Phương pháp dạy và học theo mô hình VNEN: Coi quá trình tự học của học sinh là trung tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hi
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS BÙI MINH ĐỨC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau quãng thời gian cố gắng làm việc, tôi đã hoàn thành khóa luận với
đề tài “ Áp dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN vào thiết kế và tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “ Chí Phèo – Nam Cao “ Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn cùng các thầy cô và các em học sinh trường THPT Trưng Vương và trường THPT Gia Lộc và đặc biệt cảm ơn sâu sắc thầy giáo – PGS.TS Bùi Minh Đức đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Vì điều kiện thời gian có hạn nên khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy
cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Phượng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ phần kết quả thực nghiệm của khóa luận tốt nghiệp này đều được hoàn thành ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, thầy cô giáo bộ môn và học sinh trường THPT Trưng Vương Đồng thời, các phần lí thuyết tham khảo trong bài khóa luận tốt nghiệp đều được sự đồng ý trực tiếp hoặc gián tiếp của các tác giả
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Phượng
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Về đọc hiểu văn bản văn học và phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản 2 2.2 Vấn đề vận dụng mô hình VNEN vào thực tế dạy học 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích 3
3.2 Nhiệm vụ 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận 4
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
6 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1 DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN TẠI VIỆT NAM………7
1.1 Giới thiệu chung về mô hình trường học mới 6
1.1.1 Khái niệm về mô hình trường học mới VNEN 6
1.1.2 Đặc điểm của mô hình trường học mới VNEN 6
1.2 Các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN 10
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học 10
1.2.2 Khái niệm về phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới 11
1.2.3 Các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới 11
1.2.3.1 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh 11
Trang 71.2.3.2 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác 12
1.2.3.3 Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò 13
1.3 Những ưu điểm và hạn chế của dạy học theo mô hình trường học mới VNEN 14
1.3.1 Ưu điểm 14
1.3.2 Nhược điểm 15
1.4 Tiểu kết chương 1 16
CHƯƠNG 2.THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC GIỜ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN 17
2.1 Đọc – hiểu văn bản văn học 17
2.1.1 Đọc – hiểu 17
2.1.2 Đọc – hiểu văn bản văn học 18
2.2 Nguyên tắc thiết kế giờ dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo mô hình VNEN 19
2.2.1 Bám sát mục đích, yêu cầu của chương trình 20
2.2.2 Bám sát đặc trưng của văn bản văn học 20
2.2.3 Tuân thủ có sáng tạo mô hình bài học của VNEN 20
2.2.4 Định hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho HS 20
2.3 Đề xuất quy trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học và khung giáo án minh họa bài đọc hiểu văn bản văn học 21
2.3.1 Đề xuất quy trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học 21
2.3.2 Thể hiện quy trình qua khung giáo án minh họa 28
2.4 Mục đích của việc dạy học bài “ Chí Phèo – Nam Cao “ và thiết kế và tổ chức dạy học bài đọc hiểu văn bản “ Chí Phèo – Nam Cao” 34
2.4.1 Mục đích của việc dạy học bài “ Chí Phèo” – Nam Cao 34
2.4.2 Thiết kế giáo án “ Chí Phèo” – Nam Cao theo phương pháp dạy học mô hình trường học mới VNEN 36
Trang 82.4.2.1 Thiết kế giáo án “ Chí Phèo” – Nam Cao 36
2.4.2.2 Những điểm mới và lưu ý khi ứng dụng 48
2.5 Tiểu kết chương 2 49
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích, đối tượng, nội dung và địa bàn thực nghiệm 51
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 51
3.1.2 Đối tượng thực nghiệm 51
3.1.3 Nội dung chính của thực nghiệm 51
3.1.4 Số lượng tham gia, địa điểm, thời gian thực nghiệm 51
3.1.4.1 Thời gian, địa điểm thực nghiệm 51
3.1.4.2 Số lượng HS tham gia thực nghiệm 52
3.2 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 52
3.2.1 Phương pháp thực nghiệm 52
3.2.2 Quy trình thực nghiệm 52
3.3 Những công việc cụ thể và kết quả của thực nghiệm 53
3.3.1.Những công việc cụ thể của thực nghiệm 53
3.3.1.1 Thiết kế giáo án 53
3.3.1.2 Dạy học theo giáo án thực nghiệm 54
3.3.2 Kết quả của thực nghiệm 54
3.3.2.1 Tổng hợp kết quả thực nghiệm 54
3.3.2.2 Kết quả thực nghiệm 55
3.4 Tiểu kết chương 3 58
KẾT LUẬN CHUNG 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mô hình trường học mới Việt Nam ( VNEN ) là một đề án đang trong giai đoạn thí điểm, được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai từ năm học 2010 – 2011 ở Tiểu học và hiện nay đang thực hiện ở cấp THCS và THPT Đây là một trong những mô hình dạy học có nhiều ưu điểm, do đó, ngoài việc thí điểm, các trường vẫn có thể vận dụng mô hình này vào thực tế dạy học ở các cấp, ngay cả đối với chương trình và SGK hiện hành Đặc biệt, áp dụng mô hình này sẽ tạo điều kiện để thực hiện tốt việc đổi mới chương trình và SGK sau 2015
Phương pháp dạy và học theo mô hình VNEN: Coi quá trình tự học của học sinh là trung tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức Tuy nhiên gần 2 năm thí điểm thực hiện mô hình này thì nhiều phụ huynh băn khoăn không biết mô hình này có phù hợp với lứa tuổi các em học sinh Tiểu học, THCS? Các em có tiếp thu được kiến thức đầy đủ và hiệu quả hơn cách dạy
và học truyền thống của Việt Nam
Phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN là hình thức dạy học đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được
tổ chức thành nhóm một cách thích hợp Qua thực tế khảo sát ở một số trường THPT trong việc áp dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN nhận thấy đa số giáo viên chưa hiểu nhiều về phương pháp này Theo một số ý kiến của giáo viên thì việc áp dụng phương pháp dạy học theo mô hình VNEN chưa thực sự được áp dụng một cách hiệu quả, bởi đa số giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy học theo lối truyền thống, chưa phát huy được tính tích cực và chủ động của HS Vì những lí do đó, khóa luận này tôi
Trang 10xin chọn đề tài “ Áp dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học
mới VNEN vào thiết kế và tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản Chí Phèo – Nam Cao”
Trần Đình Sử trong bài viết: đọc – hiểu văn bản là thế nào, đã khẳng định: sự hiểu văn bản được đánh dấu bằng việc người đọc biến văn bản của nhà văn thành văn bản của mình, nghĩa là người đọc chồng văn bản của mình lên văn bản của tác giả Giáo sư đã đưa ra luận điểm: mọi cách hiểu văn bản đều là “ hiểu lầm” Và có hiểu lầm đúng và hiểu lầm sai Từ đó ông đề nghị: dạy học đọc – hiểu văn bản là dạy học sinh năng lực biết xuất phát từ chỉnh thể văn bản của tác giả mà kiến tạo nên văn bản của mình
Nhìn chung hiện nay các giáo trình về phương pháp đọc – hiểu hầu như chưa có, mà chỉ là những bài viết, tư liệu trao đổi, đăng trên các tạp chí ; các tài liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh biên soạn để phục vụ cho các lớp bồi dưỡng giáo viên Các tài liệu: Bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường THPT, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT… có ưu điểm là ít lí luận, nhiều thực tiễn, đưa ra được những gợi ý tiến trình tổ chức bài học theo tinh thần tăng cường hoạt động đọc – hiểu văn bản nghệ thuật giúp giáo viên Văn hình dung ra các hình thức, cấp độ, các bước tổ chức đọc – hiểu
Trang 11Tuy nhiên, đây là phương pháp còn khá mới nên đọc – hiểu còn gây không ít lúng túng cho giáo viên trong thực tiễn dạy học ( như đã trình bày ở mục lí do chọn đề tài ) Từ những điều đã trình bày, khóa luận của tôi hướng đến vấn đề:
- Khẳng định vấn đề cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học Văn
là thay đổi việc tổ chức hệ thống hoạt động của giáo viên và học sinh theo nguyên tắc chủ động, tích cực
- Đề xuất mô hình đọc – hiểu văn bản văn học theo mô hình trường học mới VNEN
2.2 Vấn đề vận dụng mô hình VNEN vào thực tế dạy học
Mô hình trường học mới ở Việt Nam ( VNEN ), như đã giới thuyết, là một dự án đang được thực hiện tại các trường đăng kí thí điểm; Bộ Giáo dục
và Đào tạo có chủ trương cho phép các trường không nằm trong dự án có thể học tập những yếu tố tích cực, phù hợp với cơ sở, địa phương Chính vì vậy, khi nói tới vận dụng quy trình VNEN vào dạy học theo chương trình Ngữ văn hiện hành, chúng ta cần hình dung có 2 loại hoạt động liên quan đang diễn ra trong thực tiễn:
- Một là, việc thiết kế biên soạn tài liệu hướng dẫn học Ngữ văn 11 vẫn đang được tiếp diễn theo mô hình VNEN
- Hai là, việc vận dụng mô hình này một cách “ tự phát” cũng đang diễn
ra ở nhiều trường phổ thông, với sự khuyến khích của cơ quan chủ quản Tôi thấy, việc vận dụng VNEN đối với các trường ngoài dự án là công việc hoàn toàn khả thi, tuy nhiên, cần có những nghiện cứu khoa học để công việc đó được đảm bảo chắc chắn về tính hiệu quả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Xây dựng quy trình dạy học các bài đọc – hiểu văn bản văn học trên tinh
Trang 12thần ứng dụng mô hình trường học mới Việt Nam ( VNEN )
3.2 Nhiệm vụ
a Xác định cơ sở khoa học, gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tế để đề xuất quy trình dạy học đối với các bài học đọc – hiểu văn bản văn học ở lớp 11 theo định hướng ứng dụng VNEN
b Đề xuất quy trình dạy học các bài học đọc – hiểu văn bản văn học ở lớp 11
c Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi và tính hiệu quả của quy trình đề xuất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đề tài này chọn đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học đọc – hiểu văn bản văn học ở trường THPT, tập trung vào trọng điểm là quy trình dạy học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
a Về lí thuyết , đề tài chỉ vận dụng kết quả nghiên cứu của các chuyên ngành: Tâm lí học, Giáo dục học, Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn để đề xuất các biện pháp đổi mới quy trình dạy học đọc – hiểu văn bản văn học ở lớp 11 mà không bàn tới các vấn đề lí thuyết có liên quan
b Về thực tiễn, tôi đã tiến hành khảo sát và thực nghiệm tại trường THPT Trưng Vương – Hưng Yên, nơi thực hiện quá trình thực tập đợt 2 của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đậy:
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích – tổng hợp: phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu cơ
Trang 13sở thực tiễn, phân tích đặc điểm nội dung của các bài học về đọc – hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn 11, từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho việc đề xuất quy trình dạy học các bài loại này
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a Quan sát sư phạm: là phương pháp được dùng để nghiên cứu quá trình dạy học, trong đó chủ yếu là hoạt động của GV và HS;
b Điều tra là phương pháp được sử dụng để tìm hiểu thực trạng dạy và học các bài đọc – hiểu văn bản văn học trong chương trình
c Thực nghiệm là phương pháp sử dụng để dạy hoc thử nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của các quy trình đã được khóa luận này
đề xuất
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Dạy học theo mô hình trường học mới VNEN tại Việt Nam Chương 2 Thiết kế và tổ chức giờ dạy học đọc hiểu văn bản theo mô
Trang 14CHƯƠNG 1 DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN
TẠI VIỆT NAM
1.1 Giới thiệu chung về mô hình trường học mới
1.1.1 Khái niệm về mô hình trường học mới VNEN
Mô hình trường học mới tại Việt Nam là một kiểu mô hình nhà trường
hiện đại, tiên tiến, phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô hình VNEN xuất phát từ mô hình EN là mô hình nhà trường kiểu mới được thực hiện tại Cộng hòa Côloombia Mô hình EN đã đưa ra được một giải pháp giáo dục cụ thể để thay đổi nhà trường, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại Ở Việt Nam , theo báo cáo nhanh của Dự
án mô hình trường học mới, tính từ năm 2011, VNEN đã được triển khai thí điểm và nhân rộng ở bậc Tiểu học tại 63 tỉnh, thành phố, với gần 2000 trường
và gần 70.000 HS tham gia
1.1.2 Đặc điểm của mô hình trường học mới VNEN
Về cơ bản, mô hình trường học của EN và VNEN đều được xây dựng
dựa trên hai trụ cột lý thuyết giáo dục là Thuyết kiến tạo và Thuyết hoạt động Trong khi Thuyết kiến tạo chủ trương “ Mỗi người học là một chủ thể kiến tạo
tích cực, tự phản ánh, khám phá, cải tạo thế giới từ kinh nghiệm, hiểu biết riêng của mình Người ta không thể dạy một người nào đó, mà chỉ có thể giúp
đỡ, hỗ trợ để người đó tự mình khám phá, phát triển”, thì Thuyết hoạt động
nhấn mạnh: “ Con người tự sinh ra bản thân mình bằng hoạt động của chính mình Mỗi cá nhân bằng hoạt động của mình hình thành nên nhân cách và tạo
ra sự phát triển của bản thân” Theo Vưgôtxki, yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển tâm lí, nhân cách con người “ là hoạt động của chính con người”
Trang 15Mô hình này có những lợi thế trong việc tạo không khí dân chủ trong lớp học, trong nhà trường ; tạo niềm hứng thú cho HS , đảm bảo cho HS “ mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, đặc biệt nó có khả năng tạo điều kiện tốt nhất để HS hình thành và phát triển các năng lực và phẩm chất cần thiết như: tự lập, hợp tác, sáng tạo, tự tin,…
Mô hình trường học mới Việt Nam ( VNEN ) có nhiều nội dung: từ tổ chức lớp học đến thực hiện dạy học theo quy trình mới, trong đó, quan trọng nhất là biên soạn và thực hiện tài liệu Hướng dẫn học các bộ môn Sau đây là quy trình 5 bước của bài học theo VNEN ở cấp THCS:
( A ) Hoạt động khởi động
Mục đích của bước này là giúp HS tạo ra hứng thú để HS bước vào bài học mới ; huy động vốn kiến thức và kĩ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức
và kĩ năng mới
( B ) Hoạt động hình thành kiến thức mới
Mục đích của bước này là giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập / nhiệm vụ
Các tri thức ở hoạt động này thuộc cả ba phân môn trong SGK hiện hành: Đọc – hiểu, Tiếng Việt và Tập làm văn, được tiến hành theo trình tự sau:
Đọc văn bản
Mục này yêu cầu HS đọc, có mục Chú thích GV cần giao nhiệm vụ cho
HS đọc trước ở nhà; đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và một vài lưu ý trong chú thích
Trang 16- Thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận
- Thiết kế các hoạt động kích thích khám phá, sáng tạo…
Nội dung các bài tập / nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về nội dung, nghệ thuật, đặc điểm thể loại của văn bản Các hoạt động của HS trong mục này gồm: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, một số trường hợp có thể có hoạt động chung cả lớp
Tích hợp kiến thức Tiếng Việt
Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản, một số bài tập / nhiệm vụ yêu
cầu HS tìm hiểu các kiến thức tiếng Việt Các khái niệm thuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kĩ năng, giúp HS dễ tiếp nhận hơn Các mục “Ghi nhớ” trong SGK cũng được chuyển hóa sang bài tập củng cố hoặc
một chú ý mang tính tham khảo
Tích hợp kiến thức Tập làm văn
Các kiến thức tập làm văn cũng được dạy tích hợp với đọc – hiểu và tiếng Việt Cũng như phần kiến thức tiếng Việt, những nội dung lí thuyết tập làm văn được giảm tải và chuyển hóa thành kĩ năng
*Lưu ý:
- Khi tiến hành dạy học đọc – hiểu, cần đặc biệt lưu ý không biến mục này thành giờ giảng văn, thuyết trình, hay vấn đáp… như cách dạy học truyền thống
- Với những kiến thức Tiếng Việt và Tập làm văn, GV cũng không dùng phương pháp diễn giảng mà thông qua các bài tập / nhiệm vụ để HS tự giải quyết
Trang 17hiểu văn bản , tiếng Việt và Tập làm văn
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề như: giải nghĩa, tìm từ loại, xác định cấu tạo từ… trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống
- Tiếp tục rèn luyện kĩ năng Tập làm văn
Phần ứng dụng vẫn có thể sử dụng trong hoạt động trên lớp, nếu thấy
cần thiết và có thời gian ; giữa “ Hoạt động thực hành” và “ Hoạt động ứng
dụng” có mối quan hệ linh hoạt, không cứng nhắc
( E ) Hoạt động mở rộng ( tìm tòi mở rộng )
Mục đích của hoạt động này là tiếp tục mở rộng kiến thức, kĩ năng cho
HS Nội dung và hình thức bài tập / nhiệm vụ gồm:
- Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
- Trao đổi mới người thân về nội dung bài học như: kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện,…
- Tìm đọc trên internet một số nội dung theo yêu cầu
Các nhiệm vụ trong hoạt động bổ sung cũng được thiết kế cho HS tự làm việc ở nhà Mục đích của VNEN là đưa các thành viên gia đình và xã hội vào quá trình học tập của các em; đồng thời, yêu cầu các em sử dụng internet
để kết gắn với xã hội rộng lớn
Trang 18Với 5 bước hoạt động trên, VNEN thiết kế các loại hoạt động của HS bao gồm:
1.2 Các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới VNEN
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Nghiên cứu phương pháp dạy học đã được lí luận dạy học quan tâm từ
khi khởi thủy của nó, Johann Amó Comenius ( J.A.Komensky ) đã nhấn mạnh:
“ Mục tiêu đầu tiên và cuối cùng của lí luận dạy học của chúng ta là phải tìm ra và nhận biết phương pháp dạy học, ở phương pháp nào giáo viên ít phải dạy hơn, tuy nhiên học sinh lại học nhiều hơn, và ở phương pháp nào mà bầu không khí trong các trường học ít sự ồn ào, buồn tẻ và nỗ lực vô ích, có nhiều tự do, niềm vui và tiến bộ thật sự hơn” ( Didactica Magna, 1657 ) Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là con đường đi đến mục tiêu Theo đó, phương pháp dạy học là con đường để đạt mục tiêu dạy học và giáo dục Phương pháp dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách rời nhau một cách độc lập Cho đến nay không có sự thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học
Hilbert Meyer đưa ra một định nghĩa phương pháp dạy học được sử dụng rộng rãi ở Đức:
“ Các phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức, trong đó và
Trang 19bằng cách đó giáo viên và học sinh tiếp thu hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh dưới những điều kiện khung về thiết chế.” ( Meyer, 1987 )
Hiện thực tự nhiên và xã hội ở đây có nghĩa là nội dung dạy học, là đối tượng nhận thức Các điều kiện khung về thiết chế ở đây chỉ các điều kiện về
cơ sở đào tạo, trường học
Trong những nghiên cứu mới về dạy học, việc tạo môi trường học tập thích hợp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh được đặc biệt nhấn mạnh Theo đó có thể hiểu: PPDH là những cách thức và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những môi trường dạy học được tổ chức, nhằm đạt mục tiêu dạy học Mục tiêu chung của giáo dục là hình thành năng lực và phẩm chất cho người học Mục tiêu lĩnh hội tri thức, kĩ năng, hình thành tình cảm, thái độ trong từng bài học cần hướng đến mục tiêu chung là phát triển năng lực và phẩm chất
Như vậy khái niệm về phương pháp dạy học đươc khái quát như sau:
“ Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những môi trường dạy học được tổ chức, nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, thái độ, phát triển năng lực và phẩm chất.”
1.2.2 Khái niệm về phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới
Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động Mô hình VNEN đòi hỏi phát huy tính tích cực của cả người dạy và người học Thực chất phương pháp này đòi hỏi người dạy phải phát huy tính tích cực chủ động của người học
1.2.3 Các phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới
1.2.3.1 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh
Trong mô hình VNEN, học sinh – chủ thể của hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp đặt sẵn
Trang 20Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, học sinh trực tiếp quan sát, làm thí nghiệp, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ cá nhân, từ đó vừa nắm được kiến thức mới, kĩ năng mới vừa được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình
Dạy học theo mô hình VNEN xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội đang biến đổi nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học
và công nghệ đang phát triển như vũ bão thì việc dạy phương pháp học phải được quan tâm ngay từ đầu bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng được coi trọng
Đây là bước hữu hiệu để chuẩn bị cho lớp người kế túc thích ứng với xã hội học tập, trong đó mỗi người phải có năng lực học tập liên tục, suốt đời
1.2.3.2 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong phương pháp học tập hợp tác vẫn có giao tiếp thầy – trò nhưng nổi lên mối quan hệ trò – trò Thông qua sự hợp tác tìm tòi nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và
cả lớp
Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ, đều được hình thành bằng những hoạt động thuần túy cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới những tri thức mới
Việc học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp nhưng được sử dụng phổ biến nhất trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến
6 người
Trang 21Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên được bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết thái độ của mình, qua đó được tập thể uốn nắn, điều chỉnh, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng
Hoạt động trong tập thể nhóm, tập thể lớp sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, hiệu quả học tập sẽ tăng lên nhất là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ xác định
Trong hoạt động hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm nhưng mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể Trong nhóm nhỏ, mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, không thể ỷ lại vào người khác, toàn nhóm phải phối hợp với nhau để cuối cùng đạt mục tiêu chung
Kết quả làm việc của từng nhóm được trình bày thảo luận trước lớp sẽ tạo một không khí thi đua giữa các nhóm, đóng góp tích cực vào kết quả chung của bài học
Mô hình trường học mới Việt Nam đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội, trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự phân công hợp tác với tập thể cộng đồng
Trong xu hướng toàn cầu hóa, xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia thì năng lực hợp tác thực sự trở thành một mục tiêu đào tạo của giáo dục nhà trường
1.2.3.3 Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò
Trong mô hình VNEN, việc rèn luyện phương pháp học để chuẩn bị cho
học sinh học tập liên tục, suốt đời được xem như một mục tiêu giáo dục thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển khả năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan đến điều này, giáo viên phải tạo điều kiện để học sinh tham gia đánh giá lần nhau Việc học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau sẽ
Trang 22có tác dụng tích cực để học sinh tự học và điều chỉnh bản thân
Theo hướng phát triển của mô hình VNEN là để đào tạo ra những con
người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và góp phần phát triển cộng đồng thì việc kiểm tra phải khuyến khích trí thông minh, sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình, cộng đồng; rèn luyện cho các
em khả năng phát hiện và vận dụng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế Việc đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ có tác dụng thúc đẩy sự
đổi mới phương pháp dạy học
Tóm lại trong phương pháp dạy học theo mô hình VNEN, người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức
về sự giáo dục bản thân mình Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của các
em Vì những lẽ đó, mô hình VNEN nhấn mạnh dạy phương pháp học trong quá trình dạy học, cố gắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động
1.3 Những ưu điểm và hạn chế của dạy học theo mô hình trường học mới VNEN
1.3.1 Ưu điểm
Mô hình trường học mới ở việt nam là một dự án nhằm xây dựng và
nhân rộng mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm giáo dục của việt nam Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về
Trang 23mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy và
học, cách đánh giá, tổ chức và quản lí lớp học…
Học tập theo mô hình trường học mới, học sinh phát huy được 5 tự : tự học, tự sáng tạo, tự tin, tự giác và tự chủ Với phương pháp dạy học mới, học sinh sẽ trở thành người tự giáo dục một cách tự giác, chủ động, có ý thức Mô hình này nâng cao tính hợp tác trong cách làm việc nhóm hoặc tự quản sẽ gắn kết các học sinh lại với nhau Bên cạnh đó, với cách đánh giá kết quả học tập mới, học sinh sẽ không bị áp lực về điểm số vì giáo viên đánh giá học sinh qua nhận xét Thực hiện mô hình trường học mới là mở ra cơ hội gắn kết nhà trường với các đoàn thể, các giáo viên với phụ huynh… phụ huynh được trực tiếp tham gia giáo dục con em mình thông qua việc thực hành các kĩ năng cho các em
1.3.2 Nhược điểm
Chương trình, sách giáo khoa hiện hành khi áp dụng vào mô hình dạy
học này chưa phù hợp, nặng lý thuyết, lượng kiến thức trong một tiết học quá nhiều(quá tải); thời gian của một tiết học chỉ có 45 phút, lượng kiến thức cần cung cấp quá nhiều, mà trong 45 phút đó giáo viên và học sinh cùng lúc phải làm rất nhiều công việc, nếu giáo viên tổ chức thực hiện không tốt, sẽ dẫn đến kết quả ngược lại
Thực tế, đa số học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập; thiếu năng động, tiếp thu bài một cách thụ động, năng lực giao tiếp hạn chế, chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước tập thể, chưa biết tự học, tự nghiên cứu; một bộ phận khá đông học sinh còn yếu về ngôn ngữ nói; việc chuẩn bị bài cũ ở nhà còn hạn chế; …nên để tiết dạy thành công đòi hỏi giáo viên phải đầu tư rất nhiều thời gian và công sức để có thể huy động tất cả học sinh cùng làm việc
Trang 24Điều kiện cơ sở vật chất hiện tại chưa đảm bảo: phòng học thiếu không gian cho việc tổ chức các hoạt động theo nhóm; bàn ghế cũ và không phù hợp với dạy học theo mô hình mới; trang thiết bị cho từng phòng học cũng thiếu
Và khó khăn lớn hơn cả đó là: bản thân cả giáo viên và học sinh đều phải thay đổi thói quen dạy và học cũ để đến với thói quen dạy học mới; việc thay đổi một thói quen đã có từ lâu không phải là dễ
1.4 Tiểu kết chương 1
Trong mục này, khóa luận đã giới thiệu được đôi nét về mô hình trường
học mới, thấy được những phương pháp, ưu điểm và hạn chế của việc áp dụng mô hình trường học mới vào dạy học theo mô hình trường học mới
Khóa luận thấy rằng:
( 1 ) Mô hình trường học mới Việt Nam ( VNEN ) là một dự án có nhiều
ưu điểm, có thể vận dụng trong dạy học ở tất cả các trường THPT Trong phương pháp dạy học của VNEN, quy trình dạy học là một nhân tố cần được tiếp thu để vận dụng vào đổi mới phương pháp dạy học theo CT sau 2015, vì
nó tạo cơ chế cho HS làm việc, thuận lợi trong mục tiêu hình thành các phẩm chất và năng lực cốt lõi cho HS
(2 ) Trong thực tế, GV và HS THPT trong các bài đọc hiểu văn bản văn học đang gặp không ít khó khăn, đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, giúp họ hứng thú hơn, cảm thấy thiết thực hơn trong việc tổ chức các hoạt động học tập
Trang 25CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC GIỜ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN
2.1 Đọc – hiểu văn bản văn học
2.1.1 Đọc – hiểu
a Đọc là gì ?
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu
và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc
và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người
nghe
b Hiểu là gì ?
Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối
tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội
dung và có thể vận dụng vào đời sống
Cụ thể: hiểu là phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì ? Như thế nào ? Làm như thế nào ?
Trong các tác phẩm văn chương chúng ta cần phải hiểu:
- Nội dung của văn bản
- Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng
- Cần khẳng định được mục đích, ý đồ, nội dung hiện thực, tiền giả định,
sự khái quát hóa của tác giả trong văn bản
- Đánh giá được tư tưởng của tác giả
c “ Đọc hiểu “ là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là HS trong nhà trường
Theo GS Trần Đình Sử, đọc hiểu là giai đoạn tiếp nối giảng văn và sau
đó là phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường Tác giả chỉ ra sáu nội
Trang 26dung của đọc hiểu tác phẩm văn học như sau:
( 1 ) Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản ( gồm chuyển mã văn bản và giải mã văn bản )
( 2 ) Đọc là hoạt động tìm nghĩa và là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa
( 3 ) Đọc là hoạt động mang tính cá thể hóa cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc
Loại hình đọc – hiểu bao gồm:
- Đọc thành tiếng: tức hoạt động đọc sử dụng thị giác để tác động lên văn bản từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, đồng thời sử dụng trí óc để phân tích, tư duy, ghi nhớ Sau đó sử dụng cơ quan phát âm để phát ra thành tiếng nhằm mục đích hướng tới một đối tượng nghe nào đó
- Đọc thầm: tức là hoạt động sử dụng thị giác để tác động lên văn bản từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, đồng thời sử dụng trí óc để phân tích, tư duy, ghi nhớ
- Đọc mang tính chất nghệ thuật: về thực chất là việc đọc trong quá trình hình thành các cơ chế đọc
2.1.2 Đọc – hiểu văn bản văn học
Thuật ngữ văn học dùng để chỉ các loại văn học nghệ thuật bao gồm thơ
ca, tiểu thuyết, tản văn, kịch bản văn học, ký, kịch bản điện ảnh…
Khái niệm 1: Văn bản văn học là một tổ chức bằng ngôn ngữ, xoay
Trang 27quanh một chủ đề nhất định nhằm vào một định hướng giao tiếp nhất định
Khái niệm 2: Mỗi tác phẩm văn chương bao giờ cũng là một lời nhấn gửi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của nhà văn về cuộc đời và cuộc sống Bằng sáng tạo nghệ thuật theo phong cách riêng của mình, nhà văn tạo nên một hình thức độc đáo của tác phẩm, chứa đựng một nội dung nhất định, bao gồm yếu tố khách quan phản ánh và chủ quan biểu hiện, chuyển hóa, thâm nhập vào nhau, nhằm gây một tác động đặc biệt đến tâm hồn và tình cảm bạn đọc – đối tượng tạo nên mối liên hệ sinh mệnh của tác phẩm đối với đời sống
Đọc hiểu văn bản văn học trước hết là đọc hiểu văn bản ngôn từ, đọc
hiểu thông báo và đọc hiểu ý nghĩa Việc đọc hiểu ý nghĩa không chỉ dựa vào các liên hệ trong văn bản văn học, mà còn dựa vào ngữ cảnh khi tác phẩm được viết ra hoặc dựa vào ngữ cảnh khi người đọc đọc tác phẩm Đọc – hiểu văn bản văn học, giúp HS thấy được giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật, nghĩa văn bản của từ ngữ trong cấu trúc văn bản, tạo ra sự hiểu biết thấu đáo
về tác phẩm trên cơ sở thống nhất các tiền giả định ( vấn đề thể loại, hình tượng, hoàn cảnh diễn xướng, nguyên tắc xây dựng biểu tượng…), tăng cường khả năng kết nối kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, bởi đọc hiểu cũng
là một cách để người đọc vươn tới những chân trời rộng lớn và mới lạ của tri thức nhân loại
Vận dụng thành thạo nội dung đọc hiểu văn bản văn học sẽ góp phần thay đổi hệ hình phương pháp dạy học văn Cái mới ở đây là từng bước chuyển hóa việc giảng của một người thành việc đọc của nhiều người trong quá trình dạy học văn
2.2 Nguyên tắc thiết kế giờ dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo mô hình VNEN
Trang 282.2.1 Bám sát mục đích, yêu cầu của chương trình
Mục đích, yêu cầu của chương trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học
là sự cụ thể hóa mục tiêu dạy học phân môn đọc hiểu nói riêng và môn Ngữ văn ở THPT nói chung Dạy đọc hiểu văn bản văn học, ngoài giúp HS nắm vững đặc trưng từng thể loại, hiểu được đặc điểm nội dung, nghệ thuật của văn bản, GV còn phải quan tâm hình thành và phát triển năng lực hoạt động thực tế cho HS Nhiệm vụ liên hệ thực tế, liên hệ bản thân được đặt ra một cách bức thiết hơn đối với các loại văn bản khác
2.2.2 Bám sát đặc trưng của văn bản văn học
Văn bản văn học dùng trong đọc hiểu đó là những văn bản nghệ thuật
chứ không phải các văn bản hành chính – công vụ hay văn bản thống kê, thương mại… Do đó, nguyên tắc bám sát đặc trưng của văn bản văn học chính là sự nhấn mạnh tính chất thực dụng bên cạnh tính chất nghệ thuật của
các văn bản này
2.2.3 Tuân thủ có sáng tạo mô hình bài học của VNEN
Đề tài này học tập mô hình bài học của VNEN nhưng có sáng tạo Điều này thể hiện ở chỗ, nó vẫn giữ 5 hoạt động cơ bản trong mô hình bài học của VNEN, nhưng cách gọi tên có khác, và hơn nữa, có thêm đề xuất bước đánh giá ở cuối mỗi bài học
2.2.4 Định hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho HS
Mô hình VNEN cũng đã quan tâm đến việc “ định hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho HS”, tuy nhiên định hướng này thực chất
là một xu hướng mới, là sự triển khai Nghị quyết 29 – TW về “ đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam”
Trên nền tảng của các lí thuyết nêu trên, VNEN xác định các nguyên tắc vận hành của mô hình dạy học theo bốn định hướng sau:
- Định hướng về người học: HS là trung tâm của quá trình dạy học HS
Trang 29được hướng dẫn để tự thực hiện quá trình học tập với một chương trình tự học theo từng bước HS được phát huy tính tích cực để tìm tòi, khám phá tri thức
và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống HS được giao quyền tự quản
và tăng cường hợp tác trong quá trình học tập
- Định hướng về người dạy: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS học theo từng bước dựa trên tài liệu học, GV phải góp phần kiến tạo, duy trì và thúc đẩy một môi trường học tập tích cực, cởi mở, chú trọng tính hợp tác và cạnh tranh giữa các cá nhân HS
- Định hướng cho nhà trường: Nhà trường thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ HS và cộng đồng để cùng tham gia vào quá trình giáo dục
- Định hướng về chương trình, nội dung và hoạt động dạy học: Chương trình, nội dung và hoạt động dạy học phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống
2.3 Đề xuất quy trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học và khung giáo
án minh họa bài đọc hiểu văn bản văn học
2.3.1 Đề xuất quy trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Có thể hình dung tổng quát quy trình bài học mà đề tài này đề xuất gồm
6 bước:
Bước 1: Khởi động
a Mục đích của bước này là giúp HS:
- Tạo ra hứng thú để HS bước vào bài mới
- Huy động vốn kiến thức và kĩ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức
và kĩ năng mới Hoạt động này dựa trên cơ sở lập luận rằng: việc tiếp thu kiến thức mới bao giờ cũng dựa trên những kinh nghiệm trước đó Cho nên bước này còn gọi là “ kinh nghiệm” hay “ trải nghiệm”
b Nội dung, hình thức khởi động:
Hoạt động này có thể được thiết kế với những nội dung và hình thức
Trang 30sau:
- Câu hỏi bài tập: trong mỗi bài học, hoạt động khởi động thường gồm 1 – 3 câu hỏi, bài tập Các bài này thường yêu cầu HS quan sát tranh / ảnh để trao đổi với nhau về một vấn đề nào đó có liên quan đến bài học
- Cho HS xem video về cuộc đời, những thước phim hay có liên quan tới nội dung bài học
Các hoạt động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới
- Trò chơi
Một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thú trước khi vào bài học mới Các trò chơi này cũng có nội dung gắn với mỗi bài học Trong thực tế, việc thiết kế các trò chơi phù hợp với tâm lí lứa tuổi, lại gắn với môn học Ngữ văn quả là đang gặp nhiều khó khăn, vì ở THPT chưa
có truyền thống thiết kế các trò chơi như vậy Tuy nhiên, trong tương lai gần,
có thể sẽ có rất nhiều trò chơi được thiết kế một cách phong phú và sinh động
c Lưu ý
- Mục đích của phần khởi động chỉ giúp HS hình dung lại vốn kiến thức,
kĩ năng đã có, không nên biến thành nội dung ôn tập nặng nề
- Với mục đích gây hứng thú, cần tránh đi quá xa chủ đề hoặc quá kéo dài khiến HS mệt mỏi, sao nhãng việc tiếp thu kiến thức mới
- Cả hai mục đích của khởi động không chỉ dừng lại ở phần này mà vẫn tiếp tục trong suốt tiến trình của bài học Chẳng hạn, sự hứng thú sẽ còn được sinh ra từ chính nội dung bài học, cũng vậy những kiến thức mới sẽ giúp HS gợi lại những kiến thức cũ Do đó, cần xác định đúng mục đích, mức độ yêu cầu
Trang 31Bước 2: Hình thành kiến thức mới
a Mục đích của bước này giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập / nhiệm vụ
b Nội dung và hình thức của bài tập / nhiệm vụ:
Các nội dung chính của hoạt động hình thành kiến thức mới có thể được tiến hành theo trình tự sau:
Đọc văn bản và phần chú thích: GV có thể giao nhiệm vụ cho HS đọc trước ở nhà; đến lớp chỉ kiểm tra, đọc lại một đoạn / bài ngắn và lưu ý một vài chú thích ( nếu cần )
Tìm hiểu văn bản: cũng như trong mô hình VNEN, mục này có thể thiết kế các bài tập / nhiệm vụ cho HS khi tìm hiểu văn bản theo một số hình thức dưới đây:
- Sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập / nhiệm vụ lớn hơn
- Thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận
- Thiết kế hoạt động kích thích khám phá, sáng tạo…
Nội dung các bài tập / nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về nội dung, nghệ thuật, đặc điểm thể loại của văn bản Với văn bản văn học, cần tập trung vào các nhiệm vụ chính như sau:
- Tìm hiểu xuất xứ văn bản ( tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác…)
- Tóm tắt nội dung văn bản
- Phát hiện cấu trúc nghĩa của văn bản: từ ý nghĩa của đoạn, câu…, khái quát hóa để tìm ra nội dung tư tưởng hoặc chủ ý của tác giả
- Phát hiện đặc điểm nghệ thuật của văn bản, gắn nghệ thuật với thể loại ( truyện ngắn hay bút kí, tùy bút…), đồng thời gắn với đặc điểm của kiểu văn bản ( nhấn mạnh sự gắn bó với các vấn đề thực tiễn của văn bản văn học )
- Cuối hoạt động này, nên có mục Ghi nhớ để HS chốt lại kiến thức trong bài học
Trang 32Khác với cách dạy đang thịnh hành hiện nay là sử dụng phương pháp vấn đáp hay thuyết trình, quy trình này đòi hỏi GV phải thiết kế các hoạt động cho HS dưới các hình thức hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả lớp…
ra các bài tập / nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ
đó năng dần sự hiểu biết của HS
Bước 3: Thực hành ( luyện tập )
a Mục đích của hoạt động này giúp HS củng cố và rèn luyện các kĩ năng đã có, hình thành những kĩ năng mới thông qua hệ thống các bài tập / nhiệm vụ
Đây là một nội dung trọng tâm khác của bài học
b Nội dung và hình thức bài tập / nhiệm vụ
Hoạt động thực hành gồm các bài tập / nhiệm vụ yêu cầu HS củng cố tri
thức vừa học và rèn luyện các kĩ năng liên quan/
Các bài tập / nhiệm vụ trong Hoạt động thực hành tập trung hướng đến việc hình thành các kĩ năng cho HS, khác với các bài tập Hoạt động hình thành kiến thức mới hướng tới việc khám phá tri thức
Các kĩ năng trong phần thực hành gồm:
- Nhận diện thể loại văn bản ( Ghi nhớ đặc trưng thể loại, vận dụng các đặc trưng đó để nhận diện thể loại trong chính văn bản đang học ) ;
- Phân tích cấu trúc nội dung văn bản, bao gồm:
+ Xác định ý nghĩa của các câu từ, đoạn văn…
Trang 33+ Khái quát hóa để tìm ra ý nghĩa chủ đạo ;
+ So sánh, suy luận để tìm ra tư tưởng của tác giả
- Phân tích đặc điểm nghệ thuật của văn bản bao gồm:
+ Phát hiện tác dụng của các chi tiết nghệ thuật ;
+ Phát hiện các chi tiết, yếu tố nghệ thuật có giá trị nổi bật ;
+ So sánh để tìm ra đặc điểm riêng của văn bản, phong cách nhà văn…
c Lưu ý
- Các nhiệm trong Hoạt động thực hành cũng được thiết kế cho HS,
không soạn dưới dạng câu hỏi vấn đáp hay tạo điều kiện cho GV thuyết trình
b Nội dung và hình thức bài tập / nhiệm vụ
Trong chương trình SGK khối THPT, các bài tập ứng dụng trong đọc
hiểu văn bản văn học còn rất đơn giản
- Ứng dụng đọc hiểu các tác phẩm văn học cùng kiểu loại Cụ thể: GV có thể thiết kế các bài tập / nhiệm vụ trong đó yêu cầu HS đọc hiểu một hay một
số văn bản cùng kiểu loại khác
- Ứng dụng giải quyết các tình huống trong cuộc sống “ Cuộc sống” được hiểu một cách phù hợp với lứa tuổi học sinh THPT, nghĩa là có thể bao
Trang 34- Phần ứng dụng được thiết kế cho hoạt động trên lớp hoặc ở nhà
- Mối quan hệ giữa Hoạt động thực hành và Hoạt động ứng dụng có
sự linh hoạt, không cứng nhắc
b Nội dung và hình thức bài tập / nhiệm vụ
- Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện…
Đây là yêu cầu bắt buộc, tạo ra cơ chế gắn kết hoạt động giáo dục của nhà trường với hoạt động giáo dục của gia đình và xã hội, tạo cơ hội để gia đình quan tâm và tham gia giáo dục con em mình
- Tìm đọc trên in – ter – net một số nội dung gắn liền với chủ đề và thể loại Đây cũng là yêu cầu quan trọng giúp gắn kết HS với xã hội rộng lớn qua mạng in – ter – net và cũng là cách để giúp các em phát triển kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin
c Lưu ý
Không phải bài học nào cũng đảm bảo đủ các nội dung như vừa trình