1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TH, THCS VÀ THPT CHU VĂN AN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

51 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình học tập tại nhà trường học sinh được kiểm tra đánh giáchất lượng thường xuyên vì thế mà hầu hết các em đều rất cố gắng trong học tập.Trong công tác đào tạo của nhà trường

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TH, THCS

VÀ THPT CHU VĂN AN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Nhóm ngành: Giáo dục Thể chất

Sơn La, tháng 5 năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG TH, THCS

VÀ THPT CHU VĂN AN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Người hướng dẫn Người thực hiện

Th.s.Lê Thị Nga Trần Văn Phong

Lớp: K55 ĐH Giáo Dục Thể Chất B

Sơn La, tháng 5 năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới :

Phòng Quản lý Khoa học và Quan hệ Hợp tác Quốc tế Trường Đại Học TâyBắc đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong thời gian em thực hiện đề tàinày

Em xin gủi lời cảm đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa TDTT và đặc biệt là

Cô Lê Thị Nga đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo em hoàn thành đề tàinày trong suốt thời gian qua

Qua đây tôi cũng gủi lời cảm ơn tới tất cả các em học sinh khối 10 trường TH,THCS và THPT Chu Văn An đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện đềtài này

Đây là đề tài đầu tiên em thực hiện nghiên cứu khoa học nên còn gặp nhiều khókhăn và thiếu sót Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô để

đề tài của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La tháng 5 năm 2016

Thực hiện đề tài

Trần Văn Phong

Trang 4

MỤC LỤC

Qua kết quả kiểm tra ở bảng 2.4 cho thấy: hầu hết các test kiểm tra thể lực của học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn An có thành tích thấp hơn so với lứa tuổi 16 ở quyết định số 53 điều tra thể chất hoc sinh, sinh viên và

3.1.1 Tuyên truyền, giáo dục học sinh nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tác dụng của TDTT đối

với con người 33

3.1.1.1 Vị trí, tầm quan trọng của biện pháp 33

3.1.1.2 Mục tiêu của biện pháp 33

3.1.1.3 Cách thực hiện 33

3.1.2 Tăng cường các hoạt động vận động trong tập thể cho học sinh 34

3.1.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của biện pháp 34

3.1.2.2 Mục tiêu của biện pháp 34

3.1.2.3 Cách thực hiện 34

3.1.3 Tăng cường dinh dưỡng cho học sinh 34

3.1.4.1 Vị trí, tầm quan trọng của biện pháp 35

3.1.4.2 Mục tiêu của biện pháp 35

3.1.4.3 Cách thực hiện 35

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Thực trạng về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho môn học

Bảng 2.2 Trạng về sân bãi dung cụ phục vụ cho tập luyện TDTT 23Bảng 2.3 Lựa chọn các test đánh giá thực trạng thể chất cho học sinh khối 10 trường

Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các biện pháp phát triển thể chất của học sinh

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp phát triển thể chất của học

Bảng 3.3 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp phát triển thể chất của học

Trang 7

Mục tiêu GDTC của nhà nước ta là bồi dưỡng thế hệ trẻ để trở thành những

người phát triển toàn diện như Nghị quyết Trung ương IV chỉ rõ “Con người mới phát

triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Đó là chiến lược, mục tiêu phát triển con người của toàn Đảng và của toàn dân

ta Mục tiêu chiến lược về Thể dục Thể thao (TDTT) là “hình thành nên TDTT phát

chiển và tiến bộ, góp phần thực hiện từng bước nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứng được nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân và đạt vị trí cao trong các hoạt động quốc tế trước hết là khu vực Đông Nam Á” Đồng thời cũng góp phần xây dựng chiến

lược phát triển con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Trong những năm qua được sự đầu tư của Đảng và Nhà Nước công nhậnGDTC trong nhà trường các cấp đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ góp phần nâng caothể chất cho học sinh về hình thái, chức năng và khả năng hoạt động thể chất Tuynhiên hoạt động phát triển thể chất trong nhà trường ở các cấp học có biểu hiện pháttriển không cân đối thể hiện qua đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạyhọc, kế hoạch học tâp, nội dung các bài tập không phù hợp, những điều kiện đó khôngnhững ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất nói chung, cấp học trung học phổ thông(THPT) và nhất là trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDTC trong các hoạt động TDTTrất quan trọng, nó ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh (HS), sinh viên, kết quảtrận đấu của VĐV Một trong những mục tiêu của công tác GDTC trong các trườnghọc và dạy cho học sinh, sinh viên có sức khỏe tốt; đáp ứng yêu cầu công tác sau này

Trường TH, THCS và THPT Chu Văn An là trường mới được thành lập vàonăm 2013 Tuy là trường mới thành lập nhưng về đội ngũ giáo viên có trình độ, hầuhết giáo viên được tuyển chọn đều là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh trở lên, ngoài ra cònđược Trường Đại học Tây Bắc (ĐHTB) cử giảng viên có kinh nghiệm về phương pháp

và chuyên môn tốt để giảng dạy Học sinh trong trường phần lớn có kết quả học tập

Trang 8

tốt ở các cấp học dưới, được tuyển chọn nghiêm túc và khoa học rất đảm bảo cho chấtlượng đầu vào Trong quá trình học tập tại nhà trường học sinh được kiểm tra đánh giáchất lượng thường xuyên vì thế mà hầu hết các em đều rất cố gắng trong học tập.Trong công tác đào tạo của nhà trường chủ yếu tập trung cho học văn hóa mà chưathực sự chú trọng đến công tác GDTC của học sinh trong nhà trường vì thế thực trạngphát triển thể chất của học sinh THPT Trường TH, THCS và THPT Chu Văn An pháttriển chưa tốt, chất lượng GDTC còn thấp, giờ dạy GDTC còn đơn điệu thiếu xinhđộng Nguyên nhân của sự thấp kém là: Do điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, nhậnthức của học sinh về môn học còn chưa tốt, hệ thống bài tập áp dụng trong quá trìnhgiảng dạy còn chưa phù hợp với đối tượng…

Để nâng cao phát triển thể chất cho học sinh THPT Trường TH, THCS vàTHPT Chu Văn An, đặc biệt là mặt thể lực thì cần chú trọng vào việc giảng dạy vàluyện tập cho học sinh

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu lựa trọn một số giải pháp nhằm phát triển thể chất cho học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn An -Trường Đại Học Tây Bắc.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề tài tiến hành nghiên cứu, lựa trọngiải pháp nhằm nâng cao thể chất cho học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPTChu Văn An nhằm trang bị cho học sinh nền tảng thể chất cần thiết Qua đó góp phầnnâng cao phát triển thể lực của học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn

An với điều tra thể chất nhân dân 2001 và quy định kèm nghị quyết số 53 của BộGD&ĐT về việc kiểm tra đánh giá thể lực của học sinh, sinh viên 18/9/2008

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết 2 nhiệm vụnghiên cứu sau

3.1 Nhiệm vụ 1: Thực trạng về thể chất của học sinh khối 10 trường TH,

THCS, và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc.54354

3.2 Nhiệm vụ 2: Lựa chọn giải pháp nâng cao thể chất của học sinh khối 10

trường TH, THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc

Trang 9

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp phát triển thể chất cho học sinh khối 10 trường TH,

THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc.

- Thực trạng về thể chất của HS khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn

An Trường Đại Học Tây Bắc

- Giải pháp nâng cao thể chất cho học sinh khối 10 trường TH, THCS và THPTChu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu trên, đề tài đã sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã tham khảo một số tài liệu có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu (đã được trình bày trong danh mục các tài liệu tham khảo) Thôngqua việc phân tích, tổng hợp các tài liệu đó, là cơ sở lý luận cho việc đánh giá sự pháttriển thể chất của đối tượng nghiên cứu và thu thập các số liệu để so sánh và đối chứngvới các số liệu đã thu thập được của quá trình nghiên cứu, đồng thời phân tích, tập hợpcác giải pháp có hiệu quả của các tác giả có hướng nghiên cứu tương tự để lựa chọn vàứng dụng trong điều kiện nghiên cứu và thực tiễn của đề tài

6.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm

Là phương pháp được sử dụng trong quá trình tham khảo ý kiến các chuyên gia

về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Đối tượng phỏng vấn của chúng tôi gồm: 90 họcsinh khối 10 trường TH, THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc, cácnhà quản lý, các nhà sư phạm và các giáo viên dạy thể dục tại trường

Trang 10

6.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Thông qua việc quan sát 32 giờ học thể dục của học sinh ( trong thời gian 4tuần) chúng tôi đã quan sát được thực trạng các giờ tập thể chất của học sinh TH,THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc và các phương pháp được ứngdụng trong giảng dạy của giáo viên cơ sở

6.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đánh giá trình độ phát triển thể chất củađối tượng nghiên cứu thông qua các chỉ số về thể lực

6.4.1 Chạy 30m xuất phát cao

Phương pháp này là đánh giá sức mạnh chi dưới của học sinh

Dụng cụ kiểm tra: Đồng hồ bấm giây; đường chạy thẳng có chiều dài ít nhất

40m, chiều rộng ít nhất 2m Kẻ vạch xuất phát và vạch đích, đặt cọc tiêu bằng nhựahoặc bằng cờ hiệu ở hai đầu đường chạy Sau đích có khoảng trống ít nhất 10m đểgiảm tốc độ sau khi về đích

Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao Thực hiện

một lần, khi có lệnh xuất phát thì người được kiểm tra chạy hết 30m đến đích

6.4.2 Chạy con thoi

Đây là phương pháp được sử dụng để đánh giá sức nhanh và khả năng phối hợpvận động của học sinh

Dụng cụ kiểm tra: đồng hồ bấm giây, cọc tiêu, cờ lệnh Đường chạy thẳng trên

nền khô, 4 góc có vật chuẩn bị để quay đầu

Cách tiến hành: Người được kiểm tra đứng vào vạch xuất phát, tiến hành các

thao tác “vào chỗ - sẵn sàng - chạy” giống như chạy 30m xuất phát cao Khi chạy đếnvạch 10m cần 1 chân chạm vạch lâp tức quay người thật nhanh chạy về vạch xuất phátđến khi chân chạm vạch lại lặp lại tương tự như lần đầu, người được kiểm tra thựchiện sẽ chạy tổng số 1 vòng là kết thúc

6.4.3 Nằm ngửa gập bụng

Phương pháp này là đánh giá sức mạnh cơ bụng của học sinh

Dụng cụ kiểm tra: Đệm cao su hoặc ghế băng, chiếu cói, trên cỏ bằng phẳng,

sạch sẽ

Trang 11

Cách tiến hành: Người được kiểm tra ngồi chân co 900 ở đầu gối, hai bàn chân

áp sát sàn Một học sinh, sinh viên khác hỗ trợ bằng cách hai tay giữ phần dưới cẳngchân, nhằm không cho bàn chân người được kiểm tra tách ra khỏi sàn

6.4.4 Bật xa tại chỗ (đo bằng cm)

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đánh giá sức mạnh bột phát chân củahọc sinh

Dụng cụ kiểm tra: gồm một vạch xuất phát và một thước băng có chiều dài 3m,

chiều rộng 0,5cm, thước băng đặt vuông góc với vạch xuất phát và được gim chặtxuống đất để khi kiểm tra thước không bị xê dịch

Cách tiến hành: Người được kiểm tra đứng 2 chân tự nhiên, mũi bàn chân đặt

sát mép vạch xuất phát, 2 tay giơ lên cao sau đó hạ thấp trọng tâm, trọng tâm cơ thểhơi đổ dồn về phía trước, đầu hơi cúi, khi thực hiện động tác, 2 tay xuống dưới, ra sau,dùng hết sức phối hợp toàn thân bấm mạnh đầu ngón chân xuống đất bật nhảy xa đồngthời 2 tay vung về phía trước khi bật nhảy và khi tiếp đất 2 chân tiến hành cùng mộtlúc Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuất phát đến điểm chạm cuối cùng củagót bàn chân, đơn vị đo tính bằng cm, thực hiện 2 lần lấy thành tích xa nhất

6.4.5 Chạy tuỳ sức 5 phút (m)

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đánh giá sức bền của học sinh

Dụng cụ kiểm tra: 1 tích kê ứng với số đo, 1 đồng hồ bấm giờ và cột mốc cắm

song song, cách vạch xuất phát 50m

Cách tiến hành: Người được kiểm tra thực hiện ở tư thế xuất phát cao, khi có

lệnh xuất phát thì người được kiểm tra chạy hết 50m đến cột mốc thì vòng trái qua cọcrồi chạy lặp lại cứ như vậy cho tới khi hết 5 phút (nếu mệt có thể đi bộ) Mỗi ngườiđược kiểm tra có một số đeo ở trước ngực và một tích kê cầm trên tay, khi có lệnh báohết giờ thì người chạy thả tích kê của mình xuống dưới chân để đánh dấu số lẻ quãngđường chạy được và chạy thả lỏng kết thúc kiểm tra

6.5 Phương pháp toán học thống kê

Đề tài đã sử dụng phương pháp này vào việc sử dụng các số liệu, tính phần trămcác nội dung trả lời trong từng phiếu phỏng vấn so với tổng số phiếu, so sánh kết quảđiều tra giữa các nhóm về nội dung điều tra, trong quá trình xử lý các số liệu đề tài,các tham số và các công thức toán học thống kê truyền thống được trình bày trong

Trang 12

cuốn “đo lường thể thao”, “Những cơ sở toán học thống kê”, “phương pháp thống kêtrong TDTT”

Giá trị trung bình: 1

n i i

x x n

n i i x

vv

7 Kế hoạch và tổ chức nghiên cứu

7.1 Thời gian nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 05 năm

2016 và được chia làm 3 giai đoạn nghiên cứu sau:

Giai đoạn 1: Từ 10/2015 đến 11/2015

- Xác định vấn đề nghiên cứu

Trang 13

Giai đoạn 2: Từ 11/2015 đến 12/2015

- Lập kế hoạch nghiên cứu, hoàn thiện đề cương của đề tài.

Giai đoạn 3: Từ 12/2015 dến 05/2016

- Đánh giá thực trạng của các vấn đề nghiên cứu

- Xây dựng các loại phiếu phỏng vấn

- Phỏng vấn một số chuyên gia lĩnh vực nghiên cứu của đề tài

- Tiến hành tổ chức thực nghiệm

- Thu thập số liệu nghiên cứu

- Hoàn thiện đề tài, rút ra kết luận

- Báo cáo kết quả nghiên cứu trước Hội đồng nghiệm thu

7.2 Địa điểm nghiên cứu

Trường ĐH Tây Bắc

Trường TH, THCS và THPT Chu Văn An- Trường Đại Học Tây Bắc

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.Các khái niệm có liên quan đến đề tài

Khái niệm về Thể chất, Giáo dục Thể chất và Phát triển Thể chất

Thể chất: Thể chất là chất lượng cơ thể con người, đó là những đặc trưng về

hình thái, chức năng của cơ thể được thay đổi, phát triển theo từng giai đoạn và cácthời kỳ kế tiếp nhau theo quy luật sinh học Thể chất được hình thành và phát triển dobẩm sinh, di truyền và những điều kiện sống tác động”

Giáo dục Thể chất: GDTC là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo

dục, giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệuchung của quá trình sư phạm, vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt độngtương ứng với các nguyên tắc sư phạm

Phát triển Thể chất: Thì phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi

các tính chất, hình thái, chức năng tự nhiên của con người trong suốt cả cuộc sống cánhân của nó

Phát triển Thể chất biểu hiện qua các chỉ số về hình thái như: Kích thước, trọnglượng cơ thể, sự phát triển về chức năng thể hiện ở sự biến đổi các khả năng chức phậncủa cơ thể theo thời kỳ và các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi của nó, sự biến đổi nàythể hiện qua các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềmdẻo, sự biến đổi năng lực hoạt động của hệ hô hấp, tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh,tâm lý, ý chí phát triển thể chất tuân theo các quy luật tự nhiên Trong các quy luật đó

có sự tác động lẫn nhau của các xu hướng phát triển di truyền và xu hướng bị điều kiệnsống tác động

Thể lực chung

Được hiểu là năng lực của các chức năng nguồn lực của cơ thể được biểu hiện

ra dưới sự chi phối của hệ thống thần kinh, loại năng lực này được tổ hợp từ sức mạnh,sức nhanh ,sức bền và năng lực phối hợp vận động

Chuẩn bị thể lực: là một nội dung của quá trình GDTC, đây là một hoạt động

chuyên môn hóa, chuẩn bị cho con người thi đấu, lao động phát triển các tố chất thểlục và nhiệm vụ hoạt động hàng ngày

Trang 15

Trình độ thể lực: là kết quả của quá trình chuẩn bị thể lực Kỹ năng vận động,

nâng cao khả năng làm việc của cơ thể để tiếp thu hoặc thực hiện một loại hình hoạtđộng của con người Mức độ phù hợp của trình độ thể lực để thực hiện một hoạt độngnào đó gọi là sự sẵn sàng thể lực

1.2 Quan điểm của Đảng về công tác Giáo dục Thể chất trong nhà trường các cấp

1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC

Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác GDTC như một mặt trong mụctiêu giáo dục toàn diện của nhà Nước XHCN GDTC trong nhà trường còn giữ một vịtrí quan trọng và then chốt trong chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT của nước nhà

Hiện nay trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH – HĐH) đấtnước, mục tiêu của GDTC trong nhà trường các cấp là gắn liền với mục tiêu GD & ĐTtheo tinh thần nghị quyết đại hội của Đảng cộng sản lần thứ VII, góp phần nâng caodân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức

và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo.GDTC khôngnhững là bộ phận hữu cơ của mục tiêu GD & ĐT mà còn đóng vai trò là một bộ phậnquan trọng của nền TDTT Việt Nam GDTC trong trường học cùng với thể thao thànhtích cao, thể thao quần chúng và các bộ phận thể thao khác góp phần đảm bảo cho nềnTDTT phát triển cân đối, đồng bộ, nhằm thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và pháttriển nghành TDTT Việt Nam

Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, người nêu rõ: “…mỗi mộtngười dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân mạnh khoẻ tức làgóp phần làm cho cả nước mạnh khoẻ…”

Xuất phát từ lý luận của học thuyết Mác – Lê-nin về con người và sự phát triểncon người toàn diện, từ tư tưởng, quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về TDTT nóichung và GDTC nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã có những quan điểm, đường lốiđúng đắn trong công tác giáo dục đào tạo cũng như GDTC trong trường học

Từ những cơ sở lý luận đó Đảng đã quán triệt trong suốt thời kỳ lãnh đạo cáchmạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên CNXH, ngày nay được thể hiện rõ qua cácnghị quyết, chỉ thị, nghị định, thông tư về TDTT ở từng giai đoạn cách mạng theo yêucầu, nhiệm vụ và tình hình cụ thể của đất nước điển hình là:

Trang 16

Nghị quyết Đại hội Đảng III: “…công tác GDTC phải được phát triển theo quy

mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà, có giácngộ XHCN có văn hoá, khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ nhằm phục vụ đắc lực cho việcđào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân lao động…”(1)

Trong đại hội đại biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, 1976 cũng nêurõ: “… nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hoá chươngtrình khoa học kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường giáo dục chủnghiã Mác – Lê-nin, đường lối chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng

kỹ năng lao động và năng lực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, coi trọng đúng mức giáodục thẩm mỹ TDTT và tập luyện quân sự…”(2)

Trong thời kỳ đổi mới, nghị quyết đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIIInăm 1996 khẳng định: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực

sự trở thành quốc sách hàng đầu.” (3)

Đặc biệt trong hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm

1992 đã ghi rõ: “…việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc…”(4)

Chỉ thị 36 CT – TW ngày 24/3/1994 về công tác GDTC trong giai đoạn mới đãnêu rõ: “cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáoviên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, đểthực hiện GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học”

Chỉ thị 133/TTg ngày 07/3/1996 về việc xây dựng, quy hoạch và phát triểnnghành TDTT, về GDTC trường học ghi rõ: “…Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệtcoi trọng Giáo dục Thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nộikhoá, ngoại khoá quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, cóquy chế bắt buộc đối với các trường…”

Cùng với các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước, bộ giáo dục và đào tạo

đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác GDTC nói chung và GDTC trường họcnói riêng thông qua các văn bản pháp quy, cụ thể là:

Thông tư số 04 – 93/ GD - ĐT – TDTT ngày 14/07/1993 về việc xây dựng kếhoạch đồng bộ , xây dựng mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác tổchức, quản lý TDTT và GDTC trong trường học các cấp

Thông tư số1286/GDTCngày05/05/1995 về việc hướng dẫn chỉ thị 133/TT

Trang 17

Chương trình mục tiêu “Cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ và bồi dưỡngtài năng trẻ thể thao học sinh và sinh viên trong nhà trường các cấp”.

Tuy nhiên ở các trường THPT hiện nay, việc giảng dạy thể dục chất lượng cònchưa đáp ứng được yêu cầu, phương tiện và điều kiện để thực thi nhiệm vụ GDTC cònnghèo nàn, thiếu thốn, mặt khác GDTC trong nhà trường chưa được quan tâm, xemxét, đánh giá tương xứng với các mặt trí dục, đức dục Vì vậy việc giải quyết vấn đềcải tiến nội dung và phương pháp GDTC là một vấn đề hết sức cấp thiết đối với côngtác GDTC trong nhà trường THPT

1.2.2 Định hướng phát triển thể chất cho học sinh các trường phổ thông

Công tác TDTT trường học có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và phát triển nền thể thao nước nhà Thể dục thể thao trong trường học được xácđịnh là bộ phận quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ và thể lực, bồi dưỡng phẩmchất, đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần yêu cầucông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thể dục Thể thao trường học còn là môitrường giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước

Với vai trò và ý nghĩa như trên, công tác Thể dục Thể thao trong trường họcluôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như trách nhiệm của toàn xãhội Đặc biệt, trong nhiều năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo và ngành TDTT đã có

sự phối hợp chặt chẽ trong việc chỉ đạo, quản lý một cách toàn diện, góp phần thúcđẩy sự phát triển mạnh mẽ của công tác TDTT trong trường học ở nước ta

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2011- 2012, tất cảcác trường học trong cả nước đã tiến hành dạy và học môn thể dục theo chương trình

do Bộ GD&ĐT ban hành từ lớp 1 đến lớp 12 và có 90% số trường học thực hiện tốtchương trình Giáo dục Thể chất chính khoá có nề nếp theo quy định; trên 60% sốtrường học có hoạt động Thể dục Thể thao ngoại khoá có nề nếp, tổ chức thườngxuyên các hoạt động thể thao cho học sinh Tính đến tháng 6/2012 cả nước đã có 53nghìn giáo viên TDTT (104 thạc sĩ, 27.556 ĐH, 14.827 CĐ, 3.135 trung cấp, 674 sơcấp) Cùng với sự gia tăng về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên TDTT,

hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Giáo dục Thể chất và thể thao trong cácnhà trường cũng không ngừng tăng Trong đó, số nhà tập luyện và thi đấu đa năng tạicác trường học cũng tăng gần gấp đôi Nếu như năm 2008, trên cả nước chỉ có 833 thì

Trang 18

đến năm 2012 đã tăng lên 1.446 Tuy nhiên, con số này mới chỉ đạt 5,6% trong các nhàtrường trên toàn quốc (27.500 trường học), tỷ lệ này vẫn còn quá thấp và chỉ tập trung

ở một số thành phố lớn, những nơi có điều kiện kinh tế xã hội phát triển Bên cạnh đó,

số bể bơi trong các trường học cũng tăng đáng kể Năm 2008 chỉ có 18 bể và năm

2012 con số này đã lên tới 353 bể bơi

Cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, Bộ GD&ĐT

đã chỉ đạo đổi mới chương trình và giáo trình đào tạo giáo viên ở tất cả các bậc học,với mục đích nâng cao trình độ sư phạm cho các giáo viên thể dục Trong quá tình đổimới về công tác thiết bị dạy học bộ môn, Bộ GD&ĐT đã thực hiện chủ trương khuyếnkhích giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lãnh đạo Bộ GD&ĐTcũng đã quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn các hoạt động nghiên cứu khoa học GDTC từcấp trường

Việc GDTC được thực hiện theo hướng trang bị những kiến thức về kỹ năngvận động cơ bản; giáo dục các tố chất thể lực, góp phần quan trọng vào việc giáo dụcđạo đức, lối sống lành mạnh, hình thành nhân cách cho học sinh, hạn chế các hiệntượng tiêu cực và tệ nạn trong nhà trường và xã hội

Công tác Giáo dục Thể chất trong các trường học được thực hiện ngày càng đadạng, phong phú với những nội dung, hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của từngtrường ở từng địa phương

Ngoài việc tham gia các đại hội dành cho học sinh, sinh viên Thế giới, khu vực,châu lục, ngành Giáo dục và Đào tạo còn tổ chức, phối hợp tổ chức nhiều sân chơidành cho học sinh, sinh viên như: Hội khoẻ Phù Đổng, Đại hội sinh viên toàn Quốc,Đại hội sinh viên khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Hội thi nghiệp vụ sư phạm vănnghệ thể thao các trường sư phạm toàn Quốc, Hội thi Văn hoá thể thao các trường phổthông dân tộc nội trú toàn Quốc

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, hiện nay, trong cả nước mới chỉ có khoảng25% số trường tiểu học có giáo viên thể dục chuyên trách, chủ yếu là ở các trườngđiểm và các thành phố, còn lại do GV chủ nhiệm kiêm nhiệm dạy môn thể dục Ở cáctrường THCS, có đến 20% số tiết thể dục do giáo viên chủ nhiệm giảng dạy

Ngoài ra, hệ thống chế độ, chính sách đối với giáo viên thể dục còn nhiều bấtcập Nội dung kỹ thuật nhiều môn thể thao trong chương trình còn mang xu hướng

Trang 19

nặng nề, cầu toàn, có nhiều kỹ thuật quá khó không phù hợp với đặc điểm sức khoẻ,lứa tuổi của HS Nhiều nơi, giờ học thể dục vẫn còn mang tính hình thức, HS tham giavới tâm thế bị bắt buộc, gượng ép CSVC kỹ thuật phục vụ công tác GDTC trongtrường học (nhà tập, sân tập, sân chơi, bể bơi, dụng cụ tập luyện…) nhìn chung cònthiếu và yếu, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, miền núi…

Thực trạng trên cũng cho thấy, chất lượng GDTC còn thấp, giờ dạy GDTC cònđơn điệu, thiếu sinh động Hơn nữa, nhận thức về vị trí, vai trò của GDTC còn nhiềuhạn chế trong các cấp giáo dục và cơ sở trường Đặc biệt là việc đánh giá chất lượng

về sức khỏe về thể chất sinh viên trong mục tiêu chung còn chưa tương xứng

Trước thực trạng trên, Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ 7nhiệm vụ cần thực hiện, trong đó cần phải không ngừng đổi mới chương trình Giáodục Thể chất sao phù hợp với thể chất học sinh Việt Nam và tăng cường tổ chức cáchoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt; kết hợp đồng bộ y tếhọc đường với dinh dưỡng học đường; Xây dựng hệ thống các trường, lớp năng khiếuthể thao, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài thể thao cho quốc gia; Pháttriển Thể dục Thể thao ngoại khóa, xây dựng các loại hình câu lạc bộ TDTT trườnghọc; khuyến khích học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa trong các câu lạc bộ, cáclớp năng khiếu thể thao Củng cố và phát triển hệ thống thi đấu Thể dục Thể thao giảitrí thích hợp với từng cấp học, từng vùng, địa phương; Tăng cường chỉ đạo triển khaithực hiện Quy hoạch cơ sở Giáo dục Đào tạo có sơ sở vật chất đáp ứng hoạt độngTDTT trường học theo quy chuẩn quốc gia Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách,đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên TDTT; đẩy mạnh huy động cácnguồn xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trongcác cơ sở giáo dục, đào tạo Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện Thể dụcThể thao, hướng dẫn viên TDTT cho các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu

số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của Nhà nước; Tăng cường công tácđào tạo giáo viên TDTT, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa chohướng dẫn viên TDTT; tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong Giáo dục Thểchất và hoạt động thể thao trường học…

Nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác gíaodục thể chất trong trường học, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Quang Quý cho rằng, cần

Trang 20

tăng cường các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác GDTCtrong trường phổ thông Đặc biệt quan tâm đến HS nghèo, HS có hoàn cảnh khó khăn,

HS ở vùng sâu, vùng xa, miền núi GD cho HS những kiến thức, kỹ năng thực hành,

kỹ năng sống để thay đổi thói quen tập luyện TDTT, hình thành được những thói quen

và hành vi sống khoẻ, sống tích cực, tránh xa các tệ nạn xã hội Xây dựng môi trườngvui chơi, học tập lành mạnh trong các trường học

1.3 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúcdậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến

25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:

+ Thời kì từ 15 - 18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên

Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng,

nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vìkhông phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùnghợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặtthể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian pháttriển của lứa tuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: Khi nghiêncứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phảitính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi Do sự phát triển của xã hội nêntrẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệtrước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm Vì vậy, tuổi thanhniên cũng bắt đầu sớm hơn Nhưng việc phát triển tâm lý của tuổi thanh niên khôngchỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí củathanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và mộtloạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi Trong thời đại ngày nay,hoạt động lao động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéo dàilàm cho sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó có sự kéo dàicủa thời kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt nàycác em được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không) Điều đó cho ta thấy rằngthanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội

Trang 21

1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi THPT

Đặc điểm về sự phát triển thể chất

Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự pháttriển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể củacác em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các

em còn kém so với người lớn Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn

Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn

và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thờiphức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triểnmạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ởtuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhânsinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá,không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)

Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếuniên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người

ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnhhưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựachọn nghề nghiệp sau này của các em

Điều kiện sống và hoạt động

Vị trí trong nhà trường

Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thìphức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độclập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ýnghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn

Trang 22

chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các

em Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cựcđộc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tựphê bình

Vị trí ngoài xã hội

Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham giamọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọnnghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xãhội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống

đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bịcho cuộc sống tự lập sau này

Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có nhữngnét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn Thái độđối xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là: Một mặtngười lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập,phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phảithích ứng với những đòi hỏi của người lớn

1.3.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT

Lúc này cơ thể ở cả nam và nữ đều gần đạt đến mức tuổi trưởng thành:

Nhịp độ tăng trưởng : Về chiều cao và trọng lượng giai đoạn này đã chậm lại.

Các tố chất về thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường Cấu tạo vàchức năng của hệ thần kinh phức tạp hơn các lứa tuổi trước mặc dù trọng lượng nãotăng không đáng kể, đặc biệt là số dây thần kinh liên hợp nối các phần của vỏ não tănglên làm cho chức năng của não được phát triển vì thế tư duy, ngôn ngữ và những phẩmchất ý chí có điều kiện phát triển

Về mặt giới tính: Đây là thời kỳ chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ

phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn Quá trình dậy thì ở các

em có thể không giống nhau

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thể chất

Theo quan điểm đông phương học thì môi trường khí hậu với sức khoẻ conngười là mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường sống và sự sống của vạn vật nói chung

Trang 23

trong đó có con người Quan điểm này đã chỉ ra rằng môi trường sống tác động vàotoàn bộ quá trình sống của con người Dương Xuân Đạm (1987) cho rằng: “cuộc sốngchính là quá trình thích nghi của cơ thể với ngoại cảnh và từ lâu con người đã biếtluyện mình cho quen với sương, gió, nắng, mưa”.

Có thể nói phát triển thể chất chịu ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên như bẩm sinh,

di truyền và điều kiện môi trường như nhiệt độ, ánh sáng, không khí, nước…

Ngoài ra thể chất của con người còn phụ thuộc vào yếu tố xã hội như: điều kiệnsống, sinh hoạt, học tập, giáo dục, hoạt động học tập, vui chơi…

1.4.1 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý và tâm lý

Theo nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Điển R Hedoman cơ thể con ngườiđược ví như một cỗ máy đang hoạt động

Việc nghiên cứu cấu trúc cơ thể người và hoạt động của các khả năng trong cơthể có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức các quy luật phát triển thể lực Tìmhiểuđặc điểm giải phẫu và sinh lý lứa tuổi THPT sẽ cho ta thấy các nhìn tổng thể vềccáu trúc, chức năng và quy luật phát triển thể chất của học sinh , từ đó ta có thể tácđộng và điều khiển sao cho phù hợp với mỗi cá nhà và toàn thể xã hội

1.4.2 Yếu tố bẩm sinh và di truyền

Di truyền là một yếu tố mang tính chất bẩm sinh, được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác, đó là quy luật chung của mọi sinh vật sống trên trái đất, ở loài ngườiyếu tố di truyền ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất (nếu cha mẹ mang đặctính tốt hay xấu về thể lực, tinh thần hay ý chí…con cái khi sinh ra cũng sẽ mangnhững đặc tính đó)

Di truyền là cơ sở quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người, yếu tố đóthể hiện khả năng tiềm ẩn trong mỗi cá thể Nếu chúng ta biết vận dụng khả năng đó

để điều khiển quá trình phát triển thể chất của mình cho phù hợp với quá trình học tập,lao động, sinh hoạt thì sẽ đạt được trình độ phát triển thể chất nhất định

1.4.3 Quy luật trưởng thành và phát dục của cơ thể

Trưởng thành và phát dục là quá trình biến đổi về lượng và chất Quy luật này

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và diễn ra theo các giai đoạn khác nhau, tuần tự nốitiếp nhau: Thời kỳ trong bụng me, thời kỳ sau khi sinh, thời kỳ nhi đồng, thiếu niên,thanh niên, trưởng thành và tuổi già

Trang 24

Những biến đổi mạnh mẽ nhất về hình thái và chức năng của cơ thể từ thời kỳmới sinh cho đến hết dậy thì.

Ví dụ: chiều cao tăng 3- 4 lần, trọng lượng tăng từ 10- 30 lần, trọng lượng nãotrẻ em từ lúc sinh đến lúc được 7 tuổi tăng 3- 4 lần Sự biến đổi về chất thể hiện thểhiện qua thần kinh là các tế bào thần kinh phát triển mạnh mẽ Khả năng hoạt động thểlực cũng tăng lên đáng kể, sức mạnh tăng 40- 50 lần

Sau đó đến thời kỳ ổn định tương đối về hình thái và chức năng và cuối cùngđến thời kỳ giảm sút khả năng hoạt động của hình thái và chức năng của cơ thể (thời

kỳ “phát triển ngược”)

1.4.4 Môi trường tự nhiên

Các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của con người gồmnước, không khí, ánh sáng, thời tiết, khí hậu…những yếu tố đó tác động trực tiếp tới

sự phát triển thể chất của con người Ngoài ra nó còn được sử dụng để củng cố, tăngcường sức khoẻ và nâng cao năng lực hoạt động của con người Nếu môi trường sốngtrong sạch, sẽ tạo nên những điều kiện tốt có lợi cho sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ và đẩylùi bệnh tật

Các hình thức tập luyện như: tập dưới ánh nắng mặt trời, tập trong điều kiện khíhậu khắc nghiệt, tập vào các khoảng thời gian thay đổi sẽ có tác dụng nâng cao sứckhỏe và năng lực vận động

Giữa yếu tố bẩm sinh, di truyền và yếu tố tự nhiên có mối quan hệ tác độngtương hỗ lẫn nhau Môi trường sống không thuận lợi sẽ kìm hãm khả năng di truyềntiềm tàng của cơ thể dẫn đến phát triển không cân đối, đầy đủ Ngược lại môi trườngsống thuận lợi cũng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của cơ thể

1.4.5 Điều kiện sống và sinh hoạt

Điều kiện sống

Đây là điều kiện cần thiết để con người có thể tồn tại và phát triển vì: nếu điềukiện sống không thuận lợi sẽ làm cho cơ thể không thích nghi được và dẫn đến ảnhhưởng xấu cho sức khoẻ con người Ngoài ra các yếu tố vệ sinh cá nhân, vệ sinh xãhội, vệ sinh trong ăn uống, học tập, lao động, nghỉ ngơi và tập luyện TDTT có ảnhhưởng tốt đến sự phát triển thể chất, giúp cơ thể cân bằng với môi trường bên ngoài

Trang 25

trong quá trình tập luyện TDTT việc thực hiện tốt các nguyên tắc vệ sinh sẽ quyết địnhtới hiệu quả của quá trình tập luyện.

Chế độ dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, đặcbiệt là các năng lực hoạt động của con người Do đó trong khẩu phần ăn hàng ngàyphải đảm bảo đủ cả về số lượng và chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thểchất một cách toàn diện

Hoạt động vận động

Từ khi sinh ra nhu cầu vận động của con người đã trở thành nhu cầu tự nhiên,cần thiết và không thể thiếu, vận động tích cực là các hành vi vận động mà con ngườithực hiện trong cuộc sống hàng ngày và diễn ra trong suốt cuộc đời, những hoạt động

đó bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo…không những thếhoạt động vận động còn bao gồm cả khả năng tư duy, động não của mỗi người trongviệc học và tự học để nâng cao tri thức cho mình và nó cũng chính là điều kiện cầnthiết cho sự phát triển và hoàn thiện thể chất của cơ thể

Để con người phát triển toàn diện thì cần phải có sự quan tâm giáo dục mộtcách toàn diện ngay từ khi trẻ em cắp sách tới trường Do đó ngoài việc trang bị chocác em những kiến thức văn hoá cần thiết còn phải trang bị cho các em vốn kỹ năng kỹxảo vận động quan trọng trong cuộc sống

Việc GDTC trong trường học còn giúp giải quyết các nhiệm vụ giáo dục như:đạo đức, thẩm mỹ và lao động đồng thời đó cũng là phương tiện để rền luyện sự thíchnghi của cơ thể trước môi trường sống thay đổi

Ngày đăng: 06/11/2017, 21:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w