1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010

95 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình: “Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam”, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG CÔNG DOANH

QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi do sự hướng dẫn của Cô giáo TS Duy Thị Hải Hường Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Công Doanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành được luận văn này tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo TS Duy Thị Hải Hường - Người đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn trước sự giảng dạy nhiệt tình và giúp

đỡ quý báu của các Thầy, Cô giáo khoa Sử học - Học viện khoa học xã hội đã giành cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả xin chân thành cảm ơn Thư viện tỉnh Lạng Sơn, Đảng bộ huyện Văn Quan, Ủy ban nhân dân huyện Văn Quan, các phòng, ban đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình sưu tầm tài liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Công Doanh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT HUYỆN VĂN QUAN TRƯỚC NĂM 1986 15

1.1 Khái quát huyện Văn Quan 15

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 15

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội, dân cư 16

1.2 Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986 18

1.2.1 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế của đất nước……… …18

1.2.2 Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986 22

Tiểu kết 25

Chương 2: CHUYỂN BIẾN KINH TẾ HUYỆN VĂN QUAN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996 27

2.1 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ của đất nước trong mười năm đầu đổi mới 27

2.2 Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1986 - 1996 30

2.2.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp 32

2.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 36

2.2.3 Thương mại, dịch vụ 39

2.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng 40

Tiểu kết 42

Chương 3: CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA HUYỆN VĂN QUAN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 43

3.1 Chủ trương của Đảng và chính quyền địa phương về phát triển kinh tế 43 3.2 Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1996 - 2010 46

3.2.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp 46

3.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 52

3.2.3 Thương mại, dịch vụ 55

3.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng 58

Tiểu kết 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 78

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp 35 Bảng 2.2: Sản phẩm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chủ yểu trên địa bàn huyện Văn Quan (năm 1995)…… …37 Bảng 2.3: Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan (năm 1995) 38 Bảng 3.1: Diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực của huyện Văn Quan giai đoạn 1996 – 2000 47 Bảng 3.2: Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp huyện Văn Quan giai đoạn 1996 – 2000 48 Bảng 3.3: Chỉ số phát triển giá trị tổng sản lượng nông nghiệp huyện Văn Quan giai đoạn 1996 – 2000 48 Bảng 3.4: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn

2001 – 2010 51 Bảng 3.5: Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp huyện Văn Quan giai đoạn 1996 – 2000 53 Bảng 3.6: Số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại (2001 - 2010) 57 Bảng 3.7: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 60 Biểu đồ cơ cấu GDP huyện Văn Quan năm 2000, 2005, 2010 62

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế được coi là thước đo trình độ phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Chính vì vậy, mà tất cả các quốc gia trên thế giới, dù đi theo chế độ chính trị - xã hội nào, thì cũng đề ra những chiến lược nhằm mục đích phát triển kinh tế đất nước mình

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Việt Nam chuyển sang giai đoạn độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong mười năm đầu xây dựng đất nước (1976 - 1986), bên cạnh những thành tựu, đất nước chúng ta gặp không ít khó khăn, yếu kém và cả sai lầm, khuyết điểm Khó khăn của nước ta ngày càng lớn, sai lầm chậm được sửa chữa, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối những năm 80 của thế kỷ

XX, lạm phát “phi mã” lên tới 774,7% Trước thực trạng đó, đòi hỏi Việt

Nam phải đổi mới để thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đổi mới là

vấn đề “sống còn” của cách mạng Việt Nam

Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Từ năm 1986 đến nay, đường lối đổi mới của Đảng được điều chỉnh, bổ sung qua các kỳ Đại hội VII (tháng 6 - 1991), VIII (tháng 6 - 1996), IX (tháng 4 - 2001), X (tháng 4 - 2006), XI (tháng 1 - 2011),

mở đường và tạo động lực cho kinh tế Việt Nam phát triển Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn: Thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, cách tỉnh lỵ 45 km theo trục đường quốc lộ 1B từ ạng Sơn đi Thái Nguyên

Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc anh em, Văn Quan có điều kiện tự nhiên

Trang 7

và tài nguyên phong phú, có hệ thống giao thông thuận lợi nên có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế

Trải qua 25 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2010) của Đảng, huyện Văn Quan đã đạt nhiều thành tựu cơ bản trong xây dựng và phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, huyện Văn Quan vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, đời sống của nhân dân huyện Văn Quan nói riêng và của cả tỉnh Lạng Sơn nói chung trong từng giai đoạn lịch sử, từ đó rút ra một số nhận xét, đánh giá về sự phát triển của địa phương trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết

Nghiên cứu đề tài này, tác giả góp phần làm rõ hơn truyền thống lịch

sử, văn hóa của nhân dân huyện Văn Quan trong quá khứ và hiện tại, góp phần giáo dục thế hệ trẻ của huyện thêm trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó

Từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, toàn diện về kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1986 - 2010

Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Quá trình chuyển

biến kinh tế của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 8

lầm, khuyết điểm, nguyên nhân, tất yếu phải đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế

Tác giả Lê Xuân Trinh làm chủ biên cuốn sách“Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2000: mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu” Công trình do Ủy

ban Kế hoạch nhà nước, Hà Nội xuất bản năm 1990 đã đề cập tương đối toàn diện về tình hình và những bài học thực tiễn; quan điểm, mục tiêu chiến lược, những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm ổn định, phát triển kinh tế, xã hội

ở nước ta đến năm 2000

Vấn đề đổi mới cũng được tác giả Phạm Xuân Nam đề cập trong công

trình “Đổi mới kinh tế - xã hội thành tựu, vấn đề và giải pháp” Công trình do

ông làm chủ biên, được nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm

1991, đã phân tích các lĩnh vực chủ yếu của đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam sau 4 năm thực hiện đường lối đổi mới, qua đó nêu lên những thành tựu đã đạt được, chỉ ra những vấn đề tồn tại từ lâu hoặc mới nảy sinh và đề xuất một số giải pháp sắp tới nhằm góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2000

Công trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân” của GS Đỗ Đình Giao do nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia, Hà Nội xuất bản năm 1994 đã luận giải về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta nói chung với những thành tựu và bài học kinh nghiệm

Tác giả Vũ Anh Tuấn làm chủ biên công trình “Đổi mới kinh tế và phát triển”, do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội công bố năm 1994, đã trình

bày những nét chính của quá trình đổi mới các chính sách kinh tế, vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động của quá trình đổi mới kinh tế đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

Trang 9

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những chuyển biến của cơ cấu xã hội, xu hướng phân tầng xã hội dưới ảnh hưởng của đổi mới chính sách kinh tế

PGS Đỗ Hoài Nam với công trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

và phát triển mũi nhọn” do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản

năm 1996 đã đi sâu vào nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở mức độ

vi mô hơn Theo tác giả, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cần phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế sẵn có của từng vùng

Trong cuốn sách “Kinh tế Việt Nam chặng đường 1945 - 1995 và triển vọng đến năm 2020”, tác giả Trần Hoàng Kim đã hệ thống tư liệu và số liệu

trong 50 năm kinh tế Việt Nam tương đối toàn diện và đầy đủ Trong cuốn sách này, tác giả đã có những nhận định, tuy nhiên chưa nhiều, nhưng khá rõ nét về kinh tế việt Nam trong chặng đường từ năm 1945 đến năm 1995 và đưa ra những định hướng đến năm 2020 Công trình do nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội xuất bản năm 1996

Nguyễn Trọng Phúc với công trình “Một số kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới” đã tổng kết một số

chủ trương đổi mới của Đảng và những thành tựu tiêu biểu mà đất nước ta đã đạt được, từ đó rút ra những kinh nghiệm và bài học trong lãnh đạo của Đảng Công trình do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2000

Trong công trình: “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới” của tác giả Đặng Phong, Nhà xuất bản Tri thức, năm 2012 đã dựng lại một bức tranh

sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ khóa khăn trong thời kỳ “phá rào” trước đổi mới Nội dung cuốn sách trình bày 20 cuộc “phá rào” tiêu biểu cho một ngành, một lĩnh vực… Cuốn sách cũng nêu lên những bài học lịch sử từ những bước “phá rào” đó để cho công cuộc đổi mới ở nước ta được thành công

Trong cuốn sách: “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 - 1989” của tác giả Đặng Phong, Nhà xuất bản Tri thức xuất bản, năm 2012 đã trình bày thời kỳ 15

Trang 10

năm sau ngày giải phóng miền Nam, kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, trước thực trạng đó ở các địa phương cơ sở đã có những bước đột phá vào cơ chế cũ, từ đó dẫn đến những bước đột phá về tư duy kinh tế của Đảng trong giai đoạn 1979 - 1986 Trong thời kỳ đổi mới 1986 - 1989, cuốn sách trình bày những chủ trương, chính sách kinh tế mới của Đảng để xóa bỏ kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường

Tác giả Trần Bá Đệ trong cuốn sách: Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay, những vấn đề lí luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất

bản Đại học Quốc gia, Hà Nội, năm 1998 Cuốn sách đề cập tình hình Việt Nam sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, hoàn thành thống nhất nước nhà, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, những bước tìm tòi, khảo nghiệm để đổi mới đất nước và khẳng định đổi mới là tất yếu đối với Việt Nam Đặc biệt, cuốn sách trình bày rõ đường lối đổi mới của Đảng tại Đại hội VI (1986), khẳng định sự đúng đắn của đường lối phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Trong công trình “Lịch sử Việt Nam, tập IV (1945 - 2005)” của tác giả

Lê Mậu Hãn do nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2013, công trình đề cập đến hai cuộc kháng chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân Việt Nam (1945 - 1975); công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975); công cuộc khôi phục và xây dựng nước nhà trong 10 năm đầu thống nhất đất nước, trước khi đổi mới (1976 - 1986) và đặc biệt công trình có đề cập đến quá trình tìm tòi, khảo nghiệm cách quản lý kinh tế theo mô hình mới, từ bỏ mô hình quản lý kinh tế quan liêu, bao cấp, kế hoạch, để đến năm 1986, Việt Nam đổi mới toàn diện đất nước

Trong cuốn sách “Lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000”, tập

15, tác giả Nguyễn Ngọc Mão làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2014 (công trình đã tái bản vào năm 2017) Công trình dựng lại bức tranh

Trang 11

khá sinh động về phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam trong 15 năm đầu đổi mới, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng

Với các tỉnh miền núi, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: “Một

số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc”, Viện Dân tộc học thực

hiện, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1987 Công trình tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu bước đầu lý giải một số vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh miền núi phía Bắc, như vấn đề dân tộc, dân

cư và lao động, vấn đề xác định, đánh giá những thế mạnh của miền núi và việc khai thác phát huy những thế mạnh, các tiềm năng kinh tế ở khu vực này Bên cạnh những vấn đề đó, là việc xây dựng, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất mới, phát triển văn hóa, giáo dục… àm sáng tỏ những hạn chế trong phát triển văn hóa, giáo dục miền núi Đề cấp đến vấn đề kết hợp đúng đắn giữa xây dựng kinh tế với đảm bảo an ninh quốc phòng

Trong cuốn sách: “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi”, Bế Viết Đẳng (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm 1996 Cuốn sách đề cập đến quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc, những vấn đề cấp bách về thực trạng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Công trình: “Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc” do Khổng Diễn (Chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà

Nội, năm 1996, là kết quả thu được từ những cuộc điều tra, điền dã dân tộc học trong một số năm kết hợp với các tài liệu thống kê dân số ở Trung ương

và địa phương, cung cấp bức tranh khái quát nhưng rất phong phú và đa dạng

về nhiều mặt: điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, dân cư, dân số, kinh tế, văn hóa và mối quan hệ giữa các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam

Trong cuốn sách: “Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, các tác giả Lê Du Phong,

Trang 12

Hoàng Văn Hoa (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm

1998 Cuốn sách nêu lên thực trạng kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi hiện nay cũng như tính cấp thiết phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế -

xã hội; đồng thời đề ra các định hướng phát triển, một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy bản sắc văn hóa,

ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đoàn kết các dân tộc miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và từng khu vực cụ thể thuộc vùng dân tộc miền núi Việt Nam nói riêng

Công trình: “Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc”, Nhà xuất bản ao động xã hội, Hà Nội, năm 2006, sách do

Bộ Công nghiệp phối hợp với các ngành kinh tế, các địa phương, các doanh nghiệp trong vùng thu thập thông tin xuất bản Sách giới thiệu khái quát tiềm năng, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương trong vùng

Trong công trình: “Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam”, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia

Hà Nội thực hiện, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, năm 2008, tập hợp những bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về những đề tài đang mang tính thời sự ở Việt Nam như quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sự thay đổi các mối quan hệ lao động, thành quả phát triển trong thời kỳ mở cửa ở vùng cao Việt Nam v.v…

2.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về tỉnh Lạng Sơn và huyện Văn Quan trong thời kỳ đổi mới

Trong cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1930 - 1954)”

trình bày lịch sử đấu tranh của nhân dân huyện Văn Quan từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm

1945 và trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Đồng thời, cuốn sách cũng trình bày lịch sử hình thành của huyện Văn Quan; quá trình đấu tranh,

Trang 13

khôi phục, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong trong giai đoạn đấu tranh cách mạng 1930 - 1954

Công trình “Lạng Sơn, 30 xây dựng và phát triển (1980 - 2010)”, do

Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn xuất bản, trình bày khái quát chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn với những thành tựu đạt được, những hạn chế còn tồn tại Nội dung cuốn sách gồm 4 phần chính, trong đó, có phần đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội huyện Văn Quan với những số liệu thống kê khá đầy đủ về các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội từ năm 1980 đến năm 2010

Cuốn “Địa Chí Lạng Sơn” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

phát hành năm 1999, trình bày một cách khái quát đầy đủ về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị an ninh của tỉnh Lạng Sơn Nội dung cuốn sách bao gồm 5 phần chính, trong đó,

có phần giới thiệu quá trình phát triển và những đặc điểm của huyện Văn Quan

Tiếp theo Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1930 - 1954), năm 1998,

Ban Thường vụ Huyện ủy Văn Quan xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1955 - 1985)” Công trình này đã nêu bật những thành tựu mà huyện

Văn Quan đạt được qua các giai đoạn khôi phục, cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng nền kinh tế - xã hội mới, đời sống văn hóa mới từ năm 1955 đến năm 1965; Những thành tích chiến đấu, xây dựng trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1966 - 1972); Tiếp tục củng cố hậu phương vững mạnh, không ngừng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần cùng

cả nước giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc

Cuốn sách còn trình bày những thành tích của nhân dân huyện trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tháng 2 - 1979 và trong xây dựng, củng cố, phát triển kinh tế - xã hội từ năm 1980 đến năm 1985; Trình bày những tồn tại khiếm khuyết, những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế

- xã hội Từ đó, nêu lên những bài học kinh nghiệm bổ ích và cần thiết cho

Trang 14

Đảng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng và phát triển kinh tế -

xã hội cho những năm tiếp sau

Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn 1986 - 2000” xuất bản

năm 2010, tác giả cuốn sách trình bày thành 3 chương với nội dung chủ yếu là phản ánh quá trình đảng bộ tỉnh ạng Sơn quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh ạng Sơn lần thứ X, XI, XII

Cuốn sách cũng trình bày những thành tựu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh ạng Sơn, trong đó có huyện Văn Quan đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại, củng cố, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cập đến những khó khăn, yếu kém trong 15 năm Đảng bộ ạng Sơn thực hiện đường lối đổi mới Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong xây dựng phát triển tỉnh ạng Sơn giai đoạn sau

Đến năm 2013, Ban Thường vụ Huyện ủy Văn Quan biên soạn cuốn

sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1986 - 2005) Với bốn phần chính

là: 1 Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Văn Quan bước vào thực hiện công cuộc đổi mới giai đoạn 1986 - 1990; 2 Đảng bộ huyện Văn Quan lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới giai đoạn 1991 - 1995; 3 Đảng bộ huyện Văn Quan lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1996 - 2000; 4 Đảng bộ lãnh đạo đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đaị hóa giai đoạn 2001 - 2005, cuốn sách đã trình bày quá trình hai mươi năm Đảng bộ huyện Văn Quan lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến năm 2005 Đảng bộ huyện

đã lãnh đạo nhân dân nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, từng bước giành được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, giữ vững

ổn định chính trị, đảm bảo an toàn xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân

Trang 15

Nội dung cuốn sách cũng trình bày xuất phát điểm của huyện Văn Quan khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong điều kiện của một huyện còn nghèo, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, lạc hậu, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, tư tưởng trông chờ ỷ lại của thời kỳ bao cấp còn nặng nề, trình độ quản

lý của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, không đồng đều Song với tinh thần quyết tâm, với ý chí tự lực, tự cường, kiên trì, chủ động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, Đảng bộ huyện đã lãnh đạo nhân dân, huy động mọi nguồn lực, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh, vượt qua khó khăn, thiếu thốn để phát triển kinh tế -

xã hội; Cuốn sách cũng nêu lên những thành tựu, hạn chế về các vấn đề kinh

tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng, đồng thời nêu lên những bài học cho Đảng bộ huyện trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế -

xã hội của huyện từ năm 1986 đến năm 2005

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cấp đến truyền thống lịch sử, tinh thần đấu tranh cách mạng, tình hình kinh tế, văn hóa

- xã hội, đời sống của nhân dân huyện Văn Quan qua suốt chiều dài lịch sử Đây là nguồn tư liệu quí để tác giả luận văn kế thừa trong công trình nghiên cứu Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của các công trình nêu trên quá rộng, bao trùm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, dân cư của huyện, của tỉnh nên mức độ nghiên cứu mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung, khái quát của tỉnh Lạng Sơn và huyện Văn Quan; các công trình nghiên cứu đó vẫn chưa đề cập cụ thể về tình hình kinh tế và quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến 2010

- Thời kỳ kinh tế đất nước khó khăn, lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội (1976 - 1986), dẫn đến những tìm tòi, khảo nghiệm cách quản lý kinh tế

Trang 16

theo mô hình mới Đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1986), những chủ trương, chính sách xây dựng nền kinh tế thị trường từ năm 1986 đến nay

- Đường lối, chính sách dân tộc, những vấn đề cấp bách về phát triển kinh

tế, xã hội, văn hóa thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay để khai thác, phát huy những thế mạnh, các tiềm năng kinh tế, bảo vệ môi trường, phát huy bản sắc văn hóa, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đoàn kết các dân tộc miền núi

Các công trình nghiên cứu về huyện Văn Quan đã đề cập, gồm có:

- Lịch sử hình thành, đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội, dân cư, hành chính, tôn giáo, dân tộc của huyện Văn Quan

- Những thành tựu và hạn chế trong quá trình khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội huyện Văn Quan trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ từ năm

1930 đến năm 1975

- Những thành tựu, hạn chế trong thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội sau khi đất nước thống nhất (1976 - 1986) và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Văn Quan trong thời kỳ đổi mới

2.3 Những vấn đề luận văn tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, luận văn trình bày, làm rõ vấn một số vấn đề sau:

- Trên cơ sở trình bày về tình hình kinh tế, tác giả chú trọng làm rõ quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan từ năm 1986 đến năm 2010, qua hai giai đoạn: 1986 - 1996, 1996 - 2010 trên các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và xây dựng cơ sở hạ tầng

- Nêu những thành tựu và khó khăn, hạn chế về phát triển kinh tế của huyện Văn Quan trong 25 năm đổi mới (1986 - 2010)

- Đồng thời nêu lên một vài nhận xét về quá trình chuyển biến kinh tế của huyện trong giai đoạn (1986 - 2010)

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, đề tài thực hiện nghiên cứu các nhiệm vụ sau đây:

- Trình bày khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế,

xã hội, dân cư của huyện Văn Quan

- Trình bày khái quát kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986

- Trình bày chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan trong 25 năm đổi mới (1986 - 2010) trên các lĩnh vực: Nông nghiệp - lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và xây dựng cơ sở hạ tầng

- Luận văn nêu lên những thành tựu về phát triển kinh tế mà huyện Văn Quan đạt được trong 25 năm đổi mới đất nước, đồng thời cũng nhìn nhận, đánh giá một cách chân thực, khách quan những khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế của huyện trong thời gian đó

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu huyện Văn Quan của tỉnh ạng

Sơn hiện nay gồm 23 xã và 1 thị trấn (thị trấn Văn Quan, xã Yên Phúc, xã Bình Phúc, xã Xuân Mai, xã ương Năng, xã Tú Xuyên, xã Tri ễ, xã Hữu

ễ, xã Hòa Bình, xã Tân Đoàn, xã Tràng Phái, xã Tràng Sơn, xã Đại An, xã Vĩnh ại, xã Vân Mộng, xã Trấn Ninh, xã Song Giang, xã Khánh Khê, xã Văn An, xã Chu Túc, xã Đồng Giáp, xã Tràng Các, xã Việt Yên, xã Phú Mỹ)

Trang 18

Phạm vi thời gian: uận văn nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2010

Năm 1986 là mốc thời gian Việt Nam tiến hành đổi mới đất nước và cũng là năm Đảng bộ huyện Văn Quan tiến hành Đại hội lần thứ XV (1986) đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới

Năm 2010 là mốc tổng kết 25 năm đổi mới đất nước và kết thúc giai đoạn 25 năm phát triển kinh tế huyện Văn Quan

4.3 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành luận văn, tác giả dựa vào các nguồn tài liệu sau:

- Văn kiện Đảng về đường lối đổi mới và xây dựng đất nước

- Tài liệu lưu trữ tại địa phương gồm: Nghị quyết, Chỉ thị, báo cáo tổng kết, chương trình đề án phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh ạng Sơn, Huyện uỷ,

Uỷ ban nhân dân huyện Văn Quan trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến năm 2010; Tài liệu của Cục thống kê tỉnh ạng Sơn, Phòng lưu trữ huyện Văn Quan

- Sách, báo, bài viết, các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước, của tỉnh ạng Sơn và huyện Văn Quan thời kỳ đổi mới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Đề tài luận văn thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối phát triển kinh tế của Đảng thời kỳ đổi mới để nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu nhằm khôi phục lại bức tranh về kinh tế huyện Văn Quan từ năm 1986 đến năm 2010; kết hợp với phương pháp lôgíc để đánh giá, nhận xét, rút ra đặc điểm, bài học kinh nghiệm của quá trình phát triển kinh tế huyện Văn Quan

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu

Trang 19

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- uận văn góp phần bổ sung về đường lối xây dựng phát triển kinh tế,

xã hội trong thời kỳ đổi mới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn

gồm làm 3 chương:

Chương 1: Khái quát huyện Văn Quan trước năm 1986

Chương 2: Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan từ năm 1986 đến

năm 1996

Chương 3: Chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan từ năm 1996 đến

năm 2010

Trang 20

Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN VĂN QUAN TRƯỚC NĂM 1986

1.1 Khái quát huyện Văn Quan

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Văn Quan là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Nam tỉnh ạng Sơn, cách thành phố ạng Sơn 45km theo trục đường Q 1B Phía Bắc giáp huyện Văn ãng Phía Nam giáp huyện Chi ăng và Hữu ũng Phía Đông giáp huyện Cao ộc và thành phố ạng Sơn Phía Tây giáp huyện Bình Gia và Bắc Sơn Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 55.066,97ha, bao gồm 23 xã và 1 thị trấn [90, tr 5]

Văn Quan nằm ở cửa ngõ phía Tây của thành phố ạng Sơn Với hệ thống giao thông khá thuận lợi, huyện Văn Quan có 2 quốc lộ đi qua là Quốc

lộ 1B và Quốc lộ 279 Quốc lộ 1B chạy từ Đông sang Tây, đóng vai trò trục chính trong hệ thống giao thông, nối liền giữa vùng kinh tế mở Đồng Đăng - ạng Sơn và Bình Gia - Bắc Sơn Quốc lộ 279 chạy từ Bắc xuống Nam, là tuyến giao lưu với Đồng Mỏ - Chi ăng và các tỉnh miền xuôi Ngoài ra, huyện còn có các hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ nối với 2 trục đường quốc

lộ trên, phục vụ nhu cầu giao thương của nhân dân các dân tộc trong huyện Đây là yếu tố thuận lợi để huyện Văn Quan phát triển kinh tế

Về khí hậu, Văn Quan chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Bắc, là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng mang những nét riêng biệt à huyện có mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa nóng, ẩm, mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô lạnh, ít mưa, khô hanh và rét kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau à huyện miền núi, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, có sự biến đổi nhiệt khá lớn, đặc biệt có thời gian khô đúng vào thời kỳ các loại cây dài ngày ra hoa, đậu quả, biên độ ngày đêm

Trang 21

chênh lệch lớn Đó là những yếu tố thuận lợi cho sự thụ phấn, đậu quả và phẩm chất ngon của các loại cây dài ngày; là điều kiện thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ, bố trí cơ cấu các loại cây trồng

Về tài nguyên nước, Văn Quan có hệ thống sông suối khá dày đặc và phân bố khá đồng đều, thuận lợi để xây dựng hệ thống hồ đập, dự trữ nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp như: Đập Bản Quyền, Hồ Bản Nầng, hồ Suối Mơ và phát triển hệ thống thủy lợi

Tài nguyên đất đai của Văn Quan khá phong phú, huyện có những vùng núi đất và núi đá vôi xen kẽ, diện tích núi đá có 11.619ha, trong đó diện tích núi đá không có rừng cây có 5.084,84ha; diện tích núi đất có 49.843ha Đất của Văn Quan thuộc loại địa hình bằng và sườn thoải, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là: 55.028,23ha [90, tr 7]

Đất đai huyện Văn Quan chủ yếu là đất feralit nâu đỏ hoặc màu vàng phát triển trên đá vôi hoặc bồn địa phù sa, thích hợp để phát triển lâm nghiệp (chủ yếu là cây hồi), các loại nông sản đặc sản xứ lạnh có giá trị kinh tế cao như: hoa, quả, thảo dược…

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên là những khó khăn do vị trí địa lý của vùng đem lại Đó là địa hình huyện Văn Quan thuộc vùng núi trung bình của tỉnh ạng Sơn, có độ cao trung bình khoảng 400 mét so với mực nước biển Địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi đá, núi đất xen

kẽ các thung lũng nhỏ và nghiêng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc Địa thế hiểm trở được tạo ra bởi những dãy núi đá vôi dốc đứng, hang động và khe suối ngang dọc, khi gặp mưa nhiều dễ gây lũ lụt Đây là khó khăn tác động đến quá trình sản xuất, phát triển kinh tế và hoạt động đi lại buôn bán của nhân dân

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội, dân cư

Về đặc điểm kinh tế Kinh tế nghèo, vẫn mang tính chất tự cung, tự cấp

là đặc điểm nổi bật của kinh tế ở huyện Văn Quan Kinh tế trồng trọt giữ vai trò

Trang 22

chủ yếu Trong sản xuất nông nghiệp do tập quán lao động và công cụ lạo động còn lạc hậu, cùng với đó là điều kiện tự nhiên khắc nhiệt, nên năng suất lao động thấp, một năm thường chỉ trồng được hai vụ lúa là vụ chiêm và vụ mùa

Ngoài ra, nhân dân trong huyện còn có các loại hình canh tác truyền thống khác là canh tác ruộng nước, nương rẫy, chăn nuôi trâu, bò, ngựa, gia súc và làm một số nghề thủ công nghiệp truyền thống mang đặc trưng của từng tộc người, như nghề dệt vải, làm ngói ống (hay ngói âm dương) của người Tày, Nùng Tuy nhiên, nghề thủ công mới chỉ để đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt đời sống hàng ngày trong phạm vi gia đình, địa phương và chỉ đóng vai trò phụ trong nền kinh tế

Về đặc điểm xã hội, dân cư Ngoài người Kinh, huyện Văn Quan có ba dân tộc thiểu số khác sinh sống cùng là người Nùng, người Tày và người Hoa

là chủ yếu Các cộng đồng dân cư sinh sống đoàn kết Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là những hộ ở vùng cao

Mặc dù chỉ có ba dân tộc thiểu số sinh sống nhưng các dân tộc vẫn cư trú phân tán, rải rác trên một địa bàn rộng lớn Từ xã đến huyện, từ huyện đến tỉnh cách xa hàng chục kilômét đường đèo, đường núi, đi mất vài ngày đường Một đặc điểm nữa về cư trú của nhân dân ở trong huyện là phân bố vừa rải rác vừa đan xen lẫn nhau trong một khu vực với nhiều trình độ, phong tục và sắc thái văn hóa sẽ đặt ra những yêu cầu riêng Đó là việc giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đảm bảo tính đa dạng văn hóa, phong tục của từng dân tộc với yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế với giữ gìn phong tục tập quán, văn hóa của từng dân tộc

Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội và dân cư như trên, huyện Văn Quan vừa có nhiều thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh

tế song cũng có rất nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là vấn đề cơ

sở hạ tầng giao thông và trình độ sản xuất

Trang 23

1.2 Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986

1.2.1 Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế của đất nước

Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi Một kỷ nguyên mới của cách mạng Việt Nam đã được mở ra: Kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội

Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế được tiến hành trong điều kiện thuận lợi cơ bản là đất nước thống nhất, nhân dân được sống trong hòa bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng lao động sản xuất, khôi phục kinh tế, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn Song khó khăn vô cùng nhiều Hậu quả của chiến tranh quá nặng nề ở hai miền Nam, Bắc

Sau chiến tranh, nhân dân rất phấn khởi, nhanh chóng bắt tay vào xây dựng chế độ mới, nhưng cũng còn một bộ phận, nhất là những người đã từng tham gia trong bộ máy quân sự và chính trị của chính quyền Sài Gòn tỏ ra lo ngại, thậm chí có người lợi dụng Nhà nước gặp khó khăn để kích động, lôi kéo quần chúng, móc nối với các thế lực phản động bên ngoài, gây rối loạn trong nước

Trong khi đó, tình hình quốc tế có nhiều căng thẳng Sau năm 1975, các lực lượng phản động quốc tế câu kết với nhau, thi hành chính sách bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam Đế quốc Mỹ xiết chặt cấm vận và lôi kéo các nước cắt viện trợ kinh tế cho Việt Nam Ngoài ra, chúng ta còn chịu sức ép từ biên giới phía Bắc và các lực lượng chống Việt Nam tiếp tục lôi kéo một số nước láng giềng giúp đỡ bọn tàn quân Pôn Pốt hoạt động chống phá cách mạng

Trước những khó khăn nêu trên, Đảng đưa ra chủ trương khôi phục và phát triển kinh tế

Trang 24

Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta hoàn toàn thắng lợi, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới - giai đoạn đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội

Nghị quyết số 24 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá III (1975) xác định cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, từ hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa sang nhiệm

vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chủ nghĩa xã hội

Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn

mới ở nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội…” [37, tr 611]

Về đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, Đại hội nêu rõ phải: Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa…, vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong

một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất… [37, tr 612]

Đến đầu những năm 80, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trong đó vấn đề lưu thông phân phối bức xúc, khó khăn hơn cả Tháng 9 - 1979, Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IV) đã được triệu tập, Hội nghị này được coi là bước đột phá đầu tiên về đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Hội nghị đã đánh giá về thực trạng đất nước, tập trung bàn về phương hướng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm nghiêm trọng các

Trang 25

mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Hội nghị đề ra biện pháp nhằm khác phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa; điều chỉnh những chính sách kinh tế, phá bỏ rào cản mở đường cho sản xuất phát triển

mà trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, hàng tiêu dung và hàng xuất khẩu; điều chỉnh một số chính sách không còn phù hợp, cải tiến phương thức lưu thông vật tư, hàng hóa theo hướng gắn sản

xuất với thị trường, cho tự do lưu thông, xóa bỏ “ngăn sông, cấm chợ”; xác

định ở miền Bắc tồn tại ba hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể

và sở hữu cá thể; ở miền nam trong một chừng mực nhất định, còn tồn tại hình thức kinh tế tư bản tư doanh cỡ nhỏ; Quyết định kết hợp ba lợi ích: Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động Hội nghị cũng chủ trương: Phải tận

dụng các thành phần kinh tế: “quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, cá thể (kể cả tư sản được kinh doanh hợp pháp); kết hợp quy mô lớn, vừa, nhỏ; kỹ thuật thủ công, nửa cơ giới và cơ giới; kết hợp Trung ương, địa phương (tỉnh, thành, huyện) và cơ sở” [38, tr 381] Hội nghị này khởi đầu chuyển biến về

nhận thức đường lối kinh tế của Đảng, tháo gỡ những ràng buộc của cơ chế

quản lý kế hoạch hoá tập trung, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất "bung ra"

Ngày 13 - 1 - 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 100 - CT/TW Về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp Chỉ thị 100 là cải tiến mạnh mẽ các hình thức khoán của đội sản xuất đối với xã viên, mở rộng “khoán sản phẩm” Chỉ

thị 100 đi vào cuộc sống đã tạo đà đi lên, ngăn chặn sự sa sút của nền nông nghiệp nước ta Năng suất, sản lượng cây, con và diện tích cây công nghiệp tăng nhiều so với trước Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn năm trước

Tháng 3 năm 1982, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đề

ra những mục tiêu kinh tế và xã hội là: Ổn định dần dần, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; Tiếp tục xây dựng cơ sở vật

Trang 26

chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu;…[39, tr 186]

Tháng 6 - 1985, Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng

(khóa V) đã họp bàn về giá - lương - tiền, Hội nghị này được coi là bước đột phá thứ hai về đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Hội nghị chủ trương: Dứt khoát xóa

bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa thì mới đẩy mạnh sản xuất kinh doanh có hiệu quả; xóa quan liêu bao cấp trong giá và lương là yêu cầu hết sức cấp bách, là khâu đột phá có tính quyết định để chuyển hẳn nền kinh tế sang

hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa [40, tr 117]

Tháng 8 năm 1986, Bộ Chính trị đã xem xét kỹ ba vấn đề lý luận lớn, thuộc lĩnh vực kinh tế Từ đó, đưa ra kết luận rất quan trọng về 3 quan điểm

kinh tế trong tình hình mới:

- Về cơ cấu kinh tế: Một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý mới phát triển ổn định Bố trí đúng cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu sản xuất và đầu tư là những vấn đề quan trọng đầu tiên của đường lối kinh tế, có ý nghĩa quyết định đối với

việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong mỗi chặng đường [41, tr 224]

- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới: Cần

phải tuân theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất…; cải tạo xã hội chủ nghĩa còn để giải quyết vấn đề quan hệ sản xuất một cách đồng bộ, cả ba mặt: chế độ sở hữu, chế độ

quản lý và chế độ phân phối [41, tr 232]

- Về cơ chế quản lý kinh tế là: Xóa bỏ tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa [41, tr 240] Đây là bước đột phá thứ ba, có ý nghĩa quyết định trong đổi mới tư duy

lý luận về kinh tế của Đảng ta, có vai trò định hướng cho việc soạn thảo lại một cách căn bản dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI của Đảng

Trang 27

Nhìn một cách khái quát, những đột phá về tư duy kinh tế ở nước ta trước Đại hội VI tuy mới mang tính chất từng mặt, từng bộ phận, chưa cơ bản

và toàn diện, nhưng lại là những bước chuẩn bị rất quan trọng, tạo tiền đề cho bước phát triển nhẩy vọt ở Đại hội VI

1.2.2 Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986

Thực hiện chủ trương của Đảng trong tình hình cách mạng mới, Tỉnh

uỷ ạng Sơn đã chỉ đạo các địa phương tăng cường củng cố và phát triển phong trào hợp tác xã nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất phát triển Tháng 11 -

1975, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XI đã đề ra mục tiêu

là: “Củng cố phòng trào hợp tác hóa nông nghiệp lên trên 70%” [3, tr 83]

Năm 1976 hai tỉnh ạng Sơn và Cao Bằng sáp nhập thành tỉnh Cao ạng theo Nghị quyết của Quốc hội Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Cao ạng, nhân dân huyện Văn Quan khẩn trương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XI đề ra với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Phát triển sản xuất nông nghiệp được xác định là nhiệm vụ hàng đầu, đồng thời tập trung chỉ đạo các hợp tác xã tích cực tham gia sửa chữa các công trình thuỷ lợi đã có

Trong hai năm 1975 - 1976, với cuộc vận động khôi phục hợp tác xã và cuộc vận động bảo vệ trật tự trị an xã hội, đến năm 1976 phong trào hợp tác hóa đã đạt 76% Tháng 9 - 1977, Tỉnh ủy Cao ạng ra Nghị quyết 04 về việc củng cố, khôi phục phong trào hợp tác xã nông nghiệp

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) và các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện ủy Văn Quan đã chỉ đạo và đề

ra mục tiêu phấn đấu đưa 80% số hộ nông dân vào hợp tác xã ngay từ vụ đông xuân 1977 - 1978 Dưới sự chỉ đạo tập trung của Huyện ủy, đến tháng 4 -

1978 toàn huyện đã đưa phong trào hợp tác hóa lên 70%

Trong năm 1977 hoạt động sản xuất nông nghiệp của Huyện gặp nhiều khó khăn do hạn hán, sương muối, giá rét kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng

Trang 28

đến đời sống của người dân Trước tình hình trên, Huyện ủy đã có chủ trương

chuyển trồng màu xuống ruộng, thực hiện khẩu hiểu “ngành ngành trồng khoai” để bù đắp số lương thực bị hao hụt Trong năm 1977, toàn huyện đã

trồng được 117ha khoai lang và 602ha ngô, đưa sản lượng tăng lên 2.000 tấn góp phần ổn định đời sống nhân dân [3, tr 84]

Tháng 7 năm 1978, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ

XII đề ra nhiệm vụ: “Động viên cao nhất mọi cố gắng của toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân phát huy tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, thi đua lao động sản xuất… phấn đấu tăng khối sản phẩm nông - lâm nghiệp, thủ công nghiệp…” [3, tr 88] Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, Huyện uỷ

đã phân công nhiệm vụ cho từng uỷ viên theo dõi, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, đồng thời tăng cường giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác của nhân dân trong tình hình an ninh biên giới Việt - Trung diễn biễn phức tạp

Tháng 12 - 1978, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, tỉnh Cao ạng đã được tách thành hai tỉnh Cao Bằng và ạng Sơn để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới Tháng 2 năm 1979, cùng với nhân dân các huyện trong tỉnh, nhân dân các dân tộc huyện Văn Quan đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Sau một tháng, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc kết thúc Tuy nhiên, hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề cùng với thiên tai tàn phá làm cho sản xuất nông nghiệp huyện huyện Văn Quan gặp nhiều khó khăn Trong năm

1979, tuy sản lượng lương thực giảm so với năm trước nhưng huyện vẫn đảm bảo tự giải quyết lương thực cho nhân dân và hoàn thành nộp nghĩa vụ lương thực thực phẩm đạt 320 tấn lương thực, 20 tấn lợn hơi cho Nhà nước

Đến năm 1980, phát huy những thành tựu đạt được, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XIII khai mạc, đề ra nhiệm vụ kinh tế cho nhiệm kỳ mới là: Động viên khí thế cách mạng của toàn Đảng, toàn dân để nhanh chóng khôi phục, củng cố và hoàn thiện hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng… Trong sản xuất

Trang 29

kinh doanh thực hiện từng bước sự kết hợp chặt chẽ giữa tập trung chuyên canh với sử dụng tổng hợp, giữa nông - lâm nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, giữa kinh tế quốc doanh với kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình [3, tr 97] Sau Đại hội, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo củng cố phong trào hợp tác

xã nông nghiệp, trong hai năm 1980 - 1981 phong trào hợp tác xã từng bước được củng cố và khôi phục

Ngày 13 - 01 - 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 - CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động Chỉ thị 100 là bước đầu tạo tiền đề để kinh tế hộ gia đình, xã viên phát huy vai trò, đồng thời tạo tiền đề cho hợp tác xã nông nghiệp chuyển mạnh sang kinh doanh tổng hợp, xoá bỏ cơ chế quản lí cũ

Về nông nghiệp Thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng,

dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, huyện đã triển khai chính sách khoán sản phẩm Chỉ trong thời gian ngắn, tinh thần nội dung chính sách khoán sản phẩm đã có tác động tích cực đến tâm lý sản xuất của người nông dân Người lao động hăng hái sản xuất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong canh tác đem lại hiệu quả cao Trong 3 năm 1980 - 1982, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi của huyện đều tăng so với những năm trước: Năm 1980, sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 9.767,3 tấn, năm 1981 đạt 8.008,2 tấn, năm

1982 đạt 13.200 tấn thóc [3, tr 99]

Về trồng trọt, chăn nuôi Sản xuất nông nghiệp dần phục hồi, số lượng

chăn nuôi gia súc, gia cầm của huyện dần ổn định, phát triển Cũng trong 3 năm 1980 - 1982, đàn trâu của huyện có 16.200 con, đàn bò có 3.146 con và lợn có 13.433 con [3, tr 99] Các lâm trường quốc doanh đã chuyển sang trồng mới, bảo vệ, chăm sóc cây hồi, cây ăn quả, thúc đẩy nghề rừng phát triển Được sự đầu tư của tỉnh, huyện đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đập thủy lợi, mương máng dẫn nước ở hai xã Bình Phúc và Xuân Mai, tu sửa

Trang 30

được 15 công trình khác và làm mới được công trình dẫn nước ở xã Vĩnh ại, kịp thời đưa các công trình vào phục vụ sản xuất

Tháng 11 năm 1982, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ

XIV tiếp tục đề ra nhiệm vụ: “Trước hết tự cân đối lương thực, thực phẩm và đóng nghĩa vụ đối với tỉnh, cố gắng đáp ứng nhu cầu về mặc, học hành, chữa bệnh, ở, đi lại, chăm sóc trẻ em và nhu cầu tiêu dùng thiết yếu khác của nhân dân…” [3, tr 102]

Để đạt được mục tiêu đề ra, Huyện uỷ đã chỉ đạo các cấp, các ngành nỗ lực thực hiện nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, tích cực đầu tư thúc đẩy sản xuất phát triển, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng vụ, phát triển các hợp tác xã

Trong 3 năm phấn đấu quyết liệt (1983 - 1985), sản xuất nông nghiệp huyện có bước chuyển biến mới, năng suất lúa bình quân hàng năm đạt 27 tạ/ha Đến năm 1985, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc toàn huyện đã đạt 11.034,8 tấn, chăn nuôi phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được

ổn định [3, tr 105]

Tiểu thủ công nghiệp Ngoài việc tập trung phát triển sản xuất nông

nghiệp, huyện đã tổ chức và xây dựng được các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ở các xã Tân Đoàn, Chu Túc và Văn An Các hợp tác xã chuyên sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ công việc xây dựng cơ bản của huyện cũng như nhu cầu của nhân dân

Cơ sở hạ tầng Hệ thống đường giao thông được chú trọng đầu tư mở

rộng, năm 1977, toàn huyện có 87% số xã có đường dân sinh Huyện đầu tư, tăng cường các phương tiện vận tải thô sơ để vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, nhất là nhân dân ở vùng sâu của huyện

Tiểu kết

Văn Quan là huyện miền núi của tỉnh ạng Sơn song cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Trải qua 10 năm đầu khôi phục và

Trang 31

phát triển, huyện Văn Quan đã khắc phục những yếu kém trong chỉ đạo phát triển sản xuất, đề ra những nhiệm vụ phù hợp với địa phương, phát động các phong trào trong sản xuất Từ năm 1980 đến năm 1985, tình hình kinh tế huyện bước đầu được khôi phục, dần phát triển Song, đến trước năm 1986, nền kinh tế vẫn không tránh khỏi những khó khăn, do nguyên nhân xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, hạ tầng giao thông, vận tải phục vụ cho công cuộc khôi phục phát triển kinh tế kém Kinh tế huyện phát triển chậm và không đồng bộ Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là độc canh cây lúa, sản xuất tự cung, tự cấp là chủ yếu Sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp không cao và thiếu ổn định, nghề chăn nuôi cũng đã được hình thành nhưng vẫn trong tình trạng phát triển manh mún, tự phát, tận dụng là chủ yếu Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chậm phát triển

Trang 32

Chương 2 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ HUYỆN VĂN QUAN

Trong khi các nước tư bản đang đẩy mạnh phát triển cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật nhằm thoát khỏi khủng hoảng thì những nhà lãnh đạo Liên

Xô và Đông Âu lại cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu tác động của cuộc khủng hoảng, do đó chậm thích ứng, chậm sửa đổi Những hiện tượng thiếu dân chủ, thiếu công bằng xã hội, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tệ quan liêu độc đoán đã gây nên sự bất mãn trong nhân dân, làm đất nước dần lâm vào khủng hoảng trì trệ Cuộc khủng hoảng đã dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội của iên Xô và Đông Âu Điều này đã tác động rất lớn đến nước ta

Trải qua 10 năm đi lên chủ nghĩa xã hội, từ năm 1976 đến năm 1985, nước ta đã đạt được những thành tựu và tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng bên cạnh đó ta cũng gặp không ít khó khăn, yếu kém do sai lầm khuyết điểm gây ra Khó khăn của ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn làm cho đất nước từ giữa những năm 1980 lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội

Trang 33

Đứng trước những diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước, Đảng ta đã triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ VI họp từ 15 đến ngày 18/12/1986

tại Hà Nội Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói

rõ sự thật” [45, tr 10] Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của

Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm, nguyên nhân khách quan, chủ quan và rút ra bài học kinh nghiệm lớn Sau khi đánh giá thành tựu, Đại hội VI đã phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyết điểm trên một số mặt chủ yếu như sau:

- Về bố trí cơ cấu kinh tế: Dập khuôn mô hình của nước iên xô cũ,

một cơ cấu kinh tế không phù hợp với thực tiễn kinh tế xã hội Việt Nam lúc

đó đã được áp dụng, nên đã không tập trung sức giải quyết và đáp ứng nhu cầu trước mắt và cấp bách của toàn dân về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng

thiết yếu

- Về công nghiệp hóa: Chúng ta đã nhận thức và tiến hành công nghiệp

hóa theo mô hình kiểu cũ: trong một nền kinh tế khép kín, sản xuất có tính hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng Công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên, đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa; Chủ lực thực hiên công nghiệp hóa là Nhà nước và các

doanh nghiệp Nhà nước

- Về cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp với các đặc

trưng: Quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính; Các cơ quan quản lý hành chính kinh tế can thiệp sau vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì vật chất đối với quyết định của mình; Các đơn vị cơ sở vừa không có quyền tự chủ, vừa không bị ràng buộc với kết quả sản xuất kinh doanh; Chưa chú ý đến quan hệ hàng - hóa tiền

tệ và hiệu quả kinh tế

Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra đường lối đổi mới, coi đổi mới là vấn đề sống còn của chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hội đề ra ba chương trình kinh

Trang 34

tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, xem đó

là những mũi nhọn phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới Đồng thời, chủ trương xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước Đại hội đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam Chủ trương của Đảng là đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến tư tưởng, văn hoá, trọng tâm là đổi mới kinh tế Đại hội lần thứ VI xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm

tiếp theo là: “Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa

Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm cả ổn định sản xuất, ổn định phân phối lưu thông, ổn định đời sống vật chất và văn hoá, tăng cường hiệu lực của tổ chức quản lý, lập lại trật tự, kỷ cương và thực hiện công bằng xã

Về đổi mới quản lý kinh tế Đại hội VII khẳng định: Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác [45, tr 331, 332]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội (1991) khẳng định: Phải phát triển lực lượng sản xuất…từng bước thiết

Trang 35

lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sư đa dạng về hình thức sở hữu phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, thực hiện nhiều hình thức phân phối, chủ yếu là phân phối

theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu [45, tr 412]

Như vậy, từ năm 1986-1996, Đảng ta đã chủ trương đổi mới và mở cửa nền kinh tế nhằm giải phóng sức sản suất và phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, khơi dậy mọi tiềm năng kinh tế, động viên và tạo điều kiện cho người dân phát huy năng lực, sáng tạo để góp sức mình vào công cuộc xậy dựng và phát triển đất nước

Đường lối đổi mới của Đảng phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và bước đầu phát huy tác dụng, làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nói chung

và ở các địa phương nói riêng

2.2 Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1986 - 1996

Quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng, trước đó, tháng 10 năm 1986, Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ X đã diễn ra và xác định nhiệm vụ

kinh tế địa phương là: “Từng bước xây dựng cho được cơ cấu kinh tế nông - lâm - công nghiệp trên địa bàn huyện, tạo thêm những nhân tố mới để hình thành cơ cấu kinh tế công - nông - lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh” [10, tr 16]

Ngày 19 - 11 - 1988, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra thông báo số 118 về việc cho nhân dân vùng biên giới Việt - Trung được qua lại, thăm người thân, mua bán, trao đổi hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống

Ngày 4 - 1 - 1989, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định số 02/QĐ - UB mở của biên giới để nhân dân qua lại thăm người thân, trao đổi hàng hóa tại các điểm được quy định trên biên giới Lạng Sơn

Trang 36

Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Văn Quan bước vào thực hiện đường lối đổi mới có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn Tình hình kinh tế - xã hội chưa ổn định, nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá chưa được đảm bảo, đời sống của các tầng lớp nhân dân còn nhiều khó khăn, nhiều cơ chế cũ vẫn còn tồn tại trong khi cơ chế mới chưa hình thành đồng bộ Trong lãnh đạo, điều hành còn nhiều vướng mắc, thiếu sót Cơ chế khoán 100 bắt đầu bộc lộ những nhược điểm và hạn chế, các hợp tác xã tuy được củng cố nhưng hoạt động cầm chừng, hiệu quả không cao Hậu quả chiến tranh chưa được khắc phục triệt

để, các thế lực thù địch tăng cường phá hoại về nhiều mặt, tình trạng vượt biên buôn lậu trái phép diễn ra ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến trật tự trị

an vùng biên giới

Tháng 9 năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ

XV đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới

là: “Phát huy tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo của các cấp, các ngành, bằng những hình thức, biện pháp thích hợp sắp xếp lại sản xuất, bố trí lao động hợp lý Đẩy mạnh thực hiện cơ chế quản lý mới nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đảm bảo nhu cầu tối thiểu ngày càng tăng của nhân dân, trước hết là đảm bảo tự cân đối lương thực, thực phẩm…” [11, tr 13]

Đến tháng 6 năm 1989, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XVI được tổ chức Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ về phát triển kinh

tế - xã hội: Tập trung sức sản xuất nông, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông lâm sản để giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm, nguyên liệu công nghệ, xuất khẩu và hàng tiêu dùng của nhân dân… [11, tr 25]

Đến tháng 10 năm 1991, Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ huyện Văn Quan đã thông qua Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế,

xã hội của huyện trong giai đoạn 5 năm 1991 - 1995 là: “Trên cơ sở lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, tích cực thực hiện chương trình lương thực - thực phẩm nhằm phấn đấu dần dần đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm

Trang 37

của nhân dân trên địa bàn huyện; khai thác triệt để các nguồn thu, quan tâm đầu tư vốn để củng cố, xây dựng cơ sở hạ tầng; phấn đấu ổn định đời sống nhân dân, đại bộ phận được cải thiện…” [11, tr 45] Đại hội cũng đề ra

nhiệm vụ cụ thể, phấn đấu đến hết năm 1995 đạt được một số chỉ tiêu chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế như sau: Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đến năm

1995 đạt từ 17.000 - 18.000 tấn Sản lượng thuốc lá đạt 300 tấn, sản lượng đỗ tương đạt 500 tấn, trồng cây cà phê đạt 300ha Tổng đàn trâu bò đạt 26.500 con, đàn lợn đạt 18.000 con, đàn gia cầm đạt 240.000 con; Tích cực tham gia chương trình xuất khẩu của tỉnh theo hướng cung ứng nguyên liệu cho tỉnh, vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào trồng tre mai, thông bạch đàn, phấn đấu đến năm 1995, trồng thêm được 1 triệu cây các loại…; Về xây dựng cơ sở vật chất, có kế hoạch đầu tư, nghiên cứu khảo sát, thiết kế thi công một số công trình thủy lợi ở một số xã Đại An, Trấn Ninh, Chu Túc, Tú Xuyên, Tràng Các, Yên Phúc, Bình Phúc Củng cố các tuyến đường liên thôn, liên xã Quy hoạch mặt bằng xây dựng Chợ Bãi (xã Yên Phúc), chợ Ba Xã (xã Tân Đoàn); Tiếp tục củng cố những đơn vị kinh tế quốc doanh, tập thể để các đơn

vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả Sắp xếp lại các điểm chợ trên địa bàn huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ tiểu thương kinh doanh buôn bán từng bước mở rộng giao lưu hàng hóa giữa các vùng trong huyện, giữa huyện với các nơi khác [11, tr 46, 47]

Như vậy, với sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt các chủ trương, đường lối của Đảng và các Nghị quyết của Tỉnh ủy Lạng Sơn về phát triển kinh tế, trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, Đảng bộ huyện Văn Quan đã đề ra những phương hướng, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương Dưới sự chỉ đạo của chính quyền, các ngành, các cấp, nhân dân huyện Văn Quan bắt tay khôi phục, phát triển kinh tế và đạt được những thành tựu nhất định

2.2.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và quán triệt các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XV, XVI,

Trang 38

XVII, đặc biệt là Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị ngày 05 - 4 - 1988 “về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (gọi tắt là khoán 10), nhân dân huyện

Văn Quan đã chủ động, tập trung phát triển nông, lâm nghiệp trong giai đoạn đầu đổi mới 1986 - 1990

Trong 4 năm 1987 - 1990, chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm trên địa bàn huyện bước đầu đạt được một số kết quả Năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi từng bước được nâng lên

Năm 1987, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 16.445,3 tấn, vượt 6,6% so với mục tiêu đề ra; năm 1989 đạt 12.643,5 tấn, tăng 5.044 tấn so với năm 1988; đến năm 1990 đạt 12.773 tấn, tăng 129 tấn so với năm 1989

So với thời kỳ 1981 - 1985, tổng sản lượng quy ra thóc thời kỳ 1986 - 1990 tăng 8,3%

Năm 1988, đỗ tương đạt sản lượng 433,38 tấn; thuốc lá đạt 146,16 tấn; cây thực phẩm đạt 796,7 tấn

Bình quân lương thực đầu người đạt 316,8kg, là mức cao nhất so với những năm 1982 - 1986 [11, tr 32]

Chăn nuôi Trong giai đoạn này, nhờ chính sách tự do lưu thông, giá cả

hợp lý, cùng với công tác tổ chức phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tốt nên đã tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển

Năm 1987 tổng đàn trâu của huyện có 17.446 con, tăng 3,5% so với kế hoạch; đàn bò có 4195 con, tăng 1,2% so với kế hoạch; đàn lợn có 16.132 con, đạt 163,3% so với kế hoạch Đến năm 1989 tổng đàn trâu đạt 16.511 con, đàn bò là 4.578 con, đàn lợn là 13.500 con Sang năm 1990 đàn trâu tiếp tục tăng lên đạt 198.106 con, tăng 6,9%; đàn bò đạt 5.193 con, tăng 9,6%; đàn lợn

có 16.481 con, tăng 1% [11, tr 32]

Trồng rừng Cùng thời gian này ngành lâm nghiệp của huyện cũng có

bước phát triển Trong 2 năm 1987 - 1988, toàn huyện đã trồng thêm được 1.273 ha rừng các loại, trong đó, cây hồi đạt 880ha, trẩu đạt 280ha, cây phân tán đạt hơn 320 nghìn cây Huyện cũng đã tiến hành khoanh nuôi bảo vệ

Trang 39

2.500ha rừng, giao đất rừng được 24.121ha, từng bước tạo cơ sở cho phát triển kinh tế đồi rừng [11, tr.18]

Đến năm 1989 - 1990, công tác giao đất, giao rừng, trồng rừng tiếp tục được thực hiện trên diện rộng Năm 1990, huyện đã giao thêm 4.300ha rừng

và đất cho các hộ nông dân, hợp tác xã

Với tinh thần vượt khó, chủ động tìm kiếm cây con, nhất là cây hồi để phát triển kinh tế đồi rừng, người dân trong huyện đã tổ chức trồng thêm được

370 ngàn cây các loại, góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc [11, tr 33]

Bước sang giai đoạn 1991 - 1996, thực hiện các Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh và Đảng bộ huyện, công tác nông - lâm nghiệp của huyện có bước chuyển nhanh Huyện đã luôn quan tâm chỉ đạo công tác thủy lợi, coi đây là khâu quan trọng đầu tiên trong sản xuất nông nghiệp Nhiều công trình thủy lợi được tiến hành tu sửa, khôi phục và nâng cao, bảo đảm phát huy năng lực tưới tiêu của các công trình phục vụ cho sản xuất Đồng thời đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, thực hiện áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất

Năm 1992, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 8.860,26 tấn, tăng 6,1% so với năm 1991 Năm 1995 tổng sản lượng quy ra thóc tăng lên 16.142,8 tấn, tăng 13% so với 1994 [11, tr 51] Cũng trong năm 1996, tổng diện tích gieo trồng của huyện đạt 6.186,3ha, tổng sản lượng lương thực quy

ra thóc đạt 14.342 tấn

Lĩnh vực chăn nuôi tiếp tục giữ vững nhịp độ phát triển Các hộ dân đã

chủ động đầu tư phát triển đàn lợn lai kinh tế, đẩy mạnh phong trào nuôi cá lồng và nuôi cá ở vùng có lòng hồ Các biện pháp bảo vệ vật nuôi được thực hiện hiểu quả, tỉ lệ tăng đàn mỗi năm từ 2 - 6%, tạo ra khối lượng thực phẩm đáng kể phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân

Trong năm năm 1986 - 1990, giá trị sản lượng nông nghiệp của huyện tăng lên so với trước đổi mới Nếu như năm 1985, giá trị sản lượng nông nghiệp của huyện đạt 15.778,4 triệu đồng, đến năm 1990 tăng lên 18.273 triệu đồng và năm 1994, tăng nhanh lên 20.454 triệu đồng Tốc độ tăng bình quân

Trang 40

hàng năm là 2,9% [82, tr 778] Tính về cơ cấu trong giá trị sản lượng ngành

nông nghiệp, điều đáng chú ý là giá trị sản lượng cây lương thực của huyện thấp hơn giá trị sản lượng chăn nuôi Điều này có thể chứng tỏ, việc sản xuất

và trồng cây lương thực chưa hẳn là thế mạnh của huyện Văn Quan mà là ngành chăn nuôi Bảng thống kê cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp của huyện Văn Quan trong ba năm 1985, 1990 và 1994 dưới đây là minh chứng

Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp

Đơn vị: triệu đồng

Năm

Giá trị tổng

sản lượng nông nghiệp

Chia ra Chăn nuôi ương

thực

Cây công nghiệp ngắn ngày

Cây công nghiệp dài ngày

[82, tr 778]

Ngành lâm nghiệp tiếp tục được chú trọng Là huyện miền núi có thế

mạnh về phát triển lâm nghiệp, huyện tập trung đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng, khoanh đất rừng cho hộ nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân yên tâm sản xuất, kinh doanh Nhiều hộ gia đình thuộc các xã Tân Đoàn, Tràng Phái, Yên Phúc, Bình Phúc, Đại An… đã chủ động đầu tư việc trồng mới hàng chục ha cây hồi Đến năm 1995, tổng diện tích rừng hồi trên toàn địa bàn huyện là 2.586ha, góp phần quan trọng làm cho độ che phủ của rừng ngày càng tăng lên đáng kể [11, tr 52] Giá trị sản lượng lâm nghiệp trong hai năm 1990 và 1994 tăng bình quân đạt 12,6%/năm Cụ thể năm 1990, giá trị sản lượng lâm nghiệp 3.848 triệu đồng, đến năm 1994 tăng lên 5.213

triệu đồng [82, tr 778] Nếu so với năm 1985, giá trị sản lượng lâm nghiệp

Ngày đăng: 06/11/2017, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w