu sợi

Khi guồng quay đã hoạt động trơn tru, người thu sợi ngồi ở một góc nhà bất kỳ (trừ góc nhà có đặt vật chứa các con suốt sợi và dùng tay tác động vào các đầu thanh cuộn từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái theo vòng khởi động tạo ra một lực đẩy vào thanh cuộn Lực đẩy này sẽ được truyền đến trục làm cho trục quay Để tránh không cho rối sợi, người ta không bao giờ quay nhanh quá và đặc biệt là phải quay đều tay Mỗi khi sợi

bị rối, người ta phải dừng guồng rồi ra gỡ trước khi tiếp tục cho trục quay Mỗi khi các con suốt hết sợi, người ta lại phải ra nối tiếp sợi từ các con suốt khác vào các đầu chỉ từ các con suốt vừa hết Vì vậy, để đỡ mệt mỏi khi thực hiện công đoạn này, thông thường người ta làm việc này 2 người: một người chuyên quay guồng và một người chuyên gỡ và nối sợi Khi mỏi, hai người này có thể đổi vị trí thao tác cho nhau

2.1.3.6 Luộc - ủ - giặt sợi

Công đoạn này có tác dụng làm trắng sợi Để luộc và ủ sợi, người ta cần phải có tro bếp Những bó sợi sau khi được tước, xe và thu thành từng

Trang 25

bó sợi lớn sẽ được ngâm với nước tro bếp rồi luộc chín cho bong hết vỏ xanh Mỗi mẻ luộc, người ta sẽ thực hiện từ 4 – 5 cuộn sợi, thời gian luộc cho mỗi mẻ khoảng 30 – 60 phút thì vớt ra Thông thường các gia đình người H‟mông chỉ cần luộc một đêm là hết số sợi Chỉ gia đình nào đông con gái, sợi nhiều mới cần thêm một ngày hôm sau

Sau mỗi lần luộc sợi, người ta sẽ ủ sợi bằng cách rắc một lớp tro nguội lên tro bếp còn nóng ở đáy chảo (lượt rắc dày khoảng 1 – 2 cm) Sau đó, người ta dùng một mảnh vải lanh hoặc một chiếc váy lanh cũ trải lên trên, đặt các cuộn sợi này vào đó, dùng một tấm vải khác phủ lên sợi, rồi rải thêm một lớp tro nữa lên trên (với độ dày tương đương với lớp tro ở đáy chảo) để ủ sợi trong 5 ngày Sau đó mới mang giặt cho sạch và cho lên guồng thu sợi phơi khô Tiếp theo, sợi còn được luộc và ủ tro thêm 3 lần nữa, những lần sau chỉ cần ủ trong một ngày một đêm Riêng lần luộc sau cùng, người ta còn cho thêm một ít sáp ong cho sợi trắng, mịn và dai chắc Thứ sợi lanh đã được làm xoăn, trắng và sạch như thế người Mông gọi là

“Xur”

2.1.3.7 Lăn sợi

Để làm cho sợi mềm, bóng, các đầu nối sợi mỏng ra và phẳng, không

lộ ra các mối nối, người ta còn dùng một dụng cụ để lăn sợi Đó là một khúc gỗ tròn làm trục lăn, một phiến đá đẽo phẳng nhẵn hoặc một tấm ván

gỗ, chiều dài khoảng 1 m, chiều rộng khoảng 0,3 m Người ta đặt sợi lên khúc gỗ tròn, lấy phiến đá hoặc tấm ván đặt lên trục gỗ rồi đứng trên phiến

đá, vịn hai tay vào tường, chân đẩy lúc sang trái, lúc sang phải làm cho trục

gỗ chuyển động lăn đi lăn lại miết xuống sợi lanh

2.1.3.8 Tháo sợi

Sau khi lăn xong, sợi được đưa lên giồng thu sợi để tháo cho dễ Cách tháo sợi rất đơn giản, người ta đặt đầu sợi vào đáy gùi rồi xoay guồng thu sợi, tay dỡ sợi thả dần xuống gùi Khi tháo sợi, không cho trẻ em tới gần vì nếu chúng nghịch sẽ làm

Ngày đăng: 06/11/2017, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Bình, (2007), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, trường Đại học Văn hóa Hà Nội Khác
3. Vương Duy Quang, Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam truyền thống và hiện tại, Nxb Văn hóa -Thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội Khác
4. Hồng Thảo, (1997), Âm nhạc dân tộc Hmông, nxb Văn hóa tộc người Hà Nội, 2005 Khác
5. Trần Hữu Sơn, (1996) , Văn hóa Hmông , Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội Khác
8. Cừ Hòa Vân, Hoang Nam, (1994), Dân tộc Hmông ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Khác
9. Viện Dân tộc học (1997), Các dân tộc it người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), nxb Khoa học xã hội Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÁC BỘ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI H’MÔNG Ở SIMACAI  - Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc H’mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai
2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÁC BỘ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI H’MÔNG Ở SIMACAI (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w