Do vậy, việc tìm hiểu về vấn đề hỗ trợ việc làm cho lao động nữ các xã miền núi ở huyện Yên Mô, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ việc làm, xác định nguyên nhân và đề xuất các giả
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HÀ
HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HÀ
HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS.NGUYỄN HỮU MINH
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình./
Tác giả
Phạm Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ 10
1.1 Việc làm và hỗ trợ việc làm 10
1.2 Khái niệm về người lao động, đặc điểm và nhu cầu của lao động nữ 122
1.3 Các tiêu chí đánh giá kết quả hỗ trợ việc làm 14
1.4 Nguyên tắc của công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi 15
1.5 Nội dung của hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ 16
1.6 Hệ thống lý thuyết công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi 17
1.7 Cơ sở pháp lý về hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ 19
1.8 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ việc làm 21
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH 26
2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 26
2.2 Thực trạng về các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô 35
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ trên địa bàn huyện 44
2.4 Đánh giá chung về hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô trong thời gian qua 51
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH 58
TRONG GIAI ĐOẠN 2018-2030 58
3.1 Các giải pháp về cơ chế, chính sách 58
3.2 Giải pháp về phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi 66
3.3 Giải pháp đối với các cơ quan, đoàn thể và chính quyền địa phương 70
3.4 Giải pháp về công tác cán bộ 70
3.5 Giải pháp đối với người lao động 71
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 6
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ BẢNG
Bảng 2.1 Tổng số việc làm mới cho lao động nữ qua các năm 32 Bảng 2.2 Tổng hợp số lượng, chất lượng đội ngũ nhân viên công tác xã hội 34
BIỂU
Biểu đồ 2.1: Khảo sát nhu cầu của lao động nữ các xã miền núi 42 Biểu đồ 2.2: Những khó khăn, trở ngại trong tìm kiếm việc làm của lao động nữ 48 Biểu đồ số 2.3: Tỷ lệ lao động nữ được hưởng các chính sách của nhà nước trong hỗ trợ việc làm 49
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động, việc làm là vấn đề ảnh hưởng không chỉ đến đời sống của người lao động hay cộng đồng mà còn ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của đời sống kinh
tế - xã hội Hỗ trợ việc làm là một trong những chính sách quan trọng của đất nước,
nó gắn liền với sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội và xoá đói giảm nghèo của mỗi quốc gia
Ở Việt Nam hiện nay, giải quyết việc làm là một vấn đề cấp thiết và là tiền
đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Do đó, vấn đề hỗ trợ việc làm, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực là một trong những vấn đề kinh tế xã hội được Đảng, Nhà nước và các địa phương đặc biệt quan tâm
Yên Mô là một huyện phía nam của tỉnh Ninh Bình, với vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên phong phú, trong những năm qua, kinh tế- xã hội của huyện đã đạt được những thành tựu đáng kể Sự phát triển kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động đặc biệt là những loại hình việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, huyện Yên
Mô có số người trong độ tuổi lao động lớn, tỷ lệ thất nghiệp hàng năm vẫn ở mức cao, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp chỉ đạt trên, dưới 70%; số doanh nghiệp trên địa bàn huyện ít nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn
Do vậy, việc tìm hiểu về vấn đề hỗ trợ việc làm cho lao động nữ các xã miền núi ở huyện Yên Mô, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ việc làm, xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô là việc làm rất cần thiết không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn mang lại ý nghĩa xã hội to lớn, giúp lao động nữ và hộ gia đình phát triển kinh tế, tăng thu nhập, góp phần ổn định tình hình chính trị, xã hội ở địa phương
Trang 72
Vì vậy tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã, miền núi huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó là hoạt động không thể thiếu của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội, là vấn để cốt lõi xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế- xã hội
và chi phối mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân, xã hội Vì vậy, trong thời gian qua
đã có rất nhiều các Đề án, các công trình nghiên cứu, các bài viết của các nhà khoa học, nhà quản lý về vấn đề lao động, việc làm trong đó có một số công trình tiêu biểu như:
Cuốn “Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hóa” của PGS.TS Nguyễn Thị Thơm, ThS Phí Thị Hằng đồng chủ biên, NXB
Chính trị quốc gia năm 2009, tác giả đã đưa ra các vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm đối với lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa; phân tích thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp đồng thời đề xuất những phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động trong quá trình đô thị hóa
Cuốn “Việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa ở vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ” của TS Trần Đình
Chín, ThS Nguyễn Dũng Anh đồng chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2014, tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; phân tích thực trạng chất lượng lao động, việc làm và tình hình giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, qua đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở khu vực kinh tế trọng điểm Trung Bộ
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, ban hành kèm
theo Quyết định số 1965/QĐ-TTg ngày ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ với quan điểm bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi
Trang 83
lao động nông thôn; chuyển mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ đào tạo theo năng lực sẵn có của các cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành và từng địa phương
Luận án tiến sĩ “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Mạnh Hà Kết quả
nghiên cứu của luận án đã làm rõ những căn cứ khoa học, chủ chương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời đề xuất các quan điểm, mục tiêu, phương hướng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn rất nhiều các bài viết của các tác giả đăng trên báo, tạp chí như :
Bài viết “Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn ở
tỉnh Thái Bình” của tác giả Nguyễn Thị Nhung Trang, Phó trưởng khoa Dân vận,
Trường Chính trị tỉnh Thái Bình đăng trên Tạp chí Việt Nam và Hội nhập ngày 16/5/2017 (vietnamhoinhap.vn) Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến các đặc điểm
tự nhiên, dân số, lao động trên địa bàn tỉnh Thái Bình; đánh giá những kết quả đã đạt được về giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn trong các ngành kinh tế, thông qua chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm từ đó chỉ ra những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ; trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm đối với lao động nữ ở nông thôn tỉnh Thái Bình
Bài viết “Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, bảo vệ quyền lợi cho lao động
nữ” của tác giả Đỗ Bình đăng trên Báo tin tức ngày 08/3/2017 (baotintuc.vn) Trong
bài viết, tác giả đã đưa tin về nội dung làm việc của Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII trong đó có chia sẻ của Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và
Xã hội Nguyễn Trọng Đàm về nâng cao hiệu quả đào tạo nghề và bảo vệ quyền lợi
Trang 94
của lao động nữ Tác giả đã phân tích các yếu tố hỗ trợ việc làm cho người lao động như thông qua hoạt động của Quỹ quốc gia về việc làm, hỗ trợ xuất khẩu lao động, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề gắn với việc làm; các nội dung liên quan đến lao động nữ như tuổi nghỉ hưu, điều kiện, môi trường làm việc, các thiết chế cho công nhân tại các khu công nghiệp (vấn đề về nhà ở, trường học…)
Bài viết “Chính sách về việc làm, thực trạng và giải pháp” của tác giả
Nguyễn Thúy Hà, đăng trên Cổng thông tin điện tử Viện nghiên cứu lập pháp ngày 07/6/2013 (vnclp.gov.vn) Trong bài viết, tác giả đã đưa ra các khái niệm về việc làm, vai trò của việc làm; phân tích thực trạng việc làm và đưa ra các phương hướng giải quyết vấn đề việc làm đồng thời hệ thống hóa và đánh giá các chính sách việc làm, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm
và chính sách việc làm ở nước ta
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và các bài viết đã đánh giá những kết quả thực hiện chính sách việc làm, về thực trạng vấn đề lao động, việc làm ở nhiều địa phương, nhiều góc nhìn khác nhau; về ngành nghề và phát triển ngành nghề đối với phụ nữ; chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và tồn tại, hạn chế trong hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động; đề ra các giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động trong đó có lao động nữ Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề hỗ trợ tạo việc làm đối với lao động nữ
ở các xã miền núi Xuất phát từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài “Hỗ trợ việc làm đối
với lao động nữ các xã miền núi huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” để đi sâu nghiên
cứu tình hình thực tế tại địa phương, góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ và góp phần phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi huyện Yên Mô, tỉnh
Trang 10và các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nói riêng; đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế từ đó tìm ra nguyên nhân của những tồn tại của vấn đề hỗ trợ việc làm cho lao động nữ; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2018 -2030
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi huyện Yên Mô như thế nào?
2 Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền
núi huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về lý luận và thực trạng các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi, bao gồm: Hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm, hoạt động vay vốn giải quyết việc làm, vay vốn xuất khẩu lao động
và tín dụng ưu đãi, hỗ trợ việc làm từ phát triển nông nghiệp, trang trại, gia trại, từ
hộ gia đình, từ các làng nghề, các doanh nghiệp, xưởng sản xuất, công ty đóng trên địa bàn huyện và từ công tác xuất khẩu lao động
Trang 116
4.2.2 Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Khảo sát thông qua phiếu trưng cầu
ý kiến đối với 120 lao động nữ ở 09 xã miền núi và mạng lưới hỗ trợ việc làm cho lao động trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
4.2.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nguồn số liệu phục vụ nghiên cứu
đề tài được thu thập từ năm 2014 đến ngày 31/12/2016 Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra từ bảng hỏi đối với người lao động ở các xã miền núi trên địa bàn huyện từ tháng 4/2017 đến tháng 6/2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu của mình Qua đó, các hành động cũng như sự kiện, hiện tượng xảy ra được nhìn nhận và đánh giá dưới góc nhìn khách quan, khoa học
Một là, đề tài phản ánh các hiện tượng, sự kiện, hành động xã hội đúng như những gì nó đang tồn tại, đang diễn ra trong đời sống xã hội Khi nghiên cứu tác giả luôn nhìn nhận các vấn đề một cách khách quan nhất, không lồng quan điểm, suy nghĩ của cá nhân về vấn đề rồi quy các góc nhìn của vấn đề vào tiêu cực hoặc tích cực
Hai là, khi tiến hành nghiên cứu, đề tài luôn đặt trong bối cảnh lịch sử kinh tế
- xã hội nhất định Vì ở mỗi thời điểm lịch sử có những quan niệm, giá trị khác nhau Đồng thời điều kiện kinh tế - xã hội cũng tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các vấn đề, sự kiện và hành động xã hội
Ba là, các sự vật, hiện tượng chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, tương tác qua lại với nhau Chúng có mối liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau, không có sự vật nào nằm ngoài mối liên hệ Một hiện tượng này có thể làm tiền đề cho hiện tượng khác Một nguyên nhân có thể mang lại nhiều kết quả khác nhau, hay một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây nên Việc phân chia mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối
Trang 127
Bốn là, khi xem xét một vấn đề không chỉ dựa vào hiện tượng và biểu hiện
bề ngoài mà phải chỉ ra, đánh giá đúng bản chất của hiện tượng, hành động đó Việc chỉ ra được bản chất thực sự của vấn đề chính là việc đạt được mục tiêu nghiên cứu
Ngoài ra, khi phân tích hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ, luận văn cũng đã vận dụng lý thuyết hệ thống và lý thuyết nhu cầu cũng như khung pháp lý của nhà nước về vấn đề này (sẽ trình bày kỹ hơn ở chương sau)
Khi thực hiện đề tài “Hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi
huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” tác giả đã đặt vấn đề việc làm, hỗ trợ việc làm của
người lao động trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, của tỉnh nói chung và của huyện Yên Mô nói riêng Các vấn đề như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chính sách
về lao động, việc làm, mạng lưới hỗ trợ việc làm cho người lao động, cơ cấu, chất lượng lao động… ảnh hưởng tới vấn đề việc làm, thu nhập và cuộc sống của người lao động nói chung và lao động nữ ở các xã miền núi nói riêng Các vấn đề này có liên quan đến nhau, ràng buộc lẫn nhau, có sự tương tác qua lại và hỗ trợ nhau Tác giả nhìn nhận các vấn đề trên bằng một cách khách quan nhất, để phân tích, nhận định, đánh giá, so sánh, chỉ ra tồn tại, hạn chế và lý giải các nguyên nhân từ đó rút ra những lý luận và đề xuất giải pháp về vấn đề nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp quan sát
Qua việc quan sát trực tiếp để thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến đề tài như: quan sát hành động, thái độ của người lao động trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp, khả năng đáp ứng yêu cầu về việc làm của họ; thái
độ, hành động của người tuyển dụng lao động đối với vấn đề này…
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Là phương pháp thu thập thông tin trên cơ sở trả lời bằng văn bản, đó là phương pháp phỏng vấn thông qua việc hỏi và trả lời trên giấy Tác giả thực hiện phương pháp này để tổng hợp các thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu Tổng
số đối tượng được nghiên cứu bằng bảng hỏi gồm 120 người là các lao động nữ ở
09 xã miền núi trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Nội dung của phiếu hỏi
Trang 138
được xây dựng tập trung vào một số nội dung gồm: khảo sát về chất lượng lao động nữ; khảo sát về tình trạng công việc; các chính sách hỗ trợ việc làm; cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp; khảo sát về những khó khăn đối với người lao động khi tìm việc làm; đánh giá của người lao động về tầm quan trọng của thông tin việc làm, các tiêu chí của việc làm
Trong quá trình trưng cầu ý kiến của người lao động, học viên cũng đã vận dụng các nguyên tắc của công tác xã hội (trình bày ở chương sau) trong hoạt động
hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động nữ để tìm hiểu nhu cầu và nguyện vọng của người lao động về vấn đề việc làm
5.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu:
Đề tài sử dụng những tài liệu, sách, báo, công trình nghiên cứu các văn bản
và định hướng của Nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến đề tài, thông qua việc phân tích, đánh giá, tổng hợp, làm phong phú và hoàn thiện hơn cho kết quả nghiên cứu và nhằm đem lại một cái nhìn khách quan, toàn diện về vấn đề nghiên cứu
5.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các tài liệu, số liệu, các thông tin đã thu thập được từ đó đưa ra các phân tích, đánh giá, nhận định đảm
bảo chính xác, khách quan các nội dung trong đề tài
5.2.5 Phương pháp chuyên gia
Tham vấn ý kiến của 06 người là các thầy giảng dạy tại Học viện Khoa học - Xã hội; lãnh đạo, công chức các Hội, đoàn thể và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Yên Mô Họ là những người có hiểu biết sâu, nắm chắc về chính sách, pháp luật, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn trong vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là góp phần cung cấp thêm thông tin và cơ
sở dữ liệu về vấn đề lao động, việc làm, hỗ trợ việc làm; Đề tài góp phần bổ sung những nội dung về vấn đề việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi vào hệ thống lý thuyết, nghiên cứu về việc làm nói chung
Trang 149
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu và phản ánh khá toàn diện về việc làm, cách thức hỗ trợ người lao động nữ tìm kiếm việc làm thông qua việc thực hiện các chính sách và mạng lưới hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Kết quả nghiên cứu góp phần phân tích cụ thể thực trạng các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ; thực trạng về đội ngũ những người làm nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội; chỉ ra những tồn tại, hạn chế, xác định được nguyên nhân của các vấn đề và đề xuất một số giải pháp hỗ trợ việc làm nhằm giúp lao động nữ có
cơ hội tìm được việc làm, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; giúp cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách có những giải pháp để sử dụng tốt hơn nữa nguồn lao động trên địa bàn huyện nói chung và lao động nữ ở các xã miền núi nói riêng
Đề tài là nguồn tham khảo cho các nghiên cứu về vấn đề lao động, việc làm
và là tài liệu học tập cho những đối tượng quan tâm đến vấn đề việc làm và hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nữ ở khu vực miền núi
Đề tài là tài liệu để giúp huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham khảo để xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, các chương trình, kế hoạch liên quan đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ các xã miền núi nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc làm và hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các
xã miền núi thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu hỗ trợ việc làm cho lao
động nữ ở các xã miền núi huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2018-2030
Trang 1510
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI
VỚI LAO ĐỘNG NỮ 1.1 Việc làm và hỗ trợ việc làm
1.1.1 Việc làm
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm việc làm:
- Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động Vì vậy, “Việc làm được coi là hoạt động
có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật)”; còn theo giáo trình Kinh tế Lao động của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà Nội thì “Việc làm là trạng thái phù hợp về số lượng và chất lượng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, để tạo ra hàng hoá theo yêu cầu của thị trường”
- Tại Khoản 1, Điều 9, Chương II (Việc làm) của Bộ luật Lao động được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/06/2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.”
Như vậy, theo Bộ luật Lao động thì khái niệm việc làm phải bao gồm những nội dung sau:
Một là, hoạt động đó phải là một hoạt động lao động Hoạt động lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội
Hai là, hoạt động lao động đó nhằm mục đích tạo ra thu nhập Thu nhập chính là các khoản nhận được bằng tiền hoặc hiện vật từ việc làm Người lao động
có thể nhận thu nhập từ người sử dụng lao động hoặc có thể tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ, hoặc
có thể đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực hiện công việc đó
Trang 16Thứ nhất, tính hợp pháp của một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp và thể chế của mỗi quốc gia, có thể trong cùng một quốc gia có những hoạt động ở thời kỳ này được coi là việc làm nhưng ở thời kỳ khác lại không được coi là việc làm Ví dụ: Hoạt động mại dâm ở Việt Nam là hành
vi vi phạm pháp luật và không được coi là việc làm, tuy nhiên hoạt động này lại được thừa nhận là việc làm ở một số nước như Thái Lan, Philipines… vì hoạt động này đáp ứng nhu cầu của một số nhóm người trong xã hội và đem lại thu nhập cho người bán dâm Hoạt động này được luật pháp bảo hộ, quản lý, được Bộ Y tế và các
cơ quan quản lý sức khoẻ của những nước này theo dõi, kiểm tra sức khoẻ định kỳ
và cấp giấy phép hành nghề
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làm công Ví dụ: Cùng là công việc nội trợ với thời gian như nhau nhưng một người làm công việc nội trợ của gia đình để giúp các thành viên trong gia đình yên tâm đi làm việc, mang lại nguồn thu nhập và không phải trả chi phí thuê người giúp việc nhưng không được trả công, không tạo ra thu nhập nên không được coi là việc
Trang 1712
làm Nhưng cũng với công việc như vậy của một người đi làm giúp việc cho gia đình khác và được trả công thì lại được coi là việc làm
Qua các khái niệm và phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về việc làm đó
là: Việc làm là những hoạt động lao động mang lại thu nhập cho người lao động
được xã hội thừa nhận mà không bị pháp luật ngăn cấm
1.1.2 Hỗ trợ việc làm:
Là tổng hợp các hoạt động cần thiết để tạo ra những việc làm mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm, tạo thêm việc làm cho người lao động còn thiếu và giúp họ tự tạo việc làm theo cơ chế ba bên đó là người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước
Nói cách khác đó là người lao động có được việc làm mới, việc làm thêm, tự tạo được việc làm thông qua sự hỗ trợ của nhà nước, của địa phương và sự nỗ lực của bản thân họ để có việc làm hoặc tự tạo việc làm, mang lại nguồn thu nhập hợp pháp cho bản thân và gia đình
1.2 Khái niệm về người lao động, đặc điểm và nhu cầu của lao động nữ
1.2.2 Đặc điểm tâm lý- xã hội, nhu cầu và đặc điểm việc làm của lao động nữ
* Đặc điểm tâm lý- xã hội
Trong xã hội, phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng góp phần tạo ra của cải, vật chất và thu nhập cho gia đình Những năm gần đây, khi lực lượng lao động
Trang 1813
nữ được quan tâm và tạo điều kiện hơn thì phụ nữ không chỉ bó hẹp trong công việc nội trợ hoặc nông nghiệp mà họ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh…Tuy nhiên với đặc điểm của người phụ nữ mang những thiên chức quan trọng đó là làm vợ và làm mẹ, vì vậy họ
có những đặc điểm riêng về giới tính chỉ phù hợp với những điều kiện lao động nhất định Do đó nhà nước cũng đã ban hành các quy định riêng đối với lao động nữ để vừa góp phần đảm bảo tính nhân văn, vừa đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng so với nam giới, vừa tạo điều kiện để họ thực hiện thiên chức quan trọng của người phụ nữ mà không ai có thể thay thế được đó là thiên chức làm mẹ và chăm sóc, nuôi dạy, bảo vệ thế hệ trẻ
Bên cạnh đó, tâm lý của người phụ nữ cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn hoặc quyết định công việc phù hợp Họ phù hợp với các công việc nhẹ nhàng, tỷ mỷ; họ cũng có những hạn chế về thể lực, sức khỏe và thời gian so với nam giới Phần lớn họ
có trình độ học vấn và tay nghề thấp hơn nam giới, số lao động nữ chưa qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ cao hơn, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi Đây chính là những trở ngại dẫn đến họ khó tìm kiếm được việc làm trên thị trường lao động
* Nhu cầu của lao động nữ
Hiện nay, vẫn còn nhiều lao động nữ có việc làm nhưng việc làm không đầy
đủ, không ổn định, thu nhập thấp, dễ mất việc vì vậy nhu cầu của lao động nữ nói chung và lao động nữ ở khu vực nông thôn, miền núi nói riêng về việc làm đó là được hỗ trợ học nghề, được vay vốn ưu đãi phát triển sản xuất, có được công việc phù hợp, có thu nhập ổn định để góp phần phát triển kinh tế gia đình
* Đặc điểm việc làm của lao động nữ
Từ các đặc điểm về tâm sinh lý và nhu cầu của lao động nữ đã hình thành nên những đặc điểm cơ bản về việc làm của lao động nữ đó là:
- Việc làm của lao động nữ tập trung ở các lĩnh vực hành chính sự nghiệp, các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, các lĩnh vực thương mại
và dịch vụ, nội trợ hoặc giúp việc gia đình Những công việc phù hợp với sức khỏe, tâm lý và thiên chức của người phụ nữ
Trang 191.3 Các tiêu chí đánh giá kết quả hỗ trợ việc làm
1.3.1 Số người có việc làm
Có nhiều định nghĩa về người có việc làm:
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quan niệm người có việc làm là tất cả các cá nhân ở một độ tuổi cụ thể trong một giai đoạn, thời gian nhất định, dù là một tuần hay một ngày đang làm việc được trả lương, tự làm việc, nội trợ, người đang nghỉ phép hoặc nghỉ bảo hiểm xã hội, người học việc nhận lương bằng tiền hoặc hiện vật, thành viên của lực lượng vũ trang (55, [tr47])
Theo tác giả thì người có việc làm được hiểu như sau: Người có việc làm là
những người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại một thời điểm nhất định, có tạo ra thu nhập bao gồm cả những người đang làm việc hay họ đang nghỉ việc tạm thời vì một lý do bất khả kháng
1.3.2 Số người được tạo việc làm: Là tổng số người tìm và có được việc
làm trong khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm)
1.3.3 Thiếu việc làm: Là người lao động đang có việc làm và muốn làm việc
thêm giờ (có nghĩa là muốn làm bổ sung thêm công việc khác so với công việc hiện tại để tăng thêm tổng số giời làm việc của mình; thay thế công việc hiện tại của mình bằng công việc khác với giờ làm việc được tăng thêm; tăng thêm giờ làm việc của công việc hiện tại; hay kết hợp những khả năng kể trên), có khả năng làm thêm giờ (có nghĩa là đã sẵn sàng làm thêm giờ trong thời gian tiếp sau được chỉ rõ làm khi có cơ hội làm thêm) và làm việc ít hơn ngưỡng dưới của thời giờ làm việc
1.3.4 Người thất nghiệp: Có một số quan niệm về người thất nghiệp:
Trang 2015
Theo Tổ chức Lao động quốc tế thì người thất nghiệp bao gồm các cá nhân ở
độ tuổi nhất định trong giai đoạn cụ thể không có việc làm, đang tích cực tìm việc
và sẵn sàng làm việc
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì người thất nghiệp bao gồm tất cả những người từ đủ 15 tuổi trở lên trong tuần lễ trước điều tra, đảm bảo các điều kiện là không có việc làm (có nghĩa là không có việc làm được trả công hay không tự làm việc, hay không phải là làm việc trong gia đình không hưởng công), hiện tại có khả năng làm việc (có nghĩa là có khả năng làm việc được trả công hay
tự làm việc trong thời gian liên quan) và đang đi tìm việc (có nghĩa là đã áp dụng các biện pháp để tìm việc làm được trả công hay tự làm việc trong thời gian gần đây, hoặc sẵn sàng làm việc)
Luận văn này xác định: Người thất nghiệp là những người từ đủ 15 tuổi trở lên, tại một thời điểm nhất định có khả năng làm việc nhưng không có việc làm
1.4 Nguyên tắc của công tác xã hội trong hoạt động giải quyết việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi
1.4.1 Nguyên tắc chấp nhận đối tượng
Trong hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ, cần chấp nhận đối tượng như bản thân họ vốn có, chấp nhận những suy nghĩ, quan điểm, những kiến thức, kỹ năng, trình độ hoặc những hạn chế của họ trong vấn đề tìm việc làm, tự tạo việc làm Trên cơ sở đó giúp họ nhìn nhận, định hướng và giải quyết các vấn đề mà bản thân họ chưa tự nhìn nhận hoặc làm được
1.4.2 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng
Nhân viên xã hội khi giải quyết các vấn đề của lao động nữ thì chỉ đóng vai trò cung cấp thông tin, hỗ trợ đối tượng tìm hiểu các vấn đề bản thân họ đang gặp phải hoặc đang mong muốn, giúp đối tượng lựa chọn các giải pháp và để họ tự quyết định lựa chọn những giải pháp phù hợp nhất với điều kiện và hoàn cảnh của bản thân Chỉ trong trường hợp những quyết định đó có ảnh hưởng tới sự an toàn của họ, gia đình hoặc những người có liên quan thì nhân viên xã hội mới can thiệp vào quyết định của họ
Trang 2116
1.4.3 Nguyên tắc tạo điều kiện để đối tượng tham gia giải quyết vấn đề:
Để thực hiện nguyên tắc này, nhân viên công tác xã hội để đối tượng chủ động tham gia giải quyết vấn đề của mình từ khi bắt đầu triển khai cho đến khi kết thúc hoạt động Bởi vì chính bản thân họ là người hiểu rõ ràng nhất vấn đề mình đang gặp phải, nguyên nhân của vấn đề, những mong muốn của bản thân khi giải quyết vấn đề đó, họ hiểu sâu sắc về hoàn cảnh gia đình và biết được những giải pháp hoặc những hỗ trợ nào là phù hợp với họ do vậy để họ được tham gia giải quyết vấn đề sẽ góp phần vào thành công trong hoạt động hỗ trợ
1.4.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khác biệt của mỗi trường hợp:
Mỗi một trường hợp cần trợ giúp có hoàn cảnh, nhu cầu, đặc điểm, suy nghĩ, trình độ, năng lực và môi trường sống khác nhau, do vậy trong quá trình trợ giúp đối tượng cần thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính khác biệt của mỗi cá nhân, tôn trọng tính khác biệt của từng trường hợp để tìm ra phương pháp tiếp cận và hỗ trợ giải quyết hiệu quả, phù hợp Hoặc cần tách nhóm các đối tượng có cùng vấn đề, cùng hoàn cảnh và nhu cầu để có giải pháp hỗ trợ hoặc giúp đỡ phù hợp với từng người, nhóm người
1.5 Nội dung của hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ
Nghiên cứu, đánh giá thực tế về tình hình lao động, việc làm của lao động nữ
ở các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô như tổng số lao động nữ, cơ cấu lao động theo độ tuổi, theo trình độ học vấn, trình độ chuyên môn; số lao động đã có việc làm, lao động chưa có việc làm, mạng lưới các cơ sở dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho lao động nữ; số doanh nghiệp đã và đang tham gia vào việc giải quyết việc làm cho lao động nữ ở địa phương
Phân tích thực trạng các về lao động, việc làm, thực trạng các hoạt động hỗ trợ việc làm và thực trạng đội ngũ những người làm nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội ở địa phương Qua đó đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại; chỉ ra nguyên nhân các vấn đề và đề xuất các giải pháp để hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nữ ở các xã miền núi trên địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2018-2030
Trang 2217
1.6 Hệ thống lý thuyết công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ các xã miền núi
1.6.1 Lý thuyết hệ thống
Trong công tác xã hội, nhân viên xã hội cần áp dụng nhiều kĩ năng, kiến thức
và lí thuyết khác nhau để giải thích hành vi của thân chủ, từ đó đưa ra được tiến trình giúp đỡ phù hợp, mang lại hiệu quả cao Thuyết hệ thống là một trong những lí thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội Khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ cá nhân không thể thiếu được lí thuyết hệ thống bởi nhân viên xã hội cần chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và tham gia các hệ thống Có như vậy thì nhân viên xã hội mới thực sự hoàn thành tiến trình giúp đỡ cá nhân Chỉ khi nào thân chủ được sự giúp đỡ và tham gia các hệ thống họ mới thực sự trở lại là chính họ
Năm 1940, nhà sinh vật học Ludwig Von Bertalanffy đã khởi xướng ra thuyết hệ thống (tên gọi: lý thuyết hệ thống chung – General systems theory, 1968) Theo ông thì những hệ thống thực tế là mở và có sự tương tác lẫn nhau với môi trường và chúng có thể thêm những thuộc tính, định tính mới thông qua biểu hiện mới và kết quả của sự tiến hoá liên tục, nó là sự kết hợp các yếu tố có tính tương tác lẫn nhau Hệ thống có thể mang tính chất vật chất, cơ học, sinh động và xã hội Theo Từ điển tiếng việt thì khái niệm Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất [45, tr434 ], còn dưới góc độ của công tác xã hội thì hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống
Lí thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm và ngược lại; chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân Nhân tố quan trọng của hệ thống cấu trúc là cấu trúc của hệ thống và sự tác động qua lại của hệ thống Cấu trúc của hệ thống chính là cách thức tổ chức của hệ thống Sự tác động
Trang 2318
qua lại đề cập đến mối quan hệ giữa cá nhân với nhau trong hệ thống và quan hệ với môi trường xung quanh của họ
Trong công tác xã hội, khi nghiên cứu, tìm hiểu về thân chủ chúng ta cần đặt
họ trong các hệ thống như hệ thống gia đình, xã hội, cộng đồng…đặt họ trong môi trường sống và các mối quan hệ tương tác của họ với các hệ thống khác Với Thuyết hệ thống, nhân viên xã hội biết được lao động nữ, hộ gia đình có lao động
nữ chính là một nhóm hệ thống và các thành viên có sự tương tác qua lại giữa các thành viên trong nhóm với nhân viên công tác xã hội…Nghiên cứu thuyết hệ thống
để có cơ sở hỗ trợ, giúp đỡ lao động nữ thông qua các hệ thống khác nhau
1.6.2 Lý thuyết về nhu cầu
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908 - 1970) đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người và phát triển lý thuyết, tháp nhu cầu của con người trong đó ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc được thể hiện dưới dạng hình kim tự tháp Các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Những nhu cầu xếp ở phía trên là những nhu cầu phát triển, hoàn thiện cá nhân, những nhu cầu xếp ở phía dưới là những nhu cầu cơ bản đại diện cho sự tồn tại của con người
Hình 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow
(Nguồn: Sưu tầm từ Internet)
Trang 24- Họ có nhu cầu được học nghề, được hỗ trợ các chính sách sau khi học nghề như
có việc làm phù hợp với nghề nghiệp được đào tạo, việc làm ổn định, thu nhập khá
- Họ có nhu cầu được hưởng các chính sách của nhà nước trong hỗ trợ việc làm cụ thể đó là các chính sách về hỗ trợ đào tạo nghề, vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lao động
- Họ có nhu cầu được biết về thông tin thị trường lao động, về các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan đến công tác lao động, việc làm, biết về các quy định về thủ tục, hồ sơ hỗ trợ vay vốn, đăng ký kinh doanh, hồ sơ tuyển dụng lao động…
Vận dụng lý thuyết nhu cầu trong công tác xã hội để thực hiện các hoạt động
hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi, căn cứ vào những nhu cầu của lao động nữ để sắp xếp theo Tháp nhu cầu của Maslow theo từng nhóm Nhu cầu nào cơ bản, cần được quan tâm thì ưu tiên hỗ trợ trước Trong các hoạt động hỗ trợ, đáp ứng được nhu cầu của lao động nữ chính là đã đạt được mục đích của công tác xã hội đối với lao động
1.7 Cơ sở pháp lý về hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều văn bản Luật, dưới Luật về lao động, việc làm trong đó có quy định về các vấn đề có liên quan đến lao động nữ cụ thể đó là:
- Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội khóa 13, trong đó dành riêng một Chương X Những quy định riêng đối với lao động nữ, quy định các chính sách của Nhà nước, nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ, bảo vệ thai sản, bảo vệ việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản và những công việc không được sử dụng lao động nữ [37]
Trang 25- Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về chính sách đối với lao động
nữ, quy định về đại diện của lao động nữ; quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai; giúp đỡ, hỗ trợ của người sử dụng lao động trong việc xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo; tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi
có nhiều lao động nữ và chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ; [13]
- Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm, trong đó có các quy định liên quan hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nữ như hỗ trợ tạo việc làm
từ Quỹ quốc gia về việc làm, chính sách việc làm công, hỗ trợ lao động đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng [14]
- Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, quy định các mục tiêu và giải pháp nhằm giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh
tế, lao động, việc làm; tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ
nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động [39]
Bên cạnh đó, các chính sách về hỗ trợ lao động thuộc 62 huyện nghèo đi xuất khẩu lao động theo Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009 của
Trang 2621
Thủ tướng Chính phủ [43]; chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ [42]; chính sách phát triển dịch vụ việc làm và thị trường lao động đều hướng tới việc hỗ trợ học nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần giải quyết việc làm cho lao động nữ
1.8 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ việc làm
1.8.1 Điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, đất đai, tài nguyên khoáng sản… nó được hình thành một cách tự nhiên ngoài ý muốn chủ quan của con người Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều nằm trên những vị trí địa lý nhất định, từ đó nó có đặc điểm khác biệt
về khí hậu, thời tiết, tài nguyên, khoáng sản…Những đặc điểm khác biệt đó ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là sản xuất nông lâm ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch, sản xuất nông nghiệp…Vì vậy, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội qua đó ảnh hưởng đến các hoạt động hỗ trợ việc làm của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương
Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên chỉ là những tiềm năng để phát triển ngành này hay ngành khác Điều quan trọng là làm thế nào để các điều kiện tự nhiên sẵn có thành nguyên, nhiên liệu… phục vụ cho sản xuất và đời sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương Muốn làm được điều đó thì vốn là một trong những yếu tố quan trọng để có thể mua sắm máy móc, trang thiết bị, công nghệ, dây chuyền sản xuất để khai thác, chế biến các nguyên liệu, tài nguyên có sẵn để trở thành những sản phẩm phục vụ đời sống xã hội, phát triển kinh tế vùng, miền
Qua phân tích trên có thể thấy các yếu tố như điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, tạo việc làm của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Vì vậy, cần chú trọng đến sự ảnh hưởng của các yếu tố này, cần biết khai thác tận dụng những ưu thế mà thiên nhiên ban tặng cho mỗi quốc gia, mỗi vùng, địa phương đồng thời đẩy mạnh thu hút vốn, phát triển những máy móc thiết
Trang 27có để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động và những đặc điểm của lao động
nữ mà người sử dụng lao động, Nhà nước và những nhà hoạch định chính sách cần nhìn rõ để có những biện pháp thích ứng trong việc tạo việc làm phù hợp cho lao động nữ trong đó có lao động nữ ở khu vực miền núi
Về số lượng sức lao động thể hiện ở thời gian lao động và cường độ lao động của mỗi người Chất lượng lao động bao hàm nội trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành kỷ luật, sức khoẻ…của lao động nữ
Bên cạnh đó, Nhà nước và người sử dụng lao động cần phải có những biện pháp để tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận với các thông tin trên thị trường lao động, hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động…Vấn đề sử dụng lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm và duy trì việc làm Nếu quản lý và sử dụng lao động có hiệu quả sẽ góp phần tạo mở việc làm, ngược lại nếu quản lý và sử dụng lao động không hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh từ đó làm giảm vị trí việc làm của lao động
Như vậy, nhân tố sức lao động và sử dụng lao động có ảnh hưởng quyết định đến tạo việc làm, khả năng thu hút lao động vào làm việc, khả năng tìm kiếm việc làm và đáp ứng yêu cầu công việc từ đó ảnh hưởng đến khả năng duy trì và phát triển việc làm Vì vậy, để tạo việc làm, duy trì và phát triển việc làm thì cần có sự tham gia của cả nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động trong việc phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng lao động và nâng chất lượng sức lao động…
Trang 2823
1.8.3 Cơ chế, chính sách hỗ trợ việc làm
Cơ chế, chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương hay các quy định của chủ doanh nghiệp cũng là nhóm nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi quốc gia, mỗi địa phương sẽ đề ra những cơ chế, chính sách cụ thể tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống Nhóm nhân tố này rất đa dạng gồm các chính sách kinh tế, chính sách vốn, chính sách phát triển khoa học, công nghệ,…và
có thể theo ngành, lĩnh vực, vùng Trong những năm qua với mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chính sách góp phần không nhỏ vào tạo việc làm cho người lao động như chính sách đổi mới kinh tế chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang phát triển mạnh nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, hệ thống các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, các chính sách phát triển trung tâm Dạy nghề, chính sách khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, chính sách xuất khẩu lao động… đã và đang tạo được nhiều việc làm cho người lao động
Các chủ trương, chính sách của nhà nước như xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, trường, trạm, điện, nước, thông tin liên lạc …); xây dựng các khu công nghiệp; phát triển các làng nghề, đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn đã tạo điều kiện cho người lao động học tập nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề, nâng cao khả năng tìm được việc làm của người lao động
Tóm lại, cơ chế, chính sách tạo việc làm của nhà nước và chính quyền địa phương có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thị trường lao động, nhu cầu sử dụng lao động, khả năng đáp ứng công việc và tìm được việc làm của người lao động,
từ đó ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng việc làm được tạo ra Vì vậy, với mục tiêu tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp thì Nhà nước và các địa phương cần phải có những cơ chế, chính sách hợp lý để tạo việc làm cho người lao động Bên cạnh đó,
Trang 292014, 2015, 2016 [50]
Thông qua hệ thống các văn bản được ban hành, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về việc làm, hỗ trợ tạo việc làm đã được huyện Yên Mô cụ thể hóa và triển khai thực hiện tương đối hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương
1.8.5 Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức:
Việc triển khai các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ, công chức, những người trực tiếp truyền tải và tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch của nhà nước đến với người lao động
Do vậy đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là những người làm công tác liên quan
Trang 3025
đến lao động, việc làm phải có chuyên môn, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm trong công việc Đây chính là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ ở các xã miền núi nói riêng
Kết luận chương 1
Việc làm nói chung và hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ nói riêng là một vấn đề xã hội bức xúc được sự quan tâm của Đảng, nhà nước và các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh tới cơ sở Trong Chương 1 của Luận văn, tác giả đã đưa ra các khái niệm về việc làm, hỗ trợ việc làm, các tiêu chí đánh giá hoạt động hỗ trợ việc làm…và các khái niệm có liên quan khác để khái quát, giúp người đọc hình dung được đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và các nội dung liên quan
về vấn đề nghiên cứu; tìm hiểu, xác định đặc điểm cũng như nhu cầu của lao động
nữ để làm căn cứ cho các hoạt động hỗ trợ việc làm phù hợp và mang lại hiệu quả thiết thực Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc và nội dung của hoạt động hỗ trợ việc làm; đưa ra hệ thống lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu hoạt động hỗ trợ việc làm; hệ thống hóa các căn cứ pháp lý và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm, hỗ trợ việc làm đối với lao động
Tóm lại, trong Chương 1 tác giả đã đề cập và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về lao động, việc làm Đây là cơ sở lý luận cần thiết là tiền đề để tác giả phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ trong Chương 2 của Đề tài
Trang 3126
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG
NỮ CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
* Điều kiện tự nhiên
Bản đồ 2.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Mô
Huyện Yên Mô nằm ở phía Đông Nam tỉnh Ninh Bình, cách trung tâm thành phố Ninh Bình 15 km về phía Nam Huyện có diện tích đất tự nhiên là 144,1 km2, với 16 xã, 01 thị trấn trong đó có 09 xã miền núi
Huyện Yên Mô có diện tích đất nông nghiệp là 10,120.1 ha (chiếm 69.27% diện tích tự nhiên); đất phi nông nghiệp: 4,010.8 ha (chiếm 27.45% diện tích tự nhiê); Đất chưa sử dụng: 478.9 ha (chiếm 3.28% diện tích tự nhiên)[29] Trên địa bàn huyện
có nhiều tuyến giao thông quan trọng: đường bộ có Quốc lộ 1A, tỉnh lộ ĐT 480, ĐT480B, ĐT480C, ĐT480D chạy qua địa bàn nhiều xã; tuyến đường sắt Bắc- Nam chạy qua phía Bắc huyện dài 2,04 km; địa hình đa dạng, có đồi, núi và đất bằng, có tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên phong phú như tiềm năng về du lịch (du lịch sinh thái, có sân Golf Hồ Yên Thắng, động Mã tiên, Cửa thần phù ); huyện có 09 xã có núi có đá vôi với trữ lượng lớn, chất lượng tốt; có tài nguyên về đất sét làm nguyên liệu để sản xuất gạch, ngói thủ công nghiệp và nguyên liệu cho ngành đúc Toàn
Trang 3227
huyện hiện có hơn 20 doanh nghiệp đang khai thác, sản xuất nguyên liệu xây dựng đã tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động từ tiềm năng sẵn có của địa phương [51]
* Điều kiện kinh tế
Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Yên Mô đã
có những bước phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ; nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa; phong trào xây dựng nông thôn mới được nhân rộng và đạt kết quả quan trọng Mặc dù còn nhiều khó khăn như nhu cầu đầu tư cho phát triển, đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội lớn nhưng nguồn lực hạn hẹp, diễn biến thời tiết phức tạp ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, sâu sát của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, kinh tế- xã hội của huyện
đã có nhiều chuyển biến tích cực Kinh tế có bước phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 6%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được đầu tư; văn hóa- xã hội có nhiều tiến bộ; an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hoàn thành và hoàn thành vượt
mức chỉ tiêu kinh tế- xã hội đặt ra hàng năm (Phụ lục số 11 Kết quả thực hiện các chỉ
tiêu kinh tế- xã hội năm 2016)
* Về văn hoá, giáo dục, y tế
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao trên địa bàn huyện phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu truyền tải thông tin, tuyên truyền, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội ở địa phương và nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được quan tâm thực hiện tốt 100% xã, thị trấn đã quy hoạch Trung tâm văn hoá gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới; có 86,82% gia đình văn hóa; 100% thôn, xóm, tổ dân phố có nhà văn hoá, điểm sinh hoạt văn hóa; 45 khu dân cư được công nhận và công nhận lại Danh hiệu thôn, xóm văn hóa [51]
Trang 3328
Sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển toàn diện cả về quy mô, số lượng, chất lượng, toàn huyện có 51/53 trường học đạt chuẩn quốc gia, huyện được công nhận đạt phổ cập giáo dục năm 2016 Tỷ lệ học sinh công nhận hoàn thành chương trình Tiểu học đạt 100%; xét công nhận tốt nghiệp THCS đạt 98,5% và bổ túc THCS đạt 93,1% Toàn huyện có 672/724 phòng học kiên cố, đạt tỷ lệ 92,7%; có 46/53 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 86,79%.[51]
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ trên cả hai lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng Trong năm 2016, các cơ sở y tế đã khám cho 182.344 lượt người, khám dự phòng cho 58.996 lượt người, điều trị nội trú cho trên 10.400 lượt bệnh nhân.[51]
Tình hình chính trị, trật tự, an toàn xã hội luôn ổn định Hệ thống đảng và chính quyền các cấp luôn phát huy tốt vai trò lãnh đạo và quản lý nhà nước ở địa phương Kỷ cương, kỷ luật xã hội được giữ vững Tất cả các yếu tố trên đang ảnh hưởng rất tích cực đến nhân dân nói chung và lao động nữ nói riêng trong việc tạo, tìm kiếm cơ hội việc làm và phát triển sản xuất kinh doanh…
2.1.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu
* Thực trạng về lao động nữ ở các xã miền núi huyện Yên Mô
- Về số lượng: Tính đến tháng 12 năm 2016, dân số của 09 xã miền núi là 61.796 người trong đó nữ là 31.920 người, chiếm tỷ lệ 51,65 % Số người từ 15 tuổi
trở lên là 48.140 người trong đó số lao động nữ 23.269 người, chiếm tỷ lệ 48,34%
(Phụ lục số 01 Số liệu dân số, lao động huyện Yên Mô tính đến thời điểm
31/12/2016)
Số liệu thống kê lao động nữ chiếm trên 60% lực lượng lao động nông nghiệp trong huyện Thu nhập của người lao động chủ yếu từ nông nghiệp, mức thu nhập bấp bênh, đời sống gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, do họ ít có cơ hội được làm việc trong các môi trường lao động chuyên nghiệp, năng động nên cũng hạn chế đi sự sáng tạo, nhiệt huyết và trình độ, năng lực của bản thân
- Về chất lượng:
Trang 3429
+ Trình độ học vấn: Sau nhiều năm tập trung các giải pháp đẩy mạnh phát triển giáo dục của các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện, đến nay trình độ học vấn của lao động nữ thuộc các xã miền núi huyện Yên Mô đã được nâng lên Số người tốt nghiệp Trung học phổ thông so với tổng số lao động trong độ tuổi cao và
có chiều hướng tăng qua các năm Năm 2014, số người tốt nghiệp Trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 67,53% so với tổng số lao động nữ; đến năm 2016 là 68,73% so với tổng số lao động nữ Số người tốt nghiệp THCS chiếm khoảng 31%, số người
tốt nghiệp tiểu học chiếm khoảng 2% so với tổng số lao động nữ (Phụ lục số 02:
Bảng thống kê trình độ văn hóa của lao động nữ ở các xã miền núi)
+ Trình độ chuyên môn, tay nghề của lao động nữ:
Mặc dù xu hướng chung trên toàn huyện, lực lượng lao động tăng cả về số lượng và chất lượng qua các năm, nhưng trên thực tế, chất lượng lao động nữ ở các
xã miền núi còn thấp, trình độ trình độ chuyên môn, tay nghề còn hạn chế, số lao động có trình độ Đại học, cao đẳng thấp (chiếm tỷ lệ 3,44%), số chưa qua đào tạo cao (chiếm 77,1%), do đó vẫn còn nhiều lao động nữ ở các xã miền núi không có đủ việc làm, hoặc có việc làm nhưng công việc mang tính chất giản đơn, chất lượng thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt theo kiểu truyền thống Bên cạnh đó, tình trạng lao động đã qua đào tạo nhưng không phù hợp với cơ cấu ngành nghề và yêu cầu của sản xuất cũng đang diễn ra khá phổ biến Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của huyện; đồng thời hạn chế cơ hội tìm kiếm và nâng cao chất lượng việc làm của người lao động
Số lao động nữ chưa qua đào tạo, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ cao (chiếm 77,1% năm 2014; 75,5% năm 2015 và 72,7% năm 2016); số lao động có trình độ Đại học, cao đẳng, sơ cấp và trình độ nghề chiếm tỷ lệ thấp
(chưa đạt 10% so với tổng số lao động nữ) (Phụ lục số 03: Thống kê trình độ
chuyên môn của lao động nữ ở các xã miền núi)
Như vậy có thể thấy chất lượng lao động nữ khu vực miền núi rất thấp Đây
là một thách thức lớn của huyện trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
Trang 3530
đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững Chất lượng lao động thấp đồng nghĩa với việc làm không bền vững, mức tiền công lao động thấp, công việc không ổn định và không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất và quản
lý Chất lượng lao động thấp cũng là một yếu tố quan trọng liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm và khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm của lao động nữ Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy yêu cầu lao động qua đào tạo, lao động có nghề đang là nhu cầu cấp bách và khách quan của thị trường lao động, do vậy, việc tăng cường công tác đào tạo nghề cho lực lượng lao động nữ trong những năm tới phải được xem là hướng ưu tiên trọng điểm
- Về độ tuổi:
Đa số lao động nữ các xã miền núi huyện Yên Mô tập trung ở nhóm tuổi từ 15- 35 tuổi (năm 2014 là 38,25%; năm 2015 là 36,1%; năm 2016 là 36,2%) Số lao động trong độ tuổi từ 35-45 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao (năm 2014 là 30,7%, năm 2016
là 31,98% Lực lượng lao động nữ tập trung nhiều trong độ tuổi trẻ (từ 15-45 tuổi) Đây là độ tuổi lao động tập trung sức khỏe, trí tuệ cao nhất vì vậy, nếu khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lao động, tạo được nhiều việc làm thì sẽ phát triển kinh tế, cải
thiện đời sống nhân dân (Phụ lục số 04: Độ tuổi lao động nữ các xã miền núi qua
nữ ở các xã miền núi nói riêng, nhất là độ tuổi từ 35 tuổi trở lên cũng gặp nhiều trở ngại do khả năng chuyển đổi, thích ứng của người lao động với nghề mới và việc đào tạo nghề mới cho đối tượng này gặp khó khăn hơn nhiều so với lực lượng lao động ở
Trang 36* Thực trạng việc làm của lao động nữ ở các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô
Nhìn chung lao động nữ ở các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô phần lớn có việc làm nhưng chưa đủ việc làm, họ tự tạo việc làm thông qua sản xuất nông nghiệp như chăn nuôi, trồng trọt hoặc làm các nghề tiểu thủ công nghiệp trong lúc nông nhàn Tuy nhiên, các công việc mang tính thời vụ, không thường xuyên, mức thu nhập từ việc làm còn thấp, bấp bênh, chưa ổn định do vậy đời sống của lao động
nữ ở các xã miền núi và gia đình của họ còn gặp nhiều khó khăn
Số lao động nói chung và số lao động nữ các xã miền núi thuộc huyện Yên
Mô được tạo việc làm mới tăng lên qua các năm Năm 2014, tổng số lao động có việc làm ở 09 xã miền núi là 35.728 người trong đó có 17.432 lao động nữ; năm
2015 có 36.974 người trong đó có 18.178 lao động nữ có việc làm Năm 2016 có 38.083 người trong đó có 18.881 lao động nữ thuộc 09 xã miền núi có việc làm So
sánh năm 2014 với năm 2016, số lao động nữ có việc tăng 1.449 người (Phụ lục số
05 Tình hình việc làm của lao động nữ ở các xã miền núi qua các năm)
Nguyên nhân là do trong những năm gần đây, các công ty, doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện và các vùng lân cận mở rộng phát triển sản xuất, đặc biệt là ngành công nghiệp may mặc, giầy da và một số ngành tiểu thủ công nghiệp như đan thảm cói,
Trang 3732
vặn bèo, tết bện lúa non… đã thu hút một số lượng lớn lao động nữ thuộc các xã miền núi, tạo thêm được nhiều việc làm mới, có thu nhập tương đối ổn định điển hình như công ty giầy da, doanh nghiệp sản xuất thảm cói, công ty may xuất khẩu…
Tỷ lệ người có việc làm không thường xuyên so với số người có việc làm thường xuyên khá cao (số liệu qua các năm dao động từ 12% đến 15%), số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên có chiều hướng giảm Năm
2014, số lao động nữ thất nghiệp chiếm 28,98% so với tổng số lao động nữ; năm
2016, số lao động nữ thất nghiệp chiếm 24,69% so với tổng số lao động nữ trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên Đây là một tín hiệu đáng mừng trong khi tình trạng chung toàn tỉnh và cả nước tỷ lệ thất nghiệp đang ngày càng gia tăng, số lao động trong độ tuổi bao gồm cả những người đã được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc không có trình độ, tay nghề đều gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề giải quyết
việc làm (Phụ lục 6 Số lao động nữ ở các xã miền núi từ 15 tuổi trở lên hoạt động
kinh tế thường xuyên chia theo tình trạng việc làm)
- Quy mô tạo việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi:
Cầu lao động nữ ở các xã miền núi được phản ánh ở tình trạng việc làm và thất nghiệp, thiếu việc làm của lao động nữ Nhu cầu việc làm của lao động nữ ở khu vực miền núi huyện Yên Mô có xu hướng tăng qua các năm
Bảng 2.1 Tổng số việc làm mới cho lao động nữ qua các năm
Đơn vị tính: người, %
Chỉ tiêu Năm 2014 2015 2016
Số việc làm mới tăng thêm của lao động nữ các xã
miền núi
Tỷ lệ lao động nữ được tạo việc làm mới so với
tổng số lao việc làm mới được tạo thêm
Nguồn: Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội, báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm huyện Yên Mô các năm 2014, 2015, 2016
Trang 3833
Qua bảng 2.1 cho thấy, số việc làm mới có xu hướng tăng lên qua các năm Năm 2014 có 546 lao động nữ các xã miền núi tạo được việc làm mới, đạt 26% so với tổng số việc làm mới được tạo thêm trên toàn huyện; năm 2016 có 629 lao động tạo được việc làm mới, đạt 30% so với tổng số việc làm mới được tạo thêm trên toàn huyện (tăng 83 người tương ứng với 4% số lao động ở các xã miền núi có việc làm mới)
* Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xã hội
Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg Phê duyệt đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-
2020 trong đó nêu rõ mục tiêu cụ thể giai đoạn 2010-2015 là phát triển đội ngũ cán
bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội trong cả nước, phấn đấu đến năm 2015 tăng khoảng 10% Trong đó, mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất từ 01 đến
02 cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội thuộc chức danh không chuyên trách hoặc cộng tác viên công tác xã hội [41, tr2] Tuy nhiên, đến nay ở tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Yên Mô đều chưa được bố trí chức danh cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội ở cơ sở chủ yếu
do công chức Văn hóa- Xã hội (phụ trách công tác Lao động- Thương binh và Xã hội) cấp xã thực hiện Ngoài ra còn có sự trợ giúp trong các hoạt động công tác xã hội của các cán bộ, công chức, viên chức khối huyện, cán bộ các hội, đoàn thể cấp xã, người hoạt động không chuyên trách và chi hội ở các thôn, xóm, tổ dân phố Về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách, chi hội trưởng các hội, đoàn thể ở cơ sở (hiện đang thực hiện nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội gọi tắt là nhân viên công tác xã hội) cụ thể như sau:
Trang 39học, sau đại học
Trung cấp
Sơ cấp
Chưa qua đào tạo
Đã qua đào tạo, bồi dưỡng
Chưa qua đào tạo, bồi dưỡng
Người hoạt động không
chuyên trách và chi hội
trưởng các chi hội ở thôn
thuộc các xã miền núi
số người được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về công tác xã hội; Số nhân viên công tác
xã hội ở 09 xã miền núi có trình độ đại học chiếm tỷ lệ 46,8%; số có trình độ trung cấp chiếm 33,9%, còn lại là sơ cấp và chưa qua đào tạo về chuyên môn Trong đó chỉ
có 21,03% số người đã qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về công tác xã hội Số nhân viên công tác xã hội là những người hoạt động không chuyên trách và chi hội trưởng các chi hội trưởng các chi hội ở thôn, xóm thuộc 09 xã miền núi gồm 580 người, trong đó có tới 95,9% số người chưa qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và 100%
số người chưa qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về công tác xã hội
Từ phân tích trên cho thấy, chất lượng đội ngũ nhân viên công tác xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là đội ngũ nhân viên công tác xã hội ở cấp xã và ở các thôn,
Trang 4035
xóm thuộc các xã miền núi, trình độ, năng lực hạn chế, công việc chủ yếu là kiêm nhiệm, chế độ trợ cấp, phụ cấp thấp (Người hoạt động không chuyên trách cấp xã hưởng mức phụ cấp 0,7 lương cơ sở/tháng, chi hội trưởng ở thôn, xóm hưởng mức phụ cấp hệ số 0,15lương cơ sở/tháng) là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động công tác xã hội ở cơ sở nói chung và hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ ở các xã miền núi nói riêng
2.2 Thực trạng về các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ ở các xã miền núi thuộc huyện Yên Mô
2.2.1 Hoạt động hỗ trợ việc làm thông qua dạy nghề và giới thiệu việc làm
Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, Ủy ban nhân dân huyện Yên Mô đã chỉ đạo việc thành lập các Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg từ huyện đến các xã, thị trấn để tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Đồng thời chỉ đạo Trung tâm Dạy nghề huyện xây dựng kế hoạch mở các lớp dạy nghề và giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn Kết quả hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm đã giúp cho người lao động lựa chọn được ngành nghề và tìm được việc làm phù hợp với khả năng, tay nghề và hoàn cảnh của bản thân
Tỷ lệ lao động nữ được học nghề so với tổng số lao động được học nghề ở các
xã miền núi tương đối cao Tính từ năm 2014 đến năm 2016, đã có 5.422 lượt lao động
ở các xã miền núi được đào tạo nghề, trong đó có 4.144 lao động nữ, chiếm tỷ lệ 76,43%; trong đó năm 2014 số lao động nữ được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ 75%; năm
2015 là 77,32%; 2016 là 76,89% Nghề được đào tạo nhiều nhất là các nghề phi nông nghiệp như nghề may công nghiệp, tết bện lúa non xuất khẩu, thêu ren, đan cói bèo bồng, mỹ ký , trong 3 năm đã tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp cho 3.228/5.422 lao động, chiếm tỷ lệ 59,54%, số lao động thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ bị thu hồi được đào tạo nghề là 346 người Từ năm 2014 đến năm 2016 đã có 2.575 lao động nữ ở các xã miền núi có việc làm sau khi học nghề, đạt tỷ lệ 62,14% và có chiều hướng gia tăng qua các năm Năm 2014, đạt 58%, năm 2015 đạt tỷ lệ 63% và năm