1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại và nước ngoài trong chương trình THPT

76 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện của con ngườ

Trang 1

Lời Cảm Ơn

Em xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Thị Nga người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới Qúy thầy cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội, quý thầy cô của Trường Đại học Quảng Bình đã tạo moị điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa học vừa qua

Thiết tha bày tỏ lòng tri ân sâu nặng tới gia đình, là suối nguồn niềm tin và khát vọng của em Cảm ơn bạn bè đã chia sẻ, động viên và giúp đỡ mình trong suốt thời gian qua

Chân thành cảm ơn!

Người viết Phạm Thị Bích Thủy

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, Tiến sĩ – GVC Nguyễn Thị Nga Các tài liệu, những nhận định ghi trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đồng Hới, tháng 5 năm 2017

Người viết khóa luận

Phạm Thị Bích Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của khóa luận 4

7 Cấu trúc khóa luận: 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 5

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Khái niệm nhân vật văn học 5

1.2 Vai trò của nhân vật văn học 6

1.3 Phân loại nhân vật văn học 8

1.3.1 Xét từ góc độ kết cấu 8

1.3.2 Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật 8

1.3.3 Xét từ góc độ thể loại 9

1.3.4 Xét từ góc độ chất lượng miêu tả 9

1.4 Nhân vật người kể chuyện 10

1.4.1 Khái niệm người kể chuyện 10

1.4.2 Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện 12

1.5 Truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài ở chương trình Ngữ văn THPT 13

CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN 15

VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Ở CHƯƠNG TRÌNH THPT 15

2.1 Vai trò của văn học Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT 15

2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình THPT 16

2.2.1 Nhân vật người kể truyện 16

2.2.2 Nhân vật trung tâm 33

CHƯƠNG 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN 53

Trang 4

NƯỚC NGOÀI Ở CHƯƠNG TRÌNH THPT 53

3.1.Vai trò của văn học nước ngoài trong chương trình Văn học ở trường THPT 53

3.2.Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn nước ngoài ở chương trình THPT 55

3.2.1 Nhân vật người kể chuyện 55

3.2.2 Nhân vật trung tâm 59

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, một loại người, một vấn đề nào đó của hiện thực Vì thế, nhân vật chính là người dẫn dắt bạn đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định

Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,

đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…

Hình tượng nhân vật là linh hồn làm nên sức sống, giá trị của tác phẩm Tiếp nhận một tác phẩm văn học, điều đọng lại sâu sắc, mạnh mẽ trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, diễn biến tâm trạng, dòng cảm xúc, suy nghĩ của những con người trong tác phẩm được nhà văn dày công thể hiện Thế giới nhân vật trong chương trình Ngữ văn THPT như là cầu nối giữa tác giả, tác phẩm với tâm hồn các

em

Mỗi một nền văn học của một quốc gia, dân tộc do lịch sử hình thành và phát triển đều có những ưu điểm riêng của mình Tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá, văn học của nhân loại là một trong những cách thức để một dân tộc tự làm phong phú thêm nền văn học của mình

Trong chương trình Ngữ văn THPT, các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại

và nước ngoài chiếm số lượng tương đối lớn, học sinh tiếp nhận những tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT với nhiều mục đích, với những cung bậc tình cảm khác nhau Tuy vậy, phải nói rằng dù là tiếp nhận dưới những hình thức nào nhân vật vẫn là yếu tố trung tâm làm nên sức cuốn hút, giúp học sinh nhớ lâu hơn về tác phẩm

Tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài giúp các em hiểu rõ hơn về nhân vật từ đó vận dụng vào quá trình học tập, góp phần khẳng định rõ hơn giá trị của văn học đối với các em

Từ những lý do đó, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài trong chương trình THPT” để nghiên cứu Hi vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên và học sinh ở bậc THPT

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu

Nhân vật văn học là một trong những yếu tố trung tâm trong tác phẩm văn xuôi

tự sự Nhân vật văn học chính vì vậy từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình Có thể kể đến công trình “Lý luận văn học” của Hà Minh Đức (chủ nhiệm) Trong công trình, tác giả đề cập đến những yếu tố nghệ thuật tạo thành một tác phẩm chỉnh thể Trong đó có yếu tố nhân vật nghệ thuật Tác giả cho rằng: “văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng” Công trình đã cho ta một cách nhìn đúng về nhân vật văn học Đây là cơ sở để xác định vai trò nhân vật trong truyện ngắn của đề tài

Đã có rất nhiều tài liệu về khái niệm và đặc trưng của truyện ngắn Tiêu biểu có thể kể đến ý kiến của Gulaiép, Pospêlốp, Hà Minh Đức, Nguyễn Công Hoan, Vương Trí Nhàn, Bùi Việt Thắng Những ý kiến về truyện ngắn ở các tài liệu nêu trên rất phong phú đa dạng, song về cơ bản có hai loại:

- Nêu những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn: từ những vấn đề mang tính lí luận (như vai trò, khả năng, phạm vi khám phá, cách thức chiếm lĩnh đời sống…) đến những vấn đề cụ thể (kết cấu, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, chi tiết…)

- Trình bày kinh nghiệm viết truyện ngắn Loại ý kiến này thường là các tác giả

có nhiều thành công với truyện ngắn Họ trình bày lại quá trình viết các tác phẩm và

từ đó rút kinh nghiệm, bài học sáng tác Loại ý kiến này không trực tiếp phục vụ cho việc giải quyết đề tài, nhưng ít nhiều cũng là những gợi ý cần thiết cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu các sáng tác cụ thể, phục vụ cho việc khái quát lý thuyết

Những công trình nghiên cứu về các vấn đề lí thuyết của truyện ngắn từ sau

1945 đến nay, phải kể đến luận án TS của Phùng Ngọc Kiếm: Con người trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Luận án đi sâu nghiên cứu quan niệm nghệ

thuật về con người trong truyện ngắn giai đoạn này (bộ phận cách mạng) Trong đó tác giả đề cập tới một số các vấn đề thi pháp truyện ngắn như: cốt truyện, ngôn ngữ, nhân vật… nhằm lý giải sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về con người đối với

các phương diện nghệ thuật Luận án TS của Nguyễn Khắc Sính: Phong cách thời đại trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã tập trung khảo sát sự tác động,

ảnh hưởng của thời đại đối với truyện ngắn trên các phương diện như giá trị thẩm mỹ, chất trữ tình, chất hiện thực và quá trình vận động của các yếu tố này trong truyện

ngắn 1945 – 1975 Hay một công trình mới cuốn sách Tiểu thuyết và truyện ngắn Việt

Trang 7

Nam từ năm 1975 đến nay (NXB Đại học Vinh), cuốn sách đề cập đến những đổi thay của văn học từ sau năm 1975, đặc biệt là từ sau năm 1986, khi đất nước ta chuyển mình theo trào lưu Đổi mới Trong bức tranh chung của văn học, tiểu thuyết và truyện ngắn đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình Cùng với tư duy, đổi mới quan niệm về hiện thực và con người, cảm thông sâu sắc với những câu chuyện đời tư thế sự, các nhà văn cũng không ngừng tìm tòi, đổi mới hình thức nghệ thuật, trong đó có những thể nghiệm táo bạo, mới mẻ Làm nên sự khởi sắc của văn xuôi thời kỳ này là hàng loạt những cây bút được đánh giá cao như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Thị Thu Huệ Các công trình nghiên cứu trên ít nhiều có sự gặp gỡ với đề tài của chúng tôi

Còn có các bài viết về từng tác phẩm ở các báo, tạp chí Loạt bài này có tác dụng giúp chúng tôi nhìn thấy được sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật, cũng như sự trưởng thành của một tác giả trong sự phát triển của một thời kì nhất định

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu nhân vật ở sách giáo khoa trong chương trình Ngữ văn THPT,

vì vậy đề tài “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài ở chương trình THPT” góp phần khái quát hóa hình tượng nhân vật truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài ở chương trình THPT

3 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu thế giới nhân vật trong các tác phẩm truyện ngắn

Việt Nam hiện đại và nước ngoài trong chương trình THPT

4 Phạm vi nghiên cứu

Các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại được viết sau 1945, và nước ngoài trong sách giáo khoa chương trình Ngữ văn THPT lớp 11 (tập 2), lớp 12 (tập 1, 2), Nxb Giáo dục

5 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình triển khai việc nghiên cứu đề tài, người viết sử dụng các phương pháp

và thao tác sau đây:

Phương pháp đọc sách và tài liệu

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phương pháp so sánh

Phương pháp khảo sát thống kê

Phương pháp phân loại

Trang 8

6 Đóng góp của khóa luận

Chúng tôi đã tiến hành hệ thống hóa những tác phẩm truyện ngắn trong chương trình THPT và tiến hành phân tích đặc điểm của thế giới nhân vật ở các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài trong chương trình THPT, từ đó góp phần giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về bản chất và giá trị của các kiểu nhân

vật trong các tác phẩm

Đề tài góp phần nâng cao kiến thức cho người nghiên cứu, là tài liệu tham khảo

bổ ích cho sinh viên các trường ĐH, CĐ khối ngành sư phạm; học sinh và giáo viên THPT

7 Cấu trúc khóa luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Phần nội dung của đề tài gồm

có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình THPT

Chương 3: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn nước ngoài ở chương trình THPT

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm nhân vật văn học

Nhân vật là khái niệm được dùng trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu nhất vẫn là nghệ thuật Về khái niệm nhân vật văn học, giới nghiên cứu, phê bình đã đưa ra khá

nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân quan niệm:“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người Một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [1,tr.241] Với khái niệm này, tác giả đã xem xét nhân vật trong mối

tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, khuynh hướng, trường phái văn học

Các tác giả trong Từ điển văn học lại nhìn nhận nhân vật ở khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với nội dung và hình thức của tác phẩm: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” [12,tr.86]

Trong giáo trình Lý luận văn học, GS Trần Đình Sử cho rằng: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều,… Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào trong “Truyện Kiều”, những

kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất Đó có thể là những con người được miêu tả

Trang 10

đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.[…] Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm.[…] Nhưng chủ yếu vẫn là con người trong tác phẩm.[…] Nhân vật văn học là một hiện tượng ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra” [13,tr.277-278] Có thể nói, đây là quan niệm khá cụ thể, chi tiết về nhân vật văn học Còn đây là cách nhìn nhận về nhân vật của GS Hà Minh Đức: “Nhân vật văn học

là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [4,tr.126]

F Đôxtôiepxki thì cho rằng, với văn học, toàn bộ vấn đề là ở tính cách, nghĩa là nếu nhà văn xây dựng được nhân vật có khả năng “găm” nó vào trí nhớ người đọc thì

đó là dấu hiệu của sự thành công

Những quan niệm này nhìn nhận nhân vật ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung vẫn có sự gặp gỡ nhau ở một số điểm nhất định như: nhân vật là đối tượng

mà văn học miêu tả, được xây dựng bằng những phương tiện nghệ thuật nhằm phản ánh đời sống hiện thực; là yếu tố cơ bản nhất của tác phẩm, mang tính ước lệ Với tầm quan trọng quan trọng như thế, nhân vật trở thành đối tượng không thể bỏ qua khi tìm hiểu, nghiên cứu sáng tác của một nhà văn nào đó

1.2 Vai trò của nhân vật văn học

Nhân vật là thành tố quan trọng, là “tín hiệu thẩm mĩ lớn nhất củatruyện”, quyết

định lớn đến sự thành công hay thất bại của tác phẩm văn học Vai trò của nhân vật được thể hiện cụ thể ở một số bình diện cơ bản sau:

Trang 11

Thứ nhất, nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát những quy luật của đời sống, thể hiện sự nhận thức, lí giải và ước mơ về con người Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là nhằm thể hiện những con người xã hội cụ thể, cá biệt đồng thời qua đó, bộc lộ quan niệm về chính những cá nhân ấy Nói khác đi, nhân vật là phương tiện để khái quát các loại tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng

Về cơ bản, nhân vật dưới mọi hình thức biểu hiện đều thường có tính cách Trên một ý nghĩa khái quát nhất, tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội lịch sử của con người thông qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của họ Tính cách là một hiện tượng xã hội lịch sử, lịch sử, do đó chức năng định hướng giá trị của nhân vật cũng mang tính lịch sử

Thứ hai, nhân vật là “công cụ” dẫn dắt ta vào một thế giới đời sống Nói khác đi,

nó là chiếc chìa khóa quan trọng giúp nhà văn mở rộng các mảng đề tài mới, rộng lớn

và sâu sắc Mỗi nhân vật văn học sẽ cung cấp cho nhà văn và bạn đọc một điểm nhìn

để khám phá đời sống

Thứ ba, nhân vật là nơi thể hiện tư tưởng, quan niệm nghệ thuật cũng như lý

tưởng thẩm mĩ của tác giả về cuộc đời và về con người “Nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời, xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu là và thể hiện sự sáng tạo của nhà văn, cách hiểu về cuộc đời của tác giả đối với con người” [10,tr.96] Thông qua nhân vật,

nhà văn bao giờ cũng gửi gắm, một quan niệm, một triết lí nào đó về đời sống và về

con người Chẳng hạn, các nhân vật của Victor Hugo trong Những người khốn khổ và Nhà thờ Đức Bà thể hiện rõ tư tưởng chống pháp luật bất công và định kiến xã hội

Trong các sáng tác của văn học hiện đại, nhân vật thường là nơi thể hiện trạng thái

nhân sinh nào đó Qua nhân vật Santiago trong Ông già và biển cả, Hemingwey đã ca

ngợi bản lĩnh kiên cường, tinh thần không cam chịu thất bại của con người…

Thứ tư, nhân vật đóng vai trò quyết định tạo nên mối liên kết giữa các yếu tố

thuộc hình thức của tác phẩm Nói như G N Pospelov thì: “Nhân vật là phương diện

có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [13,tr.157] Với chức năng này, nhân

vật góp phần quan trọng trong việc tạo nên tính chỉnh thể sống động của tác phẩm văn học

Trang 12

Như vậy, những nhận thức về nhân vật văn học và vai trò của nó như đã trình bày

ở trên là vô cùng cần thiết đối với người nghiên cứu Hệ thống các khái niệm vừa nêu

sẽ là nền tảng lí luận cơ sở vững chắc, phục vụ đắc lực cho quá trình nghiên cứu đề tài khoa học đã chọn

1.3 Phân loại nhân vật văn học

1.3.1 Xét từ góc độ kết cấu

Dựa vào vị trí, vai trò của nhân vật trong kết cấu tác phẩm văn học, người ta chia

nhân vật văn học thành: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ

Nhân vật chính: Là nhân vật đóng vai trò then chốt trong truyện Đó là những

con người liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của tác phẩm Các nhân vật Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn

Thư là nhân vật chính trong Truyện Kiều; Chí Phèo, Bá Kiến trong Chí Phèo; Chiến tranh và hoà bình có hàng chục nhân vật chính…

Nhân vật trung tâm: Là loại nhân vật quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là

nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm có ý nghĩa xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối Các nhân vật: Đôn Kihôtê (Đônkihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra); Tào

Tháo, Lưu – Quan – Trương, Tôn Quyền ( Tam quốc diễn nghĩa); Thuý Kiều (Truyện Kiều), Chí Phèo (Chí Phèo), chị Sứ (Hòn đất)… có thể xem là những nhân vật trung

tâm của tác phẩm

Nhân vật phụ: Là nhân vật mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ

trợ, bổ sung nhưng không thể coi nhẹ nhân vật phụ Nhân vật phụ làm nhiệm vụ soi sáng cho nhân vật trung tâm, vấn đề trung tâm của tác phẩm, góp phần thể hiện sự đa dạng, sinh động của bức tranh đời sống được miêu tả Likhazev cho rằng: “Vai trò của

các nhân vật phụ thường là ở chức năng dây cót là cho bộ máy của cốt truyện vận

động” Có thể thấy đặc điểm này qua nhân vật: Thuý Vân, Vương Quan, vãi Giác

Duyên (Truyện Kiều); Binh Chức, Năm Thọ, Thị Nở (Chí Phèo); thầy thơ lại (Chữ người tử tù).…

1.3.2 Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật

Xét về phương diện nội dung tư tưởng, về quan hệ thuận – nghịch đối với lí

tưởng, có thể chia nhân vật thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện

Nhân vật chính diện (nhân vật tích cực): Đối lập với nhân vật phản diện, là

nhân vật thể hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao

Trang 13

cả của con người được nhà văn miêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một quan điểm tư tưởng, một lí tưởng - xã hội thẩm mĩ nhất định Chẳng hạn, các nhân vật

Nữ Oa, Thánh Gióng, Thạch Sanh, Sọ Dừa, anh Khoai; các nhà nho, các bậc trượng

phu tiết tháo, những anh hùng cứu nước

Nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực): Là nhân vật mang những tính cách xấu

xa, trái với đạo lí và lí tưởng của con người, được nhà văn miêu tả trong tác phẩm với thái độ chế giễu, lên án, phủ định Có thể thấy rõ kiểu nhân vật này thông qua hình

tượng: mẹ con Cám (trong truyện Tấm Cám), Mã Giám Sinh, Sở Khanh (trong Truyện Kiều)…

1.3.3 Xét từ góc độ thể loại

Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch

Nhân vật tự sự là nhân vật được miêu tả theo phương thức tự sự, chủ yếu xuất

hiện trong các tác phẩm tự sự như trong tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện thơ Đây là nhân vật có thể được miêu tả đầy đặn nhất, phong phú nhất, ít bị hạn chế nhất

Nhân vật kịch là nhân vật được miêu tả theo phương thức kịch, chủ yếu xuất

hiện ở trong kịch Vì kịch viết là để diễn bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên nhân vật kịch chỉ được miêu tả ở những khâu xung đột căng thẳng nhất Do đó nhân vật kịch giàu kịch tính, góp phần tạo nên tính kịch của vở kịch Các nhân vật có tính kịch trong tự sự là loại nhân vật gần gũi với nhân vật kịch

Nhân vật trữ tình là nhân vật được xây dựng theo phương thức trữ tình, trực tiếp

thể hiên cảm xúc, ý nghĩ trong tác phẩm Nhân vật trữ tình thường xuất hiện dưới dạng phiến đoạn trong nhiều thể loại khác nhau như thơ trữ tình, bút kí, tùy bút nhưng chủ yếu là thơ trữ tình và thường gọi là “cái tôi trữ tình”

1.3.4 Xét từ góc độ chất lượng miêu tả

Có thể phân thành các loại: nhân vật, tính cách, điển hình

Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm Ở đây, nhà

văn có thể chỉ mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành động…cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét

Trang 14

Tính cách là nhân vật được khắc họa với một chiều sâu bên trong Nó như một

điểm quy tụ mà từ đó có thể lý giải được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngoài của nhân vật

Điển hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái

chung và cái riêng, cái khái quát và cái cụ thể…Nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ này chỉ được áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau

Ngoài những loại nhân vật được trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm khác

về nhân vật qua các trào lưu văn học khác nhau Chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật - con vật người trong chủ nghĩa

tự nhiên, nhân vật - phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa ở phương Tây

1.4 Nhân vật người kể chuyện

1.4.1 Khái niệm người kể chuyện

Văn học là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Mỗi tác phẩm văn học là một mảng hiện thực đời sống môn màu của con người, được thể hiện qua cái nhìn, qua cảm nhận đánh giá mang tính chất chủ quan của nhà văn Tác phẩm văn học bao giờ cũng chứa đựng một thái độ tư tưởng, lập trường quan điểm và sự sáng tạo nào đó của nhà văn đối với đời sống Mỗi thể loại văn học đều có những nguyên tắc riêng trong việc tái hiện và chiếm lĩnh hiện thực Trong tác phẩm trữ tình, đó là nguyên tắc chủ

quan - “nguyên tắc tái hiện và thuyết phục người đọc” [10, tr 732] Ngược lại, trong

tác phẩm tự sự, nguyên tắc khách quan lại là nguyên tắc cốt lõi Nguyên tắc khách quan trong tác phẩm tự sự góp phần quan trọng trong việc xác lập hệ giá trị của tác phẩm Tác phẩm tự sự từ đầu đến cuối do tác giả viết, nhưng lại được kể từ một người nào đó Người đứng ra kể trong tác phẩm tự sự được gọi bằng các tên như người trần thuật, người thuật chuyện, người dẫn chuyện, người kể chuyện, chủ thể trần thuật, chủ thể kể chuyện…

Người kể chuyện là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, là phương diện quan trọng

để thể hiện quan điểm nghệ thuật của mình Theo Lê Bá Hán: “Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó

Trang 15

Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người người kể chuyện” [9, tr 221] Cùng quan điểm trên, GS Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [15, tr 153] Trong bất kì tác phẩm nào cũng có người kể chuyện Anh ta có mặt khắp

mọi nơi, ở mọi lúc để giới thiệu nhân vật, để kể lại các sự kiện và thể hiện chiều sâu tâm lý nhân vật Anh ta có thể quan sát nhân vật từ nhiều góc độ, khi đứng bên ngoài, khi thâm nhập vào nội tâm nhân vật, để sau đó rút ra ý nghĩa nhân sinh cho câu

chuyện GS Lê Ngọc Trà nhấn mạnh: “Người kể chuyện và tác giả không phải là một Không nên đồng nhất người kể chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả xưng “tôi” đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn toàn đứng ngoài sự vận động của các sự kiện, các tình tiết” [15, tr 153] Có nghĩa là, khi tác giả hòa nhập vào nhân vật đến mức

quên cả bản thân, thì người kể chuyện và tác giả vẫn không phải là một - Người kể

chuyện là sản phẩm sáng tạo của nhà văn TZ Todorov chỉ rõ đặc điểm “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới trong tưởng tượng(…) không thể

có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể chuyện, nhân vật nhân danh cuốn sách được kể có vị trí hoàn toàn đặc biệt” [11, tr 116] Thực chất kể chuyện là hoạt động hội thoại giữa người kể chuyện và

người nghe chuyện Người kể có thể kể về mình (kể về ngôi thứ nhất), hoặc kể về người khác (ngôi thứ ba), cũng có thể kể về ngôi thứ hai (kể về người nghe)

Người kể chuyện trong tác phẩm có nhiều dạng, hoặc vô hình hoặc lộ diện với nhiệm vụ dẫn dắt, miêu tả và kể lại diễn biến đầu đuôi câu chuyện Anh ta như chiếc cầu nối tạo mối quan hệ trung gian giữa nhân vật - người kể chuyện - độc giả Người

kể có thể dừng mạch kể để phân tích, bình luận những thay đổi của hoàn cảnh, diễn

biến tâm lí của nhân vật Người kể chuyên có vai trò lớn “Trong tác phẩm tự sự vấn

đề người kể chuyện có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhờ hình thức trần thuật tác giả có thể trực tiếp phát biểu những cảm nghĩ, nhận xét của mình về nhân vật, về sự kiện được mô tả và về cuộc đời chung”[15, tr 154] Truyện có nhiều chủ thể kể chuyện, có

vai trò không giống nhau Đó là ý đồ của nhà văn trong việc mở rộng điểm nhìn Từ nhiều góc độ nhìn khác nhau về nhân vật, về sự kiện sẽ tạo điều kiện cho độc giả ít bị

lệ thuộc vào các nhìn, cũng như lập trường quan điểm Vì thế truyện kích thích cao nhất khả năng cảm thụ “nghiền ngẫm độc lập” của độc giả, hơn nữa tránh được lối kể đơn điệu, cố định, ít đổi giọng trong suốt tác phẩm

Trang 16

1.4.2 Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện

Trong tác phẩm tự sự, chủ thể kể chuyện có thể xuất hiện dưới các hình thức sau: 1/ Chủ thể kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba (vô nhân xưng); 2/ Chủ thể kể chuyện kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất (lộ diện)

Kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba, chủ thể hoàn toàn ở ngoài cốt truyện, không phụ thuộc vào thế giới của các nhân vật truyện, mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi nhân vật, dẫn dắt, đứng sau hành động để quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố truyện Do tính chất hướng ngoại của nhân vật nên điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết là từ bên ngoài Chủ thể xuất hiện ở ngôi thứ ba, luôn có một vị trí tốt nhất để theo dõi, dẫn dắt nhân vật Nhân vật ít có những

cơ hội để phát biểu, suy ngẫm hoặc hồi tưởng Chủ thể kể chuyện chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn truyện, cách kể, cách tả đến cả lời trữ tình ngoại đề Chẳng hạn, chủ thể kể chuyện trong truyện dân gian, lời kể của chủ thể chiếm phần lớn so với lời của nhân vật Người kể chuyện có thể thêm bớt ít nhiều lời kể của nhân vật, sự kiện, biến

cố mà không ảnh hưởng đến cốt truyện, từ đó tạo nên tính dị bản của truyện Người nghe phải tưởng tượng rất nhiều để hình dung đầy đủ về cuộc đối thoại của nhân vật Người kể vừa là người truyền đạt, vừa diễn xướng tác phẩm, vừa là đồng tác giả, vừa

là người tham gia sáng tạo lại Người kể trực tiếp giao lưu với người nghe Người nghe vừa là người thưởng thức, vừa là người tham gia vào quá trình sáng tạo tiếp Người kể

và người nghe gần gũi đồng cảm với nhau Chủ thể kể chuyện trong truyện dân gian không để lại bất kì một dấu vết nào của riêng mình mà hòa mình vào tập thể

Với văn học viết, truyện kể từ ngôi thứ ba cơ bản tác giả vẫn sử dụng phương thức trần thuật khách quan kiểu “vô nhân xưng” Trong truyện kể ngôi thứ ba tác giả vẫn cố giấu mình, mặc dù câu chuyện là sản phẩm của chính mình Tuy nhiên, thông qua chủ thể kể, người đọc vẫn nhận thấy được thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện ở mức độ đậm nhạt khác nhau Cái nhìn của chủ thể kể luôn hướng ngoại theo nhân vật Chủ thể kể là người biết mọi chuyện, luôn theo dõi nhân vật, sự kiện nhưng

không tham gia trực tiếp vào câu chuyện Chẳng hạn Truyện Kiều của Nguyễn Du là

truyện được kể Câu chuyện xoay quanh nhân vật Thúy Kiều suốt 15 năm lưu lạc Lời

kể của chủ thể kể chuyện ẩn mình dưới dạng “vô nhân xưng” là chủ yếu, chỉ dành rất ít

ỏi cho Vương Quan kể về Đạm Tiên, kể về Thúy Kiều và Thúy Kiều tự kể về mình Toàn truyện là lời kể của chủ thể kể truyện vô hình suy ngẫm về thân phận Thúy Kiều

Trang 17

Ngược lại, kể chuyện theo kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất “xưng tôi” thì chủ thể kể chuyện lại chủ động thực hiện nhiệm vụ dẫn chuyện, có thể tự đứng ra

kể chuyện mình, kể chuyện người khác, hoặc cùng tham gia kể chuyện với các nhân vật khác, hoặc chủ động ủy quyền cho nhân vật tự kể Chủ thể kể chuyện được cá thể hóa “Tôi” chủ thể kể chuyện là một trong các nhân vật của truyện, là người bình luận

từ bên trong, đồng thời cũng là người tham gia sự việc đang diễn ra Điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết hướng nội do tính chất hướng nội của nhân vật Ở vị trí điểm nhìn này, nhân vật được soi rọi từ bên trong, chủ thể kể dễ dàng tái hiện sinh động thế giới tâm hồn nhân vật, chủ động đối thoại để nhân vật nói lên ý nghĩ của mình Khi chủ thể kể chuyện hướng nội xưng “tôi’ ngôi thứ nhất thì điểm nhìn của chủ thể kể chuyện và nhân vật trùng nhau, người kể trở thành nhân vật chính của truyện Người đọc khó phân biệt rõ ràng nhân vật nói hay người kể chuyện nói Trường hợp chủ thể kể chuyện đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện thì người kể chỉ là một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm người trung gian tưởng tượng ra giúp người đọc về cái được miêu tả Chủ thể kể luôn giữ vai trò trung gian của một người đã chứng kiến

sự việc, hạn chế đến mức tối đa việc bộc lộ cảm xúc để tạo điều kiện cho câu chuyện được kể mang tính khách quan Trường hợp chủ thể kể chuyện xưng “tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó anh ta vừa là người dẫn chuyện vừa là một nhân vật thì cái

“tôi” của người kể có mức độ các thể hóa cao Tác giả nhập vào chủ thể “tôi’ với vai trò người dẫn, vừa đóng vai nhân vật xuất hiện cùng với các nhân vật khác trong truyện, vừa chứng kiến vừa tham gia nói chuyện với các nhân vật truyện Trường hợp chủ thể kể chuyện xưng “tôi” vừa kể chuyện vừa bình luận thì chủ thể kể chuyện không phải là nhân vật, anh ta chỉ song song đồng hành với nhân vật chính, gần gũi với nhân vật chính, đôi khi nhập vào đời sống nhân vật để theo suy tưởng, có thể nói trong tác phẩm tự sự, chủ thể kể chuyện xưng “tôi” với ngôi thứ nhất (lộ diện) xuất hiện với nhiều kiểu dạng khác nhau Chính kiểu trần thuật “chủ quan hóa” với ngôi thứ nhất xứng “tôi”, lời của chủ thể kể chuyện làm cho tác phẩm tự sự trở nên đa thanh, đa giọng điệu

1.5 Truyện ngắn Việt Nam hiện đại và nước ngoài ở chương trình Ngữ văn THPT

Trong chương trình Ngữ văn THPT, cung cấp hai dòng văn học là văn học viết

và văn học dân gian (văn học viết là chủ yếu), với số lượng lớn có hơn 90 tác phẩm văn học Trong đó, tác phẩm văn xuôi chiếm hơn một nửa số lượng (45 bài)

Trang 18

Tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại được viết sau 1945 cũng chiếm số lượng lớn 7 bài, (trong tổng số 10 truyện ngắn Việt Nam) Truyện ngắn nước ngoài cũng chiếm số lượng tương đối lớn 4 bài (trong tổng số 10 tác phẩm văn học nước ngoài có trong chương trình THPT), bao gồm văn học Mỹ, Nga và Trung Quốc Được

bố trí giảng dạy chủ yếu ở chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm được đưa vào giảng dạy đều mang nội dung, tư tưởng, nghệ thuật đặc sắc, có ý nghĩa giáo dục cao Nội dung các tác phẩm thể hiện được tinh thần đấu tranh kiên cường của dân tộc Việt Nam qua các cuộc đấu tranh kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nêu gương những anh hùng dân tộc, xả thân vì nghĩa lớn, thể hiên những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống, ước mơ khám phá tự nhiên và thể hiện chân lí cái thiện thắng cái ác, cái cao cả thắng cái thấp hèn Mỗi một nền văn học của một quốc gia, dân tộc do lịch sử hình thành và phát triển đều có những ưu điểm riêng của mình Tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá, văn học của nhân loại là một trong những cách thức để một dân tộc tự làm phong phú thêm nền văn học của mình Với ý nghĩa đó, Văn học Việt Nam cùng với văn học nước ngoài trong chương trình phổ thông chính là cầu nối, là chìa khoá để học sinh khám phá những chân trời tri thức, những vẻ đẹp tiềm ẩn trong văn học cũng như trong đời sống Mỗi một nhà văn khác nhau đều có một phong cách nghệ thuật khác nhau Cũng như vậy, mỗi một dân tộc khác nhau cũng sẽ có một lối tư duy khác nhau Tiếp cận với nhiều nền văn học chính là cơ sở để học sinh có điều kiện tìm hiểu cách đánh giá, nhìn nhận và giải thích các hiện tuợng, sự việc của các nhà văn thuộc nhiều dân tộc trên thế giới Chẳng hạn về phương thức sống, nếu người phương Ðông trọng tĩnh, huớng nội, khép kín thì nguời phương Tây lại trọng động, huớng ngoại, cởi mở

Về ứng xử, phương Ðông nặng về cộng đồng, trách nhiệm, thì phương Tây lại nghiêng

về chủ nghĩa cá nhân Với thiên nhiên, phương Ðông nghiêng về hoà đồng “thiên nhân tương dữ, thiên nhiên tương hợp”, thì người phương Tây lại thích chinh phục, khai thác, tận dụng Thông qua các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam và nước ngoài nói riêng giáo dục các em lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống con người, biết yêu các đẹp và hướng tới bồi dưỡng hoàn thiện bản thân

Trang 19

CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI Ở CHƯƠNG TRÌNH THPT

2.1 Vai trò của văn học Việt Nam hiện đại trong chương trình THPT

Không phải ngẫu nhiên mà văn học lại được xem là một trong những bộ môn nghệ thuật đầy sức hấp dẫn bên cạnh những ngành nghệ thuật khác như hội họa, âm nhạc, điện ảnh…Dù xuất hiện sau một số lọai hình nghệ thuật ấy, song văn học nghệ thuật đã tạo được một chỗ đứng nhất định trong lòng công chúng Có thể thấy đời sống của văn học ngày càng phát triển hết sức phong phú, sâu rộng và rất nhanh nhạy Dẫu rằng hình tượng văn học không hiện hữu một cách trực tiếp như một số các ngành nghệ thuật khác, nhưng nó lại có sức hấp dẫn riêng qua việc bộc lộ với nguời

đọc bằng cái nhìn bên trong thầm kín Ðó là tính chất tinh thần hay tính phi vật thể của

hình tượng văn học Nó tác động vào trí tưởng tượng và liên tuởng của người đọc Nếu như hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; hình tượng điêu khắc được xây dựng bằng đường nét, hình khối; hình tượng âm nhạc được xây dựng bằng giai điệu, nhịp điệu…thì văn học sử dụng một chất liệu đặc biệt để kiến tạo nên những tác phẩm văn chương, ấy chính là ngôn từ Cho nên văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ là vậy Với sức mạnh riêng của mình, văn học đã tái tạo, phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống một cách đa dạng, phong phú, sinh động và hết sức sâu sắc

Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học văn chính là quá trình học sinh có sự chuyển biến, thay đổi về chất Ðến với tác phẩm văn chương là quá trình học sinh đi từ tri giác đến tái hiện bằng tưởng tượng Từ những gì thu nhận được, học sinh sẽ khái quát, rút ra được vấn đề mà các nhà văn muốn thể hiện, cao hơn nữa là sự định giá tác phẩm, cuối cùng là khâu tự nhận thức về bản thân mình cũng như về cuộc đời, mà có người gọi ấy là sự thăng hoa về cảm xúc, về nhận thức

Công việc của nhà văn là “phản ánh tái hiện cuộc sống, nêu lên những hiểu biết

về thế giới, nhận thức về thế giới và bày tỏ thái độ chủ quan của mình, nói lên uớc mơ khát vọng của mình về thế giới, về cuộc sống”[8,tr 20] Sức mạnh của văn học là ở

chỗ khi phản ánh chân thực những mặt này hay mặt khác của cuộc sống, những hiện

Trang 20

tượng biến cố xã hội, nó đồng thời cũng đặt ra những vấn đề tư tưởng, chính trị, các vấn đề của cuộc đấu tranh giải phóng quần chúng, những vấn đề về số phận con người Thông qua các tác phẩm văn học nói chung, các truyện ngắn Việt Nam nói riêng, giúp học sinh có cái nhìn đa diện, nhiều chiều hơn đối với cuộc sống, xã hội Học sinh

có thể theo dõi từng bước chuyển mình của đất nước, thấy được dân tộc ta trước hai cuộc kháng chiến trường kì, đã anh dũng, kiên cường, bất khuất như thế nào Từ đó nâng cao niềm tự hào dân tộc, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu quê hương, có ý thức trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước Ngòi bút của các nhà văn cũng hướng đến việc miêu tả những biến chuyển tinh vi trong đời sống con người, những thân phận, kiếp người nhỏ bé, chịu nhiều đau thương, mất mát trong xã hội Làm khơi dậy trong lòng học sinh sự đồng cảm, tin yêu con người Xét ở một góc độ nào đấy, văn học là lăng kính phản chiếu văn hoá cuả một quốc gia Ðến với văn học là đến với những miền văn hóa để khám phá những chiều sâu bí ẩn trong văn hóa cuả nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới Mỗi một nền văn học đều mang trong mình những sắc thái văn hóa đặc thù về con nguời, đất nuớc, phong tục, tập quán lối sống Ði vào tìm hiểu thế

giới nghệ thuật của các nhà văn chính là giải mã những “vùng đối tượng thẩm mỹ riêng” (Nguyễn Ðăng Mạnh) mà các nhà văn thuờng phản ánh Không phải ngẫu nhiên

mà trong Văn học Việt Nam khi nhắc đến Sơn Nam là người ta nghĩ đến nhà văn của vùng đất Nam Bộ, Kim Lân thường được nhắc đến với cái tên “nhà phong tục Bắc Bộ”, Nguyên Ngọc - nhà văn của vùng đất Tây Nguyên anh hùng Rõ ràng, hiểu phong cách nghệ thuật cuả một nhà văn cũng chính là biết thêm một nét văn hoá của một đất nước

Văn học với chức năng giáo dục, đã định hướng, bồi dưỡng, thanh lọc tâm hồn, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách

2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình THPT

2.2.1 Nhân vật người kể truyện

Theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong chương trình ngữ văn THPT truyện ngắn Việt Nam sau 1945 có 7 tác phẩm Trong đó có 5 truyện ngắn được tác giả chọn người kể chuyện theo ngôi thứ ba, còn lại 2 truyện ngắn được kể theo ngôi thứ nhất, xưng “tôi”

Trang 21

Đối với người kể chuyện khách quan hóa, theo ngôi kể thứ ba là hình thức trần thuật khá phổ biến Người kể chuyện giấu mình nhưng có cái nhìn thông thái, thấu suốt mọi vấn đề trong tác phẩm và kể lại một cách khách quan sự việc

Với “Rừng xà nu” Nguyễn Trung Thành đã để câu chuyện được kể theo ở ngôi

thứ ba nhưng cũng có lúc nhà văn đã chuyển điểm nhìn trần thuật vào điểm nhìn của nhân vật (cụ Mết) Cách kể này là hoàn toàn phù hợp với kết cấu cốt truyện, làm cho câu truyện mang màu sắc chủ quan, giúp người đọc hình dung một cách cụ thể, sinh động về sự việc, con người được kể Quan điểm người kể chuyện: có sự đan xen giữa quan điểm tác giả và quan điểm nhân vật Đoạn mở đầu kể theo quan điểm của tác giả

“Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương…Ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hề gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”[7, tr 38] Phần sau tác giả trao

quyền kể lại cho nhân vật cụ Mết, cụ Mết đã kể lại toàn bộ câu chuyện về cuộc đời Tnú cho dân làng nghe, cách kể trang trọng như muốn truyền cho các thế hệ con cháu

những trang sử thi oai hùng của cả cộng đồng trong những ngày Đồng Khởi “Ông già

bà già thì biết rồi Thanh niên có đứa biết đứa chưa rõ Còn lũ con nít thì chưa biết Tnú, anh Tnú của chúng mày về rồi đó anh Tnú mà tau đã kể cho chúng mày nghe bao nhiêu lần rồi đó Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó

về thăm làng Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe ”[7, tr 42], chuyện đời Tnú được cụ Mết kể bên bếp lửa nhà ưng cho dân làng nghe, “Tnú không cứu được vợ con Tối đó Mai chết Còn đứa con thì đã chết rồi Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại…Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” [7, tr 46]

Còn với “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, nhân vật người kể chuyện đã kể về cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra “Ai ở xa về vào nhà thống lí thường trong thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Lúc nào cũng vậy dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối

Trang 22

lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”[7,tr 4], và căn buồng Mị nằm chỉ có

“một chiếc cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trong ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”[7, tr 6] Ở đây người kể chuyện đã ẩn đi, đứng

đằng sau nhân vật và các sự kiện, đẩy nhân vật trước độc giả để kể Vì thế trước mắt người nói không thấy người nói, chỉ thấy hiện thực được trình bày

Hay “Những đứa con trong gia đình” là một trong những truyện ngắn thể hiện

rất rõ bút pháp, phong cách nghệ thuật Nguyễn Thi Nội dung câu chuyện kể về truyền thống đánh giặc của gia đình anh Giải phóng quân tên là Việt, qua đó có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của con người Nam Bộ trong những năm gian khổ chống Mỹ cứu nước thể hiện qua lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gắn bó trong gia đình Tất cả tạo nên một sức mạnh tinh thần to lớn giúp họ vượt qua khó khăn, gian khổ, mất mát

hy sinh Để thể hiện nội dung trên, Nguyễn Thi đã có sự sáng tạo độc đáo trong nghệ

thuật kể chuyện Tình huống của câu chuyện là một yếu tố quan trọng dẫn đến lối kể sáng tạo và việc tổ chức điểm nhìn trần thuật Đó là tình huống anh Giải phóng quân tên Việt bị thương nặng trong một trận đánh phải nằm lại giữa chiến trường và nhiều lần ngất đi, tỉnh lại Giữa những lần ngất đi tỉnh lại đó là những dòng ý thức, những hồi ức về quá khứ, về người thân và những cảm xúc nội tâm của nhân vật Việt Truyện được kể theo dòng nội tâm khi đứt (ngất đi), khi nối (tỉnh lại) của nhân vật

Nếu xem xét về hình thức kể thì truyện được kể theo ngôi thứ ba, trong đó nhân vật Việt là đối tượng được thuật kể Đây là phương thức kể phổ biến trong tác phẩm tự

sự Ở lối kể này, câu chuyện thường được kể với “người kể chuyện như đứng kín đáo ở một chỗ nào đấy, chứng kiến hết mọi sự việc xảy ra nhưng không tự mình trực tiếp tham gia vào các diễn biến” Câu chuyện vì thế được kể lại một cách khách quan

“người kể chuyện nói về các sự kiện với một sự yên tĩnh điềm đạm, anh ta vốn có một cái tài “biết hết” và hình tượng anh ta là hình tượng của một sinh thể sống trên thế giới mang lại cho tác phẩm một màu sắc khách quan tối đa” Tuy nhiên ở truyện này,

Nguyễn Thi đã thể hiện một sự sáng tạo riêng, độc đáo trong cách kể Tuy người kể vẫn ẩn sau ngôi thứ ba giấu mình để nhân vật hiện ra như một đối tượng được thuật kể nhưng có thể thấy toàn bộ câu chuyện được tái hiện thông qua cái nhìn, ý thức của nhân vật Tác giả đã khéo léo trao cho nhân vật nhiệm vụ kể chuyện Thông qua những dòng hồi tưởng liên tục sau những lần ngất đi rồi tỉnh lại, quá khứ lại hiện về trong tâm trí nhân vật qua những mẩu hồi ức Nối kết những hồi ức đó, người đọc có thể hiểu câu

Trang 23

chuyện về truyền thống đánh giặc của một gia đình nông dân Nam bộ, ý nghĩa tư tưởng chủ đề của tác phẩm cũng từ đó toát lên Với cách kể này, người trần thuật như lùi lại phía sau để dòng ý thức của nhân vật trực tiếp xuất hiện Do vậy người kể không phải thuộc dạng người kể chuyện “toàn tri” biết hết mà ban phát thông tin Người kể hầu như biết ít hơn nhân vật nên cũng phải dõi theo tâm tư nhân vật để tiếp cận câu chuyện Do đặc điểm của lối kể trên nên việc tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả cũng có những điểm riêng, độc đáo Câu chuyện chủ yếu được kể lại theo điểm nhìn của nhân vật, mang ý thức, giọng điệu của nhân vật Cho nên, lời nói nửa trực tiếp,

tức “lời gián tiếp nhưng đã mang ý thức và giọng điệu nhân vật”, được khai thác tối

đa Truyện cũng đan xen với ngôn ngữ và điểm nhìn của người trần thuật Đó là những lúc cần dẫn dắt câu chuyện để đi vào dòng ý thức của nhân vật, lúc này tác giả sử dụng lời gián tiếp để tái hiện sự việc xảy ra phía bên ngoài nhân vật với điểm nhìn khách quan của người trần thuật tạo nên khoảng cách giữa người kể và nhân vật Nhưng ngay sau đó tác giả lại trao ngòi bút cho nhân vật để nhân vật tự kể lại câu chuyện theo điểm nhìn và ý thức của mình Điểm nhìn do vậy có sự di chuyển từ bên ngoài vào bên trong, từ người trần thuật sang nhân vật Dường như không còn có sự tách bạch rõ ràng giữa lời gián tiếp và trực tiếp Lúc này người kể như thâm nhập sâu vào ý thức của nhân vật Có thể mượn một đoạn văn sau để làm dẫn chứng:

“Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây Rồi loạt thứ hai…Việt ngóc dậy” [7, tr 58] (Ngôn ngữ và điểm nhìn của người trần thuật) “Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm…chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra…Cái cằm nhọn hoắt của anh Tánh

nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên…Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng Các anh chờ Việt một chút…”[7, tr 58] (Ngôn ngữ và điểm nhìn của nhân vật) Do

đặt câu chuyện trong một tình huống đặc biệt nên điểm nhìn của nhân vật cũng dịch chuyển liên tục trên trục thời gian đan xen hiện tại – quá khứ Sự việc ở hiện tại đã có

Trang 24

tác dụng khơi gợi dòng hồi ức của nhân vật về quá khứ Điều này dẫn đến việc sắp xếp các yếu tố không gian, thời gian không theo trật tự thông thường: không gian hiện tại dẫn dắt nhân vật hồi tưởng về quá khứ trong sự liên tưởng chập chờn, đứt nối Thời gian cũng không đi theo trục tuyến tính mà theo dòng ý thức của nhân vật từ hiện tại trôi giạt về quá khứ và trở lại hiện tại Điều này phù hợp với hoàn cảnh của nhân vật trong những lần liên tục ngất đi rồi tỉnh lại

Sự độc đáo trong cách kể và tổ chức điểm nhìn trần thuật đã góp phần dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc câu chuyện: Sự kiện trong câu chuyện không đi theo một trật tự thông thường mà đảo lộn: sự kiện, nhân vật xuất hiện tùy thuộc vào hồi ức nhân vật mỗi lần ngất đi rồi tỉnh lại: lần 1, lần 2, lần 3… Bắt đầu là một sự kiện của hiện tại: Việt bị thương ở chiến trường và mỗi lần tỉnh lại những dòng hồi ức lại đưa người đọc quay về quá khứ để tiếp cận với câu chuyện của gia đình Việt Những hồi ức này không tách rời thực tại mà có sự đan xen với những suy nghĩ từ hiện tại gắn liền với hoàn cảnh hiện tại của Việt Những gì nhân vật cảm nhận từ hiện tại có tác dụng gợi nhớ về quá khứ, gợi ra những liên tưởng khi gần khi xa, chuyện này dẫn sang chuyện khác Câu chuyện cứ thế diễn tiến tự nhiên, biến hoá, hợp quy luật tâm lí của nhân vật

Ví dụ trong lần tỉnh lại thứ tư, trong hồi ức của Việt hiện ra hình ảnh người mẹ với

những kỉ niệm mà Việt không thể quên: “Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn…”[7, tr 58] Trong lòng Việt chợt dậy lên một khát khao: “Ước

gì bây giờ lại được gặp má” Dòng hồi ức chấm dứt khi những giọt mưa lất phất làm

Việt choàng tỉnh cảm nhận rõ sự vắng lặng xung quanh khiến Việt nhớ đến câu chuyện

các chị vẫn nói ở nhà về “con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chõng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông”[7, tr.58] Rồi

từ thực tại, âm thanh của một loạt súng lớn dội lại ầm ĩ đem đến cho Việt một cảm xúc

cụ thể “Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ” Việt lắng nghe và nhận ra đó là tiếng

súng của ta, Việt càng nhớ về đồng đội, những người thân thiết đang cùng Việt chiến

đấu, họ hiện ra rõ mồn một trong tâm trí Việt với “cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh,

nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên…”[7, tr 58] Ngay khi ấy, những dòng độc thoại nội tâm của Việt như muốn hướng tới các đồng đội của mình: “Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng Các anh chờ Việt một chút…”[7, tr 58] Rõ ràng cách

Trang 25

kể trong đoạn văn này đã giúp cho tác giả vừa thuật lại diễn biến câu chuyện vừa diễn

tả được tâm lí nhân vật đồng thời khắc hoạ được tính cách của người chiến sĩ trẻ giàu tình cảm, dũng cảm, kiên cường dù đã bị trọng thương nhưng vẫn sẵn sàng tư thế chiến đấu Cách kể như thế không đi theo lối mòn truyền thống mà lôi cuốn người đọc

đi theo một con đường riêng để nắm bắt câu chuyện Qua đó có thể thấy tác giả đã tạo cho tác phẩm của mình một hình thức kết cấu rất đặc biệt với hai phần nội dung rõ rệt: Nối kết các hồi ức đứt nối của nhân vật về quá khứ, về người thân, người đọc có thể hiểu câu chuyện về truyền thống đánh giặc của một gia đình tiêu biểu cho những con người Nam Bộ trong những năm chống Mỹ cứu nước, phần này thiên về những sự kiện và có thể sắp xếp lại tạo thành một cốt truyện cụ thể và song hành với những sự kiện được hồi tưởng lại là những suy nghĩ, cảm xúc thuộc thế giới nội tâm của nhân vật được tái hiện tinh tế tạo thành dòng ý thức cũng đứt nối qua những lần ngất đi, tỉnh lại Qua dòng ý thức này, tính cách của nhân vật cũng được bộc lộ rõ Mặt khác, đi theo dòng ý thức của nhân vật, đối tượng được miêu tả mở rộng dần, các nhân vật khác cũng dần dần hiện ra: Má, chú Năm, chị Chiến, đồng đội…Các nhân vật này không được tác giả khắc họa một cách trực tiếp mà được soi trong cái nhìn, cách cảm nhận, đánh giá và tình cảm của nhân vật Việt nhưng tính cách của những nhân vật ấy cũng hiện ra sống động, chân thực, khách quan Hai mảng nội dung này không tách bạch rõ rệt và diễn tiến một chiều mà hòa trộn, đan xen linh hoạt, phù hợp qui luật tâm lí và hoàn cảnh của nhân vật, trong đó dòng ý thức của nhân vật có vai trò rất quan trọng dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện một cách tự nhiên Có thể thấy Nguyễn Thi có khả năng thâm nhập, mổ xẻ tinh tế đời sống nội tâm với những quá trình tâm lí tinh vi

của nhân vật Với lối kể chuyện độc đáo, truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

trở nên mới mẻ, hấp dẫn, đậm đà màu sắc trữ tình thể hiện rõ sự tìm tòi, sáng tạo trong bút pháp nghệ thuật của tác giả Nguyễn Thi

Nếu trong văn xuôi giai đoạn trước 1975, người kể chuyện thường ở ngôi thứ 3, chỉ có một điểm nhìn trần thuật (nguời kể chuyện biết tuốt, luôn đúng) thì văn xuôi sau

1975 thường sử dụng ngôi kể thứ nhất, tác phẩm có thể có nhiều người kể chuyện với nhiều điểm nhìn trần thuật tạo nên cái nhìn đa chiều, đa diện, góp phần tạo ra tinh thần dân chủ, cởi mở và tính đối thoại của văn học sau 1975 Ðiểm nhìn của người kể chuyện trong văn xuôi thời kì đổi mới có thể di chuyển từ người kể chuyện này sang người kể chuyện khác giúp cho nhà văn “nói” được nhiều hơn, khiến câu chuyện chân

Trang 26

thực, đáng tin cậy hơn, đồng thời cũng tạo ra sự bất ngờ cho người đọc Thậm chí, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất của văn xuôi sau 1975 còn giữ vai chính, tham gia vào các tình tiết của câu chuyện, nhờ đó được soi chiếu với các nhân vật khác trong tác phẩm, khiến cho tính cách, bản chất của nhân vật “tôi” ấy hiện lên rõ nét, tự nhiên hơn Trong những truyện ngắn kể ở ngôi thứ nhất, với điểm nhìn đa tuyến, lời kể vừa miêu tả sự việc lại vừa miêu tả tâm trạng Tâm trạng là tâm trạng của nhân vật mà cũng có thể là tâm trạng của chính tác giả Lời kể như vậy tạo ra giọng điệu đa thanh cho tác phẩm

Như vậy, sự đa dạng trong lựa chọn ngôi kể, người kể chuyện, sự phong phú về điểm nhìn trần thuật chính là một sự cách tân nghệ thuật của văn xuôi sau 1975

Một trong những điểm khác biệt nổi bật của văn học sau 1975 với giai đoạn văn học 1945 - 1975 là ở tinh thần dân chủ Tinh thần dân chủ không chỉ thấm sâu trong nội dung văn bản mà còn thể hiện ở cả hình thức nghệ thuật của văn bản Trong nhiều trường hợp, sự lựa chọn ngôi kể xưng “tôi” trong tác phẩm tự sự là minh chứng cho

tinh thần ấy Người kể chuyện trong truyện ngắn “Một người Hà Nội” của nhà văn

Nguyễn Khải là một trường hợp như thế

“Một người Hà Nội” là một truyện ngắn tiêu biểu cho sáng tác sau 1978 của

Nguyễn Khải trong cảm hứng đi tìm vẻ đẹp của con nguời trong cuộc sống đời thường, chiêm nghiệm và triết lí về nhân sinh, tìm kiếm những giá trị bền vững vĩnh hằng của con người và đời sống Truyện được tác giả chia làm 7 phần, có đánh số mỗi phần, kể những chuyện về bà Hiền và gia đình bà trong một khoảng thời gian dài suốt mấy chục năm từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp Hà Nội được giải phóng cho đến những năm đầu đổi mới, qua lời kể của nhân vật kể chuyện xưng tôi - người cháu họ gọi bà Hiền bằng cô Lựa chọn điểm nhìn trần thuật từ góc nhìn bên trong của người kể chuyện xưng “tôi”, ngòi bút Nguyễn Khải được tự do trong việc lựa chọn chi tiết, sự việc, không bị quá lệ thuộc vào xây dựng cốt truyện, thêm nữa lại thoải mái xen vào những lời bình luận nhận xét của người kể chuyện - vốn là một sở trường của ông Mặt khác,

sử dụng cách trần thuật ở ngôi thứ nhất giúp nhà văn tạo được một ngữ cảnh gần gũi với độc giả, gợi không khí một cuộc trò chuyện trực tiếp dễ làm cho người đọc tinvào những điều được kể, bởi đó là câu chuyện mà nguời kể chuyện từng chứng kiến, tham

gia Ngoài những lợi thế như đã nói trên, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất trong “Một người Hà Nội”còn có một vai trò khác là làm phong phú hơn chochủ đề và tư tưởng

Trang 27

của truyện Xâu chuỗi các sự kiện, người đọc có thể hình dung một cách trọn vẹn về cuộc đời bà Hiền qua bao biến động thăng trầm của lịch sử Từ khi còn là một cô gái tuổi đôi mươi cho đến khi là một bà lão ngoài bảy mươi, bà Hiền vẫn vẹn nguyên là một người Hà Nội thanh lịch, thông minh, khôn ngoan, tinh tế, tỉnh táo, đặc biệt giàu lòng tự trọng và đầy bản lĩnh Nhà văn đã khéo léo và cũng rất tự nhiên khi để tính cách của người cô họ hàng xa của mình bộc lộ qua những tình huống tưởng như bình thường của cuộc sống như việc chọn chồng, sinh con, nuôi dạy con cái, kiếm kế sinh nhai cho đến những việc trọng đại hơn là quan hệ xã hội và thái độ chính trị của nhân

vật Là một cô gái xuất thân trong gia đình giàu có, lương thiện với “ông bố đậu tú tài, nuôi dạy con cái theo khuôn phép nhà quan”, lại thông minh và tài hoa (từng mở xa

lông văn học, nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân nghệ sĩ có tiếng của đất Hà Thành tại nhà), nhưng khi lấy chồng bà khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc khi lấy một ông giáo

Tiểu học hiền lành, chăm chỉ, bà ngừng sinh con ở tuổi bốn mươi vì “nếu tôi và ông sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, khỏi phải sống bám vào các anh chị” [7, tr 93] Bà chú ý dạy con cái, từ những điều nhỏ nhất trongcuộc sống

như cách cầm đũa, cách múc canh, đến việc nói chuyện trong bữa ănvới quan niệm

“là nguời Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng” [7, tr 93] Khi người con đầu tình nguyện xin đi đánh Mĩ, trả lời câu hỏi của “tôi”, cô Hiền nói “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè Nó dám đi cũng là biết tự trọng” [7, tr 94] Ba năm sau, khi nguời con thứ cũng viết đơn xin tòng quân, cô buồn bã trả lời “tôi”, “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống dể các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó” [7, tr 94] Thái độ chính trị cũng được cô phát biểu rất thành thật “chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho người ở hay chế độ này không thích cá nhân làm giàu, chỉ cần họ đủ ăn, thiếu ăn một chút càng hay, thiếu

ăn là vinh chứ không là nhục” [7, tr 91] Một đời bà Hiền đã sống đầy bản lĩnh và tự trọng “chưa từng bị ai cám dỗ kể cả chế độ, muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì” [7, tr 94] Một đời bà sống gắn bó với Hà Nội vì một lẽ đơn giản là “không thể xa Hà Nội” Tình yêu Hà Nội,

những trầm tích văn hóa của vùng đất Tràng An xưa đã thấm sâu và tâm hồn bà để qua

Trang 28

bao thăng trầm của lịch sử, bà Hiền mãi là “một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy không pha trộn” trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của một văn hóa sống bền vững sâu

xa, vượt qua tất thảy mọi biến thiên, xô bồ thăng trầm của xã hội

Ðọc “Một người Hà Nội”, người đọc dường như cũng cảm nhận được Nguyễn

Khải không chỉ kể về một con người mà quan trọng hơn là nhà văn đang ngẫm nghĩ về con người đó - một nhân cách Hà Nội bình dị mà cao đẹp Theo thời gian, “tôi” càng ngày càng cảm nhận được một cách sâu sắc vẻ đẹp nhân cách của bà Hiền để đến cuối

truyện thốt lên rằng: “một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của

Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng” [7, tr 98]

Nếu như trước đổi mới, Nguyễn Khải thường soi ngắm, thể hiện con người trên bình diện chính trị với quan niệm viết về cách mạng, về cái tiên tiến, viết về quần chúng lao động - mẫu hình con người mới của văn học cách mạng là văn học mới; còn viết về sinh hoạt đời thường, về những điều vụn vặt của đời sống riêng tư là thứ văn

học cũ thì đến “Một người Hà Nội”, ông đã soi ngắm, định giá con người từ những

thang bậc giá trị khác - những giá trị bền vững về nhân cách, về lối sống trong cuộc sống đời thường với tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc

Người kể chuyện xưng “tôi” trong tác phẩm còn tự tiết lộ những chi tiết tiểu sử

về mình như cậu em họ gọi “đồng chí Khải”, các quan hệ họ hàng, nơi cư trú trùng khớp với tác giả trong thực tại đem đến cho tác phẩm màu sắc tự truyện rõ nét Nghĩa

là nhà văn có hứng thú thể hiện hình tượng chính mình trong tác phẩm Ðiều này không chỉ khiến cho người đọc cảm thấy tính chân thực của câu chuyện mà quan trọng

hơn, nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình thì “Khi nhà văn tự tin lấy chuyện mình làm chất liệu văn học, hứng thú với việc đưa ra cái nhìn riêng, là khi kinh nghiệm cá nhân được quyền bình đẳng với kinh nghiệm cộng đồng do đó tác phẩm sẽ như một tiếng nói đối thoại dân chủ, chứ không phải sự áp đặt những chân lý đã mặc định”

Quả thực, trong truyện ngắn, độc giả nhận thấy “tôi” không chỉ kể về bà Hiền và gia đình bà, mà còn ở nhiều chỗ còn tách ra để tự bộc lộ suy nghĩ của anh ta, hoặc có khi

kể về chính mình và gia đình mình như một sự đối sánh với nhân vật chính của truyện

Ta có thể thấy không ít lần trong truyện, “tôi” đã tỏ bày những triết lí riêng của anh ta

về con nguời và cuộc đời như khi suy nghĩ về người chồng làm nghề giáo của bà Hiền

Trang 29

- một ông giáo dạy cấp Tiểu học anh ta cho rằng đó “là người cần thiết cho mọi chế

độ, chế độ cộng sản cũng phải khuyến khích trẻ con đi học, học văn hóa và học làm người”[7, tr 90], hay khi suy nghĩ sự đánh giá của một thời “với người vô sản, ở quá rộng là một cái tội” [7,tr.90]; hoặc khi anh ta nhận thấy vai trò quan trọng của người lính sau chiến thắng “là người lính vừa chiến thắng, người lính được cả xã hội trọng vọng, chất lính mùi lính tráng thâm nhiễm vào mọi nơi, mọi chỗ, quan hệ kiểu lính, vui chơi kiểu lính, ăn nói kiểu lính, văn chương cũng là một mùi lính”[7, tr 95], cả chiêm

ngẫm chua chát về thực tại, về sự đổi thay của những giá trị trong hoàn cảnh mới

“Còn bây giờ sau bữa tiệc mừng đại thắng muời lăm năm, tầng lớp lính đã mất ngôi vị độc tôn của mình rồi Bây giờ là thời các giám đốc công ti, các tổng giám đốc công ti, các cố vấn, chuyên viên kinh tế thật, giả đủ loại lên ngôi ban phát mọi tiêu chuẩn giá trị cho cả xã hội”[7, tr 95] Hay nỗi lo âu trước sự mai một của những nét đẹp văn hóa trước sự hỗn tạp xô bồ của cuộc sống mới “Ví thử có thủy tiên liệu còn có người biết gọt tỉa thủy tiên Lại thêm cái cách sống, cái tâm lí sống ào ạt, xô bồ, vụ lợi ( ) dễ

gì có được sự bình tinh để thưởng thức vẻ đẹp trang trọng của một dò hoa thủy tiên ”[7, tr 97] Ðặc biệt, qua những cuộc trò chuyện giữa người kể chuyện với bà

Hiền, người đọc thực sự được đến với một cuộc đối thoại thú vị giữa hai ý thức độc lập, hai quan niệm giá trị khác nhau Trong nửa đầu truyện khi kể về bà Hiền và cung cách sinh hoạt, lối sống của gia đình bà, người kể chuyện thỉnh thoảng lại liên hệ tạt ngang với cung cách sống của gia đình mình Một bên là lối sống cầu kì, kiểu cách của

bà cô“mang đầy chất tư sản”, còn một bên là lối sống của những người cách mạng

của tầng lớp vô sản Sự khác biệt từ cái ở, cái ăn, cung cách sinh hoạt và nếp suy nghĩ

Một bên “ở rộng quá, một cái nhà tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung của đền Ngọc Sơn” [7, tr 90], một bên “phải

ở chen chúc trong những khu nhà tập thể, có khi phải ở ngay duới gầm cầu thang của nhà bạn bè”[7, tr 90] Bữa ăn ở nhà bà Hiền, nhất là những bữa bà tiếp các bạn bè, thì

“bàn ăn trải khăn, có lọ hoa nhỏ giữa bàn, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, người nào ngồi đúng chỗ người ấy”[7, tr 90] Còn bữa ăn ở gia đình anh nhà văn

cách mạng, thì “cái mâm nhôm đặt ngay giữa nhà, thức ăn có khi múc ra đĩa, có khi để

cả nồi, nồi to để giữa, nồi bé để quanh mâm cứ việc sục muôi vào, sục đũa vào, vừa an vừa quát con mắng cái, nhồm nhoàm hả hê, không cần phải khuôn bó theo quy tắc nào

cả” [7, tr 90] Một bên quan niệm “là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải

Trang 30

có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng” [7, tr 93], còn một bên cho rằng

“ăn cốt để sống, để làm việc, hay hớm gì cái thứ lễ nghi ruờm rà của giai cấp tư sản ”[7, tr 90] Một bên hỏi nghiêm túc “Xã hội nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị Theo anh, ở xã hội ta thì là tầng lớp nào?” [7, tr 95], còn một bên cười phá lên ngạo nghễ “Thưa cô, là bọn lính chúng tôi,

là giai cấp lính chúng tôi, chứ còn ai nữa” [7, tr 95], mà hoàn toàn quên rằng văn hóa

thời chiến chỉ là nhất thời Một bên điềm tĩnh, một bên nông nổi Ngay cả trong tình cảm với Hà Nội Khi được sống năm đầu ở Hà Nội vừa giải phóng, “tôi” cảm thấy cực

kì khoan khoái, sung sướng “mỗi ngày đều ở Hà Nội, mỗi đêm đều ở Hà Nội, mãi mãi còn ở Hà Nội”, thế mà trong buổi liên hoan mừng Dũng - cậu con trai cả của bà Hiền trở về, “tôi” đã “có nói hơi nhiều về thành phố Sài Gòn rộng hơn, đông hơn, đẹp hơn cái Hà Nội của mình, về người dân Sài Gòn cũng lịch thiệp, nhã nhặn hơn người dân

Hà Nội” [7,tr.95] Những năm Hà Nội đổi mới, “tôi” đã tỏ ra bức xúc trước những nét

chưa đẹp, thiếu văn minh trong lối sống, cách ứng xử của một bộ phận người Hà Nội, còn bà Hiền trước những lời phàn nàn ấy chỉ nói về cái lẽ vào ra huyền bí của tạo hoá,

về câu chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn sống lại sau trận bão để cho người cháu chiêm nghiệm thấm thía về niềm tin của bà rằng sau những biến động dữ dội của xã hội nhiều giá trị vốn bền vững và quen thuộc của đời sống, đã bị lung lay bật gốc, tưởng như sắp tiêu tan, nhưng sự sống rất huyền nhiệm, những giá trị tốt đẹp đã được hình thành và xây đắp từ bao đời sẽ được đặt lại đúng với vị trí của nó, mọi thứ xô bồ, hỗn tạp của Hà Nội hiện thời chỉ là những rác nổi trên bề mặt của đời sống, rồi đến lúc

nó sẽ bị cuốn đi, để một Thủ đô với 1000 năm văn hiến, với sự “thanh lịch của người Tràng An” sẽ trở lại

Sự tương tác đối thoại giữa “tôi” và bà Hiền không chỉ giúp nguời đọc thấy được

vẻ đẹp trong nhân cách của một con người bình dị mà cao đẹp của nhân vật chính - bà Hiền - mà còn thấy được sự đổi thay, sự điều chỉnh nhận thức của “tôi” qua thời gian Càng tiếp xúc với người cô họ qua nhiều năm, “tôi” càng hiểu về bà, càng thay đổi cách suy nghĩ về bà, kể cả cách suy nghĩ của bản thân về những giá trị đích thực của

cuộc đời Ban đầu, thái độ của “tôi” với bà Hiền và gia đình bà là sự nghi kị “tôi vẫn nghi ngại gia đình này rất khó gắn bó với chế độ mới và chế độ mới cũng không thể tin cậy được ở họ” [7, tr 90], vì thế nên trong lí lịch cán bộ, “tôi” đã muốn khước từ quan

hệ họ hàng với cô Hiền, không ghi tên cô bởi một suy nghĩ được láy lại tới hai lần

Trang 31

trong phần đầu tác phẩm “dính líu nhiều có ngày lại rắc rối, dính líu vào lại thêm phiền” Không chỉ vậy, có lúc tôi còn có phần giễu cợt cô vì là tư sản mà không phải học tập, cải tạo “cô giấu cũng tài nhỉ ?” hay khi dò hỏi thái độ của cô khi các em xung phong đi chiến đấu “Cô bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ?, cô cũng đồng ý cho nó đi à?” Song càng chứng kiến cách xử sự của bà, lối sống của bà, “tôi” càng nhận ra sự

nông nổi, những định kiến hẹp hòi, những sự thất thố trong cách cư xử, nói năng của

bản thân để rồi khâm phục “bà già vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng luợng quá”và

ca tụng bà như “một hạt bụi vàng của Hà Nội” Ðó thực sự là một “cái tôi” biết “tự

phê”, “tự nghiệm”, “tự nhận thức lại” để tự vấn, tự phê phán, tự nhìn lại một thời đã qua với thái độ phê phán, tuy có vẻ chỉ là giễu cợt nhẹ nhàng, nhưng không phải là không sâu sắc

Không phải là nhà văn đầu tiên hay duy nhất sử dụng ngôi kể thứ nhất trong trần

thuật nhưng rõ ràng trong “Một người Hà Nội”, người kể xưng “tôi” thực sự là một

sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Khải Với ngôi kể này, một nhà văn ưa triết luận như Nguyễn Khải có dịp thể hiện thật rõ sở trường của ông - thích khám phá, ngẫm nghĩ và

lí giải về con người, cuộc đời, về những giá trị bền vững của cuộc sống qua góc nhìn

riêng Trong truyện ngắn này, nhà văn đã phá thiện và trân quý bà Hiền - “một người

Hà Nội” từ trong cốt tủy, thuần túy không pha trộn - “một hạt bụi vàng của Hà Nội”-

đó là niềm tin riêng của nhà văn mà ông đã đưa ra để mời gọi độc giả cùng tham gia đối thoại

Trong thời kì văn học sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu không phải là nhà văn đổi mới đầu tiên nhưng lại là một trong những nhà văn mở đường tài năng và tinh anh

nhất Với “Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu đã chọn hình thức kể theo

ngôi thứ nhất - nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, nhân vật chính của truyện

Với tư cách người nghệ sĩ nhiếp ảnh, người kể chuyện đã kể lại câu chuyện về chuyến đi công tác của mình Ðược trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp ảnh bổ sung vào

bộ lịch một cảnh biển buổi sáng có sương, anh đã đến một vùng biển miền Trung, nơi phong cảnh thật là thơ mộng, còn sương mù vào tháng bảy Tại đây, sau nhiều ngày

phục kích, anh ngẫu nhiên gặp được một cảnh trời cho: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ Mui thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phang phắc như tượng trên chiếc mui

Trang 32

khum khum, đang hướng mặt vào bờ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt luới và tấm luới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con doi, toàn bộ khung cảnh từ đuờng nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một

vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” [7, tr.70] Trước vẻ đẹp ấy người nghệ sĩ “trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” Trong khoảnh khắc đó, anh tuởng

“chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”[7, tr 70] Nhưng ngay sau cái khoảnh khắc

hạnh phúc tràn ngập tâm hồn, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đem lại anh đã chứng kiến một cảnh hoàn toàn đối lập với vẻ đẹp của chiếc thuyền khi còn ở ngoài

xa Bước ra từ chính chiếc thuyền ấy là hai nguời, một đàn ông và một đàn bà Sau khi

đi đến chiếc xe rà phá mìn trên bãi cát, người đàn ông trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống, lão lại nguyền rủa bằng cái

giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ Còn “người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả cũng không tìm cách trốn chạy” [7, tr 72] Tất cả mọi việc khiến tôi kinh

ngạc đến mức trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn Tiếp sau đó là

cảnh đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh bố “Lão đàn ông đang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã xuống cát Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền” [7, tr 72] Người đàn bà sau khi có những cử chỉ như

van xin đứa con cũng đuổi theo gã đàn ông, trở lại thuyền Phía sau họ, tôi và thằng bé đứng trơ giữa bãi xe tang hỏng với ánh mắt ngơ ngác Như trong câu chuyện cổ tích đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất Lần thứ hai chứng kiến cảnh gã chồng

vu phu hành hạ người đàn bà, dường như bản chất người lính từng chiến đấu vì chính nghĩa đã khiến anh không thể làm ngơ, không thể đứng ngoài với thái độ bàng quan truớc những hành động phi nhân tính, người kể chuyện đã xông vào can thiệp Khi ở tòa án, người kể chuyện tiếp tục bị bất ngờ bởi những nghịch lí, người đàn bà chấp nhận chịu đựng những trận đòn man rợ chứ nhất định không chịu bỏ gã chồng vũ phu:

“Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, dừng bắt con bỏ nó ”[7,tr.74] Câu nói của người đàn bà khiến người kể chuyện cảm thấy gian phòng

ngủ lồng lộng gió biển của Ðẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá

Có lẽ với cái nhìn vốn chỉ quen nhìn thấy những nét thơ mộng của cuộc sống, người

Trang 33

nghệ sĩ đã không thể hiểu và không thể chấp nhậnđược cách xử sự kì lạ của người đàn

bà Sự đơn giản trong cái nhìn của tôi còn thể hiện qua việc anh hỏi nguời đàn bà:

“Lão ta hồi trước bảy nhăm có đi lính ngụy không?”[7, tr 75], để tìm nguyên do của

những hành động dã man của gã chồng vũ phu

Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà do chính chị ta kể ở tòa án mà người kể chuyện vừa là người chứng kiến (và kể lại) vừa là người trực tiếp tham gia vào cuộc đối thoại với chị ta đã dần dần cho anh câu trả lời về những điều nghịch lí mà anh đã chứng kiến Lão chồng vốn là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm và giờ đã trở nên độc ác vì khổ quá Còn người đàn bà lạy van những người đại diện công lí

dừng bắt con bỏ nó là vì: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dười chục đứa Ðàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên đất được” [7, tr.76] Câu nói giản dị, chân chất

của người đàn bà đã có tác động sâu xa tới nhận thức của chánh án Ðẩu và cũng là

nhận thức của người kể chuyện, “một cái gì vừa vỡ ra trong đầu vị bao công của cái phố huyện vùng biển rất nghiêm nghị và đầy suy tư” [7, tr 76], thật ra cũng là một cái

gì vừa vỡ ra trong đầu người nghệ sĩ Trước đó người kể chuyện tin là nếu chiếc

Prati-ca trung thành với anh thì phen này anh có thể đánh ngã bất kì một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước - tức là hoàn toàn tin vào sự cảm nhận của mình

về vẻ đẹp của cuộc sống Nhưng sau khi chứng kiến tất cả những gì liên quan đến chiếc thuyền ngoài xa ấy, sau khi nghe xong câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, anh không còn giữ cái nhìn ban đầu Hôm đó anh đã xách máy ảnh đi lang thang trên bãi biển đến khuya và sau này, mỗi khi nhìn lại bức ảnh, anh luôn có cảm

giác: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vần thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tang hỏng, và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang buớc ra khỏi tấm ảnh,

đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới uớt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo luới suốt đêm Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân đậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông ” [7; tr.77,78] Như vậy, trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, vai kể chính là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất Người kể không chỉ kể lại những

điều mắt thấy tai nghe mà còn bày tỏ những cảm xúc chủ quan, những suy nghiệm về

Trang 34

nghệ thuật, về con người và cuộc sống con nguời, về mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật Trong truyện, vai kể có khi được chuyển sang nhân vật khác (người đàn bà) và đi cùng với nó là sự thay đổi điểm nhìn Tất nhiên vai trò chính vẫn thuộc về người kể chuyện xưng “tôi” nói trên vì lời kể của nhân vật người đàn bà nằm trong lời

kể của người kể chuyện Sự lựa chọn vai kể, điểm nhìn như trên nằm trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn, đem lại cho truyện hiệu quả cao Thứ nhất, việc chọn vai kể

ngôi thứ nhất, người kể tự kể lại câu chuyện của mình trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã mang lại tính chủ quan - chân thực cho lời kể

Tính chủ quan - chân thực trước hết bộc lộ trong việc tả thiên nhiên Là nghệ sĩ cho nên người kể chuyện có khả năng phát hiện, cảm nhận những phương diện nên thơ của cảnh vật thiên nhiên Là vẻ đẹp của vùng phá nước Vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn Anh trở nên ngây ngất vào buổi sáng, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc giữa xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại, giữa trời và nước ấy chỉ có một chiếc thuyền của một gia đình làm nghề vó bè đang tỏa khói bếp giữa phá - chiếc thuyền đứng im như làm bằng các tông dán vào cảnh vật êm

ả Và đây là vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ Mui thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương

mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phang phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con doi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”[7, tr 70] Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh để miêu tả cũng thể

hiện sự tinh tế, nhạy cảm của một nghệ sĩ Tính chủ quan - chân thực thể hiện rõ nhất trong việc miêu tả tâm lí Cũng như các nhân vật nghệ sĩ trong những tác phẩm khác của Nguyễn Minh Châu, người kể chuyện - nghệ sĩ Phùng tỏ ra là người có đời sống nội tâm phong phú, những trạng thái tâm lí của người kể chuyện hết sức đa dạng Truớc hết đó là sự rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên được bộc lộ trực tiếp ngay khi miêu tả đối tượng: Vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh Tôi trở nên ngây ngất vào buổi sáng, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc giữa xanh và xám,

Trang 35

bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại hoặc khi kể lại những khoảnh khắc

đứng trước vẻ thơ mộng của ngoại cảnh: “Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh đắt trời cho như vậy( ) đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”[7, tr 70] Có khi là nỗi xót xa trước cuộc

sống của những người dân chài thấm đẫm trong giọng kể: Thường thuờng mỗi thuyền

là một gia đình, ngoài thuyền lớn còn vài chiếc mủng để đi lại Cuộc sống cứ lênh đênh kắp cả một vùng phá nước mênh mông Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền Xóm giềng không có Khi kể lại những việc được chứng kiến, nguời kể chuyện luôn bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình một cách chân

thành và thường bộc lộ trực tiếp bằng những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí: “tôi kinh ngạc đến mức trong mấy phút cứ đứng há mồm ra mà nhìn, tôi cảm thấy ( ) ngột ngạt quá” [7, tr 72] Tính chủ quan - chân thực còn được thể hiện qua tính huớng nội của

lời kể Trong lời kể thường có những từ ngữ miêu tả trực tiếp các hành vi bên trong,

các ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác của nhân vật: “tôi trở nên bối rối tôi tuởng chính mình vừa khám phá thấy, tôi chắc mẩm, tôi kinh ngạc, tôi cảm thấy, tôi mới sực nghĩ ra”

Còn khi diễn tả những gì không thể trực tiếp quan sát được người kể chuyện thường dùng những từ ngữ có tính chất phỏng đoán: khuôn mặt dường như đang buồn ngủ, có

vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, người đàn bà duờng như lúc này mới thấy đau đớn, hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài Có thể thấy tính chủ quan - chân thực của là một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn này Bởi các sự kiện trong truyện được kể lại từ chính điểm nhìn chủ quan của người kể, những cảm xúc, suy tư trước cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống con người được chính người kể bộc lộ

Thứ hai, trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, vai kể ngôi thứ nhất đem lại tính chủ quan -

chân thực cho lời kể như đã nói ở trên Song điều đó có thể làm cho câu chuyện thiếu tính khách quan, và vì vậy sức thuyết phục của những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm có thể bị giảm sút Những hạn chế trên đã được khắc phục bằng một số thủ pháp Ðầu tiên là chuyển vai kể và điểm nhìn nhưng vẫn không làm mất đi vai trò của vai kể chính Việc chuyển vai kể làm tăng tính khách quan cho câu chuyện Cách ứng xử kì lạ của người đàn bà khiến người kể chuyện từ kinh ngạc đến phẫn nộ và không hiểu nổi Nguyên do đã được lí giải bằng chính lời kể của người đàn bà về cuộc đời mình Lời

kể của nhân vật này không chỉ giải thích cho cách ứng xử kì lạ của chị ta mà còn giúp người nghe hiểu được phần nào nguyên nhân của thói vũ phu ở người đàn ông đó Lời

Trang 36

kể ấy giúp cho Phùng, Ðẩu và cả chúng ta nhận ra cuộc đời người đàn bà này không hề đơn giản, suy nghĩ của chị ta không phải là cái sự lạc hậu như chị ta nói mà là của một người thấu hiểu các lẽ đời Lời kể ấy còn khiến ta cảm động trước lòng vị tha, đức hi sinh của người đàn bà khốn khổ Ðiều quan trọng hơn nữa là nó mang lại ấn tượng về tính khách quan cho câu chuyện, bởi đây là lời của nhân vật tự kể về cuộc đời mình, tự nói lên những suy nghĩ của mình

Bên cạnh đó việc dựa vào lời người kể chuyện những đánh giá, những cách nhìn nhận khác nhau về cùng một vấn đề Chẳng hạn, về hành động của người đàn ông, người kể chuyện cho đó là hành động tàn nhẫn, anh đã nghĩ có thể lão ta độc ác là do

đi lính ngụy Thằng bé Phác cũng căm phẫn hành động của cha và nó đã bảo vệ mẹ bằng cách đánh chính người cha của mình Cô y tá ở trạm xá thì kể lể bằng tất cả giọng phẫn nộ, thói tàn nhẫn của đàn ông đánh cá trong vùng này - do phong tục để lại Còn người đàn bà thường xuyên bị chồng đánh đập lại cho rằng chồng mình trở

nên độc ác như vậy là vì hoàn cảnh Chị xác nhận: “Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi.”[7, tr 75] Qua

những cách nhìn khác nhau ấy về người đàn ông, người đọc nhận thấy không thể nhìn nhận, đánh giá một con người một cách đơn giản, một chiều mà cần phải tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa dẫn đến những hành vi của con người trước khi kết luận về tính cách hay phán xét họ Người đàn ông ấy vừa đáng bị lên án bởi tính vũ phu, tính ích kỉ nhưng anh là một nạn nhân của hoàn cảnh sống quá khắc nghiệt

Ðưa vào trong lời kể chuyện những cách nhìn khác nhau, cái nhìn chủ quan của vai kể đã được khách quan hóa, tạo ra tính đối thoại, thể hiện khuynh hướng dân chủ hóa của văn học Nhà văn không áp đặt thông điệp của mình cho người đọc mà bằng cách để cho vấn đề hiện lên một cách đa chiều, phức tạp buộc người đọc phải vào cuộc

để cùng tìm câu trả lời với tác giả Một lần nữa, qua hình tượng người kể chuyện, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện chính hình ảnh và những suy tư của mình về nghệ thuật, về thế giới, về con người: nghệ thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời và

vì cuộc đời; cần phải nhìn con người và cuộc sống một cách đa diện nhiều chiều thì mới có thể tránh được cái nhìn ấu trị, giản đơn Có thể nói, đặc điểm lời người kể chuyện đã góp phần đưa thông điệp của nhà văn đến với người đọc một cách tự nhiên

mà thấm thía Ðồng thời nó tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng của nhà văn

Trang 37

2.2.2 Nhân vật trung tâm

Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông có 7 truyện ngắn Việt Nam hiện đại được viết sau năm 1945, tương ứng với 7 nhân vật trung tâm

Nhân vật trung tâm nằm trong số các nhân vật chính nhưng lại được thể hiện nổi bất và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tưởng, thẩm mỹ sâu sắc nhất của tác phẩm Họ có thể là những nhân vật được đặt tên như Mị

(Vợ chồngA Phủ), Tnú (Rừng xà nu), Việt (Những đứa con trong gia đình), ông Năm Hên (Bắt sấu rừng U Minh Hạ), hay cô Hiền (Một người Hà Nội) và cũng có thể là những nhân vật không tên, được gọi chung chung như ông lái đò (Người lái đò sông Đà), người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa) Họ có thể là nhân vật được tác

giả chú trọng miêu tả hình dáng bên ngoài và cũng có thể là những nhân vật được chú trọng khắc họa nội tâm, diễn biến tâm lí, suy nghĩ, hành động

Nhân vật trung tâm ở đây là những người phụ nữ chịu nhiều đau thương, mất mát nhưng ở họ vẫn toát lên những phẩm chất đáng quý của người phụ nữ Việt Nam Phụ nữ là đề tài quen thuộc trong nền văn học Việt Nam, trong thời chiến cũng như trong thời bình, họ là những người phụ nữ tuy mong manh nhưng lại không hề yếu đuối, họ có số phận nhỏ bé, chịu nhiều đắng cay, tủi nhục nhưng lại mang trong mình sức sống tiềm tàng, mãnh liệt Đặc biệt trong giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX, đề tài này đã được thể hiện khá đặc sắc qua nhiều nhân vật Họ trở thành những đối tượng trung tâm trong rất nhiều các tác phẩm văn học

Thơ ca từ xưa đến nay, người phụ nữ luôn gánh trên vai một số phận long đong, bất hạnh, một nỗi đau xuyên thời gian, không gian và tìm gặp nhau ở điểm chung:

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung (Nguyễn Du)

Ta bắt gặp nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, Mị phải gánh chịu

trên lưng kiếp sống của một con vật, dù mang danh con dâu nhà thống lí Song hành với Mị luôn là hình ảnh con trâu con ngựa, con rùa lùi lũi, cho thấy một kiếp người bất hạnh, sống không bằng con vật Quyền sống dường như không nằm trong tay cô, vì cha mà cô không đành lòng tự tử, rồi vì A Sử ngăn cản bắt trói vào cột mà cô không thể đi chơi trong đêm tình mùa xuân Một cuộc sống ngột ngạt tù túng, quyền con người bị tước đoạt - đó là hiện thân của xã hội mà kẻ thống trị có thể giày xéo bất cứ

Trang 38

người dân nào Những tưởng niềm ham sống trong con người ấy đã chết kể từ khi bước chân vào nhà thống lí, sống dưới thân phận con dâu gạt nợ, nhưng không, bông hoa rừng như Mị luôn mang trong mình sức sống trẻ trung, rạo rực chỉ cần có cơ hội là

sẽ bùng cháy

Mị được Tô Hoài thể hiện chủ yếu qua khắc họa nội tâm Nội tâm là khái niệm chỉ toàn bộ những trạng thái, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, nhưng phản ứng tâm lý của bản thân nhân vật trước cảnh ngộ và tình huống mà nhân vật chứng kiến trên bước đương đời của mình Yếu tố tâm lý thường được nhà văn xem là một đối tượng nghiên cứu trực tiếp của mình Muốn khai sinh cho một nhân vật phải nắm bắt được tâm lý của nhân vật Đây cũng chính là một thử thách đối với các nhà văn bởi tâm lý của con người không đơn giản, khó nắm bắt Mỗi người có một tính cách riêng, cách suy nghĩ riêng với những cảm nhận khác nhau về thế giới và con người

Nội tâm của nhân vật Mị được hiện lên rõ nét qua những dòng tâm trạng, những suy tư, trăn trở trong suy nghĩ của chính mình Khám phá nội tâm nhân vật bằng suy nghĩ, nhà văn đã cho thấy đời sống nội tâm sâu sắc và phức tạp của Mị

Điều đó được thể hiện, thứ nhất qua đêm tình mùa xuân Sức sống tưng bừng của vạn vật mùa xuân đã làm cho tâm hồn Mị hồi sinh Tâm trạng Mị lúc này pha trộn giữa nhiều cung bậc cảm xúc: vui sướng và đau khổ, tủi nhục đến mức muốn chết và khao khát sống Những cảm xúc ấy đang trỗi dậy, cuộn xoáy, trào dâng trong lòng Mị Trong lúc trai gái và lũ trẻ con tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn trên sân chơi đầu bản thì Mị thiết tha bồi hồi khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình từ đầu núi vọng lại Mị nhẩm thầm bài hát quen thuộc mà thời con gái cô hay hát:

“Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu.”

Sau bao năm câm lặng trong đau khổ, có lẽ đây là lần đầu tiên người con dâu gạt

nợ khe khẽ cất tiếng hát thầm Cảnh vui xuân nhộn nhịp ở đầu bản và cảnh ăn Tết ồn

ào trong nhà thống lí Pá Tra đã tác động mạnh tới tâm hồn Mị, khiến cô nhớ lại thời con gái chưa xa Lúc đầu, Mị hành động theo thói quen một cách vô thức: Ngày Tết,

Mị cũng uống rượu “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát” [7, tr 7] Mị uống

rượu mà như uống nỗi tủi hận, cay đắng vào lòng, hay là Mị cố tình uống thế cho thật

Ngày đăng: 06/11/2017, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (1999), 150 thuật ngữ văn học Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
2. Nguyễn Thị Bình ( 2017), Văn xuôi Việt Nam từ 1975- 1995 Những đổi mới căn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam từ 1975- 1995 Những đổi mới căn bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Trương Chính (dịch) (2000), Tuyển tập Lỗ Tấn, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Lỗ Tấn
Tác giả: Trương Chính (dịch)
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2000
4. Hà Minh Đức (2001), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Tập thể tác giả (2010), SGK văn học lớp 11, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK văn học lớp 11, tập 2
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
6. Tập thể tác giả (2016), SGK văn học lớp 12, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK văn học lớp 12, tập 1
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2016
7. Tập thể tác giả (2016), SGK văn học lớp 12, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK văn học lớp 12, tập 2
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2016
8. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1998), Lí luận văn học- vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học- vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1980), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
10. Phương Lựu (chủ biên), (2004), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
11. Vương Trí Nhàn (6/1977), Một cách bình luận lịch sử, tạp chí VNQĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một cách bình luận lịch sử
12. Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (chủ biên) (1998), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
13. Trần Đình Sử (1996), Lí luận và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
14. Lương Duy Thứ (2004), Lỗ Tấn, phân tích tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn, phân tích tác phẩm
Tác giả: Lương Duy Thứ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
15. Lê Ngọc Trà (1990), Lí luận và văn học, Nxb trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và văn học
Tác giả: Lê Ngọc Trà
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 1990
16. Đường Thao- Lê Huy Tiên (dịch), Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w