1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên

84 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức tầm quan trọng của nghiên cứu về nghèo đối với công tác xoá đói giảm nghèo, tác giả thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên” nhằm phân tích thực trạn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THUÝ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THUÝ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học về “Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Quang Tuấn Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vị hiểu biết của tôi

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Thuý

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên nghành Kinh tế học đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo ở tỉnh Điện Biên” ngoài sự nỗ lực nghiên cứu học hỏi của bản thân, tôi còn nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ của thầy cô và gia đình

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS TS Bùi Quang Tuấn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy, cô tại Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian và tài liệu học tập trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi đã rất cố gắng học hỏi nghiên cứu nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

ỘT SỐ VẤ ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO 8

1.1 Khái niệm nghèo 8

1.2 Phân loại nghèo 9

1.3 Đo lường nghèo và các chuẩn nghèo đã và đang áp dụng 10

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nghèo 15

1.5 Kinh nghiệm giảm nghèo 22

Ự Ế Ố Ả ỞNG TỚI NGHÈO T

Đ ỆN BIÊN 24

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 24

2.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo ở tỉnh Điện Biên 26

2.3 Đánh giá chung 55

Ộ Ố ĐỐI VỚ Ả Ở

Đ ỆN BIÊN 58

3.1 Bối cảnh mới của giảm nghèo 58

3.2 Quan điểm và định hướng giảm nghèo bền vững của tỉnh Điện Biên 63 3.3 Hàm ý chính sách 63

KẾT LUẬN 71

Trang 6

LĐ, TB & XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

MDGs Các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ

NSNN Ngân sách nhà nước

PRPP Dự án “Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP

về định hướng giảm nghèo bền vững 2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)”

(2011-SDGs Các Mục tiêu phát triển bền vững

TCTK Tổng cục Thống kê

TCTK – NHTG Tổng cục Thống kê – Ngân hàng Thế giới

UBND Uỷ ban nhân dân

UN Liên hợp quốc - United Nations

UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc United

Nations Development Programme VHLSS 2014 Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2014

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1 Những yếu tố ả ở đến nghèo phân theo cấp độ 16

Bả T h nghèo (%) 17

Bảng 1.3 Nhân khẩu bình quân một hộ 20

Bảng 2.1 Nghèo ở tỉ Đ ện Biên theo chuẩ è đ ạn 2011-2015 26

Bảng 2.2 Tỷ lệ hộ nghèo của 7 huyện nghèo tỉ Đ ện Biên (%) 27

Bảng 2.3 Hộ nghèo DTTS của 7 huyện nghèo tỉ Đ ệ B ê ă 0 4 28

Bảng 2.4 Kết quả mô hình hồi quy các yếu tố ả ởng tới nghèo 49

Bả 6 C ê ê dù đầ ời theo hộ ở Đ ệ B ê ( 000 đồng) 51

Bảng 2.7 Quy mô hộ - tỷ lệ phụ thuộc và theo các nhóm chi tiêu ở Đ ện Biên 52

Bảng 2.8 Tỷ lệ ó/k ô ó đ ờ ô ô đến thôn/bản ở Đ ện Biên (%) 53

Bả 5 T ì độ học vấn củ ời nghèo (Từ 15 tuổi trở lên) ở Đ ện Biên 54

Bả 9 Đấ đ á ó ê và dâ ộc ở Đ ện Biên 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giảm nghèo luôn đóng vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển Việt Nam là nước đang phát triển, công tác giảm nghèo luôn được ưu tiên quan tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Giảm nghèo là một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trong giai đoạn 2011 – 2015 và mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp đến năm 2030 Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu giảm nghèo ấn tượng, điều này đã được công nhận rộng rãi trong tất cả nghiên cứu về giảm nghèo Tỷ lệ nghèo theo chuẩn đơn chiều quốc gia đã giảm từ 30% (năm 1993) xuống 14,2% (năm 2010) và 8,4% (năm 2014) Theo chuẩn nghèo đơn chiều của Tổng cục Thống kê - Ngân hàng thế giới, năm 1993, tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 58,1% đã nhanh chóng giảm xuống 14,5% (năm 2008) và 20,7% (năm 2010) Mặc dù đã đạt được những thành tựu lớn trong giảm nghèo nhưng Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức Giảm nghèo ở Việt Nam vẫn chưa bền vững Các địa phương vùng sâu, vùng xa và khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu

số vẫn thuộc diện nghèo kinh niên

Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam là khu vực có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước Đồng thời đây cũng là khu vực khó khăn nhất cả nước có đặc điểm tự nhiên địa hình hiểm trở nhiều núi cao, giao thông khó khăn, đồng bào các dân tộc thiểu số tập trung đông cùng với tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước trong những năm qua từ 39,16% năm 2010 xuống còn 22,76% năm

2014 Điện Biên là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc với 19 dân tộc chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 82% dân số Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao, tốc độ giảm nghèo chậm Điện Biên đã nhận được nhiều sự hỗ trợ, quan tâm của Chính phủ và các nhà tài trợ trong và ngoài nước trong vấn đề giảm nghèo, nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao trong số các tỉnh thành trong toàn quốc Trong khi tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2014 giảm còn 5,97% thì tỉnh Điện Biên là tỉnh nghèo nhất trong 64 tỉnh thành có tỷ lệ hộ nghèo là 32,57%

Thực trạng nghèo kinh niên ở tỉnh Điện Biên đặt ra yêu cầu cần phải có những

Trang 9

nghiên cứu về thực trạng nghèo và nguyên nhân nghèo tại địa bàn, giúp cho các cơ quan quản lý có cơ sở đưa ra và thực hiện các biện pháp giảm nghèo phù hợp, hiệu quả hướng tới phát triển bền vững Trong khi đó, vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên còn chưa được quan tâm nghiên cứu riêng biệt Nhận thức tầm quan trọng của nghiên cứu về nghèo đối với công tác xoá đói giảm nghèo, tác giả thực

hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên” nhằm phân tích

thực trạng nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo tại địa bàn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, nghèo là vấn đề nhận được sự quan tâm hàng đầu của trung ương và địa phương trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Các nghiên cứu khoa học về nghèo xuất hiện và gắn liền với các chính sách xoá đói giảm nghèo

Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 “Tấn công nghèo đói” (1999) là báo cáo

chung của nhóm công tác các chuyên gia của Chính phủ Việt Nam và nhà tài trợ Trong báo cáo, các tác giả đã tập trung xem xét nghèo trên các vấn đề chính: Giảm nghèo từ tạo những cơ hội tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động, đa dạng hoá các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp, cơ hội tiếp cận các nguồn vốn chính thức, cải thiện các dịch vụ cơ bản như nước sạch, điện, vệ sinh, y tế, phòng học; Giảm nghèo phải đi cùng các biện pháp bảo đảm tăng trưởng và khả năng tiếp cận dịch vụ công bằng; Quan tâm hỗ trợ giảm nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo

Trong công trình nghiên cứu Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 “Nghèo” (2003), báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Việt Nam đã tìm hiểu về các vấn đề chính

của người nghèo (thế nào là nghèo; đặc trưng của người nghèo; cơ hội để giảm nghèo

từ tài sản và lợi tức); Đánh giá về ảnh hưởng chính sách công với người nghèo (cải cách kinh tế, cung cấp dịch vụ, đầu tư công, các mạng lưới an sinh); Chú trọng nhiều hơn đến giảm nghèo trong chính sách công (thực hiện và giám sát tiến bộ trong thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo; cải thiện cơ chế xác định đối tượng ưu tiên; tăng cường sự tham gia của người dân)

Theo Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012: “Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới” (2012) của Ngân hàng thế giới đã đánh giá nghèo một cách toàn diện về thành

Trang 10

tích cũng như thách thức của giảm nghèo Việt Nam đến năm 2012; cập nhật hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam; Bức tranh hiện trạng nghèo ở Việt Nam; Các chiều nghèo theo vùng; Giảm nghèo ở các nhóm dân tộc thiểu số; Bất bình đẳng ở Việt Nam Báo cáo đánh giá hiện trạng nghèo với các yếu tố được thiết lập trên cơ sở thực

tế của người nghèo ở Việt Nam: họ chủ yếu sống ở nông thôn và tập trung ngày càng nhiểu ở vùng cao; gắn với nông nghiệp; dân tộc thiểu số; học vấn thấp; thiếu cơ sở hạ tầng; yếu tố nhân khẩu học; tỷ lệ nghèo đô thị; dễ bị tổn thương trước thời tiết thất thường; mức độ bao phủ các chương trình giảm nghèo và bảo trợ xã hội còn thấp Nhóm tác giả Nguyễn Đức Nhật, Phạm Quang Trung, Trương Thanh Mai và

Phạm Phương Hồng đã thực hiện “Nghiên cứu các mô hình giảm nghèo của các đối tác quốc tế ở Việt Nam” (2013) Nghiên cứu thuộc khuôn khổ dự án “Hỗ trợ thực hiện

Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)” - dự án PRPP đã tiến hành rà soát và lựa chọn 03 mô hình giảm nghèo của 03 tổ chức quốc tế Nghiên cứu

đã cho thấy tình trạng đói nghèo ở mỗi vùng miền có đặc tính khác nhau và cần các phương pháp tiếp cận khác nhau; trong thực thi cần chú trọng tính tự chủ của địa phương, sự tham gia của người dân và lựa chọn đối tác triển khai phù hợp Đồng thời, nghiên cứu cũng đã tiến hành đối chiếu so sánh giữa các dự án tương tự tiến hành cùng trong địa bàn bởi các chủ thể khác như các chương trình giảm nghèo quốc gia, chương trình và sáng kiến giảm nghèo của tỉnh và mô hình của các tổ chức quốc tế Từ đó đưa

ra kết luận, mô hình của các tổ chức quốc tế thành công hơn bởi họ tuân thủ các nguyên tắc của lý thuyết kinh tế, xây dựng động lực tham gia của các bên và trao quyền tự quyết cho người dân Các mô hình quốc tế triển khai theo hướng nhỏ, chậm chắc và chú trọng về nâng cao năng lực so với các chương trình đại trà nhanh và thiếu kiểm tra đánh giá của nhà nước

“ ” (2011)

Vi H hoa Học Xã Hội Vi t Nam chỉ ra xu hướng trong công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam; giảm nghèo trong bối cảnh kinh tế mới trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); giảm nghèo đối với đồng bào

Trang 11

nghị để đạt hiệu quả cao trong giảm nghèo; như: cần tính đến đặc thù từng nhóm do sự khác biệt lớn về nguyên nhân và mức độ nghèo của người nghèo, phân tích động thái nghèo cần chú ý sự khác biệt giữa nghèo ở trạng thái tĩnh và trạng thái động khi xây dựng các chính sách giảm nghèo

Báo cáo “Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế

để giảm nghèo bền vững” (2009) nghiên cứu thuộc các dự án nâng cao năng lực phát

triển cộng đồng của chương trình Chia Sẻ - SIDA đã xác định những nhân tố thuận lợi

và cản trở hộ nghèo tiếp cận đến năm nguồn vốn sinh kế: con người, xã hội, vật chất, tài chính, tự nhiên Từ đó, báo cáo đánh giá vai trò giảm nghèo của các nguồn vốn sinh

kế trong quá trình giảm nghèo (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); đưa ra phương hướng điều chỉnh hay cải tiến trong các chính sách của Chính phủ giúp người nghèo tiếp cận tốt hơn các nguồn lực sinh kế

Công trình nghiên cứu “Hoàn thiện các chính sách xoá đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015” (2009) của TS Nguyễn Thị Hoa đã hệ thống hoá và

phân tích các vấn đề lý luận về đói nghèo và vai trò của Chính phủ trong giải quyết đói nghèo; xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện chính sách xoá đói giảm nghèo; rút ra bài học từ việc nghiên cứu kinh nghiệm giảm nghèo của một số quốc gia; đánh giá một số chính sách xoá đói giảm nghèo giúp nhìn nhận rõ mặt tích cực cũng như những điểm bất cập

Báo cáo “Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam của” (2013) của Tổ chức Oxfam và Action Aid áp dụng cách tiếp cận “điểm

sáng” (positive deviance) trong phân tích các “mô hình giảm nghèo” Mỗi “mô hình giảm nghèo” được khảo sát đều dựa trên các yếu tố xã hội ở cấp cộng đồng dân cư là

tiên phong, lan tỏa, gắn kết cộng đồng, tận dụng lợi thế, thích ứng với điều kiện mới,

đa dạng hóa sinh kế, phòng chống rủi ro và quản trị địa phương Các yếu tố này có

mức độ thành công khác nhau ở từng cộng đồng DTTS, dẫn đến kết quả giảm nghèo

và cải thiện đời sống khác nhau Từ đó rút ra kết luận: chiến lược sinh kế của hộ gia đình dựa trên phát huy các thế mạnh nội sinh cũng như tận dụng các cơ hội được đưa đến từ bên ngoài, trong đó có vai trò quan trọng của các yếu tố xã hội ở cấp cộng đồng, đã tạo nên các “mô hình giảm nghèo” (“điểm sáng”) ở vùng dân tộc thiểu số,

Trang 12

đóng góp thêm hiểu biết về các yếu tố không đo lường được trong các phân tích định lượng

Công trình nghiên cứu “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam: Các yếu tố về địa lý và không gian” (2003) của Nicholas Minot, Bob Baulch và Michael Epprecht

phối hợp với nhóm tác chiến lập bản đồ đói nghèo liên Bộ đã sử dụng phương pháp ước lượng diện tích nhỏ để ước lượng các chỉ số đói nghèo và bất bình đẳng ở cấp xã, huyện và tỉnh ở Việt Nam; đánh giá đói nghèo và bất bình đẳng về mặt không gian; các yếu tố địa lý ảnh hưởng đến đói nghèo Kết quả cho thấy ¾ sự biến động về tỷ lệ đói nghèo nông thôn có thể được giải thích bởi các biến nông nghiệp, khí hậu và tiếp cận thị trường Đói nghèo ở vùng sâu vùng xa có sự liên quan chặt chẽ với tiềm năng nông nghiệp hạn chế và thiếu sự tiếp cận thị trường

Các công trình nghiên cứu về nghèo đã tiếp cận đi sâu phân tích nhiều góc độ và quy mô khác nhau Các công trình nghiên cứu đều có cách tiếp cận, mục tiêu, phương pháp, quy mô nghiên cứu và bộ số liệu không giống nhau Trong đó có thể tạm chia thành hai nhóm: các nghiên cứu tổng quát về các chương trình, chính sách, kết quả giảm nghèo vĩ mô và các nghiên cứu cụ thể bao gồm các nghiên cứu cụ thể theo chủ

đề như nghèo đô thị, nghèo dân tộc thiểu số, nghèo trẻ em,… Trong những công trình nghiên cứu cụ thể về nghèo chưa có công trình nghiên cứu nào về đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Hệ thống hoá một số vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn về nghèo và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo

 Làm rõ thực trạng và đánh giá tình trạng nghèo ở tỉnh Điện Biên Đồng thời

Trang 13

Biên

 Gợi ý một số hàm ý chính sách góp phần cải thiện công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Điện Biên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo tại tỉnh Điện Biên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Điện Biên

 Phạm vi về thời gian: Số liệu phân tích được lấy trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015

 Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp duy vật biện chứng: đề tài xem xét tình trạng nghèo của tỉnh Điện Biên trong mối quan hệ với các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới nghèo của hộ dân cư như tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, việc làm, đất đai, điều kiện giao thông,…Phương pháp duy vật lịch sử: xem xét tình trạng nghèo trong bối cảnh lịch sử, địa bàn cụ thể

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập thông tin: Thông tin thứ cấp gồm các thông tin về tình hình kinh tế - xã hội từ các báo cáo của UBND, HĐND tỉnh Điện Biên và thông tin từ kết quả cuộc điều tra mức sống dân cư năm 2014 của Tổng cục Thống kê (VHLSS 2014) của các hộ dân cư trong phạm vi nghiên cứu tỉnh Điện Biên với các tiêu chí chủ yếu như: tuổi, giới tính, tôn giáo, dân tộc, tình trạng hôn nhân, tình trạng cư trú, trình

độ học vấn, trình độ chuyên môn, đất đai, tài sản, nguồn vốn, điều kiện sống, thu nhập, chi tiêu Phương pháp này thu thập thông tin để tạo ra cơ sở dữ liệu để xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm phân tích thực trạng nghèo, các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo

Trang 14

và xác định phương hướng giải quyết

- Phương pháp phân tích định tính kết hợp với phương pháp thống kê mô tả: mô tả đặc điểm của hộ dân cư về kinh tế, văn hoá, xã hội và đời sống

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để xác định sự khác biệt và xu hướng thay đổi của các chỉ tiêu theo thời gian, nhằm phân tích, so sánh giữa các nhóm dân cư về các vấn đề đầu tư sản xuất, thu nhập, chi tiêu, trình độ học vấn Từ đó rút ra được thực trạng nghèo ở địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp định lượng: xác lập mô hình kinh tế lượng để xác định những yếu

tố ảnh hưởng tới nghèo của hộ dân cư tại địa bàn nghiên cứu bằng phương pháp phân tích thống kê và mô hình hồi quy nhưng không đi sâu về kỹ thuật của mô hình định lượng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

tương tự

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm 3 chương:

− C ột số vấ đề lý luận và thực tiễn về nghèo

− C T ế ảnh ởng tới nghèo tạ Đ ện Biên

− C đối vớ ở Đ ện Biên

Trang 15

: MỘT SỐ VẤ ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO 1.1 Khái niệm nghèo

Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được

đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua).[13]

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: “Nghèo là tình trạng cơ bản một bộ phận dân cư không có khả năng thoã mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.”[9]

Định nghĩa về nghèo theo Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 như sau:

“Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ

bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng…”[19]

Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ đoạt giải Nobel Kinh tế thì

để tồn tại con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiếu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn

Nhìn chung có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề nghèo nhưng nội dung

cơ bản đều thống nhất phản ánh những đặc điểm chính của người nghèo là:

 Họ có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư về vật chất

và không có điều kiện để hưởng thụ các dịch vụ về giáo dục, y tế,…

Trang 16

 Họ dễ bị tổn thương, tức là khả năng bị rơi vào cảnh nghèo đói do thu nhập hoặc sức khoẻ

 Họ thiếu cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng, không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo

Nghèo đa chiều

Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều có thể hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu một số nhu cầu

cơ bản trong cuộc sống [9]

Giảm nghèo có thể được hiểu như là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà

nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định cho từng địa phương, khu vực, quốc gia [15]

Hiện nay chưa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững là gì Để hiểu rõ cần phân tích hai khái niệm bền vững và giảm nghèo Bền vững có thể hiểu là khả năng ổn định, duy trì hoạt động ở cả hiện tại và trong tương lai, không bị suy

giảm

Giảm nghèo bền vững có thể hiểu là các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu (tính toán dựa trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định cho từng địa phương, khu vực, quốc gia) và duy trì được lâu dài, ổn định kết quả đó không tái nghèo ngay cả khi gặp các vấn đề rủi ro

1.2 Phân loại nghèo

Nghèo tuyệt đối

Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối… là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn

Trang 17

trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá mức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta” [14] Nghèo tuyệt đối là tình trạng không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của một bộ phận dân cư Tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng Thế giới đưa ra được các quốc gia trên thế giới thường dựa vào để phận tích tình trạng nghèo của quốc gia mình Trên cơ sở đó, mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng theo từng giai đoạn phát triển nhất định dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong nước Do đó mức thu nhập tối thiểu để xác định hộ nghèo được thay đổi và nâng dần lên theo giai đoạn làm tiêu chuẩn để đánh giá tình trạng nghèo quốc gia.[15]

Nghèo tương đối

Nghèo tương đối là tình trạng một hộ gia đình hoặc một người thuộc về nhóm có thu nhập thấp nhất trong xã hội tại một địa điểm và thời gian nhất định [15] Xác định nghèo tương đối sẽ tuỳ theo đặc điểm địa bàn dân cư sinh sống, các yếu tố văn hoá, xã hội, kinh tế Chuẩn để xem xét nghèo khổ tương đối khác nhau giữa các quốc gia, các vùng vào những thời gian xác định Nghèo tương đối xác định bởi mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập giữa từng nhóm người trong xã hội Bởi vậy sẽ luôn tồn tại một nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội, họ nghèo tương đối so với những nhóm người khác

Nghèo tuyệt đối là tình trạng mà những người nghèo không đạt được mức sống tối thiểu Còn nghèo tương đối để chỉ mức nghèo trong mối quan hệ so sánh giữa người nghèo với những cư dân khác trong xã hội

1.3 Đo lường nghèo và các chuẩn nghèo đã và đang áp dụng

Trước năm 2016, Việt Nam sử dụng hai phương pháp để đo lường tình trạng nghèo và theo dõi tiến trình giảm nghèo theo thời gian Hai phương pháp được xây dựng từ đầu thập kỷ 90 và cải tiến hoàn thiện theo thời gian bởi hai cơ quan Chính phủ

là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Tổng cục Thống kê

Phương pháp thứ nhất do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm về các chính sách và chương trình giảm nghèo của Việt Nam Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện nhiệm vụ đề xuất các chuẩn

Trang 18

nghèo chính thức cho khu vực nông thôn và thành thị vào đầu của mỗi Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm và xác định tỷ lệ nghèo của giai đoạn ban đầu Bộ LĐ, TB

& XH sử dụng các chuẩn nghèo này để đánh giá những thay đổi về nghèo đói và cập nhật hàng năm danh sách về các hộ nghèo Các chuẩn nghèo chính thức không được điều chỉnh theo mức lạm phát, nhưng được xác định lại giá trị thực 5 năm một lần Ban đầu các chuẩn nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được quy đổi ra thóc, nhưng từ năm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vào Chi phí cho những Nhu cầu Cơ bản

Căn cứ vào mức sống thực tế tại các địa phương, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đặt ra tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian và mặt bằng thu nhập quốc gia Từ năm 1993 đến nay đã có 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng phù hợp với sự phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và nhu cầu của người nghèo Chuẩn nghèo giai đoạn 1993 – 1995, chuẩn nghèo 1995 – 1997 và chuẩn nghèo 1997 -2000 là mức thu nhập bình quân đầu người một tháng quy ra gạo Trước năm 2000 với tình hình thực tế kinh tế xã hội khó khăn, nước ta có chuẩn nghèo cho hộ đói có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg

Giai đoạn 2001-2005

Quyết định số 1143/2001/QĐ-LĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ngày 01 tháng 11 năm 2000 về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001-

2005, có quy định hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người:

 Khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống

 Khu vực nông thôn đồng bằng từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000

Trang 19

 Khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo

 Khu vực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Giai đoạn 2011-2015

Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 có quy định:

 Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống

 Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống

Theo chuẩn nghèo này, hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống

Phương pháp thứ hai được Tổng cục Thống kê xây dựng và thực hiện việc đo lường nghèo đói và giám sát tiến trình giảm nghèo trên cơ sở các cuộc khảo sát hộ gia đình làm đại diện cho toàn quốc Tổng cục Thống kê sử dụng các chuẩn nghèo chính thức có điều chỉnh theo lạm phát áp dụng cho thu nhập bình quân đầu người, và chuẩn nghèo xây dựng dựa trên Chi phí cho những Nhu cầu Cơ bản tính theo calo (2.100 Kcal/người/ngày) và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm Tính toán dựa trên phương pháp chi phí cho các nhu cầu tối thiểu của con người Nhu cầu tối thiểu của con người là chi tiêu cho lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sinh hoạt bình thường của con người, khoảng 2.100 Kcal/người/ngày Phương pháp tính chuẩn nghèo này là phương pháp được các chuyên gia Ngân hàng thế giới nghiên cứu và khuyến nghị áp dụng cho các nước đang phát triển

Tổng cục Thống kê tính toán chuẩn nghèo theo quan điểm của Ngân hàng thế giới dựa vào mức chi tiêu tối thiểu/người/tháng tính ra Kcal Chuẩn nghèo của TCTK – NHTG sử dụng để theo dõi biến động nghèo theo thời gian, không chịu ảnh hưởng của các cân nhắc về ngân sách Nhà nước Chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê –

Trang 20

Ngân hàng Thế giới được các nhà nghiên cứu khoa học sử dụng phổ biến trong các tài liệu nghèo đói về Việt Nam Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tính theo mức thu nhập tối thiểu/người/tháng để quy ra lương thực hoặc tiền Chuẩn nghèo của Bộ LĐ,

TB & XH được thiết kế để tập trung nguồn lực công có hạn của Nhà nước cho các đối tượng cần nhận hỗ trợ nhất, quyết định đối tượng có đủ điều kiện được hưởng các phúc lợi, chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo Điều này cũng có nghĩa là chuẩn nghèo của Bộ LĐ, TB & XH (hay chuẩn nghèo chính sách) phải phù hợp với khả năng chi của ngân sách Nhà nước Chính phủ thường đánh giá tiếp cận về nghèo dựa trên chuẩn nghèo chính thức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Do mục tiêu xây dựng có sự khác biệt nên không thể so sánh giữa hai chuẩn nghèo là chuẩn nghèo này tốt hơn chuẩn nghèo kia Cả hai chuẩn nghèo dù đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu cuối cùng đều được quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Chuẩn nghèo này có nhiều hạn chế khi một số nhu cầu cơ bản không thể quy ra tiền ( v i, ) hoặc không thể đ ợc bằng tiền ( p v k

d v / d [9]

Trong giai đoạn tới từ năm 2016, Chính phủ Việt Nam thực hiện thay thế chuẩn nghèo đơn chiều cũ dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu sang chuẩn nghèo đa chiều mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), các Bộ, ngành liên quan, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn

Trang 21

Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập Chuẩn nghèo về thu nhập dùng để xác định quy mô nghèo về thu nhập của Quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách)

Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập: là mức thu nhập mà ở mức đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với điều kiện kinh tế

- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

b) Mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và

vệ sinh, tiếp cận thông tin;

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp

vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên

Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng bước bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, cụ thể như sau:

Hộ nghèo, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu, và thiếu hụt dưới 1/3 tổng

số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 22

Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ có mức sống dưới trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng

từ dưới chuẩn mức sống trung bình và cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nghèo

Theo World Bank (2007), các yếu tố có thể ảnh hưởng đến nghèo phân theo cấp

độ được tóm tắt ở bảng 1.1 sau:

Trang 23

Bảng 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến nghèo phân theo cấp độ

Nguồn: WB (2007) Nghèo tại mỗi địa phương đều khác nhau về mức độ, xuất phát từ những nguyên nhân, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới

Những yếu tố

ảnh hưởng

đến nghèo

Cấp độ vùng (Regional-level characteristics)

Sự cách biệt về địa lý, xã

hội Điều kiện tự nhiên Quản lý nhà nước Bất bình đẳng

Cấp độ cộng đồng (Community level characteristics)

Hạ tầng cơ sở

Khả năng tiếp cận hàng hoá,

dịch vụ công Phân bố đất đai

Cấp độ hộ gia đình (Household characteristics)

Quy mô hộ

Tỷ lệ phụ thuộc Giới tính Tài sản của hộ

Cấp độ cá nhân (Individual characteristics)

Tuổi Giáo dục Việc làm Dân tộc

Trang 24

nghèo dựa trên lý thuyết, các mô hình nghiên cứu trước như World Bank (2007), và các đặc điểm tự nhiên và xã hội đặc trưng riêng của tỉnh Điện Biên, tác giả thực hiện phân tích với giả thuyết các yếu tố cơ bản có thể ảnh hưởng tới nghèo tại địa phương như sau:

1.4.1 Tình trạng việc làm

Việc làm là yếu tố quan trọng nhất tạo thu nhập cho hộ dân cư tác động trực tiếp đến mức sống dân cư và giảm nghèo Nền kinh tế Việt Nam có nông nghiệp chiếm tỷ trọng chính Năm 2015, tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 15 tuổi trở lên chiếm 44.3% và

tỷ lệ khu vực nông thôn chiếm 68.8%

Hộ nghèo chủ yếu sống tập trung ở khu vực nông thôn, lao động sản xuất nông nghiệp Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp do chịu ảnh hưởng từ thiên nhiên như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh Rủi ro là đặc điểm của kinh tế nông nghiệp do liên quan đến biến đổi khí hậu Thu nhập thấp và không ổn định từ nông nghiệp làm cho hộ dân

cư trở nên nghèo hơn Những hộ dân cư có việc làm phi nông nghiệp có một nguồn thu nhập ổn định thường là các hộ sung túc hơn

1.4.2 Trình độ học vấn

Người nghèo thường là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Mức thu nhập của người nghèo thường chỉ đủ cho nhu

Trang 25

cầu dinh dưỡng tối thiểu, không có điều kiện học tập để nâng cao trình độ bản thân Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các nghành phi nông nghiệp, mang lại thu nhập cao và ổn định

Theo World Bank (2004), đầu tư vào giáo dục là cách tốt nhất để thoát nghèo một cách bền vững Người nghèo có trình độ học vấn cao hơn không chỉ có khả năng sản xuất tốt hơn mà có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp hơn nếu như có một biến cố nào đó xảy ra với công việc của họ

Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2004, với các đặc điểm khác giống nhau, trình

độ giáo dục tạo sự khác biệt đáng kể đến mức chi tiêu theo đầu người Một hộ gia đình

có chủ hộ có trình độ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình gần 19% và nếu chủ hộ có trình độ đại học thì mức cao hơn là 31% Nếu vợ, chồng có trình độ trung cấp là 29% và 48% nếu vợ, chồng có trình độ đại học

Trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng tới các quyết định quan trọng khác về giáo dục, sinh đẻ, bảo vệ sức khoẻ,… ở thế hệ hiện tại và tương lai Điều này ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo càng trở nên khó khăn

1.4.3 Đất đai

Đất đai luôn là tài sản chính của người nông dân Phần lớn người nghèo ở Việt Nam sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp Không có đất, thiếu đất, đất xấu ngăn cản họ phát triển các hoạt động nông nghiệp Đó là lý do dẫn đến hộ nông dân gặp phải tình trạng không sản xuất đủ lương thực hoặc không tạo ra đủ thu nhập để nuôi

Trang 26

gia đình Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam 2000, diện tích và chất lượng đất quyết định thu nhập của người nông dân Không có đất đai hoặc hầu như không có đất đai đồng nghĩa với nghèo đói

Điện Biên với đa số người dân sản xuất nông nghiệp lúa gạo Địa hình đồi núi, đất đai có độ dốc lớn, khiến diện tích canh tác ít ỏi Nếu diện tích đất đai tăng thì người dân Điện Biên sẽ giảm xác xuất rơi vào tình trạng nghèo

1.4.4 Hạ tầng cơ sở đường giao thông

Giao thông đóng vai trò đặc biệt, được xem là mạch máu đối với nền kinh tế Trong công tác giảm nghèo, giao thông có vai trò đặc biệt quan trọng Nhất là ở vùng sâu vùng xa, nơi nào giao thông phát triển thì khu vực đó điều kiện kinh tế, điều kiện

xã hội phát triển hơn, người dân được hưởng lợi nhiều từ tác động của giao thông Việc phát triển giao thông nông thôn rút ngắn khoảng cách cuộc sống của người dân vùng sâu, vùng xa với các vùng miền khác, qua đó tạo cơ hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp cận được sự phát triển Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại các huyện nghèo, xã nghèo, tạo điều kiện để người nghèo mở rộng sản xuất, tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa và các dịch vụ y tế và giáo dục

Theo Dominique van de Walle và Dorothyjean Cratty (2002) cho rằng có tác động của việc cải tạo đường giao thông nông thôn đối với người nghèo là tích cực mang lại

cơ hội gia tăng thu nhập và tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp Đồng thời, cải tạo đường giao thông đã giảm bớt thời gian di chuyển để người nghèo dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xã hội y tế và trao đổi hàng hoá [44]

Tình hình chung của các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc như Điện Biên là hệ thống đường giao thông chưa hoàn thiện, thiếu, xuống cấp nhanh Địa hình Điện Biên chia cắt bởi hệ thống các dãy núi, hiểm trở, thiếu ổn định, dễ bị sạt lở do mưa lớn, lũ quét, lũ ống Nếu tăng tiếp cận đường giao thông thì giảm khả năng rơi vào tình trạng nghèo của người dân ở Điện Biên

1.4.5 Quy mô hộ gia đình - Tỷ lệ phụ thuộc

Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 chỉ ra rằng những hộ gia đình càng đông người thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng giảm xuống

Trang 27

Người nghèo phổ biến thuộc những hộ có số nhân khẩu trong hộ đông, có nhiều trẻ em, thiếu lao động Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ phụ thuộc tăng cao Theo số liệu KSMSDC 2014, Cả ớc có k nhóm h

Theo số liệu KSMSDC 2014, T p

7 v Nhóm h ( 0- 4 0 7 k ( 5 7 8 Điện Biên với trên 80% người dân tộc thiểu số còn có tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, muốn sinh đông con, sinh con trai, để có sức lao động Nghiên cứu giả định tại Điện Biên, hai yếu tố quy mô hộ và tỷ lệ phụ thuộc có mối quan hệ đồng biến với xác xuất rơi vào tình trạng nghèo

1.4.6 Giới tính - Tình trạng hôn nhân

Trang 28

Chủ hộ quyết định chính đến môi trường sinh hoạt, phương thức làm việc của hộ Vai trò của giới tính trong hộ gia đình gắn với văn hoá, tập tục, định kiến lâu đời của mỗi nhóm dân tộc Tình trạng hôn nhân là kết hôn hay độc thân, ở goá

Theo Nelson, G (2008), trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tình trạng nghèo ở phụ nữ đ c bi p k v đ

Nghiên cứu giả định giới tính là nữ tại Điện Biên sẽ có khả năng rơi vào tình trạng nghèo cao hơn là nam Nếu tình trạng hôn nhân là kết hôn thì giảm khả năng rơi vào tình trạng nghèo

1.4.7 Tuổi

Tuổi tác ảnh hưởng đến mức độ kinh nghiệm trong lao động, việc làm sẽ đóng góp thu nhập vào gia đình giảm khả năng rơi vào nghèo Giả thuyết tuổi có mối quan hệ nghịch biến với xác suất rơi vào tình trạng nghèo

Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng nghèo tại Điện Biên với 9 yếu tố: Trình độ học vấn; Việc làm; Đất đai; Quy mô hộ; Tỷ lệ phụ thuộc; Giới tính; Tuổi; Tình trạng hôn nhân; Đường ô tô

Trong đó: Biến Đường giao thông có thể bao hàm giải thích các yếu tố: Cách biệt

về địa lý, xã hội; Điều kiện tự nhiên; Hạ tầng cơ sở; Khả năng tiếp cận hàng hoá và

Trang 29

dân bao hàm luôn biến Tài sản của hộ (WB- 2007) Ngoài ra: Biến Bất bình đẳng (WB

- 2007) bao hàm phạm vi rất rộng nên tác giả sẽ không đưa vào mô hình kinh tế lượng

để tính ảnh hưởng với nghèo Biến Quản lý nhà nước (WB - 2007) sẽ được phân tích bằng kết quả thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo tại Điện Biên Điện Biên có 19 dân tộc, người dân tộc chiếm trên 80 % dân số Do vậy, việc dùng biến Dân tộc để xác định mức độ ảnh hưởng rơi vào nghèo của hộ dân cư là không hợp lý

1.5 Kinh nghiệm giảm nghèo

iảm nghèo ở ỉnh i n iang

T G p d đ đ v

đ Tỉ ê đầ â dự ở hạ

tầ ã è đặc biệ k ó k ă đã â dự đ ợ à ă k đ ờng nông thôn, hàng chục cây cầu, nạo vét nhiề k kê ủy lợi, xây dựng hàng chụ đ ể ờng học, trạm y tế, chợ

Đẩy mạnh dự án khuyến nông, lâm, ngư hỗ trợ phát triển sản xuất, đã hỗ trợ sản xuất cho hàng ngàn hộ nghèo trồng lúa, trồng rau màu Tỉnh đã thực hiện nhiều mô hình giảm nghèo đạt hiệu quả và đang được nhân rộng như: Mô hình nuôi bò kết hợp trồng rau xanh, nuôi cá; mô hình nuôi trâu, mô hình nuôi heo; trồng nấm rơm tại Gò Quao; nuôi ba ba tại An Biên; mô hình nuôi lươn tại xã Minh Thuận; mô hình tôm + lúa; mô hình lai giống heo rừng; mô hình nuôi tôm bán thâm canh; mô hình sinh sản

cá rô đồng trong ruộng ú … B đ k k p

p phát triể ô ì đ ục bình tạ ã Vĩ h Thạnh (huyện Giồng Riềng, Kiên Giang) v v đ

Trang 30

Phong; chăn nuôi bò, gà ở huyện Kỳ Sơn… Ngoài ra, Công tác khai hoang phục hóa, tạo ruộng bậc thang cũng được chú trọng

Trong các mô hình đã thực hiện trên địa bàn tỉnh Nghệ An thì mô hình chăn nuôi

bò lai sinh sinh sản và chăn nuôi bò địa phương sinh sản là cho hiệu quả về mặt kinh tế

xã hội thiết thực nhất Nghệ An là tỉnh có điều kiện tự nhiên, đất đai phù hợp để phát triển và nhân rộng đàn bò trong tỉnh Tuy nhiên đối tượng hưởng lợi của các dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo bền vững thường là các hộ nghèo, các hộ vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số nên trình độ còn thấp nên khó khăn trong việc tiếp thu, thực hiện kỹ thuật chăn nuôi đúng khoa học

Kết luận chương 1

Nội dung của chương 1 hệ thống lý thuyết làm cơ sở cho đánh giá nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo ở tỉnh Điện Biên Lý thuyết về nghèo, các khái niệm liên quan, các bài học kinh nghiệm giảm nghèo và phương pháp đo lường nghèo, chuẩn nghèo được tổng hợp Trong đó, phương pháp đo lường nghèo và chuẩn nghèo trình bày theo thời gian và theo quá trình hoàn thiện từ đơn chiều sang đa chiều

Một trong những nội dung chính đã được đề cập là lý luận về các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đã được hệ thống hoá để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình kinh

tế lượng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo tại tỉnh Điện Biên

Các tri thức được trình bày trong chương 1 tạo cơ sở lý luận cho phân tích, đánh giá thực trạng nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo tại tỉnh Điện Biên

Trang 31

: Ự CÁC YẾ Ố Ả ỞNG TỚI NGHÈO T I

Đ ỆN BIÊN

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Điện Biên là một tỉnh miền núi ở khu vực Tây Bắc của Việt Nam Tháng 11 năm

2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu ban đầu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên Tỉnh Điện Biên sau khi chia tách là một tỉnh biên giới cách thủ đô Hà Nội 504km về phía Tây Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu mới, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây

và Tây Nam giáp Lào

Diện tích tự nhiên của Điện Biên là 9.541,25 km2 Điện Biên là tỉnh duy nhất có đường biên giới tiếp giáp với 2 nước Lào và Trung Quốc dài hơn 400 km, trong đó tiếp giáp với Lào là 360 km với Trung Quốc là 40,86 km Điện Biên có lợi thế phát triển các đường giao thông liên lạc và mối quan hệ kinh tế với các nước láng giềng khu vực Địa hình của Điện Biên rất phức tạp với những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200 m đến hơn 1.800 m xen kẽ với các thung lũng, sông suối Trong đó, đáng kể có thung lũng Mường Thanh rộng hơn 150km2, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc Điện Biên nằm ở đầu nguồn của 3 con sông lớn: sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông

Trong tổng quỹ đất của tỉnh hơn 70% có độ dốc trên 250, chỉ thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng Diện tích đất có độ dốc từ 150 – 250 chiếm 25% diện tích

tự nhiên, nhưng chỉ 80% trong số đó có tầng dày trên 50 cm có thể tận dụng để gieo trồng theo hình thức nông lâm kết hợp Đất có độ dốc dưới 150 chỉ chiếm 4% quỹ đất dày trên 50 cm thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Điện Biên có lượng mưa hàng năm tương đối cao, trung bình từ 1.700 – 2.500

mm Toàn tỉnh có hơn 10 hồ lớn và hơn 1.000 sông suối lớn nhỏ với 3 hệ thống sông chính là sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông Nguồn nước phong phú tạo điều kiện phát triển nhiều công trình thuỷ điện

Trang 32

Nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh đa dạng về chủng loại như than mỡ, đá vôi,

đá đen, quặng sắt và kim loại màu,… nhưng trữ lượng thấp và nằm rải rác

Điện Biên có tiềm năng phát triển du lịch cà về tự nhiên lẫn lịch sử, văn hoá Về tự nhiên có Hồ Pa Khoang, Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, các hang động Pa Thơm, Thẩm Púa và các nguồn nước khoáng nóng như Hua Pe, Uva,… Về di tích lịch

sử có cụm di tích Điện Biên Phủ, hầm Đờ cát, cầu Mường Thanh, đồi A1, khu di tích Mường Thanh, tượng đài chiến thắng, khu tưởng niệm các chiến sĩ, và bảo tàng Điện Biên Phủ

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Toàn tỉnh Điện Biên có 10 đơn vị hành chính gồm thành phố Điện Biên Phủ, thị

xã Mường Lay và 8 huyện với tổng số xã là 130 xã, phường, thị trấn Điện Biên cũng giống như các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có sự đa dạng về dân tộc trong thành phần dân cư Điện Biên có 19 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm 37,99%, Mông 34,80%, Kinh 18,42% và các dân tộc thiểu số khác Trong đó có một nhóm dân tộc thiểu số ít người SiLa ở xã Chung Chải, huyện Mường Nhé được chính phủ hỗ trợ dự

án phát triển bảo tồn đặc biệt

Dân số trung bình tỉnh Điện Biên 547.785 người, trong đó: nam 273.931; nữ có 273.854 người; dân số sống tại thành thị đạt 82.691 người; dân số sống tại nông thôn đạt 465.094 người Mật độ dân số của Điện Biên hiện là 57,4 người/km2 Điện Biên có kết cấu dân số trẻ với tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 33,65%, người già trên 60 tuổi (với nam) và trên 55 tuổi (với nữ) là 10,59% Tỷ lệ tăng dân số 1,73%/năm Mức giảm

tỷ lệ sinh bình quân hàng năm đạt 0,16%o/năm

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân 5 năm (2011-2015) tính theo phương pháp so sánh đạt 9,12%/năm; GRDP bình quân đầu người năm 2015, đạt 1.106,6 USD/người/năm, gấp 1,84 lần so với năm 2010 và gần bằng 50% GDP bình quân đầu người cả nước (cả nước ước đạt 2.245 USD)

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP theo giá so sánh năm 2010 đạt 8.351,462

tỷ đồng; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 1.951,483 tỷ đồng; khu vực công nghiệp – xây dựng đạt 2.217,307 tỷ đồng; khu vực dịch vụ đạt 4.182,672 tỷ đồng

Trang 33

Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành) chuyển dịch theo hướng tích cực tăng dần tỷ trọng công nghiệp- xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Đến năm

2015 tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,92%, công nghiệp - xây dựng chiếm 26,37%, dịch vụ chiếm 49,71%, trong cơ cấu kinh tế

Tổng sản lượng lương thực năm 2015 ước đạt 250,375 ngàn tấn, tăng 12,43% so với năm 2010, lương thực bình quân đầu người năm 2015 đạt 457,41kg/người/năm Giai đoạn 2011-2015 ước đào tạo nghề cho 39.980 lao động, nâng tỷ lệ lao động được đào tạo lên 43,77%; giải quyết việc làm mới cho 42.628 lao động, bình quân 8.525 lao động/năm (trong đó xuất khẩu lao động 382 người) Mỗi năm đào tạo nghề cho 8.000-8.500 lao động, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 29,51% năm 2010 lên 43,77% năm 2015

2.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo ở tỉnh Điện Biên

2.2.1 Thực trạng nghèo ở tỉnh Điện Biên

Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao nhất trong cả nước Trong giai đoạn

2011 – 2015, Điện Biên đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc thực hiện giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm từ 50,01% năm 2010 xuống còn 28,01% năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015), bình quân giảm 4,4%/năm

Số hộ nghèo giảm từ 51.644 hộ năm 2010 xuống còn 33.289 hộ năm 2015

Bảng 2.1 Nghèo ở tỉnh Điện Biên theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015

Nguồn: Số liệu Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Điện Biên có điều kiện tự nhiên khó khăn, địa lý cách biệt là khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa giáp biên giới Hệ thống đường xá chưa hoàn thiện, địa hình hiểm trở, người nghèo ít di chuyển ra khỏi địa bàn sinh sống, hạn chế khả năng giao lưu học hỏi,

Trang 34

tiếp cận cơ hội việc làm Hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn có 36.986 hộ chiếm tỷ

lệ 98,46%; thành thị có 579 hộ chiếm tỷ lệ 1,54% số hộ nghèo năm 2014 Toàn tỉnh Điện Biên có 10 đơn vị hành chính thì có 7 huyện nghèo (trừ thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay và huyện Điện Biên) Trong đó: 4 huyện theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ (Điện Biên Đông, Mường Ảng, Mường Nhé, Tủa Chùa); 01 huyện nghèo mới Nậm Pồ được bổ sung theo Quyết định

số 1791/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ) và 2 huyện nghèo (Mường Chà, Tuần Giáo) theo Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 5 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ

Bảng 2.2 T lệ hộ nghèo của 7 huyện nghèo tỉnh Điện Biên (%)

Nguồn: Số liệu báo cáo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Đồng bào dân tộc thiểu số tại Điện Biên chịu thiệt thòi nhiều mặt như địa bàn sinh sống tại khu vực miền núi có địa hình hiểm trở, đất đai có khả năng trồng trọt thiếu, độ dốc cao; giao thông khó khăn, khó tiếp cận các dịch vụ xã hội về y tế, giáo dục Mặt khác, họ còn chịu khó khăn về ngôn ngữ, tập quán sinh sống, làm ăn lạc hậu và dễ tổn thương thiệt hại do thiên tai lũ quét, lũ ống Cuối năm 2014, số hộ nghèo DTTS là 36.826 hộ chiếm 98,03% so với số hộ nghèo là 37.565 hộ Khu vực 7 huyện nghèo của tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo DTTS cao chiếm đến 99,34 % (2014), trong đó tại 2 huyện

Trang 35

Mường Nhé 99,97% (2014) và Nậm Pồ 99,98% (2014) chỉ có một hộ nghèo không phải người DTTS trong tổng số hộ nghèo mỗi huyện

Bảng 2.3 Hộ nghèo DTTS của 7 huyện nghèo tỉnh Điện Bi n năm 0 4

Huyện Tổng số

hộ

Hộ nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo (%)

Hộ nghèo DTTS

Tỷ lệ hộ nghèo (%) DTTS so với tổng số hộ nghèo

Nguồn: Số liệu báo cáo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

2.2.2 Các chính sách, chương trình giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên

Giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh đã huy động được 12.293,87 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và từ các nguồn huy động cộng đồng (bao gồm hỗ trợ của các doanh nghiệp, Tổng công ty, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng

và người dân), hỗ trợ từ các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các tổ chức nước ngoài

để thực hiện các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo trên địa bàn, cụ thể:

Điện Biên đã sử dụng lồng ghép nguồn vốn huy động trong giai đoạn 2011-2015

để ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn, các xã biên giới nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho người lao động;

hỗ trợ đời sống và sinh kế, xóa đói giảm nghèo và ổn định dân cư toàn diện trên tất cả

Trang 36

các mặt của đời sống xã hội, nhất là tại những nơi đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn

2.2.2.1 Các chính sách h trợ t Chính phủ

Điện Biên là một trong những tỉnh nghèo nhất đã nhận được nhiều chương trình hỗ trợ từ Chính phủ Các chính sách, chương trình này đã hỗ trợ khá toàn diện trên nhiều mặt đời sống nhân dân về vốn sản xuất, dạy nghề, khuyến nông, giáo dục, y tế, nhà ở Các chính sá ì v v k

và ũ ó đ Các chính sách,

ì đã óp p ần rất lớ đổi tình hình nghèo củ dâ à ỉnh, đặc biệt là ở các huyện nghèo, xã nghèo, hộ è ời nghèo, phụ nữ và trẻ em nghèo

a) Chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác

- Mục đích: Cung cấp tín dụng cho các hộ nghèo, có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và tự vươn lên thoát nghèo

- Đối tượng, phạm vi: Hộ nghèo, ưu tiên chủ hộ là phụ nữ, hộ có người tàn tật, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh

- Nội dung: Bảo đảm nguồn vốn cho vay, giải quyết cho hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất

Trong giai đoạn 2011-2015, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh cho vay là 2.041 tỷ đồng, với 89.761 lượt khách hàng được vay vốn Trong đó có 40.133 hộ nghèo được vay vốn với số tiền 1.130,726 tỷ đồng; 8.378 hộ cận nghèo được vay vốn, với số tiền 252,628 tỷ đồng; có 8.144 hộ được vay tín dụng học sinh, sinh viên với số tiền 100,032 tỷ đồng; 176 hộ nghèo được vay vốn xuất khẩu lao động với số tiền 5,430 tỷ đồng; có 2.445 hộ nghèo được vay vốn làm nhà ở với số tiền 19,55 tỷ đồng; 4.380 hộ dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn được vay vốn với số tiền 41,6 tỷ đồng; 15.826

hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn với số tiền 452,526 tỷ đồng; 3.360

hộ vay vốn nước sạch vệ sinh môi trường với số tiền 28,259 tỷ đồng

b) Dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Trang 37

- Mục đích: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, người nghèo có nghề nghiệp phù hợp thông qua các khoá dạy nghề ngắn hạn để tìm việc làm tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh; xuất khẩu lao động hoặc tự tạo việc làm góp phần giảm nghèo nhanh

và bền vững

Giai đoạn 2011-2015 đã tuyển mới, dạy nghề cho lượt 40.240 người, gồm: Cao đẳng nghề 517 lượt người, trung cấp nghề 1.522 lượt người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 38.201 lượt người (trong đó: số lao động khu vực nông thôn được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án 1956 là 30.843) Kinh phí thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 28,7 tỷ đồng

Kết quả đào tạo nghề nêu trên đã góp phần tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh từ 29,51% năm 2010 lên 43,77% năm Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau khi học nghề đạt 71,27%, chủ yếu là tự tạo việc làm

c) Chính sách hỗ trợ giáo dục và đào tạo

- Mục đích: Hỗ trợ trẻ em thuộc các hộ nghèo được đi học bình đẳng như các trẻ

em khác, góp phần nâng cao trình độ dân trí của người nghèo, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững

Giai đoạn 2011-2015, đã thực hiện hỗ trợ miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ ăn trưa cho trẻ mầm non, học sinh dân tộc ít người, học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn với tổng kinh phí 1.478,597 tỷ đồng, thực hiện chính sách hỗ trợ gạo theo Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg đạt khoảng 20.000 tấn

d) Chính sách hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng

- Mục đích: Hỗ trợ người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống tại các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn được tiếp cận với dịch vụ y tế một cách thuận lợi; giảm thiểu rủi ro, khó khăn cho người nghèo, người dân tộc thiểu số

- Đối tượng và phạm vi: Người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống tại các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh

Giai đoạn 2011-2015, thực hiện hỗ trợ y tế và dinh dưỡng với tổng kinh phí 1.295,23 tỷ đồng, trong đó: Đóng, hỗ trợ đóng BHYT cho 2.139.004 lượt người nghèo,

Trang 38

người cận nghèo, người DTTS sinh sống tại các xã khó khăn và các đối tượng xã hội khác, ước kinh phí thực hiện là 1.198 tỷ đồng

e) Dự án hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo

- Mục đích: Hỗ trợ hộ nghèo không có khả năng tự cải thiện nhà ở (theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg và các dự án hỗ trợ làm nhà trong giai đoạn tiếp theo)

- Đối tượng và phạm vi: Những hộ nghèo không có khả năng tự làm nhà; những

hộ nghèo đang ở nhà chưa đảm bảo (chưa đủ tiêu chí 3 cứng: Nền cứng, khung cứng, mái cứng) trên địa bàn toàn tỉnh

- Cơ quan thực hiện: UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ trì phối hợp với UBND cấp xã thực hiện

Trong 5 năm (2011-2015) toàn tỉnh đã triển khai hỗ trợ nhà ở cho 4.084 hộ gia đình với tổng kinh phí là 92,82 tỷ đồng, gồm:

- Chương trình hỗ trợ nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg: Trong 02 năm (2011-2012) đã thực hiện hỗ trợ 3.220 nhà với kinh phí 78,09 tỷ đồng (nâng tổng số hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg trên phạm vi toàn tỉnh lên 13.251 nhà, đạt 99,37% kế hoạch)

- Thông qua Quỹ ngày vì người nghèo và Quỹ đền ơn đáp nghĩa, trong giai đoạn 2011-2015 đã hỗ trợ làm nhà cho 864 hộ với tổng kinh phí thực hiện là 14,734 tỷ đồng

f) Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo

- Mục đích: Nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả góp phần đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo chung của tỉnh

- Đối tượng, phạm vi: Hộ nghèo ở các xã nghèo có điều kiện phát triển vùng nguyên liệu; và các xã nghèo thuộc các vùng sinh thái có điều kiện nhân rộng các mô hình giảm nghèo phù hợp, có hiệu quả, ưu tiên tập trung cho những xã khó khăn nhất Giai đoạn 2011-2015, từ nguồn kinh phí thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã triển khai thực hiện 11 dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo, với 1.136 hộ tham gia, thụ hưởng (trong đó: 1136 hộ tham gia tập huấn; 366 hộ được

hỗ trợ con giống gia súc ban đầu), tổng kinh phí thực hiện là 4,5 tỷ đồng

Trang 39

g) Hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý, tăng cường năng lực cho các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý

- Mục đích: Trợ giúp pháp lý cho người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, người dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo, xã nghèo biết được dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí

- Đối tượng, phạm vi: Người nghèo, người dân tộc thiểu số, người thực hiện trợ giúp pháp lý, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh

Giai đoạn 2011-2015, đã tổ chức 9 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật trợ giúp pháp lý với 1.705 người tham dự; mở 27 lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho các câu lạc bộ phòng, chống tội phạm, hòa giải; trung tâm trợ giúp pháp lý đã tiếp nhận và tư vấn cho 6.140 trường hợp có vướng mắc về pháp luật đất đai, hôn nhân gia đình, chế độ chính sách, lao động việc làm

h) Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Giai đoạn 2011-2015, đã hỗ trợ 103,904 tỷ đồng cho các hộ nghèo ở vùng khó khăn, trong đó: Hỗ trợ giống cây trồng 2.628,2 tấn với kinh phí 77,402 tỷ đồng; Hỗ trợ muối iốt, bột canh iốt 5.023,2 tấn với kinh phí 26,502 tỷ đồng

i) Thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện, trợ cấp khó khăn theo Quyết định số 471/QĐ-TTg

Trong 5 năm (2011-2015), toàn tỉnh đã hỗ trợ tiền điện, trợ cấp khó khăn cho 226.393 hộ với tổng kinh phí hỗ trợ là 105,464 tỷ đồng

j) Thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp, trợ giúp thường xuyên cho đối tượng xã hội

Các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, chính sách đối với người có công với cánh mạng, đối tượng là người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được thực hiện kịp thời, đầy đủ, đúng chế độ chính sách Trong 5 năm (2011-2015), đã thực hiện trợ giúp cứu đói cho 414.672 lượt người với 8.135 tấn lương thực và 8,256 tỷ đồng tiền mặt Số đối tượng được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng tăng từ

Trang 40

8.314 đối tượng năm 2011 lên 12.119 đối tượng năm 2015; kinh phí trợ cấp 5 năm (2011-2015) là 132,88 tỷ đồng

Các chính sách h trợ giảm nghèo đặc thù cho các huyện nghèo và Các chương trình mục tiêu quốc gia

(CT T G đ đ p vào công cu CT T G G v CT T G CTMTQG vi c làm và d B đ

ì í á hỗ trợ giả è đặc thù chủ yếu tập trung vào các huyện, thị xã trọ đ ể và á vù â k ó k ă

a) Chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP

Trong 05 năm (2011-2015), ngân sách Trung ương đã hỗ trợ tỉnh Điện Biên 912,001 tỷ đồng thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, trong đó:

Vốn đầu tư phát triển 687,321 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 75,36%), trong đó vốn thực

hiện mục tiêu hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập là 41,23 tỷ đồng Đã đầu tư xây dựng 149 công trình (bao gồm: 58 công trình giao thông, 50 công trình thủy lợi,

16 công trình nước sinh hoạt, 10 công trình trường học, 04 công trình trạm y tế, 04 công trình nhà văn hóa xã, 03 công trình cấp điện nông thôn và 04 công trình khác) Đến cuối năm 2015, đã có 90 công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng

Vốn sự nghiệp 224,68 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 24,64%), đã thực hiện hỗ trợ 13.604

hộ, nhóm hộ khoanh nuôi, bảo vệ rừng, hỗ trợ gạo cho hộ nghèo chăm sóc, bảo vệ 97.035,91 ha rừng, kinh phí thực hiện 21,042 tỷ đồng; thực hiện hỗ trợ khai hoang, phục hóa và tạo ruộng bậc thang được 1.700,36 ha cho 3.642 hộ với kinh phí thực hiện 10,824 tỷ đồng; thực hiện hỗ trợ mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao với tổng kinh phí 126,553 tỷ đồng, cho 33.690 hộ gia đình; hỗ trợ xây dựng 77 mô hình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, với 2.535 hộ hưởng lợi, kinh phí thực hiện 9,7 tỷ đồng; đồng thời đã tích cực triển khai các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ máy nông cụ và thực hiện chính sách tăng cường, thu hút cán bộ, trí thức trẻ đối với các huyện nghèo

b) Chính sách hỗ trợ huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao theo Quyết định số 293/QĐ-TTg

Ngày đăng: 06/11/2017, 15:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w