1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết, thực hiện hđlđ tại công ty CP xuất nhập khẩu hải dương (inimexco hải dương)

29 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 68,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2 3. Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Phương pháp nghiên cứu 4 5. Đóng góp của đề tài 4 6. Kết cấu của đề tài 4 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 6 1.1. Khái niệm và ý nghĩa HĐLĐ 6 1.1.1. Khái niệm HĐLĐ 6 1.1.2. Đối tượng áp dụng HĐLĐ 9 1.1.3. Đối tượng áp dụng HĐLĐ 9 1.1.4. Đối tượng không áp dụng HĐLĐ gồm 9 1.1.5. Nội dung, hình thức và các loại HĐLĐ 9 1.1.6. Ý nghĩa HĐLĐ 10 1.2. Pháp luật Việt Nam qui định về giao kết HĐLĐ 11 1.2.1. Khái niệm giao kết HĐLĐ 11 1.2.2. Nguyên tắc giao kết HĐLĐ 11 1.2.3. Nội dung giao kết HĐLĐ 13 1.2.4. Hình thức giao kết HĐLĐ 14 1.2.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết HĐLĐ 14 1.3. Khái niệm về thực hiện HĐLĐ 15 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HẢI DƯƠNG (INIMEXCO HẢI DƯƠNG) 17 2.1. Giới thiệu về Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương 17 2.2. Thực trạng giao kết, thực hiện HĐLĐ ở Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương (Inimexco Hải Dương) 17 2.3. Đánh giá thực trạng giao kết, thực hiện HĐLĐ tại Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương 19 2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 19 2.4.1. Nguyên nhân khách quan 19 2.4.2. Nguyên nhân chủ quan: 20 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HẢI DƯƠNG (INIMEXCO HẢI DƯƠNG) 22 3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về giao kết, thực hiện HĐLĐ tại Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương 22 3.1.1. Đối với Nhà nước 22 3.1.2. Đối với công ty 22 3.1.3. Đối với người lao đông 22 3.2. Một số kiến nghị 23 KẾT LUẬN 25 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26  

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các ví

dụ, trích dẫn trong đề tài đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Đểhoàn thành đề tài này tôi xin cảm ơn những tác giả đi trước đã cho tôi nhiềuthông tin bổ ích để tham khảo

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lao động là hoạt động quan trọng nhất trong đời sống của con người.Lao động tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội Hoạt động laođộng giúp con người hoàn thiện bản thân và phát triển xã hội Khi xã hội đãđạt đến mức độ phát triển nhất định thì sự phân hóa, phân công lao động xãhội diễn ra như một tất yếu và ngày càng sâu sắc Đối với Việt Nam sau khigia nhập WTO với mục tiêu xây dựng đất nước đến năm 2020 trở thành nướccông nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng xuất phát từ nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế Sựphát triển của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế đó tạo nên

sự phong phú, đa dạng trong quan hệ lao động, cũng như nảy sinh ra vấn đềphức tạp Chênh lệch về lợi ích của quan hệ lao động giữa NSDLĐ với NLĐlàm thuê vốn có nay càng khắc họa rõ nét hơn Với những chủ trương vàchính sách của Nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty thành lập,

đi vào hoạt động nhằm tạo ra của cải vật chất và giải quyết lớn lực lượng laođộng dồi dào như hiện nay Với dân số đông, cơ cấu dân số trẻ như Việt Nam,nên các công ty ra đời ngày càng nhiều Nhằm nâng cao quyền tự chủ, tựquyết cho công ty, Nhà nước cho phép các công ty quyền tuyển dụng lao độngtheo nhu cầu sản xuất kinh doanh, trong đó hình thức tuyển dụng lao độngthông qua HĐLĐ hiện nay trở thành hình thức phổ biến, phù hợp với điềukiện kinh tế xã hội hiện nay Chính vì thế việc tuyển dụng chủ yếu thông quaHĐLĐ nhằm thiết lập quan hệ lao động, sức lao động trong nền kinh tế thịtrường, là lựa chọn ưu tiên hàng đầu của công ty Pháp luật lao động quy địnhquyền và nghĩa vụ của NLĐ và của NSDLĐ, các tiêu chuẩn lao động, cácnguyên tắc sử dụng và quản lý lao động nhằm thúc đẩy sản xuất không ngừngphát triển Đối với pháp luật lao động thì giao kết HĐLĐ là một phần rất quantrọng, là hình thức ban đầu chủ yếu làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động.HĐLĐ là công cụ pháp lý quan trọng để xác lập mối quan hệ lao động giữaNSDLĐ và NLĐ Giao kết HĐLĐ được coi là vấn đề trung tâm trong mối

Trang 5

quan hệ lao động Việc giao kết HĐLĐ không chỉ được thừa nhận bằng phápluật trong nước, mà còn ghi nhận trong hệ thống pháp luật của các nước trênthế giới Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện giao kết HĐLĐ tại các cơ quan,

tổ chức cho thấy việc giao kết HĐLĐ còn bộc lộ tính thiếu chặt chẽ, chưa đầy

đủ Thực tế áp dụng HĐLĐ còn nhiều vướng mắc, điều này dẫn đến tranhchấp về HĐLĐ tại các công ty phát sinh ngày càng nhiều

Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi thực tế của HĐLĐ nói chung, đặc biệt làthực hiện, giao kết HĐLĐ nói riêng và thực tiễn trong các cơ quan, tổ chứ, tôiquyết định chọn đề tài “ Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết,thực hiện HĐLĐ tại Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương (Inimexco HảiDương)” làm bài tiểu luận của mình Qua việc nghiên cứu đề tài, tiểu luậngóp phần hoàn thiện về pháp luật HĐLĐ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích củaNLĐ, NSDLĐ, cũng như lợi ích của Nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về hoạt động giao kết, thực hiện HĐLĐ đã được đề cập ởnhiều mứcđộ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu độc lập hoặcđăng tải dưới các bài viết trên các tạp chí pháp luật như :

Luận án Tiến sĩ luật học “HĐLĐ trong cơ chế thị trường ởViệt Nam”,(2002) của tác giả Nguyễn Hữu Chí Về hệ thống giáo trình: Giáo trình

“Luật Lao động Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội (2005, 2008,2011), nhà xuất bản Công an nhân dân; hay Giáo trình “Luật Lao động cơbản” (2012), khoa luật Đại học Cần Thơ; hay Giáo trình luật Lao động ViệtNam (1999), Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học quốcgia Hà Nội Có các đề tài như : “Thực trạng pháp luật về quan hệ laođộng ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” (2012) của PGS.TS LêThị Hoài Thu, Khoa Luật đại học quốc gia Hà Nội Về bài viết có: “Bàn vềhiệu lực của HĐLĐ và việc xử lý hợp đồng vô hiệu” số 8 (2000), Tạp chí Dânchủ và pháp luật của Phạm Thị Chính; hay “ Giao kết HĐLĐ theo Bộ luật Laođộng năm 2012 từ quy định đến nhận thức và thực tiễn” tạp chí Luật số3/2013 của tác giả Nguyễn Hữu Chí; hay “Quá trình duy trì và chấm dứt

Trang 6

HĐLĐ” số 3 (1997), Tạp chí Luật học, của Lưu Bình Nhưỡng; hayTôn Trung Nhạn (1995), và “HĐLĐ một trong những chế định chủ yếu củaluật Lao động Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật, số 7/1996 của Phạm CôngTrứ Đây là các tài liệu tham khảo hết sức quý giá chủ yếu tập trung về HĐLĐnói chung và có đề cập về vấn đề giao kết, thực hiện HĐLĐ trong các công ty.

Có thể thấy các công trình nghiên cứu cụ thể trên đã đề cập một cách toàndiện về pháp luật HĐLĐ cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy

nhiên, nghiên cứu về giao kết HĐLĐ trên bình diện lý luận và thực tiễnchưa được các tác giả đề cập nhiều Chính vì thế, bài tiểu luận sẽ làm rõnhững vấn đề lý luận của giao kết, thực hiện HĐLĐ, chỉ ra những ưu điểm,hạn chế của giao kết HĐLĐ trong Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương để

từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về giao kết, thưc hiện HĐLĐđáp ứng yêu cầu hội nhập, góp phần tạo nên mối quan hệ lao động bền vững

3 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ở phương diện lý luận và thực tiễn đối với pháp luật

về giao kết, thực hiện HĐLĐ Đề tài tập trung nghiên cứu các qui định phápluật và thực tiễn thực hiện về giao kết HĐLĐ ở Công ty CP xuất nhập khẩuHải Dương (Inimexco Hải Dương)

Mục đích, đề tài đưa ra các vấn đề khái quát chung về HĐLĐ và giaokết HĐLĐ, qua đó làm rõ sự điều chỉnh của pháp luật đối với HĐLĐ Ngoài

ra, đề tài đi sâu phân tích thực trạng pháp luật về giao kết, thực hiện HĐLĐtheo pháp luật hiện hành, để thấy rõ thực trạng giao kết HĐLĐ ở Công ty CPxuất nhập khẩu Hải Dương Trên cơ sở đó, đề tài đánh giá thực trạng, đưa ramột số nhận xét về tình hình giao kết HĐLĐ, đề xuất những kiến nghị nhằmhoàn thiện các quy định pháp luật về giao kết HĐLĐ từ thực tiễn tại Công ty

CP xuất nhập khẩu Hải Dương

Đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về giao kết HĐLĐ

- Khảo sát, phân tích, thực trạng pháp luật về giao kết, thực hiện HĐLĐtại Công ty CP xuất nhập khẩu Hải Dương

Trang 7

- Đề tài làm rõ những thành công và hạn chế việc áp dụng các quy địnhpháp luật trong giao kết, thực hiện HĐLĐ tại Công ty CP xuất nhập khẩu HảiDương.

- Đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui định pháp luật

về giao kết HĐLĐ, tiến tới xây dựng môi trường lao động an toàn, năng động,phù hợp với các công ty ở Việt Nam nói chung và Công ty CP xuất nhập khẩunói riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật làm nền tảng, các quan điểmchủ đạo của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực lao động làm phương pháp luậncho việc nghiên cứu

Ngoài ra, để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu, đề tài còn kết hợp

sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể khác nhau phù hợp với từngphần của đề tài như phương pháp phân tích, tổng hợp, sử dụng số liệu thống

kê, so sánh và đối chiếu, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn, điềutra, khảo sát một cách có hệ thống và nhất quán nhằm làm sáng tỏ vấn đề cầnnghiên cứu

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được

Trang 8

chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giao kết, thực hiện HĐLĐ

Chương 2: Thực trạng giao kết HĐLĐ tại Công ty CP xuất nhập khẩuHải Dương (Inimexco Hải Dương)

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy địnhpháp luật về giao kết, thực hiện HĐLĐ từ thực tiễn tại Công ty CP xuất nhậpkhẩu Hải Dương (Inimexco Hải Dương)

Trang 9

So với các ngành luật khác, pháp luật lao động ra đời muộn hơn

và trước đó quan hệ lao động là loại quan hệ chịu sự điều chỉnh của luật dân

sự Pháp luật Lao động là một ngành luật trong hệ thống pháp luật ViệtNam Hơn thế, quan hệ lao động được xác lập thông qua HĐLĐ, là đối tượngđiều chỉnh chủ yếu của pháp luật lao động Một số quốc gia quan niệm phápluật lao động thuộc hệ thống luật tư nên họ cho rằng, HĐLĐ là loại hợp đồngdân sự, chịu sự điều chỉnh của chế định về hợp đồng dân sự Pháp luật laođộng Đức chưa có điều luật nào quy định cụ thể riêng biệt về khái niệmHĐLĐ, mà coi nó là một loại hợp đồng dân sự Quan niệm về HĐLĐ ápdụng theo Điều 611 Bộ luật Dân sự Đức 1896 “thông qua hợp đồng, bên đãcam kết thực hiện một hoạt động thì phải thực hiện hoạt động đó, cònbên kia có nghĩa vụ trả thù lao theo thỏa thuận” Bản chất của HĐLĐ đãđược thể hiện một phần khái niệm của Điều 611, nhưng hạn chế là chưa chỉ rõchủ thể và nội dung của HĐLĐ Ở Pháp, khái niệm HĐLĐ được ghi nhậntrong án lệ “HĐLĐ là sự thỏa thuận, theo đó một người cam kết tiến hành mộthoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó vàđược trả công” (Bản án ngày 02/07/1954) Điều 1779 Bộ luật Dân sự năm

1804 về hợp đồng thuê dịch vụ và công nghệ, khoản 1 quy định: "Hợp đồngthuê NLĐ để phục vụ một người nào đó" và Điều 1780 về hợp đồng thuêmướn gia nhân và công nhân: "Chỉ được cam kết phục vụ theo thời gian hoặccho một công việcnhất định" “Nói chung, các quan niệm này đều coi HĐLĐthuần túy tương tự như một loại hợp đồng dịch vụ dân sự” Ưu điểm của kháiniệm này là đã chỉ ra một phần nội dung của HĐLĐ và sự lệ thuộc pháp lýcủa NLĐ đối với NSDLĐ, song cũng chưa xác định được vấn đề chủ thể vànội dung hợp đồng Như vậy hệ thống pháp luật của Pháp, Đức chỉ ghi nhận

Trang 10

HĐLĐ như là một dạng hợp đồng dân sự, có bản chất của hợp đồng dân sự.

Tổ chức quốc tế (ILO) đã định nghĩa HĐLĐ có tính chất khái quát và phảnánh được bản chất của HĐLĐ HĐLĐ là “ một thỏa thuận ràng buộc pháp lýgiữa NSDLĐ và một công nhân trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làmviệc” Ưu điểm của khái niệm này là chỉ rõ chủ thể và một số nội dung cơ bảncủa HĐLĐ, nhưng hạn chế ở việc thu hẹp chủ thể chỉ là công nhân

Ở Việt Nam HĐLĐ được ghi nhận trong các văn bản pháp lý, qua cácthời kỳ khác nhau, có thể thấy trong Sắc lệnh số 29/SL (12/3/1947) quyđịnh về việc tuyển chọn, quyền và nghĩa vụ của giới chủ và người làm công.HĐLĐ được thể hiện dưới hình thức “Khế ước làm công” Trong Thông tư số01/BLĐ-TB&XH ngày 09/01/1988 hướng dẫn thi hành Quyết định số217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng ban hành các chính sáchđổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xínghiệp quốc doanh về việc chuyển dần từng bước chế độ tuyển dụng vàobiên chế nhà nước sang chế độ HĐLĐ có quy định “HĐLĐ là sự thỏa thuậnbằng văn bản giữa giám đốc xí nghiệp và NLĐ về nghĩa vụ và quyền lợi, vềtrách nhiệm và quyền hạn của hai bên trong quá trình lao động do giám đốc

ký kết theo mẫu đính kèm thông tư này” Khái niệm chỉ rõ bản chất, hình thứccủa HĐLĐ bằng văn bản và xác định cụ thể thẩm quyền ký kết HĐLĐ cũngnhư trách nhiệm và quyền hạn của các bên, nhưng quy định định mọi trườnghợp đều phải ký kết HĐLĐ bằng văn bản là chưa hợp lý Ngày 30/8/1990,Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh HĐLĐ thì “HĐLĐ là sự thỏa thuậngiữa NLĐ với người sử dụng, thuê mướn lao động (gọi chung là NSDLĐ) vềviệc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng laođộng và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệlao động” Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm

1994, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 ( được sửa đổi, bổ sung ngày 2/4/2002,

có hiệu lực ngày 01/01/2003) là cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ laođộng, qua đó định nghĩa HĐLĐ như sau: “HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa laođộng và NSDLĐ về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa

Trang 11

vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” (Điều 26) Như vậy, khái niệmHĐLĐ là khá đầy đủ và rõ ràng Sau 15 năm thi hành, Bộ luật lao động về

cơ bản đã được thực tiễn cuộc sống chấp nhận Đây là cơ sở pháp lý cho cácchủ thể thiết lập quan hệ lao động Xuất phát từ thực tế về tình hình kinh tế xãhội của đất nước nói chung, của thị trường lao động nói riêng; trước yêu cầuhội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt là sau khi nước ta đã gia nhập WTO thìđòi hỏi Bộ luật Lao động cần phải được sửa đổi, bổ sung nhằm để điềuchỉnh các quan hệ lao động mới phát sinh, đồng thời thể chế hóa mục tiêu,quan điểm, định hướng xây dựng đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam vàchiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020 Mặc khác, định hướng sửađổi bổ sung Hiến pháp năm 1992 phù hợp với các luật chuyên ngành liênquan đến Bộ luật Lao động như Bộ luật dân sự năm 2005, luật công ty năm

2005, Luật thương mại năm 2005, Luật cán bộ, công chức năm 2008,Luật Viên chức năm 2010, Luật Công đoàn đang trong quá trình sửa đổi.Xuất phát từ nhiều vấn đề đã nêu trên, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIIInước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật lao độngngày 2/7/2012, có hiệu lực ngày 01/5/2013 bao gồm 17 chương và 242 điều

Bộ luật lao động 2012 định nghĩa về HĐLĐ như sau: “HĐLĐ là sự thỏa thuậngiữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền vànghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” (Điều 15) Như vậy, khái niệmHĐLĐ của Bộ luật Lao động thể hiện tính khái quát hơn và phản ánh đượcbản chất của HĐLĐ, các yếu tố cơ bản cấu thành nên HĐLĐ Như vậy, kháiniệm về HĐLĐ trong thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau và tựu chunglại là kết quả của sự thỏa thuận giữa NSDLĐ với NLĐ Đó là sự thống nhất ýchí của các bên về nội dung của hợp đồng mà các bên muốn đạt được “Đây làloại quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động phổbiến trong nền kinh tế thị trường”.Có thể nhận thấy rằng, khái niệm HĐLĐđược nhiều nước trên thế giới nhìn nhận chưa hoàn toàn giống nhau Một sốnước chia thành luật công, luật tư như Đức, Pháp HĐLĐ chịu ảnh hưởnghợp đồng dân sự, mặc dù quan hệ lao động được điều chỉnh chủ yếu bởi một

Trang 12

hệ thống pháp luật độc lập và riêng biệt Ở nước ta, khái niệm về HĐLĐ chỉ

ra được chủ thể, nội dung của HĐLĐ, từ đó có thể phân biệt được so với hợpđồng dân sự

1.1.2 Đối tượng áp dụng HĐLĐ

1.1.3 Đối tượng áp dụng HĐLĐ

HĐLĐ áp dụng với tất cả những NLĐ thuộc mọi thành phần kinh tế, kể

cả NLĐ làm việc trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp mà khôngphải là công chức, viên chức

1.1.4 Đối tượng không áp dụng HĐLĐ gồm

- Những người thuộc đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh cán bộ, côngchức; Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2004: 2 32-40 Trường Đại học Cần Thơ

33 - Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp chuyên trách, người giữ cácchức vụ trong cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp,Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân được Quốc hội hoặc HĐND cáccấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ;

- Người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng giámđốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng trong công

ty Nhà nước;

- Thành viên Hội đồng quản trị công ty;

- Những người thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội hoạtđộng theo quy chế của tổ chức đó; - Cán bộ chuyên trách công tác đảng, côngđoàn, thanh niên trong các công ty nhưng không hưởng lương của công ty;

- Xã viên hợp tác xã theo Luật hợp tác xã không hưởng tiền lương, tiềncông;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và viên chứctrong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân

1.1.5 Nội dung, hình thức và các loại HĐLĐ

HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công việc phải làm,thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời hạnhợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội

Trang 13

đối với NLĐ Điều 28 Bộ luật lao động quy định có 2 hình thức: hợp đồngbằng văn bản và hợp đồng bằng miệng

Căn cứ vào tính chất và thời hạn mà hai bên chọn hình thức HĐLĐ nào

đó cho phù hợp Theo pháp luật lao động nước ta thì HĐLĐ có ba loại sauđây:

(a) HĐLĐ không xác định thời hạn HĐLĐ không xác định thời hạn làhợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứthiệu lực của hợp đồng;

(b) HĐLĐ xác định thời hạn HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng màtrong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồngtrong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

(c) HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạndưới 12 tháng 2

1.1.6 Ý nghĩa HĐLĐ

HĐLĐ là một chế định quan trọng vào bậc nhất của luật lao động, làxương sống của pháp luật lao động, là một chương không thể thiếu trong Bộluật lao động của bất kỳ nước nào trên thế giới, trong có nước ta, vì vậyHĐLĐ có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội

- Đối với NLĐ: Hợp đồng lao đồng là mét trong những hình thức pháp

lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc, tự do tự nguyện chọnviệc làm cũng như nơi làm việc

- Đối với NSDLĐ: HĐLĐ là cơ sở để các công ty, cơ quan, tổ chức và

cá nhân tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình Đồng thời việcquy định các chế độ tiền lương, tiền thưởng và các phúc lợi khác hợp lý tronghợp đồng lao đồng sẽ là động lực thúc đẩy NLĐ làm việc với hiệu suất cao để

từ đó góp phần phát triển kinh tế cho đất nước và nâng cao thu nhập cho từngNLĐ để đảm bảo tái sản xuất mở rộng

- Đối với Nhà nước:

Trang 14

+ HĐLĐ giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý được lựclượng lao động trong biên chế và ngoài biên chế Đó là cơ sở pháp lý để cơquan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện của cácchủ sử dụng lao động.

+ Do có tính pháp lý chặt chẽ trong hợp đồng lao đồng nên việc chi trảlương hàng tháng cho NLĐ thường duy trì ổn định góp phần ổn định kinh tếđất nước

+ Vì mỗi gia đình là một “tế bào” của xã hội nên khi NLĐ có kinh tế(thu nhập) ổn định thì xã hội tất yếu sẽ được duy trì, khi đó an ninh chính trịđược giữ vững và các tệ nạn xã hội sẽ hạn chế

+ Đồng thời khi NLĐ có mức sống cao hơn và họ sẽ quan tâm nhiềuhơn đến vấn đề giáo dục và văn hoá do đó họ sẽ đầu tư nhiều cho sự nghiệpgiáo dục khi đó nhận thức của toàn xã hội sẽ được nâng cao và góp phần trựctiếp vào việc duy trì ổn định đời sống xã hội và gián tiếp thúc đẩy nền kinh tếphát triển

1.2 Pháp luật Việt Nam qui định về giao kết HĐLĐ

1.2.1 Khái niệm giao kết HĐLĐ

Giao kết HĐLĐ là giai đoạn đầu tiên thể hiện sự hợp tác của các bên để

đi đến sự thống nhất ý chí nhằm tạo lập quan hệ lao động, là quá trình để cácbên tìm hiểu, đánh giá về nhau một cách trực tiếp từ đó chọn lựa và ra quyếtđịnh chính thức Quan hệ lao động có được hình thành bền vững, hiểu biết, tincậy lẫn nhau hay không, quyền lợi các bên có được đảm bảo hay không, lệthuộc lớn vào giai đoạn này Để xác lập quan hệ lao động hài hòa, ổn địnhtrên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, các bên cần có ý thức thiện chí khi thươnglượng Vậy giao kết HĐLĐ là hành vi pháp lý của hai bên nhằm thể hiện ý chítheo trình tự, thủ tục nhất định để xác lập quan hệ lao động

1.2.2 Nguyên tắc giao kết HĐLĐ

Theo Điều 17 BLLĐ năm 2012 quy định các nguyên tắc giao kết

Ngày đăng: 06/11/2017, 20:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w