Song bên cạnh các thành tựu, kết quả đã thu được còn bộc lộ các hạn chế bất công như vị trí việc làm chưa phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, một số vị trí trình độ không đáp ứ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THU THỦY
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS VĂN TẤT THU
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thu Thủy
Trang 32.1 Khái quát về Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và viên chức y tế
2.2 Thực trạng chính sách phát triển viên chức y tế tại Bệnh viện
2.3 Thực trạng kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
3.1 Phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển viên chức y tế 59 3.2 Hoàn thiện chính sách phát triển viên chức y tế 60 3.3 Hoàn thiện thể chế chính sách phát triển viên chức y tế 60
3.4 Hoàn thiện các giải pháp và công cụ chính sách phát triển viên
3.6 Nâng cao năng lực chủ thể chính sách phát triển viên chức y tế 66 3.7 Kiến nghị, đề xuất cho Bệnh viện Phụ sản Trung ương 71
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Viên chức, Viên chức y tế Việt Nam là bộ phận cấu thành viên chức của Nhà nước Việt Nam, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ về chăm sóc sức khỏe nhân dân, là nguồn nhân lực có vai trò to lớn trong thực hiện thành công chiến lược quốc gia chăm sóc sức khỏe nhân dân Đồng thời đây là nguồn nhân lực chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển ngành y tế
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội như nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày một gia tăng cả về số lượng và chất lượng, đòi hỏi viên chức y tế phải được phát triển cả về số lượng và chất lượng nhất là chất lượng để đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công và dịch vụ y tế cho người dân ngày một tốt hơn
Từ nhận thức đầy đủ vai trò quan trọng của viên chức y tế Nhà nước (Chính phủ, Bộ Y tế) đã ban hành chính sách phát triển viên chức ngành y tế Thực tế cho thấy, việc thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế thời gian qua trong cả nước nói chung, ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương nói riêng đã đạt được các thành tựu, các kết quả đáng ghi nhận như có nhiều sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, trong công tác điều trị, khám chữa bệnh cho bà mẹ và trẻ sơ sinh Với điều kiện thuận lợi hơn, đội ngũ khoa học và cán bộ chuyên môn ở bệnh viện đã tiếp cận nhanh các công nghệ tiên tiến trên thế giới, ứng dụng thành công nhiều kỹ thuật cao như thụ tinh trong ống nghiệm, phẫu thuật nội soi, phẫu thuật tạo hình, chẩn đoán trước sinh… góp phần mang lại hạnh phúc cho nhiều gia đình và đóng góp tích cực vào cuộc vận động thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà nước Ngoài ra viên chức của bệnh viện Phụ sản Trung ương có sự biến động theo hướng tăng dần cán bộ, nhân viên y tế có trình độ chuyên môn, chuyên môn sâu nhằm đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Song bên cạnh các thành tựu, kết quả đã thu được còn bộc lộ các hạn chế bất công như vị trí việc làm chưa phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, một số
vị trí trình độ không đáp ứng được chuyên môn, khám chữa bệnh cho người dân còn nhiều hạn chế, tiêu cực như thủ tục hành chính còn rườm rà… Nguyên nhân của các hạn chế bất cập có nhiều nhưng chủ yếu do bản thân chính sách phát triển viên chức y
tế còn có những hạn chế bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện mục tiêu chính
Trang 5sách Các hạn chế bất cập trong quá trình thực hiện chính sách đó cần phải được nghiên cứu để đề xuất các giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện chính sách Với
các lý do phân tích nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Chính sách phát triển viên chức y
tế từ thực tiễn bệnh viện Phụ sản Trung ƣơng” làm luận văn thạc sĩ chính sách công
với mong muốn đóng góp các kiến nghị, đề xuất của mình nhằm hoàn thiện chính sách phát triển viên chức y tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề chính sách phát triển viên chức đã được rất nhiều công trình quốc tế và trong nước nghiên cứu, phân tích, đánh giá Song nghiên cứu chính sách phát triển viên chức trong lĩnh vực y tế có số lượng hạn chế hơn Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu sau:
- Tác giả Nguyễn Phú Trọng (2000) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà
nước KHXH.05.03 “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” Đã đúc kết và đưa ra
những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đề tài là tài liệu để tham khảo hữu ích đối với cán bộ là viên chức trong đơn
- Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2005),“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế chính trị, Trung
tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả
đã nghiên cứu lý luận về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua những phân tích nội dung, tiêu chí và những yếu tố tác động tới quá trình phát triển lực lượng này; Qua đó, đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong tương lai
Trang 6- Tác giả Phạm Công Nhất (2008), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế”, Tạp chí Cộng sản số 786 Trên cơ sở phân
tích rõ thực trạng NNL Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,về số lượng và chất lượng Tác giả đã nhấn mạnh chất lượng NNL nước ta còn nhiều bất cập và hạn chế do: thu nhập bình quân đầu người thấp, vấn đề quy hoạch và phát triển NNL còn kém, từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp để phát triển và nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Tác giả Phùng Rân (2008) với bài “Chất lượng nguồn nhân lực, bài toán tổng hợp cần có lời giải đồng bộ”, trường Cao đẳng Viễn Đông, TP.HCM đã đưa ra nhận
định về sự suy tồn hay hưng thịnh của một dân tộc, một tổ chức đều dựa vào nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực Đây là vấn đề quan trọng cần được quan tâm trong chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn của một quốc gia, một ngành, của tổ chức, doanh nghiệp Một quốc gia hay một tổ chức muốn phát triển và sánh vai được với các nước phát triển hiện đại trên thế giới chủ yếu nhờ vào lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực Đó là quyết sách, là chiến lược thành công
- Tác giả Quách Thị Hồng Liên, (2009) Nghiên cứu “Bàn về công tác đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp hiện nay” Đề tài nêu được các
doanh nghiệp đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đề tài nêu được các phương pháp tổ chức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm hướng đến tính hiệu quả trong công tác phát triển nguồn nhân lực trong
xu thế hiện nay
- Tác giả Nguyễn Quốc Triệu, (2011) với báo cáo về “Tổng quan ngành y tế năm 2011”, hệ thống các chính sách của Bộ Y tế, định hướng chính sách nguồn nhân
lực y tế ở Việt Nam; định hướng phát triển ngành y tế đến năm 2020
- Tác giả Tạ Ngọc Hải (2011) với nghiên cứu: “Một số nội dung về nguồn nhân lực và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực” đã trình bày các phương pháp đánh giá
nguồn nhân lực với các nội dung như chất lượng, cơ cấu, kết quả lao động… tùy theo mục đích, yêu cầu mà việc đánh giá phải đáp ứng Để việc đánh giá thực hiện một cách khoa học, chuẩn xác từ đó lại các kết quả tích cực có thể dự kiến trước
- Tác giả Nguyễn Văn Chiến (2013) với đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần giao thông thủy bộ Bình Định” hệ thống hóa những lý luận về nguồn
nhân lực thông qua quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời dự báo về phát
Trang 7triển nguồn nhân lực trong tương lai, đề ra các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực cho Công ty cổ phần giao thông thủy bộ Bình Định trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách phát triển viên chức y tế để có cơ sở khoa học phân tích, đánh giá chính sách và thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ương và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách phát triển nguồn viên chức y tế ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện thành công đề tài, cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách phát triển viên chức y tế;
- Khảo sát, đánh giá chính sách và thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương Chỉ rõ ưu điểm và các hạn chế bất cập, nguyên nhân của các hạn chế bất cập;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển viên chức y tế ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Viên chức y tế, chính sách và thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Là đội ngũ viên chức y tế của Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2011 - 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Vận dụng phương pháp luận nghiên cứu tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội, phương pháp nghiên cứu phân tích chính sách công
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
- Phương pháp phân tích: Phương pháp được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu của luận văn, nhằm đi sâu xem xét, đánh giá các vấn đề tạo cơ sở cho các nhận định khoa học;
Trang 8- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng khi đánh giá thực tiễn nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, đề xuất và kiến nghị ở Chương 2 và Chương 3;
- Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng tại Chương 1;
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng trong Chương 2;
- Phương pháp phỏng vấn: Được sử dụng trong Chương 3;
- Phương pháp tham khảo chuyên gia Là phương pháp thu thập các ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực hành chính công và các chuyên gia thuộc các lĩnh vực liên quan đến đề tài luận văn Nhằm xây dựng được những cách thức tiếp cận đa ngành, liên ngành về vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, nghiên cứu, học tập Những
đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu phát triển viên chức y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ương nói riêng và các bệnh viện khác trên toàn quốc nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển viên chức y tế
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển viên chức y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển viên chức y tế ở nước ta hiện nay
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
VIÊN CHỨC Y TẾ
1.1 Những vấn đề lý luận chung về chính sách phát triển viên chức y tế
1.1.1 Các khái niệm viên chức: viên chức, viên chức y tế, chính sách phát triển viên chức y tế và tổ chức thực thi chính sách phát triển viên chức y tế
* Viên chức
Viên chức là một khái niệm mang tính lịch sử Tuỳ thuộc vào thể chế hành chính mà ở mỗi nền công vụ có những cách quan niệm khác nhau về viên chức Thậm chí, trong cùng một quốc gia, ở những thời điểm khác nhau, quan niệm về viên chức cũng không giống nhau
Viên chức gồm viên chức công và viên chức tư Không có sự khác nhau về mặt chuyên môn, nghiệp vụ theo từng ngành nghề giữa viên chức công và viên chức tư Sự khác nhau căn bản giữa viên chức công và viên chức tư là viên chức công được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Viên chức công là viên chức Nhà nước Viên chức công - viên chức Nhà nước được hiểu là những người lao động có chuyên môn, nghiệp vụ được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào một chức nghiệp nhất định trong đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công Trong phạm vi luận văn này, tác giả đề cập đến viên chức công hay viên chức Nhà nước và được gọi tắt là viên chức
Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế
độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.[27]
Từ định nghĩa trên,viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam Mặc dù đặc điểm này còn gây ra nhiều tranh cãi khi mà thực tiễn việc sử dụng viên chức là người nước ngoài trở thành một nhu cầu quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như giáo dục hay y tế Tuy nhiên, xét trên cơ sở các căn cứ pháp lý hiện hành viên chức phải là công dân Việt Nam Có thể chỉ có một quốc tịch Việt Nam hoặc có nhiều quốc tịch nhưng trong đó có một quốc tịch Việt Nam;
Trang 10Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được được tuyển dụng
theo vị trí việc làm Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển
dụng như sau:“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”.[27]
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc,
cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn
vị sự nghiệp công lập” Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính
thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển.[27]
Ví dụ: Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia, Bác sĩ tại Bệnh viện Phụ sản
TW
Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu
là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [27] Đơn vị sự nghiệp công lập bao
gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ);
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ)
Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ
khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động
Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm
việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
Trang 11pháp luật Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên Lương của viên chức được nhận từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải từ Nhà nước Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng, Nhà nước hầu như không can thiệp vào vấn đề này
* Viên chức y tế
Viên chức y tế là viên chức làm việc trong lĩnh vực y tế Do đó, viên chức y tế cũng có những đặc điểm như đã trình bày ở trên của viên chức nói chung Tuy nhiên vì tính chất đặc thù công việc, ngành nghề đội ngũ viên chức y tế có thành phần phức tạp
và cách quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh cũng mang tính đặc thù
Có hai cách quan niệm khác nhau về xác định nội hàm của viên chức y tế Quan niệm thứ nhất xác định đối tượng được coi là viên chức y tế tương đối rộng khi cho rằng viên chức y tế bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn y tế lẫn các hoạt động khác trong các đơn vị sự nghiệp công lập y tế
Quan niệm thứ hai cho rằng chỉ những nhân viên hoạt động chuyên môn ngành
y tế (thực hiện các kỹ năng thuộc về ngành y tế) công lập mới được gọi là viên chức y
tế, các nhân viên làm công tác khác được gọi là viên chức hành chính trong lĩnh vực y
tế Cách quan niệm này dùng kỹ năng chuyên môn đặc thù của ngành y tế để chỉ ra đâu
là viên chức y tế nhằm có những chế độ, chính sách khác nhau giữa hai bộ phận này Trong phạm vi luận văn, để làm rõ tính đặc thù trong chính sách phát triển của viên chức y tế về chuyên môn, nghiệp vụ và y đức với chính sách phát triển nguồn nhân lực khác, tác giả sử dụng quan điểm thứ hai và sẽ làm rõ các chức danh của viên chức y tế ngay dưới đây
Như vậy có thể định nghĩa rằng: Viên chức y tế là viên chức làm việc trong các
cơ sở y tế công lập, tham gia vào các hoạt động chuyên môn của ngành y tế mà không phải là người làm công tác quản lý, bộ phận hành chính hay các nhà nghiên cứu
Cụ thể, căn cứ theo Thông tư liên tịch Số: 10/2015/TTLT-BYT-BNV ban hành ngày 27 tháng 5 năm 2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học sự phòng, y sĩ; Thông tư liên tịch Số: 27/2015/TTLT-BYT-BNV ban hành ngày 07 tháng 10 năm 2015 giữa Bộ Y tế và Bộ
Trang 12Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược; Thông tư liên tịch Số: 26/2015/TTLT-BYT-BNV, ban hành ngày 07 tháng 10 năm 2015 giữa Bộ Y tế và
Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, viên chức y tế bao gồm các chức danh sau:
Trang 13* Chính sách phát triển viên chức y tế
- Chính sách: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”[2;tr475]
- Chính sách công: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.[22]
Từ khái niệm chung về chính sách công có thể đưa ra khái niệm chính sách phát triển viên chức y tế như sau: Chính sách phát triển viên chức y tế là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển viên chức y tế với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm xây dựng đội ngũ viên chức y tế có cơ cấu, số, chất lượng hợp lý, có đủ trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng hệ thống y tế Việt Nam từng bước hiện đại, hoàn chỉnh, hướng tới công bằng hiệu quả, phát triển và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Tổ chức thực thi chính sách phát triển viên chức y tế là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của các chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý – là các viên chức y tế nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong chính sách
1.1.2 Vấn đề chính sách phát triển viên chức y tế
Vấn đề chính sách là những mâu thuẫn hiện tại trong thực hiện chính sách đòi hỏi phải có hướng giải quyết Từ việc giải quyết mâu thuẫn đó sẽ mang đến sự phát triển cho chính sách Chu trình chính sách bắt đầu bằng việc xác định vấn đề chính sách Xác định chính xác vấn đề sẽ giúp nhận định được trọng tâm của chính sách từ đó đưa ra những những công cụ, giải pháp phù hợp cho sự phát triển của thực tiễn vấn đề
Nhận định vấn đề chính sách là một khâu quan trọng và đòi hỏi khả năng nắm bắt, phân tích và tổng kết từ thực tiễn vận động của đối tượng của các nhà hoạch định
chính sách PGS.TS Đỗ Phú Hải từng nhận định: “Việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính sách
Trang 14Theo quy luật vận động, vấn đề chính sách mang cả tính hiện thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tương lai”.[20]
Vấn đề chính sách phát triển viên chức y tế là những mâu thuẫn trong hoạt động phát triển chất lượng đội ngũ viên chức y tế đến mức cần phải giải quyết để tạo ra sự phát triển Những vấn đề mâu thuẫn bao gồm: Mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển đội ngũ viên chức ý tế với các cản lực thể chế và tư duy; Giữa việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao với chế độ tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác hạn chế; Giữa vấn
đề đào tạo và khả năng thực tế khi thực hiện nghiệp vụ chuyên môn; Giữa vấn đề cống hiến cho tổ chức và hoạt động tư nhân ngoài giờ Việc xác định đúng trọng tâm các mâu thuẫn sẽ giúp xác định chính xác những vấn đề mà chính sách phát triển viên chức y tế cần giải quyết
1.1.2.1 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng với khả năng thực hành công việc trên thực tế
Ngoài chương trình đào tạo bắt buộc đối với ngành, lĩnh vực y tế còn có nhiều chương trình bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng, trình độ cho đội ngũ viên chức y tế
Đó là một hoạt động phù hợp Bởi lẽ nếu chương trình đạo tạo bắt buộc cung cấp các kiến thức và kỹ năng nền tảng, thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, viên chức y tế phải luôn được bồi dưỡng để không ngừng nâng cao nghiệp vụ và y đức Tuy nhiên vấn đề mâu thuẫn ở đây lại chính là kết quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng đó Thực tế cho thấy chính quá trình đào tạo bắt buộc hạn chế về không gian và thời gian thực hành do đó khi tiếp nhận viên chức, các tổ chức phải tiến hành đào tạo lại bằng nhiều hình thức khác nhau mới có thể sử dụng viên chức đúng với mục đích tuyển dụng ban đầu Điều này làm tiêu tốn thời gian và tiền bạc của tổ chức Bên cạnh
đó, các đợt bồi dưỡng dường như cũng không mang lại nhiều hiệu quả khi chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, chương trình không đổi mới và thường chỉ được xem như một hoạt động mang tính hình thức thường niên Đây là mâu thuẫn không chỉ gặp phải trong ngành y tế, song trong điều kiện của ngành y tế lại là mâu thuẫn hết sức quan trọng, trở thành cản lực cơ bản của mong muốn phát triển chất lượng viên chức y tế Chính sách phát triển viên chức y tế phải giải quyết được mâu thuẫn này ngay từ đầu vào nhằm tạo cơ sở giải quyết các mâu thuẫn khác được dễ dàng
1.1.2.2 Vấn đề tuyển dụng và sử dụng nguồn viên chức chất lượng cao
Tìm kiếm và tuyển dụng nhân tài luôn là nhiệm vụ quan trọng góp phần quyết định vào sự phát triển của một ngành, một tổ chức Trong lĩnh vực y tế cũng tương tự
Trang 15Hoạt động phát triển đội ngũ viên chức y tế ngoài nâng cao chất lượng đội ngũ hiện
có, thì việc liên tục bổ sung bằng những nhân tố chất lượng cao là một giải pháp then chốt, quyết định đến sự thành công của chính sách Tuy nhiên, hiện nay vấn đề tuyển dụng và sử dụng nguồn lực này hàm chứa những mâu thuẫn
Đội ngũ nhân lực chất lượng cao của ngành y không nhiều như các ngành khác trong xã hội Lý do xuất phát từ đặc thù đào tạo của ngành Trung bình một bác sĩ tốt nghiệp cử nhân mất 7 năm, sau đó nếu tham gia tu nghiệp ở nước ngoài hay các khoá học đào tạo cao hơn phải mất từ 3 đến 5 năm cùng khoản kinh phí rất lớn cho học tập
và sinh hoạt Điều này có nghĩa rằng để tạo ra được một nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y tế ngoài các yếu tố khác ra thì thời gian và tài chính là hai khoản đầu tư vô lớn mà cá nhân đó phải đánh đổi Chính điều này đã khiến cho những cá nhân trong diện nguồn nhân lực chất lượng cao sau khi tốt nghiệp sẽ tìm kiếm các cơ hội việc làm ở lĩnh vực tư nhân với mức thù lao lớn, bên cạnh một số lượng tương đối
sẽ ở lại định cư và làm việc tại nước ngoài Số lượng những đối tượng này đã ít, nay để tìm kiếm người sẵn sàng phục vụ cho lĩnh vực y tế công càng trở nên hiếm hoi hơn Cho đến nay, trong lĩnh vực y tế cũng đã thực hiện một số cơ chế về thu nhập và điều kiện làm việc cho các đối tượng thuộc diện thu hút nhân tài nhưng đây hoàn toàn không phải là những cơ chế đặc thù, việc khác biệt chỉ đủ để phân biệt được khả năng làm việc của họ mà chưa cho thấy được sự tương xứng giữa trình độ và đồng lương họ đáng được hưởng
Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y tế sau khi tuyển dụng thành công cũng hàm chứa nhiều mâu thuẫn Như đã trình bày, đối tượng nhân lực chất lượng cao đồng ý công tác trong lĩnh vực y tế công không nhiều, song trong quá trình làm việc sau tiếp nhận, những đối tượng này lại chịu nhiều áp lực
từ phía các đồng nghiệp với những thói quen xấu và sự cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí trong việc bố trí nhân sự, đôi khi các nhà quản lý sắp xếp những đối tượng này làm những công việc không tương xứng, trái chuyên môn Thực tế này xuất phát
từ sự thiếu tin tưởng, khả năng nhận thức và tầm nhìn và thái độ ghen tị, hẹp hòi của người quản lý Trong trường hợp này nhiều người ví von bằng câu nói: Tuyển dụng nhân tài nhưng sử dụng không như nhân tài
Trang 161.1.2.3 Vấn đề tiền lương với đặc thù nghề nghiệp
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được
ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm Tuy nhiên, dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có quản trị học, tiền lương không chỉ có vai trò là sự trả công của người sử dụng lao động cho người lao động mà nó còn là thang đo giá trị nghề nghiệp và hơn hết là động lực, mục tiêu và một trong những mục đích quan trọng của người lao động
Đối với viên chức y tế, hệ số lương cơ bản cũng tương tự như viên chức của các lĩnh vực khác theo quy định của nhà nước Mặt bằng lương của khu vực công ở Việt Nam hiện nay ở ngưỡng thấp khi so với khu vực tư nhân và so với nhu cầu cuộc sống
cơ bản của người viên chức Mặc dù vấn đề nâng cao mức lương hướng tới khả năng
“đủ sống” cho công chức, viên chức là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm trong thời gian dài, song cho đến nay vấn đề vẫn chưa được giải quyết
Trong khi đó, sự khác biệt về quá trình đào tạo không được xét đến để có một
hệ số lương mang tính đặc thù hơn Đồng thời đặc thù nghề nghiệp của viên chức y tế phải hoạt động trong môi trường độc hại, khắc nghiệt, chịu tác động lớn về tâm lý và thể chất Điều này khi đối sánh với định mức tiền lương hiện hành sẽ thấy sự bất cân xứng Viên chức y tế ngoài các giá trị y đức thì chế độ lương thưởng cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự cống hiến của họ Thiếu vắng các cơ chế đảm bảo lương, thưởng hợp lý cũng đồng nghĩa với việc thiếu vắng động lực quan trọng thứ hai trong phát triển đội ngũ này Mặc dù, cho đến nay y tế là một trong những lĩnh vực có phụ cấp nghề nghiệp cao nhất trong xã hội, tuy nhiên tổng thu nhập từ lương và phụ cấp vẫn chưa đủ tạo ra động lực lớn để viên chức cố gắng tự tích luỹ, tự phát triển bản thân
và cống hiến hết mình cho sự nghiệp y tế Giải quyết được mâu thuẫn này sẽ là cơ sở cho nhiều các giải pháp chính sách khác về phát triển viên chức y tế được thực hiện
1.1.2.4 Mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ của chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và trình độ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ viên chức y tế hiện nay
Yêu cầu nhiệm vụ của chiến lược bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đặt ra rất cao Song trình độ năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội
Trang 17ngũ viên chức y tế chưa đáp ứng được yêu cầu , nhiệm vụ của chiến lược Quốc gia bảo
vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Cụ thể như dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân chưa bảo đảm các sai sót, nhầm lẫn đáng tiếc, các tiêu cực vẫn còn xảy ra trong khám chữa bệnh gây bức xúc trong nhân dân làm ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc
Các khuyết điểm hạn chế bất cập của đội ngũ viên chức y tế do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu do chính sách phát triển viên chức còn nhiều hạn chế Để có được đội ngũ viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến năm 2030 và khắc phục mâu thuẫn nêu trên Nhà nước phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng, sử dụng và trọng dụng đúng đắn, hợp lý, đủ mạnh khó có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, nhiệm vụ, phát triển ngành y tế, yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Từ các lý do và phân tích nêu trên cho thấy vấn đề chính sách phát triển viên chức y tế là vấn đề hệ trọng bức xúc và cấp bách đặt ra hiện nay cần phải giải quyết và vấn đề này chỉ có thể giải quyết thành công bằng chính sách đúng đắn hợp lý và đủ mạnh của Nhà nước
1.1.3 Mục tiêu chính sách phát triển viên chức y tế
Nhằm xây dựng đội ngũ viên chức y tế có cơ cấu số, chất lượng hợp lý, có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng hệ thống y tế Việt Nam từng bước hiện đại, hoàn chỉnh hướng tới công bằng, hiệu quả, phát triển và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến 2030
1.1.4 Các giải pháp, công cụ chính sách phát triển viên chức y tế
1.1.4.1 Các giải pháp chính sách phát triển viên chức y tế
Giải pháp chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói
riêng là cách thức chủ thể chính sách can thiệp, tác động đến đối tượng chính sách để đạt được mục tiêu chính sách Để đạt được mục tiêu nêu trong chính sách phát triển viên chức cần sử dụng các giải pháp chủ yếu sau:
Trang 18a Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển viên chức y tế
Chiến lược, quy hoạch phát triển viên chức y tế là một trong các công cụ, văn bản quan trọng để việc xây dựng, sử dụng và phát triển nhân lực y tế đi vào nề nếp, chủ động, hiệu quả, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Chiến lược, quy hoạch, phát triển viên chức là căn cứ quan trọng để tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng viên chức y tế tránh lãng phí và bị động trong xây dựng đội ngũ viên chức đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ đề ra trong các giai đoạn phát triển của ngành
y tế Vì vậy xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển viên chức y tế là giải pháp quan trọng trong chính sách phát triển viên chức y tế để đạt được mục tiêu xây dựng đội ngũ viên chức y tế đủ số lượng, chất lượng, cơ cấu và phân bố hợp lý, góp phần nâng cao chất lượng công tác y tế, dân số và đáp ứng nhu cầu về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển Viên chức y tế là lực lượng quan trọng, chủ yếu của nguồn nhân lực ngành y tế vì vậy xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển viên chức y tế phải căn cứ vào chiến lược phát triển ngành y tế, vào “Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2012-2020” ban hành kèm theo Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ Đồng thời xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển viên chức y tế còn phải căn
cứ vào “Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ Ngoài ra chiến lược, quy hoạch phát triển viên chức y tế còn phải căn cứ vào chính sách xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công và đội ngũ viên chức Quy định trong luật viên chức năm 2010
b Tuyển dụng viên chức y tế
Để chính sách phát triển viên chức y tế đạt được mục tiêu đề ra cần phải sử dụng giải pháp tuyển dụng viên chức chính xác Tuyển dụng vừa là giải pháp vừa là nhiệm vụ thường xuyên trong xây dựng đội ngũ viên chức y tế nhằm bảo đảm tính kế thừa và phát triển đội ngũ viên chức y tế
Tuyển dụng viên chức y tế phải căn cứ và theo chiến lược Quy hoạch phát triển
và sử dụng viên chức y tế Tuyển dụng viên chức y tế phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức y tế
Tuyển dụng viên chức y tế phải bảo đảm các nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật, bảo đảm tính cạnh tranh Tuyển chọn đúng
Trang 19người đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, ưu tiên người có tài, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số…
Tuyển dụng viên chức y tế theo phương thức thi tuyển hoặc xét tuyển, song cả thi và xét tuyển viên chức phải bảo đảm đúng quy trình khoa học và chặt chẽ Như vậy giải pháp tuyển dụng là giải pháp quan trọng không thể thiếu trong chính sách phát triển viên chức y tế
c Giải pháp đào tạo bồi dưỡng viên chức y tế
Mục tiêu của chính sách phát triển viên chức y tế nhằm xây dựng đội ngũ viên chức y tế có cơ cấu số chất lượng hợp lý, có đủ trình độ năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng ngành y tế Việt Nam hoàn chỉnh, từng bước hiện đại hướng tới công bằng hiệu quả và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân về bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe đó là mục tiêu rất lớn, là nhiệm vụ nặng nề đặt ra trong xây dựng và phát triển viên chức y tế Để thực hiện thành công mục tiêu này không có giải pháp nào quan trọng hơn là phải đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực, chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho viên chức y tế Thực tế cho thấy đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế vừa là giải pháp vừa là nhiệm vụ quan trọng, là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm trang bị, cập nhật, bổ sung những kiến thức kỹ năng, phương pháp, kinh nghiệm
và những thành tựu mới của y học và công nghệ hiện đại trong khám chữa bệnh, điều trị và chăm sóc sức khỏe của nhân dân Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế càng trở nên quan trọng và cần thiết khi chúng ta đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh cải cách hoạt động sự nghiệp dịch vụ công nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công trong đó có dịch vụ y tế đáp ứng yêu cầu mong muốn của người dân Để đạt được hiệu quả cao đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế phải căn cứ vào chiến lược, quy hoạch phát triển viên chức y tế, căn cứ vào nhu cầu công việc, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức y tế Trong đào tạo bồi dưỡng viên chức y tế cần xác định chính xác đối tượng, kiến thức kỹ năng cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cho họ Hay nói một cách khác đào tạo, bôi dưỡng viên chức y tế phải gắn với nhu cầu, yêu cầu sử dụng trong khám chữa bệnh, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế là giải pháp quan trọng không thể thiếu cần phải sử dụng để can thiệp, tác động đến đối tượng chính sách nhằm đạt được mục tiêu chính sách, phát triển viên chức y tế
Trang 20d Sử dụng, trọng dụng, tôn vinh đúng viên chức y tế
Viên chức y tế là những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp y tế, hành nghề y dược Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cao là đặc điểm,
là yêu cầu trong hoạt động của viên chức y tế Họ là những người có nhiệm vụ khám, chữa bệnh và cấp thuốc điều trị liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người đòi hỏi phải cẩn trọng, chính xác, hạn chế các sai sót nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của con người Sứ mệnh nghề nghiệp đặt trên vai các viên chức sự nghiệp y
tế rất nặng nề Chính vì vậy họ luôn được người dân và xã hội trọng vọng coi bác sĩ, y
sĩ, người thầy thuốc như mẹ hiền, “lương y như từ mẫu”, có trình độ, năng lực, chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao Trong chính sách phát triển viên chức y tế cần phải có giải pháp sử dụng, trọng dụng tôn vinh họ một cách hợp lý và đúng đắn Giải pháp sử dụng, trọng dụng tôn vinh đúng viên chức y tế là giải pháp cực kỳ quan trọng trong chính sách phát triển nhân lực y tế Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy con người và chính sách sử dụng, trọng dụng và tôn vinh đúng con người là yếu tố quyết định sự thành bại của mọi sự nghiệp Sự nghiệp phát triển viên chức y tế cũng phải đặc biệt chú ý đến luận điểm này Có nhiều phương thức sử dụng, trọng dụng, tôn vinh viên chức y tế, nhưng phổ biến cần sử dụng 4 phương thức chủ yếu như: đánh giá, sử dụng đúng chuyên môn, tài năng của viên chức y tế, tôn vinh đúng thành tích, cống hiến của viên chức y tế, tin cậy và đãi ngộ thỏa đáng viên chức y tế Có sử dụng, trọng dụng và tôn vinh đúng viên chức y tế mới có thể xây dựng được đội ngũ viên chức y tế đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Tóm lại, sử dụng, trọng dụng và tôn vinh đúng viên chức y tế là giải pháp cực kỳ quan trọng quyết định thành công mục tiêu chính sách phát triển viên chức y tế Không có giải pháp quan trọng này khó có thể xây dựng được đội ngũ viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân
e Giải pháp tiền lương và các chế độ đãi ngộ hợp lý đối với viên chức y tế
Y tế là một ngành đặc thù liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người Dịch
vụ y tế là dịch vụ công đặc biệt, dịch vụ chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân Dịch vụ đặc biệt này Nhà nước phải lo, phải bảo đảm nhưng do đội ngũ viên chức
y tế trực tiếp thực hiện Chất lượng dịch vụ này phụ thuộc vào trình độ năng lực, chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ viên chức y tế Nhà nước muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân
Trang 21thì Nhà nước phải quan tâm đặc biệt đến đội ngũ viên chức y tế Nhà nước phải có chế
độ tiền lương và các chế độ khác ngang tầm với vị trí đặc biệt của ngành y tế, ngang tầm với vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của dịch vụ chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe của Nhân dân Nói cách khác Nhà nước phải có chế độ tiền lương và các chế độ đặc biệt khác đối với viên chức y tế Trước hết Nhà nước phải có chế độ tiền lương và các chế độ đãi ngộ thỏa đáng, tương thích với thành tích, cống hiến của viên chức y tế
để họ an tâm làm việc không phải lo đến đời sống thường nhật Ngoài ra, còn phải tạo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện và công cụ làm việc đầy
đủ và hiện đại Đồng thời phải có chế độ phụ cấp, bảo hiểm nghề nghiệp đối với họ Như vậy giải pháp tiền lương và các chế độ đãi ngộ hợp lý là giải pháp không kém phần quan trọng cần phải sử dụng trong chính sách phát triển viên chức y tế
1.1.4.2 Các công cụ chính sách phát triển viên chức y tế
Công cụ chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức nói riêng là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể chính sách sử dụng để tác động lên đối tượng chính sách nhằm đạt được mục tiêu chính sách đã đề ra Nói một cách cụ thể: công cụ chính sách phát triển viên chức y tế là tất cả mọi phương tiện mà Nhà nước sử dụng để tác động lên viên chức y tế nhằm đạt được mục tiêu xây dựng đội ngũ viên chức y tế có cơ cấu số, chất lượng hợp lý có đủ trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng hệ thống y tế Việt Nam từng bước hiện đại, hoàn chỉnh hướng tới công bằng, hiệu quả, phát triển và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chiến lược Quốc gia bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Để đạt được mục tiêu chính sách ngoài các giải pháp nêu trên còn phải sử dụng các công cụ chủ yếu sau:
a Công cụ quyền lực - pháp lý
Chính sách phát triển viên chức y tế là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước về phát triển viên chức y tế, thực chất đó là thái độ, là quan điểm, là ý chí của Nhà nước về vấn đề phát triển viên chức y tế - bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của Nhà nước Nhà nước là một tổ chức chính trị đặc biệt, Nhà nước có quyền lực công, quyền lực của Nhà nước để giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Trong các vấn đề thuộc chức năng nhiệm vụ của Nhà nước có vấn đề phát triển viên chức y tế Nhưng vấn đề phát triển viên chức y tế như trên đã phân tích là vấn đề bức xúc, hệ trọng chỉ có thể giải quyết thành công bằng chính sách của Nhà
Trang 22nước, bằng ý chí và quyền lực Nhà nước Như vậy, công cụ quyền lực là công cụ không thể thiếu được trong xây dựng và thực hiện chính sách công nói chung xây dựng và thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng Ngoài quyền lực, pháp luật cũng là một công cụ quan trọng được sử dụng trong xây dựng và thực hiện chính sách công, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển viên chức
Quyền lực và ý chí của Nhà nước thường được thể hiện qua một công cụ được Nhà nước sử dụng đó là pháp luật Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích định hướng của Nhà nước Pháp luật và chính sách công là hai công cụ quan trọng của Nhà nước có mối liên hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau Pháp luật là
cơ sở pháp lý để xây dựng chính sách ngược lại chính sách cũng là cơ sở, là nguồn khơi dậy sức sống của các quy phạm pháp luật
Vì vậy, trong xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế không thể không sử dụng công cụ pháp luật Thực tế cho thấy chính sách phát triển viên chức được xây dựng trên cơ sở các quy định của luật viên chức, luật khám chữa bệnh, luật chăm sóc sức khỏe nhân dân Như vậy cùng với quyền lực pháp luật thực sự đã trở thành công cụ quan trọng để xây dựng và thực hiện thành công chính sách phát triển viên chức y tế
b Công cụ tổ chức
Hoạch định điều hành chính sách Quốc gia nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng là chức năng quan trọng của Nhà nước, của Chính phủ Để thực hiện chức năng này Nhà nước, Chính phủ phải sử dụng công cụ tổ chức Tổ chức vừa
là chức năng vừa là công cụ quan trọng của quản lý Chức năng tổ chức là thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận các nhiệm vụ, các hoạt động cần thiết trong xây dựng thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế Tổ chức xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế là quá trình nghiên cứu, phân tích tìm kiếm vấn đề chính sách, xác định mục tiêu chính sách và lựa chọn các giải pháp công cụ chính sách phát triển viên chức y tế Còn tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế là toàn
bộ quá trình chuyển ý của chủ thể chính sách thành hiện thực tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu chính sách Như vậy công cụ tổ chức là công cụ không kém phần quan trọng cần sử dụng trong xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế Đó chính là hệ thống các cơ quan, tổ chức Nhà nước sử dụng để quản lý viên chức y tế
Trang 23c Công cụ tài chính
Công cụ tài chính là công cụ quan trọng hàng đầu cần sử dụng trong xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế Không có công cụ tài chính hay nguồn lực tài chính việc thực hiện mục tiêu chính sách cũng như thực hiện các giải pháp rất khó khăn thậm chí dẫn đến thất bại và đổ bể chính sách Thực tế cho thấy tất cả các giải pháp từ việc xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển viên chức, tuyển dụng viên chức, đào tạo bồi dưỡng đến giải pháp tiền lương và các chế độ đãi ngộ đối với viên chức y tế đều phải cần đến công cụ tài chính mới thành công
Ngoài ra còn sử dụng công cụ giáo dục, thuyết phục, thông tin truyền thông trong hoạch định, xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế
“Mọi người có quyền được bảo vệ chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh; nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác vì cộng đồng” Đây là các quy định pháp lý cao nhất để xây dựng đội ngũ viên chức nói chung, viên chức
y tế nói riêng Đồng thời cũng là những cơ sở pháp lý cao nhất để hoạch định, xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế Ngoài Hiến pháp năm 2013, Luật viên chức 2010 cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng chính sách phát triển viên chức nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng Luật viên chức 2010 quy định các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức: “Tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước Pháp luật trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp; tận tụy phục vụ Nhân dân; tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử” đồng thời quy định các nguyên tắc quản lý viên chức: “Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm
và căn cứ vào Hợp đồng lao động”: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị
sự nghiệp công lập”; “Ưu tiên người có tài năng, người có công với Cách mạng, người
Trang 24dân tộc thiểu số” Ngoài ra, Luật viên chức 2015 còn quy định về chế độ đào tạo, bồi dưỡng viên chức: “Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm chức vụ quản lý, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp”; “Nội dung chương trình, hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ quản lý, chức danh nghề nghiệp, yêu cầu bổ sung cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp”
Các quy định pháp lý trong Luật viên chức 2010 về các nguyên tắc hoạt động nghề nghiệp, về các nguyên tắc quản lý viên chức tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng viên chức là cơ sở pháp lý để xác định mục tiêu các giải pháp, công cụ chính sách phát triển viên chức Ngoài ra, các quy định pháp lý để xây dựng chính sách phát triển viên chức y
tế còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý sau:
- Luật viên chức năm 2010, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013;
- Luật số 40/2009/QH12 Luật khám chữa bệnh
- Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
- Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2014 quy định việc tuyển dụng, sử dụng
và quản lý viên chức;
- Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 quy định về xử lý kỷ luật viên chức
và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức
- Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 26/6/2017 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế
- Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 hướng dẫn về tuyển dụng và
ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức
- Thông tư liên tịch Số: 10/2015/TTLT-BYT-BNV ban hành ngày 27 tháng 5 năm 2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học sự phòng, y sĩ;
- Thông tư liên tịch Số: 27/2015/TTLT-BYT-BNV ban hành ngày 07 tháng 10 năm 2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược;
- Thông tư liên tịch Số: 26/2015/TTLT-BYT-BNV, ban hành ngày 07 tháng 10 năm 2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề
Trang 25nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỷ thuật y
Các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quản lý nêu trên để tạo thành cơ sở, pháp lý khá đầy đủ để xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế:
- Quyết định 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược Quốc gia bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-
Các quyết định trong các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quản lý nêu trên đã tạo thành cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ và cụ thể để xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế
1.1.6 Chủ thể chính sách phát triển viên chức y tế
Chủ thể chính sách phát triển viên chức y tế bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, các tổ chức y tế do nhà nước thành lập Trong đó Quốc hội đóng vai trò là chủ thể hoạch định các chính sách vĩ mô, các chính sách pháp luật định hướng chung cho việc phát triển viên chức y tế; Chính phủ ban hành các chính sách nhằm thực hiện các định hướng chính sách của Quốc hội; Bộ Nội vụ và Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý về lĩnh vực mà mình phụ trách, do đó là chủ thể quan trọng trong thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế Cụ thể:
- Bộ Nội vụ: Theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính, quản lý chính nhà nước
Trang 26Bộ Nội vụ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình,
kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ
dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực do Bộ Nội vụ quản lý hoặc theo sự phân công; ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản
- Bộ Y tế: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số
- kế hoạch hóa gia đình; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ Bộ Y tế thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây: Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ hoặc theo phân công Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, công trình quan trọng quốc gia sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và theo dõi tình hình thi hành pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
Trang 27- Các tổ chức y tế nhà nước: Các tổ chức y tế nhà nước như bệnh viện, trung tâm y tế dự phòng là các tổ chức trực tiếp quản lý và sử dụng viên chức y tế Do đó đây là những chủ thực trực tiếp thực hiện chính sách phát triên viên chức y tế trong tổ chức của mình
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế
1.1.7.1 Các yếu tố bên trong
a Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị hay cơ cấu tổ chức của mỗi Quốc gia chi phối và ảnh hưởng đến nội dung, hình thức của chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng Hệ thống chính trị Nhà nước bao gồm các tổ chức: Đảng, Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và các thành viên Hệ thống chính trị Nhà nước ta tương đối
ổn định và đang trong quá trình đổi mới hướng tới mục tiêu làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Đây là điều kiện, là yếu tố rất thuận lợi
để xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế với mục tiêu xây dựng đội ngũ viên chức y tế có cơ cấu số chất lượng phân bố hợp lý có đủ trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Đây chính là cơ sở pháp lý cao nhất để Nhà nước (Chính phủ) xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ các chiến lược Quốc gia bảo vệ và chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030 Đồng thời Hiến pháp năm 2013 còn trao cho Chính phủ - cơ quan cao nhất của quyền hành pháp nhiệm vụ, quyền hạn “thống nhất quản lý nền hành chính Quốc gia Thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan Nhà nước” (khoản 5 Điều 96) Với
Trang 28nhiệm vụ quyền hạn ở tầm hiến định Chính phủ có đầy đủ thẩm quyền hoạch định và điều hành chính sách Quốc gia nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng Như vậy, Hiến pháp năm 2013 có ảnh hưởng và tác động mạnh đến xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế
c Thể chế chính trị
Thể chế chính trị cũng là yếu tố quan trọng tác động, ảnh hưởng đến xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế Xây dựng chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng phải căn cứ vào thể chế chính trị của Nhà nước vì chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế đều là chính sách của Nhà nước phản ánh bản chất của Nhà nước và chế độ chính trị trong đó Nhà nước tồn tại chính sách công trước hết phục vụ cho lợi ích của cộng đồng người dân và xã hội Chính thể Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ, là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước ta bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo
vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, quyền được thụ hưởng các dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh Chủ thể được Nhà nước trao nhiệm vụ thực hiện quyền này là các viên chức y tế Nhà nước ta đang tiến hành và đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công trong đó có sự nghiệp, dịch vụ y tế để phục vụ người dân tốt hơn Như vậy, thể chế chính trị Nhà nước ảnh hưởng, tác động tích cực đến xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế
d Yếu tố tiềm lực của Nhà nước
Tiềm lực của Nhà nước là yếu tố tác động mạnh đến xây dựng chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng Tiềm lực về kinh tế bao gồm sức mạnh về kinh tế, chính trị, xã hội, thiết chế tổ chức bộ máy quản lý, đội ngũ cán bộ công chức thi hành cấp Vụ, quy mô trình độ kinh tế xã hội và nguồn tài nguyên đất nước Sức mạnh về kinh tế của Nhà nước bao gồm tài sản, các nguồn tài sản và công sản thuộc sở hữu Nhà nước ở trong và ngoài nước Nhà nước sử dụng nguồn lực kinh
tế vào việc duy trì, phát triển ccá khu vực công, đồng thời phát triển các khu vực dịch
vụ, sự nghiệp công khác, trong đó có khu vực sự nghiệp dịch vụ y tế - khu vực phản ánh rõ bản chất, tính chất xã hội của Nhà nước Nếu có tiềm lực kinh tế mạnh Nhà
Trang 29nước sẽ chủ động xây dựng và thực hiện chính sách phát triển theo ý chí của mình một cách có kết quả
Sau 30 năm đổi mới tiềm lực kinh tế đất nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đất nước ta thoát khỏi tình trạng các nước nghèo, bước sang nhóm các nước có thu nhập trung bình và thu nhập khá, vị thế đất nước ta được nâng cao trên trường quốc tế
Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để Nhà nước hoạch định xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức y tế
e Đặc điểm, tiềm lực của đối tượng chính sách
Đặc điểm chung của viên chức sự nghiệp trong đó có viên chức y tế có tính chuyên môn nghiệp vụ vì đạo đức nghề nghiệp chuyên biệt Tính chuyên môn nghề nghiệp là đặc điểm chung của lao động và hoạt động của viên chức trong đó có viên chức y tế nghề nghiệp là công việc chuyên môn nghiệp vụ để người viên chức kiếm sống và sinh nhai “sinh nghề tử nghiệp, sống vì nghề, chết vì nghề” đây là yêu cầu là nguyên tắc để theo đuổi trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của viên chức sự nghiệp trong đó có viên chức y tế Chỉ có những viên chức đề cao, tôn trọng nguyên tắc này mới có thể trở thành nguồn lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, mới trở thành các chuyên gia chiếm…cao trong các lĩnh vực ngành nghề của mình Tính chuyên môn nghiệp vụ chuyên biệt, chuyên sâu đòi hỏi viên chức nói chung, viên chức y tế nói riêng phải được đào tạo có bài bản để có được các kiến thức, kỹ năng cần thiết để hành nghề Hơn nữa y tế là một ngành đặc biệt liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người Dịch vụ y tế là dịch vụ đặc biệt, dịch vụ bảo vệ và chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Dịch vụ này do đội ngũ viên chức y tế thực hiện, chất lượng dịch vụ y
tế phụ thuộc phần nhiều vào trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của viên chức y tế Do đó viên chức y tế phải được đào tạo một cách bài bản hệ thống không chỉ chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải đào tạo nâng cao y đức
Đối với viên chức làm việc trong lĩnh vực sự nghiệp y tế, hành nghề y dược cũng có đạo đức nghề nghiệp riêng của mình, luôn được xã hội và người dân trọng vọng, coi bác sĩ, người thầy thuốc như mẹ hiền “lương y như từ mẫu” Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiểu sử bệnh, thăm khám thực tế, khi cần thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sang, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận và các toa thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng người bệnh Như vậy, việc khám, chữa bệnh và
Trang 30cấp thuốc điều trị liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mệnh của con người, đòi hỏi phải cẩn trọng, chính xác, hạn chế các các sai sót nguy hại đến sức khỏe, tính mệnh của con người Do đó, viên chức làm việc trong lĩnh vực y tế, làm nhiệm vụ khám chữa bệnh phải có chứng chỉ hành nghề “khám bệnh, chữa bệnh” do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Đồng thời, phải đề cao đạo đức nghề nghiệp trong khám, chữa bệnh và cấp thuốc điều trị, phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc trong hành nghề khám, chữa bệnh “Bình đẳng, công bằng, không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh; tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư ghi trong hồ sơ, bệnh án; kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật; ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với các trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, người già từ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai; bảo đảm đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề” Thực hiện tốt đạo đức nghề nghiệp chính là thực hiện nghiêm túc các hành vi bị cấm trong khám, chữa bệnh, cụ thể như không được “từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh; khám, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề”, “Hành nghề khám, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động”; “sử dụng các hình thức mê tín trong khám, chữa bệnh”; “vi phạm quyền của người bệnh, không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình khám, chữa bệnh; lạm dụng nghề nghiệp để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể người bệnh; tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về khám bệnh, chữa bệnh; đưa, nhận, môi giới, hối lộ trong khám bệnh, chữa bệnh” (Xem điều 3,6 Luật khám chữa bệnh năm 2009) Đó là các quy định của Luật Khám chữa bệnh đòi hỏi các viên chức hành nghề khám, chữa bệnh phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ Có thực hiện đầy đủ thì người dân mới được thụ hưởng dịch vụ khám, chữa bệnh có chất lượng cao
Như vậy, mỗi một ngành nghề, mỗi một lĩnh vực sự nghiệp công có đạo đức nghề nghiệp riêng Không có đạo đức nghề nghiệp chung cho tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công Viên chức làm việc trong các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công phải tuân thủ theo các chuẩn mực, đạo đức nghề nghiệp của ngành, lĩnh vực sự nghiệp công ấy Đây là đặc điểm cũng cần phải chú ý khi xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế.[30]
Trang 31Tóm lại, đặc điểm tiềm lực của đối tượng chính sách là yếu tố tác động mạnh đến chính sách phát triển viên chức y tế Hoạch định, xây dựng chính sách phát triển viên chức phải đặc biệt quan tâm đến yếu tố này
f Cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công
Cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công đang diễn ra ở ngước ta cũng là yếu tố ảnh hưởng , tác động trực tiếp đến xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế Cải cách, đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công trong đó có dịch vụ y tế là chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước ta hiện nay, với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công và chất lượng dịch vụ công cung cấp cho người dân Các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công ngành y tế không nằm ngoài công cuộc cải cách này Cải cách đổi mới cơ chế hoạt động cảu các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ y tế tác động trực tiếp đến đội ngũ viên chức y tế - chủ thể thực hiện dịch vụ y tế, dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Đòi hỏi đội ngũ viên chức y tế phải nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, đề cao đạo đưc nghề nghiệp (y đức) trong thực hiện sứ mệnh cung cấp dịch vụ y tế ngày một tốt hơn cho người dân Đồng thời cũng đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế, chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với viên chức y tế Như vậy cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ y tế đang diễn ra ở nước ta cũng là yếu tố tác động mạnh đến chính sách phát triển viên chức y tế, cần phải đặc biẹt chú ý đến yếu tố này trong hoạch định, xây dựng chính sách phát triển viên chức
1.1.7.2 Các yếu tố bên ngoài
Xây dựng chính sách công nói chung, chính sách phát triển viên chức y tế nói riêng không chỉ chú ý đến các yếu tố bên trong mà còn phải chú ý đến các yếu tố bên ngoài:
a Hội nhập quốc tế về kinh tế, khoa học và công nghệ
Hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập quốc tế về kinh tế và khoa học công nghệ nói riêng mở cho chúng ta cơ hội phát triển các ngành, nghề, dịch vụ trong đó có ngành dịch vụ y tế Đồng thời cũng đặt ra cho các ngành nghề, các lĩnh vực dịch vụ công không ít khó khăn, thách thức cụ thể như: hội nhập kinh tế sâu rộng, phát triển kinh tế nóng dẫn đến ô nhiễm môi trường làm gia tăng thêm các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, huyết áp, ung thư, tiểu đường, già hóa dân số và các căn bệnh hiểm nghèo khác ngoài ra chúng ta còn phải đối mặt với các bệnh dịch mới có nguy cơ, quy
mô khu vực và toàn cầu như: Sars, Rika…đòi hỏi phải ứng dụng và phát triển nhiều kỹ
Trang 32thuật y khoa hiện đại mới có thể ngăn chặn, phòng, khám, chữa trị có hiệu quả Để vượt qua được các thách thức khó khăn đó cần phải khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ viên chức y tế Rõ ràng hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập quốc
tế về kinh tế và khoa học công nghệ tác động ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách phát triển viên chức y tế Xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế không thể bỏ qua yếu tố tác động này
b Cạnh tranh quyết liệt giữa các nước trong khu vực và trên thế giới về nguồn nhân lực chất lực cao
Cạnh tranh quyết liệt giữa các nước trên thế giới và trong khu vực về nguồn nhân lực chất lượng cao trong đó có viên chức y tế cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển viên chức y tế Kinh tế của các nước trên thế giới phát triển bao giờ cũng dẫn đến hệ quả đời sống của người dân được nâng cao đồng thời cũng dẫn đến hệ lụy các bệnh hiểm nghèo gia tăng, nhu cầu bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe của người dân gia tăng Trong bối cảnh đó cạnh tranh về nhân lực y tế, nhất là nhân lực y tế có chất lượng cao trở lên quyết liệt Để giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh quyết liệt này các nước đều phải đầu tư xây dựng hiện đại hóa ngành y tế, trọng tâm là đầu tư vào đào tạo, bồi dưỡng xây dựng nguồn nhân lực y tế có chất lượng cao Việt Nam không nằm ngoài khuynh hướng đó Như vậy cạnh tranh quyết liệt giữa các nước trong khu vực và trên thế giới về nhân lực y tế chất lượng cao là một yếu tố quan trọng cần phải tính đến khi xây dựng chính sách phát triển viên chức y tế
1.2 Chính sách phát triển viên chức y tế ở nước ta hiện nay
1.2.1 Đặc điểm, vai trò của viên chức y tế
1.2.1.1 Đặc điểm của viên chức y tế
Viên chức ngành y tế làm nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con người, vốn quý nhất của mỗi người và của toàn xã hội Trước sức khoẻ của con người nói chung và tính mạng của người bệnh nói riêng, đòi hỏi lao động trong ngành y tế phải có trách nhiệm cao, chuyên môn giỏi, để bảo vệ tính mạng cho người bệnh và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân Viên chức ngành y tế với đối tượng phục vụ là người
ốm đau, bệnh tật, luôn có tâm lý lo âu, dễ cáu gắt, bực bội, luôn chịu gánh nặng tâm lý
rất lớn trước đau thương, mất mát của người bệnh và gia đình bệnh nhân
Trang 33Viên chức y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh luôn phải làm việc trong môi trường độc hại, dễ lây nhiễm dịch bệnh nguy hiểm, thường xuyên phải tiếp xúc với các chất thải, cùng các hoá chất độc hại, các tia phóng xạ đây là môi trường mà chính
những người đang làm nhiệm vụ khám, chữa bệnh cũng dễ bị lây nhiễm
Do đặc thù của công tác khám chữa bệnh mà ngoài 8 giờ làm việc hành chính bình thường, viên chức ngành y tế còn phải trực đêm, trực ngoài giờ, trực ngày lễ, ngày chủ nhật, đảm bảo sao cho 24/24 giờ trong ngày luôn luôn có người làm việc ở các cơ sở để kịp thời cấp cứu bệnh nhân, phòng chống dịch bệnh và bảo đảm cho người bệnh luôn luôn được chăm sóc, điều trị Khi dịch bệnh xảy ra thì không kể ngày
đêm, lễ tết người cán bộ y tế phải đến tận ổ dịch làm nhiệm vụ phòng chống dịch
Ngoài ra, người cán bộ y tế luôn phải học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ
ngành nghề, phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh và phòng bệnh được tốt hơn
1.2.1.2 Vai trò của viên chức y tế
Viên chức y tế cùng đội ngũ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ viên chức phục vụ tạo nên hệ thống nhân lực của ngành y tế Trong đó, viên chức y tế có số lượng đông đảo
và đóng vai trò quan trọng nhất trong việc duy trì hoạt động của ngành Có thể liệt kệ một số vai trò quan trọng của viên chức y tế như sau:
Thứ nhất, viên chức y tế là đội ngũ nhân sự cốt lõi, quyết định sự vận hành chuyên môn của một tổ chức y tế công lập Viên chức y tế chi phối đến chất lượng khám, chữa bệnh và các hoạt động y tế khác của tổ chức, là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động của các tổ chức này
Thứ hai, viên chức y tế là chủ thể trực tiếp của hoạt động khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập Viên chức y tế đóng vai trò cụ thể hoá mục tiêu về một nền y
tế hiện đại với hoạt động khám, chữa bệnh chuyên nghiệp và phục vụ theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và mong muốn của xã hội
Thứ ba, viên chức hành chính đồng thời cũng là những nhà nghiên cứu, sáng tạo, tìm tòi ra những giá trị nghề nghiệp mới, giúp thúc đẩy phát triển chất lượng dịch
vụ y tế nhà nước phát triển liên tục
1.2.2 Quan điểm của Đảng về phát triển viên chức y tế
Trong 5 quan điểm của Đảng ta về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, quan điểm thứ nhất đã khẳng định sức khỏe là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Quan điểm này hoàn toàn phù
Trang 34hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là sự quán triệt, sự tiếp tục những tư tưởng của Người trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Vì vậy, phải chăm lo sức khỏe cho mọi người, chăm lo sức khỏe cho toàn dân Quan điểm chăm lo sức khỏe cho mọi người thực sự là thể hiện một quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khỏe như tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội Công bằng xã hội không có nghĩa là không thực hiện sự ưu tiên trong xã hội Lúc sinh thời, Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở các cán bộ của đảng, nhà nước, các đồng chí chỉ huy quân đội, các cán bộ y tế phải quan tâm chăm sóc sức khỏe cho cụ già, cho trẻ em,
cho người nghèo ở vùng xa xôi, hẻo lánh, cho bộ đội và thương binh
Phát triển sự nghiệp y tế là một trong các yếu tố để bảo đảm thực hiện có hiệu
quả tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển được
xem là một định hướng đã được nêu trong các kỳ Đại hội Đảng trước đây và trong Nghị quyết 46 năm 2005 của Bộ Chính trị, mà ngành y tế cần tiếp tục cụ thể hóa và thực hiện Theo định hướng này, cần thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân ngay trong các điều kiện còn hạn hẹp hiện nay và tính công bằng phải thể hiện trong các cơ chế, chính sách cụ thể của ngành y tế, cả về tài chính y tế, cung ứng dịch vụ y tế, nhân lực y tế cũng như trong chính sách thuộc các bộ/ngành khác
có liên quan để nâng cao tính công bằng trong y tế
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội XI xác định: “Phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân” Các nhiệm vụ cụ thể của công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 thể hiện quan điểm nhất quán về đổi mới hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả, phát triển, mà ngành y
tế cần tiếp tục thực hiện, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân”.Văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ dịch vụ y tế
và công nghiệp dược là những ngành dịch vụ và công nghiệp có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, có tiềm năng đóng góp vào tăng trưởng GDP, cần được tập trung phát triển
Nghị quyết số 46 của Bộ chính trị thể hiện quan điểm của Đảng về đường lối chiến lược phát triển ngành y tế Việt Nam đã đề cập đến nội dung phát triển đội ngũ nhân lực y tế Cụ thể, Nghị quyết xác định: Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm của đường lối chiến lược phát triển ngành y tế ở Việt Nam trong thời gian
Trang 35tới Đây là sẽ nút tháo gở quan trọng, tạo điều kiện tháo gỡ các vướng mắc khác trong xây dựng và phát triển ngành y tế giai đoạn hiện nay Nghị quyết xác định xây phát triển nguồn nhân lực y tế bao gồm hai nội dung:
- Kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Sắp xếp lại mạng lưới,mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào tạo,đáp ứng nhu cầu về cán bộ y tế phù hợp với quy hoạch phát triển ngành; xây dựng một số trung tâm đào tạo cán bộ y
tế ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực Tăng cường đào tạo cán bộ y tế theo hình thức cử tuyển cho miền núi và đồng bằng sông Cửu Long; chú trọng đào tạo cán
bộ quản lý y tế, nhất là cán bộ quản lý bệnh viện Coi trọng việc đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài về y tế Mở rộng việc đưa cán bộ có trình độ cao đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí nhà nước, khuyến khích du học tự túc theo các chuyên ngành đang có nhu cầu
- Xây dựng và thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lí đối với cán bộ, nhân viên y tế; thực hiện chế độ đãi ngộ đối với người thầy thuốc tương đương như với người thầy giáo Có chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đối với những người công tác tại trạm y tế xã Thực hiện việc luân chuyển cán bộ; khuyến khích thầy thuốc về công tác
ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn [1]
1.2.3 Chính sách phát triển viên chức y tế một số nước trên thế giới
a Chính sách phát triển viên chức y tế của Cộng hòa Pháp
Công chức y tế tại Cộng hoà Pháp có 0,8 triệu người, chiếm 19% tổng số lượng công chức cả nước (làm việc trong bệnh viện công) Đội ngũ công chức y tế chuyên nghiệp, phục vụ suốt đời, có những đặc điểm sau:
- Xếp vào ngạch bậc nhất định, hoạt động theo quy định pháp luật
- Tuyển dụng qua thi tuyển Thi tuyển cạnh tranh, công bằng, tuyển người giỏi Khi tuyển vào công chức được đào tạo ban đầu từ 1 đến 2 năm tại các trường hành chính hoặc trường chuyên ngành
- Quá trình thăng tiến được xem xét ở chất lượng công việc, tuy nhiên thâm niên luôn là nhân tố quan trọng Đặc điểm truyền thống này đã được nhận diện nhưng chưa thoát bỏ được
- Đội ngũ công chức có chất lượng tốt, chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản, đào tạo đầu vào
Trang 36- Luân chuyển công việc (trong cơ quan) và luân chuyển về địa lý (giữa các cơ quan trung ương và địa phương) còn ít
- Đánh giá công chức trên cơ sở năng lực thực hiện công việc, có tính dự báo về
số lượng và chất lượng công chức
- Chú trọng phát triển công chức cao cấp, luân chuyển thường xuyên, đào tạo thường xuyên, trong luơng có tính đến những nỗ lực làm việc chứ không chỉ thâm niên
Thi tuyển công chức y tế Pháp có những điểm sau: Để trở thành công chức và làm việc suốt đời cho nhà nước, phải qua thi tuyển Thi tuyển được tiến hành qua hai giai đoạn: thi viết và thi vấn đáp Người thi vấn đáp phải trả lời trước Hội đồng có ít nhất ba người và Hội đồng có quyền quyết định tuyển người đạt kết quả tốt Tương ứng với ba đối tượng thi khác nhau có ba hình thức thi tuyển:
Cuộc thi cho những sinh viên tốt nghiệp đại học, vào loại A Thi nội bộ trong công vụ cho những công chức muốn được nâng ngạch, như nâng từ B lên A Cuộc thi cho những người làm việc có kinh nghiệm ở khu vực tư nhân, dân biểu
Để trở thành công chức chính thức, sau khi thi, công chức phải qua giai đoạn thử việc, với công chức loại A thì phải qua đào tạo ban đầu Pháp quản lý công chức theo chức nghiệp, chú trọng vào ngạch, bậc, thang bậc, chỉ số và thăng tiến chủ yếu dựa vào thâm niên, thi nghiệp vụ và thi nâng ngạch Đối với những ngành không tổ chức thi được thì có hình thức tuyển khác là ký hợp đồng làm việc ba năm, sau hai lần
ký hợp đồng ba năm thì chuyển sang hợp đồng vô thời hạn Để được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo trong công vụ công chức phải qua thi tuyển, vào học trường hành chính và được bổ nhiệm vào chức vụ sau khi hoàn thành khoá học
b Chính sách phát triển viên chức y tế của Singapore
Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng Singapore là nước đứng thứ 6 trên thế giới về chất lượng chăm sóc sức khỏe Quốc đảo nổi tiếng bởi chất lượng chẩn đoán và điều trị tốt, dịch vụ phục vụ bệnh nhân hoàn hảo và cạnh tranh về giá cả điều trị
Sự cạnh tranh cao giữa hệ thống y tế tư nhân và y tế công cộng, độ minh bạch về chi phí là điều thường được nhắc tới trong câu chuyện thành công của y tế quốc đảo Các bác sĩ công tác tại bệnh viên công ở Singapore không được phép cùng lúc làm việc ở cơ
sở tư nhân Khi họ cảm thấy đủ tự tin về năng lực và khả năng tài chính, họ có thể nghỉ việc ở bệnh viện công để đến với hệ thống tư nhân
Trang 37Tại quốc gia nổi tiếng về minh bạch này, không có chuyện thừa bác sĩ ở bệnh viện nhà nước lớn mà thiếu tại các cơ sở khám chữa bệnh địa phương; không có tình trạng bác sĩ công tác ở bệnh viện công dù đồng lương bèo bọt vẫn cố lao vào bệnh viện có tiếng để bám trụ, chủ yếu để lấy danh tiếng và vị trí nhằm gây dựng phòng khám tư nhân
Chính sự phân biệt rõ ràng giữa hệ thống bệnh viện công và tư mà giới chức quốc đảo giờ lại phải đau đầu đối phó chuyển “chảy máu chất xám”, khi nhiều bác sĩ đầu ngành bỏ việc công Bộ Y tế Singpore đang xem xét cải tổ hệ thống y tế công như nâng lương bác sĩ, y tế, nhân viên y tế để thu hút lực lượng lao động Bộ này cũng cân nhắc chuyện cải tổ môi trường làm việc, đảm bảo cung cấp quy trình hoạt động và thăng tiến sự nghiệp tốt hơn
Với người dân Singapore hay khách du lịch khám chữa bệnh tới quốc đảo này, điều quan trọng hàng đầu là đảm bảo rằng, bác sĩ điều trị cho họ có đăng ký hành nghề với Hội đồng Y khoa Singapore (SMC) Bệnh nhân có thể tìm kiếm danh sách bác sĩ, nhân viên y tế bằng cách truy cập trang web của hội đồng được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái Tại đây, họ cũng có thể tiếp cận thông tin xử lý kỷ luật với bác sĩ, nhân viên y tế nếu vi phạm SMC trực thuộc Bộ Y tế Singapore (MOH), chịu trách nhiệm quản lý, điều chỉnh hành vi đạo đức và thực tiễn hoạt động của người thực hành nghề y bằng cách xử
lý, điều tra khiếu nại của bệnh nhân, thực hiện các chương trình nâng cấp chuyên môn cho thành viên đăng ký
SMC đã lập một uỷ ban điều tra bất kỳ khiếu nại nào đối với người thực hành nghề
y, hay bất kỳ thông tin nào nhận được từ Hội đồng y khoa liên quan tới việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp y khoa Kể từ năm 2008, the MOH và SMC đã thực hiện các quy định và chỉ dẫn chi tiết chặt chẽ với người thực hành nghề y Kết quả là số lượng khiếu nại từ bệnh nhân giảm đáng kể
Đặc biệt, các bệnh nhân tại Singapore giờ đây có thể tìm đến trang web của Bộ Y
tế để “so sánh, chọn lựa giá cả” Danh sách chi phí điều trị của hàng loạt bệnh viện công
và tư nhân tại Singapore được hiển thị rõ ràng trên trang này Mỗi bệnh viện cũng thống
kê danh sách trung bình thời gian bệnh nhân ở lại bệnh viện cho từng quá trình điều trị, cũng “kích cỡ” hoá đơn bệnh nhân có thể chi trả Dữ liệu thường được cập nhật từng tháng
Trang 38Kết luận chương 1
Trong Chương 1, học viên đã nêu và phân tích được các khái niệm liên quan đến
đề tài luận văn như: viên chức, viên chức y tế, chính sách, chính sách phát triển viên chức
y tế Đồng thời, trong chương này, học viên cũng đã khái quát được một cách cơ bản nhất các nội dung của chính sách, gồm: vấn đề chính sách, mục tiêu chính sách, chủ thể của chính sách, thể chế của chính sách, giải pháp và công cụ chính sách và trình bày được kinh nghiệm về chính sách phát triển viên chức y tế ở một số quốc gia
Tuy nhiên, do vấn đề mới và mang tính đặc thù của nội dung và phạm vi nghiên cứu, học viên còn hạn chế trong việc chỉ ra các giải pháp và công cụ chính sách cụ thể trong thời gian gần nhất về phát triển viên chức nói chung và viên chức y tế nói riêng
Mặc dù vậy, học viên nhận thấy rằng Chương 1 đã đáp ứng được yêu cầu là cơ
sở lý luận cho việc phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu ở Chương 2
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
2.1 Khái quát về Bệnh viện Phụ sản Trung ương và viên chức y tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Dưới thời Pháp thuộc, khu vực bệnh viện hiện nay là một nhà tu, sau là nhà thương Võ Tánh Hoà bình lập lại, nhà thương được tu sửa lại làm nơi khám, chữa bệnh cho cán bộ, công nhân viên chức các cơ quan trung ương Ngày 19/7/1955, bác sĩ Hoàng Tích Trí, Bộ Trưởng Bộ Y tế ký Nghị định 615-ZYO/NĐ/3A quy định tổ chức các cơ quan kế cận và trực thuộc Bộ, chính thức thành lập bệnh viện “C” đặt nền móng đầu tiên cho bệnh viện Phụ - Sản Trung ương ngày nay Ngày 08/11/1960, Bộ Y tế lại
có QĐ 708/BYT sửa đổi, tổ chức lại bệnh viện “C” theo hướng chuyên khoa phụ sản Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, ngày 14/5/1966 Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký Quyết định số 88/CP đổi tên bệnh viện “C” thành Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh Lần đầu tiên tại Việt Nam có một Viện chuyên ngành nghiên cứu tình trạng sinh lý, bệnh lý của phụ
nữ, của các bà mẹ và trẻ sơ sinh, hướng tới mục tiêu “Bảo vệ tốt sức khoẻ phụ nữ, các
bà mẹ và trẻ sơ sinh, góp phần vào việc giải phóng phụ nữ, phát triển sản xuất, bảo vệ thế hệ tương lai của Tổ quốc” Đến năm 2003, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân ngày một lớn, đòi hỏi phải có sự chuyển đổi
cả về tính chất, quy mô của Viện Ngày 18/6/2003 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định 2212/QĐ-BYT đổi tên Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh thành bệnh viện Phụ - Sản Trung ương trực thuộc Bộ Y tế, tiếp tục thực hiện những chức năng, nhiệm vụ trước đây của Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh với những đòi hỏi cao hơn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ khám, chữa bệnh trong tình hình mới
Những đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của bệnh viện Phụ - Sản Trung ương được nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý :
- Anh hùng Lao động năm 2010
- Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2008
- Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2002 và 1985
Trang 40- Huân chương Lao động hạng Hai năm 1982
- Huân chương Lao động hạng Ba năm 1976
và nhiều cờ thi đua, bằng khen của Chính phủ Nhiều cá nhân xuất sắc được nhà nước
và các tổ chức trao tặng bằng khen và danh hiệu cao quý Năm 2010, Giám đốc bệnh viện Phụ - Sản Trung ương đã vinh dự được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Đảng bộ bệnh viện liên tục nhiều năm là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; Công đoàn bệnh viện đạt Công đoàn vững mạnh xuất sắc; Đoàn thanh niên đạt danh hiệu Cơ sở Đoàn vững mạnh, xuất sắc
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Bệnh viện Phụ sản Trung ương được tổ chức theo hệ thống thứ bậc với 05 bộ phận chính gồm: Ban giám đốc, Khối phòng ban, Khối trung tâm, Khối lâm sàng, Khối cận lâm sàng
- Ban giám đốc bao gồm 05 thành viên: 01 giám đốc và 04 giám đốc Giám đốc phụ trách chung công tác hoạt động của Bệnh viện, các phó giám đốc giúp việc cho giám đốc trên cơ sở lĩnh vực, nội dung được phân công khác nhau 05 chức danh trên đều là công chức quản lý
- Khối phòng ban có 14 đơn vị, bao gồm: Công đoàn bệnh viện, Phòng Chỉ đạo tuyến, Phòng Công nghệ thông tin, Phòng Công tác xã hội, Phòng Hành chính Quản trị, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Nghiên cứu khoa học, Phòng Quản lý chất lượng, Phòng Tài chính Kế toán, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Vật tư - Trang thiết bị
y tế, Phòng Đào tạo, Phòng Điều dưỡng, Đoàn Thanh niên Bệnh viện Đây là khối thực hiện các công việc hành chính và hỗ trợ công tác ý tế Do vậy đa phần viên chức làm việc ở đây là viên chức hành chính, bên cạnh số lượng ít viên chức y tế kiêm nhiệm hoặc tham gia hoạt động trong một số lĩnh vực thuộc khối phòng ban
- Khối trung tâm có 7 đơn vị, bao gồm: Trung tâm Chăm sóc và điều trị sơ sinh, Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Trung tâm Sàn chậu, Trung tâm Tế bào gốc máu cuống rốn, Trung tâm Tư vấn SKSS & Kế hoạch hóa gia đình, Văn phòng Trung tâm Đào tạo - Chỉ đạo tuyến Đây là khối bán hành chính,
vì vừa thực hiện chức năng hành chính vừa thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn y tế Trên thực tế, số lượng viên chức làm việc ở khối này tương đối quan bình giữa hai nội dung này