15 1.4 VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN , TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI... Với ngành giáo dục, chất lượng đào tạ
Trang 11
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do lựa chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Kết cấu của đề tài 8
Chương 1: NGUỒN LỰC THÔNG TIN VỚI VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 9
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN ,TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI 10
1.1.1Quá trình thành lập 10
1.1.2Cơ cấu tổ chức 10
1.1.3Chức năng nhiệm vụ 12
1.1.4Định hướng phát triển 12
1.2 NHỮNG NÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI 13
1.2.1Các nghành đào tạo 13
1.2.2Đào tạo tín chỉ 14
1.3 NGƯỜI DÙNG TIN TẠITRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN ,TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI 14
1.3.1Đặc điểm người dùng tin tại trung tâm thông tin- thư viện, Trường Đại học Lao Động Xã Hội 14
1.3.2Các nhóm người dùng tin 15
1.4 VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN , TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI 17
Trang 22
1.4.1Nguồn lực thông tin Thư viện góp phần đổi mới phương pháp dạy - học
và tạo môi trường tự học ,tự nghiên cứu, kích thích sự chủ động của người học 17 1.4.2Vai trò của cán bộ tại thư viện đại học trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng 18
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI 20 2.1 CÔNG TÁC TỔ CHỨC NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI 20
2.1.1 Tổ chức nguồn lực thông tin dạng truyền thống 20
2.1.2 Tổ chức nguồn lực thông tin điện tử 21 2.2 KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI 22
2.2.1 Các kênh phân phối – chuyển giao thông tin: 22 2.2.2 Các công cụ tra cứu thông tin 24 2.3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI 27 2.3.1 Đánh giá mức độ đầy đủ, chính xác và cập nhật của nguồn lực thông tin 27 2.3.2 Đánh giá hiệu quả tra cứu nguồn lực thông tin 28 2.3.3 Đánh giá mức độ thoả mãn nhu cầu 31
CHƯƠNG 3 : CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 33
3.1 XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH BỔ SUNG KHOA HỌC 33
Trang 33
3.2 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC, QUẢN
LÝ VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN 34 3.3 TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT CHẶT CHẼ GIỮA TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN VỚI TRƯỜNG VÀ CÁC KHOA CHUYÊN NGHÀNH 36 3.4 HỢP TÁC TRONG CHIA SẺ NGUỒN LỰC THÔNG TIN 37
KẾT LUẬN 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 4Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta ý thức được rõ tầm quan trọng của
phát triển giáo dục và khoa học - công nghệ, coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam tại Đại hội IX đã khẳng định: "Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa – hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm Con đường công nghiệp hóa của Việt Nam cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học - công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục, khoa học - công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa"
Trên thế giới, Giáo dục đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu Một quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học đẳng cấp quốc tế Giáo dục đại học còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời,
Trang 55
cho phép con người cập nhật cáckiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội Ủy ban Kothari (1996) liệt kê những vai trò sau đây của các trường đại học (các cơ sở giáo dục đại học trong xã hội hiện đại):
- Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và khôngchùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới và khám phá mới;
- Nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống,phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn
- Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng
- Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục; và nuôi dưỡng và khích
lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ
và giá trị này ra cho cả cộng đồng
Nhiệm vụ trên đặt ra cho giáo dục những trách nhiệm nặng nề, trong đó
có trách nhiệm xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đào tạo được đội ngũ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, nắm vững
và ứng dụng các tri thức trong thực tiễn, đổi mới và chuyển giao công nghệ thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trường Đại học Lao động - Xã hội là trường đầu ngành thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo ngành Công tác xã hội, ngành Quản lý lao động, ngành Bảo hiểm và một số ngành khác Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước hiện nay, nhiệm
Trang 66
vụ đặt ra cho ngành hết sức nặng nề, bao gồm nhiều lĩnh vực công tác trọng yếu
có tác động sâu sắc đến sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế của đất nước, đó là: phát triển nguồn nhân lực, lao động việc làm (tiền lương - tiền công; bảo hiểm -
xã hội; bảo hộ - lao động ); các vấn đề xã hội (an sinh - xã hội; công tác - xã hội; chính sách - xã hội .); các đối tượng có công với nước (ưu đãi xã hội; chỉnh hình phục hồi chức năng cho thương – bệnh binh và người tàn tật ) Cán
bộ công chức, viên chức, nhân viên lao động xã hội làm việc tại cơ quan lao động – thương binh xã hội, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội, các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa tổ chức triển khai chính sách và thực hiện các hoạt động sự nghiệp tại mỗi lĩnh vực, vị trí công tác đòi hỏi người cán bộ lao động - xã hội phải hiểu biết sâu sắc
về lý luận, có tư duy tổng hợp, phân tích, có phương pháp nghiên cứu khoa học
để tiếp cận vấn đề mới tham mưu, đề xuất, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Với ngành giáo dục, chất lượng đào tạo được đặt lên hàng đầu, một trong những biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo của trường là việc xây dựng và thành lập Trung tâm Thông tin - Thư viện, để nơi đây trở thành nơi cung cấp thông tin chủ yếu phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên toàn trường Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm Thông tin - Thư viện trường đã được đầu tư xây dựng khá cơ bản, đáp ứng phần lớn nhu cầu về thông tin trong các lĩnh vực đào tạo của trường Tuy nhiên, nguồn lực thông tin tại trung tâm còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng (có trên 10.000 đầu sách tương đương 150.000 bản sách bao gồm các loại giáo trình – bài giảng do trường in ấn và biên soạn, sách chuyên khảo và tham khảo, 100 loại báo – tạp chí, trong đó trên 50 loại báo - tạp chí là chuyên ngành đào tạo của trường và CSDL với trên 10.000 biều ghi đáp ứng quá trình tra cứu của bạn đọc…); sách, tạp chí, cơ sở dữ liệu bằng tiếng nước ngoài hầu như không có
Trang 77
Chính vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu của nhà trường trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục đại học phục vụ công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước, đòi hỏi trung tâm phải xây dựng nguồn lực thông tin chính xác, đầy đủ, cập nhật để đáp ứng yêu cầu của người dùng tin và nhiệm vụ của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
Với những lý do trên, tôi đã chọn cho mình đề tài nghiên cứu này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Năm 2007, đề tài :“Thư viện với việc đổi mới phương pháp dạy và học ở đại học” của Nguyễn Thị Thưnhấn mạnh vai trò của thư viện trong
quá trình cải cách giáo dục đại học
Năm 2007, khóa luận: “Tăng cường hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện giai đoạn 2005 - 2010” của Th.S Lê Cao Đại – Phó
Giám đốc Trung tâm làm chủ nhiệm đã được hoàn thành và ứng dụng thử nghiệm vào thực tiễn
Năm 2009, đề tài “Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện phục vụ đào tạo học chế tín chỉ tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền” doTh.S Đỗ Thúy Hằng – Trung tâm Thông tin – Thư
viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm đề tàiđã nghiên cứu, nêu thực trạng và đề ra được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ nêu lên được thực trạng tình hình hoạt động của các Trung tâm Thông tin – Thư viện các trường, khảo sát sơ bộ nhu cầu của người dùng tin tại đó, đưa ra được các giải pháp tổng thể, chưa đưa ra được các nhiệm vụ cụ thể để thực hiện được các giải pháp đó, đặc biệt
là các giải pháp để phát triển nguồn lực thông tin
3 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp tăng cường khả năng đáp ứng người dùng tin của nguồn lực thông tin, Nâng cao chất lượng đào
Trang 88
tạo tại trường Đại học Lao động – Xã hội đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Lao động – Xã hội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Không gian nghiên cứu
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Lao động – Xã hội (trụ sở chính tại Hà Nội)
4.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Điều tra người dùng tin
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 03 chương như sau :
Trang 1010
CHƯƠNG 1 NGUỒN LỰC THÔNG TIN VỚI VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN ,TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
1.1.1 Quá trình thành lập
Thư viện Trường Đại học Lao động Xã hội được thành lập năm
1961, tiền thân là thư viện của trường Trung học Tiền lương với tên gọi Bộ phận Thư viện trực thuộc Phòng Đào tạo
Năm 1999 Thư viện được tách ra khỏi Phòng Đào tạo và đổi tên thành Tổ Thư viện - Tư liệu trực thuộc Ban giám hiệu, theo Quyết định số 57/QĐ ngày 11/03/2005 của Hiệu trưởng Trường Đại học Lao động – Xã hội thành lập Trung tâm Thông tin – Thư viện Khi mới thành lập, Thư viện gặp nhiều khó khăn về
cơ sở vật chất, kinh phí ít, Thư viện chỉ có một phòng đọc nhỏ, trang thiết bị lạc hậu với những tủ sách nghèo nàn
Tới nay, Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Lao động Xã hội (sau đây gọi tắt là Trung tâm) đã có nhiều đổi mới: Được đầu tư về cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, vốn tài liệu thông tin khá phong phú, đa dạng Hệ thống tra cứu điện tử phần mềm IlipMe V5 Đội ngũ cán bộ thông tin – thư viện
đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng cũng như nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, đáp ứng tốt cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường
Hiện nay quy mô đào tạo của trường đã được mở rộng hơn và trường đã
có 2 cơ sở đào tạo mới ở Thị xã Sơn Tây (Hà Nội) và Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.2 Cơ cấu tổ chức
GồmBan Giám đốc và các phòng chức năng, cụ thể như sau:
a) Ban Giám đốc Trung tâm: gồm Giám đốc và phó giám đốc
Trang 11Họ và tên: Lê Cao Đại
* Phòng Bổ sung & nghiệp vụ có nhiệm vụ:
Xây dựng và bổ sung vốn tài liệu, thu nhận các tài liệu; đồng thời có nhiệm vụ xử lý tài liệu theo các chu trình, xử lý kỹ thuật vốn tài liệu, xây dựng các cơ sở dữ liệu, tổ chức hệ thống tra cứu theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện;
Xử lý và biên soạn ấn phẩm thông tin giới thiệu sách mới, thông tin chuyên đề, các loạithư mục, hướng dẫn tra cứu và tổ chức các hoạt động thông tin khác;
Nhập dữ liệu sách việt, ngoại văn vào cơ sở dữ liệu; nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện; quản trị mạng và các phần mềm tiện ích; tham gia vào quá trình bảo trì, bảo dưỡng máy tính và các thiết bị hiện đại khác; tham gia vào việc số hoá tài liệu và xuất bản
* Phòng Phục vụ bạn đọc có các nhiệm vụ:
Trang 1212
Phục vụ đọc tại chỗ và cho mượn về nhà các tài liệu giáo trình – bài giảng, sách chuyên khảo, tham khảo, tài liệu nội sinh (Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học…), báo – tạp chí;
Tổ chức kiểm kê kho sách theo quy định; bảo quản vốn tài liệu và tu sửa, phục chế tài liệu bị hư hỏng rách nát trong quá trình sử dụng
* Phòng Dịch vụ có các nhiệm vụ:
Bán và cho thuê giáo trình- bài giảng do Trường biên soạn và in ấn;
Hướng dẫn bạn đọc tra cứu tìm tin trên dữ liệu điện tử, trên thư mục, giới thiệu thông báo sách mới, tủ mục lục;
Hướng dẫn cho bạn đọc tìm tài liệu nhanh chóng và photo các tài liệu có trong Thư viện khi bạn đọc yêu cầu;
Cung cấp các dịch vụ, đáp ứng yêu cầu về sử dụng vốn tài liệu có trong hoặc ngoài thư viện thông qua việc trao đổi giữa các thư viện và hệ thống các phòng đọc, phòng mượn, phòng tra cứu, phòng đa phương tiện (khai thác thông tin trên mạng Internet, khai thác các cơ sở dữ liệu online, cơ sở dữ liệu CD-ROM và các tài liệu số hóa)
1.1.3 Chức năng nhiệm vụ
Trung tâm thực hiện chức năng tham mưu, giúp hiệu trưởng quản lý các hoạt động thư viện của trường, đồng thời chịu trách nhiệm theo phân cấp quản
lý của hiệu trưởng
Thư viện là trung tâm thông tin văn hóa, khoa học kỹ thuật có chức năng tổ chức, xây dựng, thu thập, xử lý, bảo quản, cung cấp thông tin, các tài liệu khoa học chuyên ngành xã hội, chuyên ngành tự nhiên cho cán bộ và học sinh, sinh viên tại trường
Thư viện là Trung tâm văn hóa giải trí cung cấp kiến thức xã hội và nâng tầm hiểu biết cho NDT
1.1.4 Định hướng phát triển
Với bề dày trên 50 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Lao động – Xã hội, đến nay đã đi vào hoạt động theo
Trang 1313
mô hình của một thư viện tiên tiến Chuyên môn nghiệp vụ dần được áp dụng theo chuẩn của các thư viện trong nước cũng như quốc tế Để thực hiện tốt các mục tiêu cũng như chiến lược phát triển của nhà trường về đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, nâng cao thế mạnh nghiên cứu, nâng cao năng lực cạnh tranh với các trường đại học trong và ngoài nước, hướng tới chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học tín chỉ Trung tâm TT-TV đưa ra định hướng phát triển trong thời gian tới, cụ thể như sau:
- Đẩy mạnh việc việc đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị, ứng dụng CNTT, phát triển thư viện theo mô hình mở;
- Tăng cường nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các loại hình tài liệu, đầu
tư các tài liệu điện tử, CSDL online;
- Mở rộng quan hệ hợp tác với các thư viện cùng khối ngành để trao đổi
và sử dụng liên thư viện;
- Phát triển các dịch vụ thông tin trong thư viện: dịch vụ cung cấp thông tin từ xa, cung cấp thông tin theo chuyên đề,…
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thư viện trên cơ sở cử cán bộ đi đào tạo nâng cao nghiệp vụ, đào tạo tin học, ngoại ngữ…đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn tới
1.2 NHỮNG NÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
1.2.1 Các nghành đào tạo
Trường Đại học Lao động - Xã hội là trường đại học được thành lập
ngày 31/1/2005, theo Quyết định số 26/2005/QĐ-TTg của Chính phủ [1], cơ sở chính của Trường được đặt tại Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
Nhiệm vụ chính của Trường là đào tạo đội ngũ cán bộ lao động - xã hội có trình độ từ trung cấp, cao đẳng cho đến đại học, với các chuyên ngành như: Quản trị nhân lực, Công tác xã hội, Bảo hiểm xã hội
Hiện nay Trường đang đào tạo các chuyên nghành sau :
Công tác xã hội;
Trang 14Đào tạo theo hệ thống tín chỉ xem người học là trung tâm của quá trình đào
tạo “Tín chỉ” là đơn vị căn bản để đo khối lượng kiến thức và đánh giá kết quả
học tập của sinh viên Đặc trưng của hệ thống này là kiến thức được cấu trúc thành các học phần Lượng kiến thức dành cho sinh viên gồm hai khối cơ bản: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên môn Mỗi khối kiến thức có 2 nhóm học phần: học phần bắt buộc là những kiến thức tiên quyết bắt buộc sinh viên phải học và thi đạt mới được học tiếp sang học phần khác; nhóm học phần tự chọn gồm những kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được chọn theo hướng dẫn của nhà trường
1.3 NGƯỜI DÙNG TIN TẠITRUNG TÂM THÔNG TIN-THƯ VIỆN ,TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
1.3.1 Đặc điểm người dùng tin tại trung tâm thông tin- thư viện, Trường Đại
học Lao Động Xã Hội
Trình độ học vấn của người dùng tin :
Năng lực học vấn của người dùng tin là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nguồn lực thông tin Với đặc thù là một Trường Đại học đa ngành, nên để có thể tiếp cận việc quản lý, giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo - giảng dạy bắt buộc đội ngũ người dùng tin tại Trung tâm phải không
Trang 15 Lĩnh vực hoạt động của người dùng tin :
Người dùng tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Lao động - Xã hội hoạt động tại nhiều lĩnh vực khác nhau như Quản lý- lãnh đạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu Họ đến Trung tâm với nhiều mục đích khác nhau: Nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn - nghiệp vụ của mình, tìm kiếm thông tin để giải quyết công việc hàng ngày, để ra các quyết định, tìm kiếm thông tin để nghiên cứu khoa học, phục vụ giảng dạy và học tập
Loại hình nguồn lực thông tin người dùng tin thường sử dụng : Xuất phát từ mục đích làm việc, nhu cầu và cả yếu tố khách quan, người dùng tin còn lựa chọn cho mình những loại hình nguồn tin phù hợp Trong đó có đến 80% số người được hỏi đều thường xuyên sử dụng sách – báo – tạp chí khi đến trung tâm, 15% sử dụng Internet, cơ sở dữ liệu rất ít được người dùng tin quan tâm – chỉ có 5,0%
1.3.2 Các nhóm người dùng tin
- Cán bộ làm công tác lãnh đạo - quản lý:
Nhóm người dùng tin này tuy số lượng không lớn nhưng đặc biệt quan trọng Do đặc điểm công việc của họ, nên nhóm người dùng tin này cần các loại nguồn lực thông tin về: Chính sách giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, kinh
tế - xã hội, văn hoá - xã hội, nhằm nắm bắt cụ thể yêu cầu của thực tế xã hội đề
từ đó đề ra các quy định đúng đắn, kịp thời cho sự phát triển của công tác giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Lao động - Xã hội Trên thực tế, cán bộ quản
lý còn tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nên nhu cầu về thông tin của nhóm này rất phong phú, đa dạng Mặt khác do cường độ lao động của nhóm
Trang 1616
này cao nên thông tin cung cấp cho nhóm người dùng tin này cần phải cô đọng, súc tích Hình thức phục vụ thường là các thông tin chuyên đề, tổng quan, tổng luận, bản tin…
Việc tổ chức, khai thác các sản phẩm, dịch vụ thông tin phục vụ cho cán
bộ lãnh đạo là một việc làm hết sức quan trọng.Yêu cầu đáp ứng thông tin phải đầy đủ, toàn diện giúp làm tăng hàm lượng khoa học trong các quyết định quản
lý, làm cơ sở xác định chiến lược phát triển công tác giáo dục và đào tạo được tốt hơn
- Các cán bộ giảng dạy – nghiên cứu:
Đây là nhóm đối tượng người dùng tin đồng nhất trong công tác phục vụ thông tin của Trung tâm Nhu cầu thông tin của nhóm người dùng tin này là thông tin chuyên ngành sâu, với mọi loại hình như sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, thông tin trên Internet Ngoài ra họ còn sử dụng các loại nguồn lực thông tin mang tính chất giáo khoa, giáo trình, các nguồn lực thông tin mang tính chất
hỗ trợ cho chuyên ngành mà họ phải giảng dạy Hiện nay nguồn nguồn lực thông tin nước ngoài về các chuyên ngành sâu là rất quý đối với việc nghiên cứu giảng dạy; tuy nhiên nguồn kinh phí còn hạn chế, nguồn lực thông tin nước ngoài đắt nên việc mua bổ sung chỉ được số lượng có hạn, do vậy đã hạn chế nhiều trong việc đáp ứng nhu cầu của nhóm đối tượng này Việc thu hút nhóm đối tượng này đến sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Trung tâm và nâng cao chất lượng phục vụ đó là một nội dung công tác quan trọng mà Trung tâm đang hết sức quan tâm
- Nhóm đối tượng là học viên cao học, thực tập sinh, sinh viên:
Đặc điểm nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng này là người dùng tin cần nhiều loại hình nguồn lực thông tin, từ các nguồn thông tin giáo khoa đến các nguồn thông tin mang tính chất tham khảo
Trong số người dùng tin là học viên cao học, thực tập sinh, nghiên cứu sinh nhiều người vừa giảng dạy, vừa học tập, cho nên ngoài kiến thức của các chuyên gia, giảng viên trên lớp họ còn cần nắm bắt những thông tin mới trong
Trang 1717
ngành và ngoài xã hội Nhu cầu tin của họ rất đa dạng, phong phú xuất phát từ yêu cầu và tính chất chuyên ngành đào tạo Nhóm đối tượng này đến Trung tâm không chỉ để đọc sách, báo, tạp chí và các nguồn lực thông tin khác mà còn đến Trung tâm để tự học, nhưng do phải học tập trên lớp, thời gian tự nghiên cứu hạn chế nên họ rất cần những thông tin cụ thể, chi tiết và đầy đủ nhằm hoàn thiện luận văn, luận án tốt nghiệp của mình Trung tâm cũng đã phục vụ được một số lượng đáng kể nhu cầu tin của nhóm đối tượng này.Thông qua việc tra cứu các cơ sở dữ liệu, người dùng tin đã có được định hướng cho mình thông tin cần thiết.Trung tâm là chiếc cầu nối đáp ứng yêu cầu, tổ chức tốt công tác phục
vụ tạo môi trường phù hợp giúp cho việc học tập nghiên cứu của học viên, sinh viên đạt kết quả tốt
1.4 VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN , TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
1.4.1 Nguồn lực thông tin Thư viện góp phần đổi mới phương pháp dạy - học
và tạo môi trường tự học ,tự nghiên cứu, kích thích sự chủ động của người học
Mục tiêu quan trọng nhất đối với giáo dục đại học trong kỷ nguyên thông tin là tạo ra những con người có khả năng tự định hướng học tập, tự học thường xuyên, biết chọn lọc, xử lý thông tin và có khả năng sáng tạo tri thức, tự tin hội nhập vào thị trường lao động “chất xám” quốc tế đầy tính cạnh tranh Đây là xu thế tất yếu trong xã hội thông tin
Hoạt động giảng dạy, học tập thực chất là một quá trình truyền đạt và tiếp nhận thông tin Nếu giáo viên nắm bắt, cập nhật được những thông tin mới thường xuyên và vận dụng phù hợp với quá trình giảng dạy thì bài giảng sẽ sinh động, phong phú và đi sát với thực tế hơn Nếu sinh viên tìm tài liệu, khai thác thông tin - tư liệu hiệu quả thì chất lượng học tập và khả năng nghiên cứu khoa học sẽ được nâng cao rõ rệt Trong trường đại học, hoạt động khai thác thông tin
Trang 18Việc đào tạo bậc đại học chỉ thực sự có chất lượng khi hoạt động học tập của sinh viên được thực hiện trong cả bốn môi trường: lớp học, thư viện, cơ sở thực nghiệm và môi trường thực tế Trong đó, thư viện có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính độc lập, sáng tạo của sinh viên Người sinh viên phải học một cách thông minh hơn, chủ động hơn qua việc phân tích, tổng luận những tài liệu tra tìm được ở thư viện Từ đó sẽ xóa bỏ lối học thụ động, khuyến khích việc tự học, tự nghiên cứu, kích thích sự chủ động của sinh viên
1.4.2 Vai trò của cán bộ tại thư viện đại học trong việc đáp ứng nhu cầu
thông tin của người sử dụng
Trong tất cả các yếu tố góp phần làm tăng chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý và khai thác thông tin thư viện, yếu tố con người là quan trọng nhất và mang tính quyết định Cán bộ thư viện là cầu nối giữa nguồn tài nguyên thông tin và người dùng tin Chúng ta có thể nói một khiếm khuyết rất quan trọng của thư viện đại học hiện tại là chưa chú trọng đúng mức tới việc hướng dẫn cụ thể sinh viên phương pháp nghiên cứu, tìm tư liệu, cung cấp thông tin thư tịch để sinh viên hứng khởi, ham thích trong công việc nghiên cứu
Trang 1919
Với vai trò đóng góp vào sự đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập tại trường, cán bộ thư viện phải chủ động giới thiệu, cung cấp nguồn thông tin phong phú, đa dạng Đồng thời, cán bộ thư viện phải tạo môi trường thân thiện, thông thoáng, chuyên nghiệp không chỉ bằng khả năng chuyên môn, nghiệp vụ giỏi mà còn bằng khả năng giao tiếp tốt
Các cán bộ thư viện ngày nay không thể chỉ bằng lòng là những người
“thủ kho giữ tài liệu” với phương châm “ vui vẻ, hòa nhã, nhiệt tình” mà còn phải là những “ hoa tiêu” trong ”đại dương” thông tin; năng động, thạo nghề, có trình độ ngoại ngữ, tin học để chỉ ra những tài liệu độc giả cần một cách nhanh nhất, chính xác nhất Bên cạnh đó, cán bộ thư viện phải luôn có ý thức trách nhiệm động viên, nuôi dưỡng thói quen và sự hứng thú đọc sách cho sinh viên
Để làm được điều này, nhà trường cần có một kế hoạch gửi các cán bộ thư viện đi đào tạo lại, đào tạo mới không chỉ về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn
cả về tin học, ngoại ngữ bằng những khóa học ngắn hạn, dài hạn trong và ngoài nước Đồng thời, bổ sung những cán bộ trẻ có năng lực, có khả năng sáng tạo,
có tâm huyết
Ngoài các kiến thức về chuyên môn, ngoại ngữ, vi tính, người cán bộ thư viện còn cần được đào tạo các kiến thức về tâm lý, kỹ năng giao tiếp… để biết vận dụng khéo léo khả năng, trình độ của mình vào công việc và có những thái
độ, cư xử thích hợp với bạn đọc trong từng tình huống khác nhau
Việc cán bộ thư viện biết cách cộng tác và tranh thủ sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo trong nhà trường và đội ngũ giảng viên là điều cơ bản nhất cho sự thành công của các hoạt động thư viện Cán bộ thư viện phải tìm những cơ hội
để có quan hệ mật thiết hơn với các giảng viên nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ
họ trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và chính giảng viên lại là người cung cấp những thông tin có giá trị để phát triển bộ sưu tập và các dịch vụ của thư viện
Trang 2020
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
2.1 CÔNG TÁC TỔ CHỨC NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
2.1.1 Tổ chức nguồn lực thông tin dạng truyền thống
Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, thông tin và chính sách thông tin đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong đào tạo đại học, nguồn lực thông tin ở đó được đánh giá qua hệ thống các trung tâm thông tin – thư viện
Tại trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Lao động – Xã hội, nguồn lực thông tin văn bản (sách, báo, tạp chí ) là nguồn tin chính của trung tâm
Khi nguồn lực thông tin được bổ sung về, trước khi đưa ra phục vụ, Trung tâm tiến hành tổ chức xử lý tập trung đảm bảo tính thống nhất trong việc tổ chức nguồn lực Quy trình xử lý này được tiến hành bao gồm các công đoạn sau đây:
- Mô tả theo chuẩn mô tả quốc tế (ISBD)
- Phân loại thống nhất theo bảng phân loại 17 lớp
- Xuất phích tìm tin theo format của phần mềm
- In thư mục thông báo sách mới
- Xây dựng cơ sở dữ liệu theo hệ phần mềm quản trị thư viện tích hợptạo sự thuận lợi cho việc trao đổi và chia sẻ nguồn lực giữa các Trung tâm thông tin trong nước với Trung tâm Thông tin – Thư viện của Trường
Đến nay, Trung tâm cũng đã tiến hành xử lý được một số lượng lớn loại hình nguồn lực thông tin cụ thể: