1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trong công tác thí nghiệm chẩn đoán ngăn ngừa sự cố cho lưới điện phân phối

79 119 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trong công tác thí nghiệm chẩn đoán ngăn ngừa sự cố cho lưới điện phân phối” được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên, có thể áp

Trang 1

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, các Thầy giáo, Cô giáo của Trường Đại học Điện lực, Viện Năng Lượng

đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Tổng Công ty Điện lực miền Nam – Công ty Thí nghiệm điện miền Nam, cùng các đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 7 năm 2015

Học viên

Phan Nam Thanh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Phan Nam Thanh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 2

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7

MỞ ĐẦU 8

Chương 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THÍ NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NGĂN NGỪA SỰ CỐ CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 11

1.1 Khái niệm cơ bản 11

1.1.1 Lưới điện phân phối 11

1.1.2 Chất lượng điện năng lưới phân phối 11

1.1.3 Một số thiết bị chủ yếu trong lưới phân phối 12

1.1.3.1 Máy Biến áp lực 12

1.1.3.2 Máy cắt 13

1.1.3.3 Cáp lực 13

1.1.3.4 Dao cách ly thường 14

1.1.3.5 Dao cách ly tự động 14

1.1.3.6 Cầu dao phụ tải 14

1.1.4 Độ tin cậy 15

1.1.5 Bảo dưỡng định kỳ 17

1.1.6 Sự cố tiềm ẩn 19

1.1.6.1 Các dạng sự cố tiềm ẩn trong Cáp lực 19

1.1.6.2 Các dạng sự cố tiềm ẩn trong MBA 19

1.1.7 Thí nghiệm chẩn đoán 20

1.2 Cơ sở lý luận thực tiễn của công tác ngăn ngừa sự cố 20

1.2.1 Ý nghĩa, mục đích 20

1.2.2 Thực tiễn áp dụng tại Việt nam 21

1.2.3 Thực tiễn đã áp dụng trên thế giới 24

1.3 Kết luận chương 1 26

Chương 2 27

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THÍ NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NGĂN NGỪA SỰ CỐ CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 27

2.1 Đặc điểm lưới điện phân phối 27

2.2 Hiện trạng thiết bị 28

2.2.1 Đặc điểm 28

2.2.2 Chế độ vận hành 29

2.2.3 Chế độ bảo dưỡng định kỳ 33

2.3 Hiện trạng về công tác thí nghiệm 34

2.3.1 Năng lực thí nghiệm 35

2.3.1.1 Năng lực thí nghiệm các hạng mục thông thường: 36

Trang 4

2.3.1.2 Năng lực thí nghiệm chẩn đoán: 40

2.3.2 Nghiên cứu các phương pháp thí nghiệm chẩn đoán 41

2.3.2.1 Kỹ thuật đo phóng điện cục bộ (PD): 41

2.3.2.2 Kỹ thuật phân tích độ ẩm cách điện rắn: 43

2.3.2.3 Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số: 44

2.3.2.4 Phương pháp thí nghiệm điện áp xoay chiều tăng cao tần số rất thấp 45

2.3.3 Các quy định về thí nghiệm định kỳ 46

2.4 Yêu cầu phụ tải và các chỉ tiêu tin cậy cung cấp điện 47

2.4.1 Yêu cầu phụ tải 47

2.4.1.1 Chất lượng điện năng lưới điện phân phối 47

2.4.1.2 Thử nghiệm để đưa vào vận hành thiết bị sau điểm đấu nối 48

2.4.1.3 Kiểm tra và giám sát vận hành các thiết bị đấu nối 49

2.4.1.4 Thay thế thiết bị tại điểm đấu nối 50

2.4.2 Các chỉ tiêu tin cậy cung cấp điện 50

2.5 Kết luận chương 2 55

Chương 3 56

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘ TIN CẬY TRONG CÔNG TÁC THÍ NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NGĂN NGỪA SỰ CỐ CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 3.1 Giải pháp đầu tư thiết bị 56

3.1.1 Đầu tư mới 56

3.1.1.1 Thiết bị chính cho lưới điện phân phối: 56

3.1.1.2 Thiết bị thí nghiệm chẩn đoán 56

3.1.2 Đầu tư phát triển mở rộng 60

3.2 Giải pháp Thí nghiệm chẩn đoán 61

3.2.1 Thí nghiệm thiết bị chính 61

3.2.1.1 Máy Biến Áp: 61

3.2.1.2 Hệ thống GIS: 63

3.2.2 Thí nghiệm các thiết bị phụ trợ 64

3.2.2.1 Cáp lực: 64

3.2.2.2 Tủ hợp bộ và các thiết bị đóng cắt: 65

3.3 Giải pháp quản lý 65

3.3.1 Công tác Tổ chức 65

3.3.2 Công tác quản lý vận hành 67

3.3.3 Công tác Đào tạo 67

3.3.4 Phân cấp quản lý 69

3.3.4.1 Tập đoàn điện lực 69

3.3.4.2 Các Tổng công ty điện lực 70

3.3.4.3 Đơn vị quản lý vận hành 70

3.3.4.4 Đơn vị thí nghiệm 70

3.4 Kết luận chương 3: 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 77

Trang 5

Phụ lục 1 77

Các kết quả nâng cao độ tin cậy mà Công ty Điện lực Singapore đạt được khi áp dụng bảo dưỡng phòng ngừa 77

Phụ lục 2 79

Bảng thống kê số lượng chủng loại các MBA 110kV đang vận hành trên lưới do Tổng Công ty Điện lực miền Nam quản lý 79

Phụ lục 3………80

Bảng thống kê thiết bị thí nghiệm……….80

Phụ lục 4………90

Các tiêu chuẩn hiện hành: TCVN, IEC,………90

Phụ lục 5………91

Giới thiệu các phương pháp chẩn đoán……….91

Phụ lục 6……… 117

Các tiêu chuẩn đánh giá thiết bị chẩn đoán……….117

Phụ lục 7……… 124

Các kết quả chẩn đoán đạt được……… 124

Trang 6

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Trang Bảng 1 - Số lượng hư hỏng trong các năm 2012, 2013, 2014 theo Nhà sản

xuất, tính tỉ lệ hư hỏng so với vận hành trên lưới

30

Bảng 2 - Thống kê các dạng hư hỏng MBA trong các năm vừa qua: hư hỏng

do có sự cố ngắn mạch ngoài lưới, tự hư hỏng

31

Bảng 3 - Thống kê dạng hư hỏng cuộn dây: hư hỏng cuộn 110kV và/hoặc

22kV, hư hỏng cuộn tam giác và dạng khác

Trang 7

IEEE Institute of Electrical and Electronic Engineers

XLPE cross-linked polyethylene

DGA Dissolved Gas Analysis

SFRA Sweep Frequency Response Analysis

DFR Dielectric Frequency Response

GIS Gas Insulated Substation

GST Ground Speciment Test (Sơ đồ đo có nối đất)

UST Unground Speciment Test (Sơ đồ đo không nối đất)

TTĐĐ HTĐ Trung Tâm Điều độ Hệ thống điện

IRC Isothermal Relaxation Current (dòng phục hồi đẳng nhiệt) RVM Return voltage measurements (Đo điện áp rơi)

HFCT Hight Frequency Current Transfomer

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhiệm vụ của hệ thống điện là sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng đến các hộ tiêu thụ, trong đó phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng điện năng theo quy định và có độ tin cậy cung cấp điện hợp lý Độ tin cậy cung cấp điện là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phải tính đến khi quy hoạch, thiết kế và vận hành hệ thống điện, đảm bảo hệ thống điện được phát triển tối

ưu và vận hành đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

Hệ thống điện Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam theo điều kiện địa hình đất nước, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa bão nhiều gây ra nhiều sự cố cho việc vận hành hệ thống điện Trong những năm qua, hệ thống điện Việt Nam có sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô công suất, các thiết bị phân phối điện phát triển mạnh,

đã đặt ra những vấn đề cấp thiết về việc đảm bảo độ tin cậy của hệ thống điện Độ tin cậy cung cấp điện kém, thường xuyên xảy ra sự cố, hỏng hóc…Vì vậy, cần được quan tâm tính toán, phát triển lĩnh vực thí nghiệm chẩn đoán, đề xuất các biện pháp giảm sự cố, nâng cao độ tin cậy đảm bảo các tiêu chuẩn điện năng theo quy định

Thiết bị điện trong lưới điện đang vận hành bình thường, vẫn có thể tiềm

ẩn các hư hỏng mà các thử nghiệm thông thường (routine test) không thể phát hiện được Các hư hỏng tiềm ẩn này có thể bất ngờ tạo nên một sự cố lớn gây hư hỏng thiết bị, ảnh hưởng đến độ tin cậy cung cấp điện, gây thiệt hại lớn về kinh tế do gián đoạn truyền tải và phân phối Thí nghiệm chẩn đoán hư hỏng thiết bị điện đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thí nghiệm cao áp Với dữ liệu đo được, có thể đánh giá được chính xác tình trạng của cách điện trong các thiết bị như: Cáp lực, tủ hợp bộ, máy biến áp…Tuy nhiên, hiện nay tại Việt nam, lĩnh vực này chưa được phát triển mạnh Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và đề xuất một số giải pháp kết hợp hữu hiệu như: Phương pháp phân tích hàm lượng khí hóa tan trong dầu, Phương pháp đo phóng điện cục bộ, phương pháp phân tích đáp ứng tần số, cũng như các giải pháp nâng cao năng lực thí nghiệm chẩn đoán là thật sự cần

Trang 9

thiết

Luận văn: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trong công tác thí nghiệm chẩn đoán ngăn ngừa sự cố cho lưới điện phân phối” được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên, có thể áp dụng trực tiếp cho lưới điện phân phối phía Nam nói riêng và cả nước nói chung

Trong luận văn, phương pháp chủ yếu được áp dụng là phân tích số liệu, đánh giá độ tin cậy lưới điện phân phối, đặc điểm các thiết bị chính trên lưới điện hiện nay để đề ra giải pháp ngăn ngừa sự cố

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp cùng thực tiễn, có thể đề xuất các giải pháp triển khai đầu tư, tổ chức, đào tạo và sử dụng các thiết bị chẩn đoán vào công tác ngăn ngừa sự cố lưới điện phân phối

Đề xuất giải pháp tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho các nhân viên thuộc các đơn vị thí nghiệm và sửa chữa thiết bị điện Phát triển nguồn nhân lực thí nghiệm, sửa chữa điện, đáp ứng tốt yêu cầu công việc, làm chủ thiết

bị, đặc biệt là thiết bị công nghệ mới, tập trung chú trọng khâu nguồn lực đầu vào

và đào tạo tại chỗ làm nền tảng, cơ sở để củng cố phát triển nâng cao năng lực lao động Nâng cao chất lượng công tác thí nghiệm chẩn đoán, bảo đảm sự chủ động,

xử lý nhanh sự cố và tình trạng bất thường trên lưới điện phân phối đáp ứng yêu cầu vận hành tin cậy lưới điện trong điều kiện thị trường điện cạnh tranh sắp tới

3 Đối tượng nghiên cứu

Lưới điện phân phối (các cáp lực phân phối cấp điện áp trung áp, tủ hợp

bộ, các máy biến áp phân phối,…) Sự ảnh hưởng của các đường cáp lực và máy biến áp đến độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối và các hộ phụ tải

4 Phạm vi nghiên cứu

Tình trạng một số thiết bị chính trên lưới điện phân phối và công tác thí nghiệm chẩn đoán tại Tổng Công ty Điện Lực miền Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý thuyết về lưới phân phối, thực tiễn về năng lực thí nghiệm

Trang 10

chẩn đoán trong và ngoài nước, các phương pháp nghiên cứu và tính toán độ tin cậy

- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập dữ liệu;

- Phân tích, xử lý số liệu;

- Đánh giá thông qua số liệu thực tiễn;

- Tính toán, phân tích phương án/ giải pháp

- Tham khảo ý kiến, kinh nghiệm của các chuyên gia về lĩnh vực chẩn đoán

Chương 2 Phân tích hiện trạng lưới điện phân phối

Chương 3 Đề xuất giải pháp nâng cao độ tin cậy trong công tác thí nghiệm chẩn đoán ngăn ngừa sự cố cho lưới điện phân phối

Kết luận chung và kiến nghị

Danh sách các tài liệu tham khảo

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THÍ NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NGĂN NGỪA SỰ CỐ CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI

1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1 Lưới điện phân phối

Nguồn cấp điện chính cho LPP hiện nay là từ các thanh cái phía hạ áp của các trạm biến áp trung gian, ngoài ra trong LPP còn có các nguồn điện được huy động hoặc dự phòng là các trạm phát diesel, trạm phát điện năng lượng tái tạo… Tùy thuộc vào yêu cầu của hệ thống điện, mỗi nguồn điện khác nhau đều có ảnh hưởng nhất định đến độ tin cậy của hệ thống điện

Lưới phân phối được chia thành 2 phần gồm lưới phân phối trung áp và lưới phân phối hạ áp, với các dạng sơ đồ cơ bản là sơ đồ hình tia và sơ đồ mạch vòng – vận hành hở Qua nhiều thời kỳ lịch sử, lưới phân phối trung áp ở Việt Nam tồn tại khá nhiều cấp điện áp: 35kV, 22kV, 10kV, 6kV, một số nơi sử dụng cấp điện áp 15kV, kèm theo đó là khối lượng rất lớn các thiết bị điện, trong đó có thiết bị phân đoạn với các cấp điện áp tương ứng trên lưới điện [1, 2]

1.1.2 Chất lượng điện năng lưới phân phối

Chất lượng điện năng bao gồm các chỉ tiêu tần số, điện áp, sóng hài, cân bằng pha, mức điện áp nhấp nháy,… Với lưới điện phân phối tập trung vào chỉ tiêu chất lượng điện áp, sóng hài, cân bằng pha, mức điện áp nhấp nháy

Cùng với sự phát triển mạnh của nền kinh tế, đặc biệt là ngành điện các phụ tải không ngừng tăng lên, các thiết bị hiện đại đòi hỏi hiệu năng cao và yêu cầu ngày càng khắt khe đối với tiêu chuẩn cung cấp điện Vấn đề chất lượng điện năng càng trở nên quan trọng đối với các đơn vị điện lực lẫn khách hàng tiêu thụ điện Yêu cầu đặt ra khi thiết kế, vận hành lưới điện phân phối là làm thế nào để cung cấp năng lượng điện đến khách hàng liên tục, tin cậy, chất lượng và đảm bảo tính kinh tế Các yêu cầu đó thể hiện trong các tiêu chuẩn cụ thể là: chất lượng điện năng, độ tin cậy cung cấp điện

Trang 12

Trong vận hành, lưới phân phối được đánh giá thường xuyên dựa trên công tác theo dõi thông số, số liệu vận hành, kinh doanh điện năng từ đầu lộ xuất tuyến đến các nút phụ tải Trên cơ sở số liệu thu thập được, thực hiện tính toán lưới điện,

đề ra các biện pháp làm tăng chất lượng làm việc của lưới phân phối hoặc kịp thời sửa chữa cải tạo lưới sao cho các chỉ số tính toán không vượt quá giá trị cho phép Các tiêu chuẩn chất lượng còn dùng để đánh giá hiệu quả của hệ thống quản lý vận hành lưới phân phối như: tổ chức sửa chữa định kỳ, bảo quản thiết bị, khắc phục sự cố, dự phòng thiết bị… [5]

1.1.3 Một số thiết bị chủ yếu trong lưới phân phối

1.1.3.1 Máy Biến áp lực

Máy biến áp là một thiết bị điện từ tĩnh, làm việc trên nguyên lý cảm ứng điện từ, biến đổi điện áp xoay chiều từ cấp này sang cấp khác với tần số không đổi, để phù hợp cho việc truyền tải hoặc phân phối Máy biến áp thường dùng trong LPP hiện nay là MBA hai cuộn dây

Qua thực tế Vận hành, nguyên nhân chính gây nên hư hỏng ở các máy biến

áp trên lưới điện được thống kê và phân loại như sau :

- Do quá trình sản xuất (chưa hoàn thiện ở khâu thiết kế, các vấn đề liên

quan đến công nghệ chế tạo, các vấn đề liên quan đến vật liệu,…)

- Do quá trình vận chuyển, bảo quản và vận hành (các vấn đề về vận chuyển, bảo quản và lắp đặt; bảo dưỡng không đúng quy định, quá tải thường xuyên, chế độ làm mát chưa phù hợp; ảnh hưởng của dòng ngắn mạch do sự cố các phát tuyến trung thế, ảnh hưởng của các quá điện áp trên lưới)

Thử nghiệm máy biến áp sẽ phải tuân thủ theo khuyến cáo của nhà sản xuất

và tiêu chuẩn công nghiệp Thử nghiệm định kỳ nằm trong kế hoạch bảo dưỡng phòng ngừa bao gồm: Kiểm tra cách điện, thử nghiệm tgδ, quét hồng ngoại cho các đầu cực sứ xuyên, chụp sóng bộ đổi nấc, phân tích hàm lượng khí hòa tan trong dầu, Căn cứ vào kết quả phân tích hàm lượng khí hóa tan trong dầu, đề xuất một số thử nghiệm theo tiêu chuẩn công nghiệp đối với các cuộn dây chính

và lõi từ [1, 6]

Trang 13

1.1.3.2 Máy cắt

Máy cắt điện là thiết bị đóng cắt cả trong chế độ bình thường và sự cố

Do yêu cầu tự động hoá nâng cao độ tin cậy và ổn định lưới điện phân phối, khi hệ thống thông tin điều khiển từ xa phát triển hoàn thiện hơn thì việc lắp đặt máy cắt hoặc các thiết bị có khả năng điều khiển từ xa và khả năng đóng cắt có tải

là một xu hướng để nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đảm bảo sự liên tục cung cấp điện và ổn định hệ thống điện Bên cạnh tính ưu việt đó, việc sự cố máy cắt làm ảnh hưởng đến độ tin cậy cũng có thể xảy ra, cần phải có kế hoạch bảo dưỡng ngăn ngừa thích hợp

Hầu hết việc bảo dưỡng máy cắt ngoại trừ quét hồng ngoại đều được ngắt điện trước khi thực hiện Các thiết bị đóng cắt được thử nghiệm theo các khuyến nghị của nhà sản xuất và tiêu chuẩn công nghiệp thử nghiệm điện trở tiếp xúc và phân tích chuyển động được khuyến nghị nhiều cho các máy cắt đang vận hành theo 1 lịch trình định trước để giám sát cơ cấu truyền động Kiểm tra độ ẩm khí SF6 trong máy cắt cũng được thực hiện theo định kỳ Các đồng hồ đo và áp lực kế được cân chỉnh hàng năm Hướng dẫn của nhà sản xuất được thực hiện nghiêm túc trong thử nghiệm điện áp AC đối với buồng cắt chân không để tránh bức xạ tia X, [1, 7]

Các dạng hư hỏng có thể gặp ở cáp ngầm bao gồm: chạm đất một pha, ngắn mạch nhiều pha, đứt lõi dẫn dòng, ngắn mạch chập chờn và các dạng hư hỏng

Trang 14

phức tạp là tổ hợp của các dạng hư hỏng trên

Việc nghiên cứu về những hư hỏng và phát triển các phương pháp xác định,

dò tìm sự cố chính xác của cáp ngầm đang được áp dụng Những kỹ thuật dò tìm

hư hỏng tại chỗ và các phương pháp xác định sự cố chính xác đã được phát triển đối với hệ thống phân phối trên không Tuy nhiên, công nghệ xác định và dò tìm

hư hỏng đối với hệ thống cáp ngầm vẫn đang trong giai đoạn phát triển [1, 2]

1.1.3.4 Dao cách ly thường

Dao cách ly thường có ưu điểm là giá thành rẻ, phù hợp với lưới điện trên không, tuy nhiên có nhược điểm là không đóng cắt có tải được và không điều khiển từ xa được Quy trình thao tác DCL mất nhiều thời gian do phải thao tác máy cắt đầu nguồn, khi xảy ra sự cố quá trình thao tác đóng cắt máy cắt, DCL thường lặp lại nhiều lần dẫn đến giảm tuổi thọ của thiết bị và giảm độ tin cậy cung cấp điện

1.1.3.5 Dao cách ly tự động

DCLTĐ khác với DCL thường ở chỗ có thể điều khiển từ xa, khi xảy ra sự

cố bằng thao tác đóng cắt từ xa có thể xác định và cách ly phân đoạn sự cố, ưu điểm này của DCLTĐ giúp đơn vị Quản lý Vận hành giảm thời gian tìm kiếm xác định sự cố và thời gian gián đoạn cung cấp điện

1.1.3.6 Cầu dao phụ tải

CDPT là thiết bị đóng cắt có tải được sử dụng tương đối phổ biến hiện nay

ở các khu vực các đô thị có lưới điện phân phối trung áp ngầm CDPT có thể đóng cắt có tải nên khi thao tác không cần phải cắt điện, tránh hiện tượng mất điện không cần thiết của các phụ tải khi phải đổi nguồn, san tải hoặc cắt điện một phần lưới điện để thao tác

Điểm hạn chế của CDPT là không kết hợp được với các điểu khiển từ xa, các thiết bị bảo vệ thời gian thao tác cô lập sự cố lâu do phải thao tác tại chỗ Tuy nhiên với ưu điểm có khả năng đóng cắt có tải, giá thành thấp, trong các trường hợp ngừng điện theo kế hoạch, CDPT có ưu điểm hơn hẳn so với các thiết bị như

Trang 15

DCL thường, CDPT nhờ khả năng đóng cắt có tải nên được sử dụng rộng rãi ở các khu vực có mật độ phụ tải cao

1.1.4 Độ tin cậy

Độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối được hiểu là khả năng của

hệ thống cung cấp đầy đủ và liên tục điện năng cho hộ tiêu thụ, với chất lượng điện năng (điện áp và tần số) đảm bảo (đúng quy định)

Một số công ty Điện lực ở các nước đã xây dựng các chỉ số chất lượng để theo dõi độ tin cậy vận hành của hệ thống Các chỉ số chất lượng này có thể dùng

để so sánh chất lượng phục vụ giữa các công ty, giữa các đơn vị trong cùng công

ty hay dùng để so sánh trực tiếp chất lượng trước và sau cải tạo của một xuất tuyến hay của cả một hệ thống Tổ chức IEEE của Mỹ đã xây dựng một số chỉ tiêu để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện, cụ thể như sau :

- Các chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy về mặt mất điện kéo dài:

1 Chỉ tiêu tần suất mất điện trung bình của hệ thống (System Average Interruption Frequency Index - SAIFI): Chỉ tiêu này cung cấp thông tin về số lần mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm

2 Chỉ tiêu thời gian mất điện trung bình của hệ thống (System Average Interruption Duration Index - SAIDI): Chỉ tiêu này cung cấp thông tin về thời gian (phút hoặc giờ) mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm

3 Chỉ tiêu thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average Interruption Duration Index - CAIDI): Chỉ tiêu này thể hiện thời gian trung bình cần để phục hồi cung cấp điện cho khách hàng trong một lần mất điện (vĩnh cửu)

4 Chỉ tiêu tổng thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer Total Average Interruption Duration Index - CTAIDI): Đối với khách hàng thực tế đã mất điện, chỉ tiêu này thể hiện tổng thời gian trung bình khách hàng trong thông báo bị mất điện Chỉ tiêu này được tính toán như chỉ tiêu CAIDI, trừ việc khách hàng bị mất điện nhiều lần chỉ được tính một lần

5 Chỉ tiêu tần suất mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average

Trang 16

Interruption Frequency Index - CAIFI): Chỉ tiêu này thể hiện số lần mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm

6 Chỉ tiêu sẵn sàng cấp điện trung bình (Average Service Availability Index ASAI): Chỉ tiêu này thể hiện thời gian trung bình (thường tính bằng %) mà khách hàng được cung cấp điện trong vòng một năm Được định nghĩa là tỉ số giữa tổng

số giờ của khách hàng được cung cấp trong năm và tổng số giờ khách hàng yêu cầu (số giờ khách hàng yêu cầu = 24giờ/ngày * 365 ngày = 8760 giờ )

7 Chỉ tiêu tần suất mất điện trung bình của hệ thống (Average System Interruption Frequency Index - ASIFI) về mặt phụ tải: Được định nghĩa là tỉ số giữa tổng số công suất (kVA) bị gián đoạn trên tổng số công suất (kVA) được cung cấp Đây là chỉ tiêu quan trọng đối với các khu vực cấp điện chủ yếu cho ngành công, thương nghiệp Chỉ tiêu này cũng được sử dụng bởi các công ty không có hệ thống theo dõi khách hàng

8 Chỉ tiêu thời gian trung bình mất điện của hệ thống (Average System Interruption Duration Index - ASIDI) về mặt phụ tải: Được định nghĩa là tỉ số giữa tổng điện năng không cung cấp được (do bị gián đoạn cung cấp điện) trên tổng số công suất (kVA) được cung cấp

9 Chỉ tiêu tần suất mất điện trung bình của khách hàng (Customers Experiencing Multiple Interruptions - CEMIn): Chỉ tiêu này để theo dõi số sự kiện (n) những lần mất điện đối với một khách hàng nào đó Mục đích là xác định sự phiền toái cho khách hàng mà giá trị trung bình không thấy được

- Các chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy về mặt mất điện thoáng qua:

1 Chỉ tiêu tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống (Momentary Average Interruption Frequency Index - MAIFI): Chỉ tiêu này cung cấp thông tin

về số lần mất điện thoáng qua trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm

2 Chỉ tiêu tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống (Momentary Average Interruption event Frequency Index - MAIFIE): Chỉ tiêu này cung cấp thông tin về con số trung bình của các sự kiện mất điện thoáng qua của một khách

Trang 17

hàng (trong một khu vực) trong một năm

3 Chỉ tiêu tần suất mất điện (thoáng qua và kéo dài) trung bình của khách hàng (Customers Experiencing Multiple Sustained Interruptions and Momentary Interruptions events-CEMSMIn): Chỉ tiêu này để theo dõi số sự kiện (n) những lần mất điện thoáng qua và kéo dài đối với một khách hàng nào đó Mục đích là xác định sự phiền toái cho khách hàng mà giá trị trung bình không thấy được

- Một số chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy cung cấp điện khác:

1 Chỉ tiêu độ không sẵn sàng cấp điện trung bình (Average Service Unavailability Index - ASUI);

2 Chỉ tiêu điện năng không cung cấp (Energy Not supplied Index - ENS);

3 Chỉ tiêu điện năng không cung cấp trung bình (Average Energy Not supplied Index - AENS).[4]

Phần lớn các nước trên thếi giới đang áp dụng các chỉ tiêu SAIFI, SAIDI, CAIFI, CAIDI để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện Hiện nay, Việt Nam đang triển khai áp dụng các chỉ số SAIDI, SAIFI, MAIFI để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện

1.1.5 Bảo dưỡng định kỳ

Bảo dưỡng thường xuyên là những hoạt động theo một lịch trình dự kiến theo thời gian hoặc các chỉ số trên đồng hồ dựa trên chiến lược bảo dưỡng phòng ngừa hay dự đoán Ví dụ như: kiểm tra bên ngoài, quét hồng ngoại, vệ sinh, kiểm tra chức năng, đo số lần vận hành, dầu bôi trơn, thử nghiệm dầu,

Thử nghiệm Bảo dưỡng - Các hoạt động có liên quan đến việc sử dụng các thiết bị thử nghiệm để đánh giá tình trạng ở trạng thái ngưng vận hành (off-line) Những hoạt động này có thể dự đoán, để lên kế hoạch và ngân sách Chúng có thể được thực hiện vào một thời gian hoặc dựa vào chỉ số đồng hồ đo, nhưng có thể được thực hiện trùng với việc dừng thiết bị theo lịch trình Vì các hoạt động này có thể dự đoán được, nên người ta xem chúng là "bảo dưỡng định kỳ" hay "bảo dưỡng phòng ngừa"

Các chế độ bảo dưỡng có thể phân loại như sau:

Trang 18

1-Bảo dưỡng và kiểm tra khi cần:

Với chế độ hoạt động này việc kiểm tra và bảo dưỡng thiết bị được tiến hành không thường xuyên hoặc định kỳ theo lịch trình Các nguy cơ hư hỏng thường được sửa chữa kịp thời Tuy vậy không có quy định chặt chẽ các khâu cần phải bảo dưỡng một cách tỉ mỉ cũng như không có kế hoạch bảo dưỡng chi tiết Chế độ hoạt động này cũng chỉ áp dụng cho các cơ sở nhỏ, ít quan trọng về kinh tế

và kỹ thuật

2-Bảo dưỡng dự phòng theo kế hoạch:

Hoạt động bảo dưỡng thiết bị được tiến hành thường xuyên theo một lịch trình chặt chẽ sau một khoảng thời gian hoặc sau một số chu trình làm việc của thiết bị Quy trình và thủ tục bảo dưỡng dựa trên các chỉ dẫn của nhà chế tạo hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ Công tác bảo dưỡng hoàn toàn có tính chất định kỳ, tuy vậy không có ưu tiên đối với một thiết bị hoặc một bộ phận nào Hình thức hoạt động bảo dưỡng này thường được áp dụng cho các cơ sở lớn có ý nghĩa quan trọng về kỹ thuật và kinh tế

3-Bảo dưỡng đặt trọng tâm vào nâng cao độ tin cậy của thiết bị:

Đây là hình thức hoạt động bảo dưỡng tích cực nhất và khoa học nhất Quy trình và thủ tục bảo dưỡng dự phòng được xây dựng một cách chi tiết căn cứ vào các dữ liệu thống kê xác suất xảy ra hư hỏng và tuổi thọ của thiết bị nhằm duy trì hoạt động thường xuyên và đảm bảo năng xuất hoạt động cao của thiết bị Trong quá trình làm việc liên tục cập nhật các thông tin mới nhất về đối tượng cần bảo dưỡng cũng như các thủ tục và quy trình, quy phạm mới nhằm phản ánh kinh nghiệm vận hành và bảo dưỡng tiên tiến nhất vì nó cải thiện sự làm việc an toàn, tin cậy, nâng cao năng suất hoạt động, giảm chi phí vận hành, bảo dưỡng vì nó chỉ chú trọng đến các chi tiết, bộ phận quan trọng nhất, có xác suất hư hỏng nhiều nhất

mà không thực hiện bảo dưỡng, kiểm tra thử nghiệm tràn lan Chương trình bảo dưỡng dự phòng và thử nghiệm đặt trọng tâm vào vào việc nâng cao độ tin cậy của thiết bị cũng như đưa ra các dự báo về tình trạng thiết bị và hướng dẫn biện pháp

xử lý tình huống Để đi đến các quyết định bảo dưỡng và thử nghiệm người ta tiến

Trang 19

hành đo đạc thường xuyên các thông số kỹ thuật của thiết bị [6, 20]

1.1.6 Sự cố tiềm ẩn

Sự cố tiềm ẩn trong thiết bị điện được định nghĩa là các hư hỏng ngấm ngầm của cách điện trong quá trình vận hành, làm ảnh hưởng đến tuổi thọ lâu dài của thiết bị Trong quá trình tích tụ, các hư hỏng này có thể gây ra sự cố lớn cho thiết bị và hệ thống điện Các sự cố tiềm ẩn gây sự cố nghiêm trọng, thường xảy ra trong Cáp lực và Máy biến áp

1.1.6.1 Các dạng sự cố tiềm ẩn trong Cáp lực

Sự cố tiềm ẩn đã hình thành một phạm trù con của hư hỏng đối với hệ thống cáp lực Những hư hỏng này có nguyên nhân do lão hoá cách điện từ khâu chế tạo đến thi công, lắp đặt trước khi dẫn đến hư hỏng nặng nề

Hư hỏng cách điện là một hiện tượng không thể tránh khỏi trong hệ thống cáp ngầm và dẫn tới nguyên nhân gây ra sự cố Lão hoá sinh ra do tác động của một vài yếu tố riêng biệt như nhiệt, điện, cơ khí và môi trường

Dưới các điều kiện thông thường, các ứng suất điện là những yếu tố lão hoá

dễ nhận thấy nhất đó là hư hỏng của cáp qua phóng điện cục bộ và trầm trọng hơn với các quá trình tạo cây nước Bên trong điện môi được đùn ép chất hữu cơ và đặc biệt là đối với cáp XLPE, đa số hư hỏng của cáp có liên quan tới sự hoạt động của cây nước Sơ đồ lộ trình sự hư hỏng trong cách điện trung áp với một vài loại nguy hiểm được xem giống như phát triển một mô hình cây nước Hiện tượng đánh thủng đầu tiên này tiến hành trong sự hình thành cây điện hoặc cây nước dưới điện áp DC, AC và điện áp xung Nguyên nhân ban đầu của sơ đồ cây trong các điện môi khô là phóng điện cục bộ bên dưới các ứng suất điện áp cao và độ ẩm dưới các ứng suất điện áp thấp hơn Mặt khác, không phải tất cả hiện tượng suy giảm là liên quan đến các ứng suất điện Cáp điện có thể hư hỏng bên trong dưới các điều kiện khác thông thường qua sự đánh thủng cách điện với nguyên nhân do lão hoá vì nhiệt [17]

1.1.6.2 Các dạng sự cố tiềm ẩn trong MBA

Sự cố trong MBA có thể phân loại thành các nhóm sau: vầng quang hay

Trang 20

phóng điện cục bộ, quá nhiệt, hồ quang Mức năng lượng xuất hiện do các sự cố này xếp theo thứ tự từ cao đến thấp như sau: hồ quang  quá nhiệt  vầng quang Những sự cố trên có thể do một hoặc nhiều trong các nguyên nhân sau: ngắn mạch các vòng dây; hở mạch cuộn dây; xê dịch hoặc biến dạng cuộn dây; xê dịch hoặc biến dạng các dây dẫn (các dây, thanh dẫn nối từ các cuộn dây đến các đầu nối ở sứ, bộ điều áp dưới tải, ); lỏng các đầu nối tại các đầu sứ, đầu dây dẫn, các đầu bọc đấu dây; nước tự do hoặc độ ẩm quá mức trong dầu; các hạt kim loại xuất hiện trong dầu; lỏng mối nối các tấm chắn vầng quang; lỏng vòng siết, đệm, dây nối đất lõi, các chỗ định vị; sự cố đánh thủng; quá tải; hư hỏng các bulông cách điện; rỉ sét hoặc hư hỏng khác trên lõi; hư hỏng các đai bó quanh vỏ máy; kẹt tuần hoàn dầu; khuyết tật hệ thống làm mát, [6]

1.1.7 Thí nghiệm chẩn đoán

Thí nghiệm chẩn Đoán là các hoạt động có liên quan đến sử dụng các thiết

bị thử nghiệm để đánh giá tình trạng thiết bị đang vận hành, sau khi xảy ra những

sự kiện bất thường như sự cố, hỏa hoạn hoặc thiết bị đang trong tình trạng báo lỗi / sửa chữa / thay thế hoặc thiết bị nghi ngờ hư hỏng cần đưa ra bảo dưỡng Những hoạt động này không thể dự đoán được, cũng không thể lên kế hoạch bảo dưỡng được bởi vì chúng phải được sửa chữa sau khi sự cố mất điện bắt buộc Mỗi tổ chức phải dự phòng ngân sách cho những tình huống này Một số ví dụ như: thử nghiệm điện áp xoay chiều tăng cao AC, thử nghiệm dòng điện một chiều cao áp,

đo lường phóng điện cục bộ, phân tích đáp ứng tần số quét, thử nghiệm từ hóa lõi

từ, phân tích độ ẩm trong cách điện rắn, tỷ số vòng dây và lõi từ.[6]

Thí nghiệm chẩn đoán hư hỏng thiết bị điện đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thí nghiệm cao áp Với dữ liệu đo được, có thể đánh giá được chính xác tình trạng của cách điện trong các thiết bị như: Cáp lực, máy phát, máy biến áp…

1.2 Cơ sở lý luận thực tiễn của công tác ngăn ngừa sự cố

1.2.1 Ý nghĩa, mục đích

Trong quá trình vận hành lưới điện phân phối, các thiết bị điện quan trọng như: máy biến áp lực, cáp lực, thiết bị đóng cắt,…luôn luôn tiềm ẩn các sự cố Sự

Trang 21

cố về điện không những gây tổn thất cho ngành điện mà gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế Việc chẩn đoán sớm các hư hỏng tiềm ẩn để đưa ra biện pháp khắc phục trước khi sự cố xảy ra mang ý nghĩa rất lớn về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế, đảm bảo hệ thống vận hành an toàn và tránh thiệt hại về kinh tế

Các tiêu chí quan trọng trong việc quản lý vận hành hệ thống điện là đảm bảo cung cấp điện một cách an toàn, liên tục, chất lượng điện năng cao và kinh tế cho các phụ tải Trong quá trình Vận hành, việc sử dụng các hệ thống điều khiển, giám sát ,bảo vệ phù hợp là một trong những vấn đề đã và đang được quan tâm Ngoài các phương pháp bảo vệ trong hệ thống điện thông thường hiện nay, việc ứng dụng các phương pháp chẩn đoán như: phân tích hàm lượng khí hòa tan (Dissolved Gas Analysis) trong dầu cách điện, phân tích phóng điện cục bộ (Partial discharge), Phân tích đáp ứng tấn số quét (Sweep Frequency Response Analysis),… là một trong những giải pháp triển vọng trong giám sát và phát hiện các sự cố tiềm ẩn trong hệ thống trước khi nó xảy ra Hơn nữa, nhờ vào sự phát triển của các lĩnh vực kỹ thuật khác như: Điện tử viễn thông, khoa học máy tính và

xử lý tín hiệu, thí nghiệm chẩn đoán ngày càng dễ tiếp cận hơn, hiệu quả hơn và

có độ tin cậy cao hơn Các phương pháp chẩn đoán nêu trên, có khả năng phát hiện các dấu hiệu tiềm ẩn của sự cố trong hệ thống một cách hữu hiệu và sớm nhất

Công tác Thí nghiệm chẩn đoán nếu được áp dụng rộng rãi và duy trì thường xuyên kết hợp với việc giám sát thiết bị chặt chẽ, sẽ giúp đơn vị Quản lý Vận hành chủ động sửa chữa, ngăn ngừa sự cố, tránh mất điện ngoài dự kiến, đảm bảo độ tin cậy, liên tục cung cấp điện

1.2.2 Thực tiễn áp dụng tại Việt nam

Tại Tập đoàn Điện lực Việt nam, việc quản lý và đánh giá chất lượng Thiết

bị điện đang vận hành trên hệ thống vẫn chỉ quy định áp dụng các hạng mục thí nghiệm thông thường (routine test) cho máy biến áp

Tuy nhiên, nếu theo các hạng mục trên, đôi khi chưa đủ cơ sở để đánh giá tình trạng lão hóa cách điện và các hư hỏng tiềm ẩn bên trong MBA Điều này dẫn đến có thể xảy ra các hư hỏng nặng nề ngoài ý muốn

Trang 22

Công cụ hiệu quả đã được sử dụng phổ biến trên thế giới và bước đầu áp dụng tại Việt Nam để phân tích, chẩn đoán hư hỏng máy biến áp lực trong vận hành là phân tích hàm lượng khí hòa tan trong dầu cách điện Đối với Tập đoàn Điện lực Việt nam, công tác này chủ yếu được tiến hành ở 3 Công ty thí nghiệm điện trực thuộc các Tổng công ty điện lực miến Bắc, miến Trung và miền Nam

Đối với máy biến áp lực, trong quá trình vận hành, nhất là trong những năm đầu mới đưa vào hệ thống điện, việc phát hiện sớm những khuyết tật càng có ý nghĩa về lợi ích kinh tế, kết quả phân tích hàm lượng khí hòa tan là thông số kỹ thuật ràng buộc trách nhiệm của nhà sản xuất với khách hàng

Vào năm 2009, lần đầu tiên tại Viêt Nam, một máy biến áp công suất lớn 150MVA (01 pha) tại trạm biến áp 500kV Đà Nẵng, nhờ phương pháp phân tích hàm lượng khí hòa tan, đã chẩn đoán sớm và đưa ra khỏi vận hành từ lưới điện (tổng công suất 03 pha 450MVA), đơn vị cung cấp đã chấp nhận chuyển MBA trên về nhà chế tạo để sửa chữa trong thời gian bảo hành thiết bị

Người ta ví công việc chẩn đoán như là một môn nghệ thuật hơn là môn khoa học thuần túy Công việc chẩn đoán này tương tự như một bác sĩ y khoa chẩn đoán bệnh nhân trên những số liệu xét nghiệm Nếu chỉ dựa vào các lý thuyết thì

dễ dẫn đến sai lầm trong chẩn đoán và có thể gây nên hậu quả lớn về kinh tế (đưa

ra khỏi vận hành các thiết bị không hư hỏng) Và ngược lại, đối với các MBA có

hư hỏng tiềm ẩn cần khắc phục sớm, nếu không đựợc sửa chữa kịp thời sẽ tiến triển thành các hư hỏng nặng hơn Trong thực tế, điều này đã xảy ra khi tranh luận kết quả đánh giá tình trạng Máy biến áp trên giữa chuyên gia nhà chế tạo (Pháp)

và các kỹ sư Việt Nam Có thời điểm, vì chỉ dựa trên 02 kết quả thí nghiệm ở 02 lần kế tiếp, chuyên gia nước ngoài kết luận máy biến áp trên vận hành bình thường Tuy nhiên, đối với các kỹ sư Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm theo dõi và phân tích chẩn đoán lý thuyết đã cảnh báo sự bất thường có thể tìm thấy đựợc của Máy biến áp trên (chú ý tại thời điểm chẩn đoán, máy biến áp đang vận hành trên lưới 500kV), thuyết phục được nhà chế tạo phải thực hiện kiểm tra bên trong thiết

bị để tìm ra hư hỏng Với những cơ sở khoa học và sự kết hợp chặc chẽ giữa lý

Trang 23

thuyết và kinh nghiệm, khi Nhà chế tạo thiết bị thực hiện kiểm tra bên trong máy biến áp thực tế đã tìm ra hư hỏng đang tiến triển (do lỗi của nhà chế tạo) và đối tác

đã chấp nhận chuyển máy biến áp trên về nhà sản xuất để sửa chữa

Việc làm này rất có ý nghĩa, khẳng định được độ tin cậy của việc áp dụng công nghệ mới trong chẩn đoán và bảo dưỡng thiết bị của đội ngũ cán bộ kỹ thuật tại các Công ty Thí nghiệm điện ở Việt Nam

Gần đây, trong năm 2012, bằng công cụ DGA, Công ty Thí nghiệm điện miền Nam đã phát hiện sớm tình trạng bất thường ở 02 máy biến áp 110kV - 63MVA tại trạm biến áp Mỹ Xuân A và 110kV-63MVA tại trạm biến áp 110kV Bàu Bèo, qua đó giúp Công ty Lưới điện cao thế miền Nam lên phương án xử lý kịp thời Hiện nay 02 máy biến áp này đã đựợc sữa chữa và vận hành ổn định

Công việc chẩn đoán dựa trên nhiều phương pháp khác nhau, có phương pháp đã được chuẩn hóa như IEC 60599, phương pháp chẩn đoán dựa vào tam giác Duval, phương pháp sử dụng đồ thị trực quan như công nghệ chẩn đoán Nhật Bản, phương pháp chẩn đoán theo tiêu chuẩn Liên bang Nga РД 153-34.0-46.302-00… Việc chẩn đoán phát hiện hư hỏng sớm không chỉ dựa vào số liệu hiện tại,

mà là một quá trình theo dõi, tiên lượng trên những số liệu khoa học, là kết quả đúc kết kinh nghiệm trong quá trình làm việc lâu dài, học tập kinh nghiệm trên thế giới và áp dụng vào thực tế với từng đối tượng cụ thể

Phân tích khí hòa tan trong dầu cách điện thực sự là một công cụ có giá trị kinh tế rất cao, có hiệu quả trong công tác quản lý và vận hành thiết bị điện ngâm dầu, đây là công cụ đựợc sử dụng hầu hết ở tất cả các nước trên thế giới Tuy nhiên, dầu là môi trường trung gian để phát hiện hư hỏng tiềm ẩn, nên khi nhận biết được dấu hiệu bất thường qua dầu thì hư hỏng đã ở mức độ nặng Hơn nữa, kết quả phân tích dầu lại phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật lấy mẫu và bảo quản mẫu

Do vậy, hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi, dẫn đến nghi ngờ kết quả phân tích chẩn đoán, làm chậm thời gian đưa thiết bị ra bảo dưỡng, sửa chữa

Hiện nay, các công ty Điện lực và Truyền tải trong nước đã bước đầu trang

bị một số thiết bị chẩn đoán online sử dụng phương pháp phát hiện Phóng điện cục

Trang 24

bộ bằng sóng âm để theo dõi tình trạng làm việc của Máy Biến Áp Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc Gia đã đưa một số hạng mục thí nghiệm chẩn đoán vào quy định thí nghiệm nghiệm thu và thí nghiệm định kỳ như:

- Phân tích độ ẩm trong cách điện cứng

- Phân tích DGA trong dầu cách điện

1.2.3 Thực tiễn đã áp dụng trên thế giới

Trong những năm gần đây, các nước tiên tiến trên thế giới đã sử dụng hệ thống chẩn đoán trực tuyến để dò tìm, phân tích và giám sát liên tục tín hiệu phóng điện cục bộ xảy ra trong các thiết bị điện như: tủ hợp bộ, đầu cáp, MBA, trạm GIS Công nghệ độc đáo và hiệu quả của thiết bị là dò tìm điểm xuất hiện PD bằng cách

dò tìm cả tín hiệu âm thanh và dòng điện sử dụng hai loại đầu dò siêu âm và biến dòng cao tần (HFCT) Dựa vào đồ thị dạng sóng âm tần có thể xác định được kiểu, loại nguồn phát sinh sóng âm tần do cơ khí, do phóng điện cục bộ hay do nguồn nhiễu từ bên ngoài thiết bị cảm ứng đến

Hiện nay, trên thế giới đang phát triển các công nghệ chẩn đoán (như Partial Discharge, Sweep Frequency Respond Analysis, Dielectric Frequency Reesponse, ) cho thiết bị trung – cao áp Đây là một số giải pháp hiệu quả bổ sung trong quá trình vận hành của hệ thống điện, giúp phân tích nguồn gốc phát sinh phóng điện cục bộ xảy ra bên trong thiết bị điện, các biến dạng về cơ khí trong đó:

- PD: đưa ra các chẩn đoán và cảnh báo khi các xung phóng điện cục bộ có khuynh hướng phát triển đến một mức độ nguy hiểm có thể gây ra sự cố nghiêm trọng, dựa vào đó người quản lý vận hành có thể sớm đưa ra các kế hoạch và biện pháp xử lý, khắc phục ngăn ngừa sự cố xảy ra

- Phân tích đáp ứng tần số SFRA: đánh giá sự nguyên vẹn cơ khí của cấu trúc lõi từ, cuộn dây và gông từ trong các máy biến áp bằng cách đo các chức năng dịch chuyển điện của chúng với một dải tần rộng Phương pháp này thực hiện bằng cách đưa một tín hiệu điện áp thấp với tần số thay đổi vào một đầu của cuộn dây MBA và đo tín hiệu đáp ứng trên đầu dây khác Điều này được tiến hành trên tất

Trang 25

cả các cuộn dây co thể tiếp cận được theo như hướng dẫn Sự so sánh giữa các tín hiệu dầu vào và đầu ra tạo nên một đáp ứng tần số co thể được so sánh với các dữ liệu thu nhận được từ số liệu xuất xưởng

- Phân tích độ ẩm trong cách điện rắn bằng dáp ứng tần số trong điện môi DFR: Phép đo theo miền thời gian và tần số được sử dụng khoảng một thập niên gần đây trên thế giới Hiện nay, một thiết bị mới phối hợp những ưu điểm của cả hai miền đo này để có phép đo nhanh một cách đặc biệt ở tần số thấp Phương pháp này áp dụng một thuật toán phân tích nâng cao, không chỉ tính toán hàm lượng ẩm mà còn cho biết thêm về các sản phẩm có tính dẫn điện sinh ra trong quá trình lão hóa khác của cách điện

Một trong những giải pháp đang được sử dụng khá phổ biến trên thế giới hiện nay mà ngành Điện Việt Nam cần nghiên cứu áp dụng là Hệ thống giám sát

và chẩn đoán kỹ thuật liên tục trạng thái MBA

Các công ty điện lực trên thế giới đang áp dụng các phương pháp thử nghiệm chẩn đoán, nhằm giảm bớt các chi phí về vòng đời của hệ thống thiết bị phân phối được chẩn đoán, mà vẫn đáp ứng được các yêu cầu về độ tin cậy, môi trường và kinh tế

Tại Malaysia, các Công ty điện lực đã đưa các phương pháp chẩn đoán và chẩn đoán nâng cáo vào quy trình bảo dưỡng định kỳ như:

- Thử nghiệm chất lương dầu (Oil Quality Tests),

- Phân tích khí hòa tan (Dissolved Gas Analysis),

- Phân tích hàm lượng Furfural (Furfural Analysis),

- Phân tích đáp ứng tần số (Frequency Response Analysis),

- Thử nghiệm phóng điện cục bộ (Partial Discharge tset)

Công ty Điện lực Singapore đã áp dụng công nghệ giám sát, chẩn đoán để đưa vào quy định điều kiện cần đưa thiết bị phân phối ra bảo dưỡng định kỳ, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện

Các kết quả mà Công ty Điện lực Singapore đạt được khi áp dụng chế độ bảo dưỡng phòng ngừa được thể hiện trong Phụ lục 1.[6, 7, 15, 18]

Trang 26

áp dụng tại Việt nam và các nước trên thế giới, chương 1 là tiền đề để phân tích hiện trạng lưới điện phân phối sẽ được đề cập trong chương 2

Trang 27

Chương 2

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THÍ NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NGĂN NGỪA SỰ CỐ CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI

2.1 Đặc điểm lưới điện phân phối

Đặc điểm chính của lưới phân phối là cung cấp điện trực tiếp đến người sử dụng Để đảm bảo chất lượng điện năng cho phụ tải thì việc nghiên cứu, thiết kế lưới điện phân phối là hết sức quan trọng

Lưới phân phối trung áp có điện áp 6kV, 10kV, 15kV, 22kV, 35kV, 110kV phân phối điện cho các trạm phân phối trung/ hạ áp, lưới điện 220/380V cấp điện cho các phụ tải hạ áp

Khi thiết kế lắp đặt lưới điện phân phối phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:

- An toàn cho lưới điện và cho con người

- Chi phí xây dựng lưới điện là kinh tế nhất

- Đảm bảo ít gây ra mất điện nhất, bằng các biện pháp cụ thể như có thể có nhiều nguồn cung cấp, có đường dây dự phòng, có nguồn thay thế như máy phát

- Đảm bảo chi phí bảo trì, bảo dưỡng là nhỏ nhất

Khi phát triển lưới điện phân phối, đặc biệt là ở Thành phố, có mật độ phụ tải cao, đòi hỏi độ tin cậy cao; ngoài các đường dây trên không, người ta còn xây dựng nhiều tuyến cáp ngầm được lắp đặt chôn dưới đất để đảm bảo mỹ quan, an toàn

Tùy theo yêu cầu, hệ thống lưới phân phối được thiết kế sao cho đảm bảo được các chỉ tiêu ở mức thích hợp Khi sự cố xảy ra, các thiết bị bảo vệ phải có khả năng loại trừ sự cố nhanh, tin cậy để tránh thiệt hại và sự cố lan rộng Đồng thời cũng phải có các thiết bị tự động đóng lại đường dây đã cắt do sự cố nhằm

Trang 28

khôi phục hoạt động của hệ thống khi chỉ có sự cố thoáng qua Do đó người thiết

kế phải chọn ra giải pháp hợp lý nhất để đáp ứng được các yêu cầu chính của lưới điện phân phối

2.2 Hiện trạng thiết bị

2.2.1 Đặc điểm

Tùy theo mật độ phụ tải, yêu cầu về độ tin cậy cung cấp điện, trình độ quản

lý, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của mỗi nước mà lưới điện phân phối trung áp có thể có các cấu trúc, sơ đồ khác nhau Theo thực tế quản lý - vận hành ở nước ta hiện nay, có thể chia lưới điện phân phối trung áp thành 2 dạng sơ đồ như sau:

Lưới điện phân phối trung áp nông thôn

Các vùng nông thôn thường có phụ tải bé, phân tán, yêu cầu về độ tin cậy cung cấp điện không cao và việc xây dựng lại thường có mặt bằng (không gian ) rộng rãi nên thường chủ yếu sử dụng đường dây trên không Đường dây trên không có ưu điểm là vốn đầu tư bé, thuận tiện dễ dàng trong việc đấu nối cũng như phát hiện và loại trừ sự cố so với đường dây cáp Vì các phụ tải LPP nông thôn không đòi hỏi độ tin cậy CCĐ cao, nên trong trường hợp này LPP thường có dạng sơ đồ hình tia và khi sự cố phụ tải có thể bị mất điện trong một thời gian nhất định để cách ly và loại trừ sự cố

Trong sơ đồ hình tia, từ trạm nguồn có nhiều trục chính đi ra cấp điện cho từng nhóm trạm phân phối Đầu các trục chính tại các trạm biến áp có các máy cắt

có trang bị tự động đóng lặp lại và điều khiển từ xa Vì đường dây trên không thường khá dài nên ngoài máy cắt đầu nguồn, các trục chính còn có thể được phân đoạn bằng các máy cắt phân đoạn hoặc dao cắt phụ tải, dao cách ly để nâng cao độ tin cậy của LPP Các thiết bị phân đoạn cũng có thể được trang bị tự động đóng nguồn dự trữ và điều khiển từ xa Giữa các trục chính của một trạm nguồn hoặc của các trạm nguồn khác nhau có thể được nối liên thông để dự phòng khi cần thiết Các máy cắt hoặc dao cách ly liên lạc thường mở trong chế độ làm việc bình thường (lưới phân phối vận hành hở) Dây dẫn của các đường trục chính được kiểm tra theo điều kiện sự cố để có thể tải điện dự phòng cho các trạm khác khi sự

Trang 29

cố

Lưới phân phối trung áp thành phố, xí nghiệp:

Các thành phố, xí nghiệp công nghiệp thường có mật độ phụ tải lớn và có yêu cầu cao về độ tin cậy CCĐ, mặt khác do yêu cầu về mỹ quan và an toàn nên lưới điện trung áp thường là cáp ngầm Nhược điểm của cáp ngầm là đắt tiền và khó khăn phức tạp trong việc lắp đặt cũng như phát hiện và loại trừ sự cố, lưới điện lúc này thường có dạng kín (vận hành hở) được cung cấp từ một nguồn (trạm trung gian) khác Cũng có khi nhiều trạm biến áp phụ tải được dùng chung một đường dây dự phòng hoặc các trạm gần nhau có sự liên lạc dự phòng cho nhau (ở phía cao hay hạ áp) Với các phụ tải có yêu cầu độ tin cậy CCĐ cao hơn thì có thể được CCĐ bằng trạm có 2 máy biến áp theo 2 đường dây song song từ hai nguồn độc lập Để tăng cường độ tin cậy CCĐ thường sử dụng các thiết bị mới có các tính năng cao như các thiết bị tự động đóng lặp lại (recloser) điều khiển từ xa với

sự trợ giúp của máy tính điện tử

2.2.2 Chế độ vận hành

Nhìn chung chế độ vận hành Hệ thống điện ở Việt Nam hiện nay, lưới truyền tải luôn phải vận hành quá tải ở nhiều khu vực miền Bắc và các vùng trọng điểm khu vực miền Nam Tình trạng quá tải của hệ thống điện truyền tải vẫn diễn

ra do nhiều công trình lưới điện, nguồn điện không đạt tiến độ đề ra, khiến lưới truyền tải luôn phải vận hành đầy tải Một số thời điểm còn quá tải ở khu vực miền Bắc và miền Nam Việc truyền tải cao trên các đường dây 500kV Bắc-Nam cũng gây khó khăn trong công tác vận hành, dẫn đến nguy cơ sự cố và tổn thất điện năng tăng cao Trong khi đó, chất lượng thiết bị lưới điện và Trạm biến áp của nhiều hãng khác nhau, không đồng bộ dẫn đến khó khăn trong thao tác, sửa chữa, thay thế Chưa kể nhiều thiết bị, công trình đưa vào vận hành trên 20 năm như các trạm biến áp 500 kV Hà Tĩnh, Phú Lâm, Pleiku, Đà Nẵng, Hoà Bình, đường dây

500 kV Bắc – Nam mạch 1 đã xuống cấp, chất lượng vận hành không tin cậy

Tại 21 tỉnh, thành phía Nam trong khu vực quản lý của Tổng Công ty Điện Lực miền Nam, còn nhiều nơi lưới điện xung yếu chưa được khắc phục triệt để

Trang 30

Thậm chí lưới điện ở Bình Dương, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai và Long An đang hoạt động trong tình trạng đầy quá tải Trong khi đó, tiến độ thực hiện các trạm và đường dây 220kV chậm cùng với một số trạm đang trong tình trạng đầy tải đã tạo sự căng thẳng trong việc đảm bảo cung cấp điện cho khách hàng tại một số khu vực

Qua thực trạng vận hành lưới điện phân phối miền Nam từ năm 2012 đến

2014, đã thống kê được các chủng loại (tham khảo thêm ở Phụ lục 2), các dạng sự

cố xảy ra trong máy biến áp tại 142 trạm 110 kV và sự cố cáp trung thế như sau:

- Sự cố xảy ra trong máy biến áp:

Bảng 1 - Số lượng hư hỏng trong các năm 2012, 2013, 2014 theo Nhà sản xuất,

tính tỉ lệ hư hỏng so với vận hành trên lưới

Số MBA theo dung lượng

Số MBA theo dung lượng

Trang 31

Bảng 2 - Thống kê các dạng hư hỏng MBA trong các năm vừa qua: hư hỏng do có

tự hư hỏng

sự cố ngắn mạch ngoài lưới

tự hư hỏng

sự cố ngắn mạch ngoài lưới

Bảng 3 - Thống kê dạng hư hỏng cuộn dây: hư hỏng cuộn 110kV và/hoặc 22kV,

hư hỏng cuộn tam giác và dạng khác

Trang 32

- Sự cố xảy ra trên cáp ngầm trung thế:

Bảng 4 - Thống kê sự cố lưới điện ngầm 22kV từ 2012 đến Quí 1/2015

Năm

2013

Quí 1/2014

Năm

2014

Quí 1/2015

Năm

2015

Tổng (vụ)

Trang 33

Năm

2013

Quí 1/2014

Năm

2014

Quí 1/2015

Năm

2015

Tổng (vụ)

Đối với các đường dây và trạm Biến áp 110 kV, 22 kV do các Công ty Điện lực quản lý, hoạt động bảo dưỡng thiết bị được tiến hành thường xuyên theo một lịch trình nhất định sau một khoảng thời gian vận hành hoặc sau một số chu trình làm việc của thiết bị Quy trình và thủ tục bảo dưỡng dựa trên các chỉ dẫn của nhà chế tạo hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ Công tác bảo dưỡng có tính chất định kỳ, không ưu tiên đối với một thiết bị hoặc một bộ phận nào

Từ trước đến nay, các trạm 22 kV do Khách hàng quản lý, việc bảo dưỡng định kỳ vẫn chưa được quan tâm đúng mức Các thiết bị thường làm việc liên tục, các bộ phận bị xuống cấp chỉ được sửa chữa hoặc thay thế khi ảnh hưởng xuống cấp không thể chấp nhận được, điều này đồng nghĩa với sự cố hư hỏng thiết bị

Trang 34

2.3 Hiện trạng về công tác thí nghiệm

Trong công tác quản lý vận hành lưới điện trong thời gian qua, các Công ty Thí nghiệm điện trực thuộc các Tổng công ty Điện lực ba miền đã cố gắng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao do có những thế mạnh sau:

- Các Công ty Thí nghiệm điện tập trung đầy đủ lực lượng mạnh có kiến thức chuyên sâu, vì vậy trong công tác thí nghiệm nghiêm thu mới và thí nghiệm định kỳ được chỉ đạo triển khai nhanh chóng và xử lý kịp thời, hiệu quả

- Công tác thí nghiệm, được phân công cho các phòng (phân xưởng) thí nghiệm, thường xuyên nghiệm thu các công trình mới và được chuyển giao, cập nhật các công nghệ mới vì vậy có thể phục vụ công tác thí nghiệm chuyên sâu

- Mô hình quản lý hiện nay của Công ty Thí nghiệm điện miền Nam phân

ra các phòng chuyên trách (như Phòng Thí nghiệm Rơle-Tự Động, phòng Thí nghiệm Cao áp, phòng Thí nghiệm Hóa Dầu, phòng Thí nghiệm Đo Lường, ) vì vậy Công ty nắm rõ thiết bị hơn, đào tạo ra các chuyên gia giỏi về từng lĩnh vực chuyên ngành Trong đó, phòng Thí nghiệm Hóa dầu, phòng Thí nghiệm Cao áp là hai đơn vị tiên phong và là tiền đề để tham gia lĩnh vực Thí nghiệm Chẩn đoán đang hình thành và phát triển

Do giải quyết các công việc liên quan đến lưới điện phân phối, trạm biến áp trực tiếp tại hiện trường nên các Công ty Thí nghiệm điện nắm bắt rõ tình hình thiết bị thực tế, giúp cho giải quyết công việc được nhanh chóng Đặc biệt, các công trình cải tạo mở rộng sơ đồ nhất thứ, nhị thứ được các Công ty này thực hiện,

đã góp phần giảm được thời gian nghiên cứu, chủ động trong phương thức cắt điện

và triển khai công việc nhanh chóng

Tuy vậy, với cơ sở hạ tầng về trang thiết bị cũng như nhân lực hiện nay của các Công ty Thí nghiệm, hoạt động thí nghiệm điện nói chung và thí nghiệm chẩn đoán nói riêng gặp phải những khó khăn sau đây:

- Trong những năm gần đây ngoài công tác phục vụ cho quản lý vận hành như thí nghiệm định kỳ, xử lý sự cố, các Công ty thí nghiệm còn tham gia một số công trình thí nghiệm lắp đặt hiệu chỉnh các công trình đầu tư mới, cải tạo, mở

Trang 35

rộng, vì vậy nhân lực và các dụng cụ thiết bị dàn trải do có số lượng hạn chế đã ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ giải quyết công việc nói chung và thí nghiệm chẩn đoán nói riêng

- Trang thiết bị thí nghiệm hiện tại, chỉ thực hiện được các hạng mục thử nghiệm thông thường theo quy định hiện hành, chưa có các thiết bị thí nghiệm chẩn đoán, ngoại trừ thiết bị DGA cho dầu Máy Biến Áp

- Do lĩnh vực chẩn đoán là lĩnh vực mới, thiết bị chưa được trang bị đầy đủ, các thí nghiệm viên chưa được trải nghiệm thực tế, nên khả năng phân tích kết quả chẩn đoán còn nhiều hạn chế

Với những lý do nêu trên, việc đầu tư nâng cấp và nâng cao năng lực thí nghiệm, để phát triển lĩnh vực thí nghiệm chẩn đoán là cấp thiết và phải triển khai thực hiện ngay

2.3.1 Năng lực thí nghiệm

Công tác thí nghiệm hiệu chỉnh nói chung và công tác thí nghiệm hiệu chỉnh đưa vào vận hành các công trình điện thuộc hệ thống điện Quốc gia là một công tác phức tạp đòi hỏi người thực hiện phải có chuyên môn kỹ thuật cao, chuyên sâu, kinh nghiệm nhiều năm công tác về lĩnh vực này Đây là công đoạn cuối cùng của công tác thí nghiệm hiệu chỉnh, việc thí nghiệm này nhằm đánh giá chất lượng thiết bị (đối với từng thiết bị, từng hạng mục công trình cũng như sự kết nối đồng bộ toàn hệ thống - việc này rất quan trọng nhất là khi thiết bị do nhiều nhà sản xuất cung cấp thông qua nhà thầu thương mại) và đánh giá chất lượng lắp máy góp phần nâng cao tuổi thọ thiết bị, tuổi thọ công trình đồng thời đảm bảo các Nhà máy khi đấu nối vào lưới điện Quốc gia hoạt động an toàn, các thông số vận hành đạt đúng theo qui định đấu nối của Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam

Việc thí nghiệm này được ràng buộc bởi “Khối lượng và tiêu chuẩn thiết bị điện”, “Qui trình quy phạm kỹ thuật của Ngành điện”, “Tiêu chuẩn của các nhà chế tạo”, “ Tiêu chuẩn thí nghiệm hiệu chỉnh thiết bị điện của Quốc tế - IEC”…(phụ lục 1) Công tác thí nghiệm này tương tự như làm dịch vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm thiết bị điện, tuy nhiên không phải chỉ kiểm tra đơn thuần mà

Trang 36

còn cài đặt, hiệu chỉnh đồng bộ thiết bị, sơ đồ đấu nối theo đúng thiết kế ban đầu hoặc đề nghị điều chỉnh thiết kế cho phù hợp với thiết bị và điều kiện lắp đặt thực

tế theo đúng qui trình, qui phạm của Ngành điện Tất cả các thử nghiệm được thực hiện trong các điều kiện gần giống với điều kiện vận hành bình thường

Công tác thí nghiệm hiệu chỉnh đưa vào vận hành này, hiện nay, các Chủ đầu tư thường gộp vào gói thầu lắp đặt hoặc cung cấp thiết bị, thường là các nhà thầu thương mại hoặc nhà thầu lắp đặt vừa là nhà thầu thí nghiệm nên không đảm bảo tính khách quan của công tác thí nghiệm cũng như không đảm bảo cho hệ thống hoạt động ổn định, lâu dài và tin cậy

2.3.1.1 Năng lực thí nghiệm các hạng mục thông thường:

- Đo điện trở cách điện

- Kiểm tra cơ cấu truyền động

- Đo điện trở tiếp xúc

- Thử nghiệm chịu đựng điện áp xoay chiều tăng cao tần số công nghiệp (chỉ áp dụng đối với cấp điện áp ≤ 24kV)

Máy cắt SF6 :

- Đo điện trở cách điện

- Kiểm tra cơ cấu truyền động

- Đo điện trở tiếp xúc

- Đo thời gian đóng - cắt

- Kiểm tra chu trình đóng mở (O-CO) cho máy cắt 110kV

Trang 37

- Đo độ ẩm khí SF6 ( cho máy cắt 110kV )

- Thử nghiệm chịu đựng điện áp xoay chiều tăng cao tần số công nghiệp (áp dụng đối với cấp điện áp ≤ 24kV)

Máy biến điện áp :

- Đo điện trở cách điện

- Thí nghiệm tỉ số biến áp

- Kiểm tra cực tính

- Đo tổn hao không tải (không áp dụng cho biến điện áp kiểm tụ - CVT)

- Đo hệ số tổn hao điện môi (tgδ) và điện dung (nếu có)

- Thử nghiệm chịu đựng điện áp xoay chiều tăng cao tần số công nghiệp (áp dụng đối với cấp điện áp ≤ 24kV)

Máy biến dòng điện :

- Đo điện trở cách điện

- Thí nghiệm tỉ số biến dòng

- Kiểm tra cực tính

- Kiểm tra đặc tính bão hòa (đặc tính từ hóa)

- Đo hệ số tổn hao điện môi (tgδ) cho cấp điện áp 110kV

- Thử nghiệm chịu đựng điện áp xoay chiều tăng cao tần số công nghiệp (áp dụng đối với cấp điện áp ≤ 24kV)

Máy Biến áp lực :

- Đo điện trở cách điện và hệ số hấp thụ

- Đo điện trở một chiều cuộn dây (ở tất cả các vị trí)

- Đo tỉ số biến (ở tất cả các vị trí)

- Kiểm tra tổ đấu dây

- Đo tổn hao không tải

- Đo tổng trở ngắn mạch Uk Và tổn hao Pk

- Đo hệ số tổn hao điện môi của cuộn dây

- Đo hệ số tổn hao điện môi của sứ xuyên 110kV

- Kiểm tra biến dòng xuyên sứ

Trang 38

+ Điện trở cách điện

+ Tỉ số biến

+ Cực tính

+ Đặc tính bão hòa (đặc tính từ hóa)

- Thử nghiệm mẫu dầu cho bình dầu chính và bộ điều áp dưới tải (OLTC) + Điện áp chọc thủng

+ Hệ số tổn hao điện môi (tgδ)

- Đo điện trở cách điện

- Thử nghiệm chịu đựng điện áp xoay chiều tăng cao tần số công nghiệp (áp dụng đối với cấp điện áp ≤ 24kV)

b Thiết bị thí nghiệm

Hiện nay các thiết bị thí nghiệm được trang bị tại các Công ty Thí nghiệm Điện đều là các thiết bị hiện đại do các nước Tây Âu sản xuất theo công nghệ tiên tiến Các hãng sản xuất có bề dày và uy tín lâu đời về mặt hàng đặc chủng này như hãng VANGUARD, SCHLUMBERGER, OMICRON, PROGRAMMA, Doble, v.v… Hằng năm các Công ty này đều liên hệ Tổng Cục Đo lường Tiêu chuẩn Chất lượng tiến hành công tác kiểm chuẩn cũng như có phương án bổ sung thiết bị thí nghiệm nhằm hiện đại hoá thiết bị để theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ Vì vậy thiết bị thí nghiệm hiện tại của đơn vị đảm bảo để có thể thực hiện nhiều công trình cùng một lúc (phụ lục 3)

Trang 39

có trình độ cao về chuyên ngành thí nghiệm điện

Với kiến thức chuyên sâu và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thí nghiệm các thiết bị điện trên lưới điện Quốc gia, nhân lực của các Công ty Thí nghiệm điện có khả năng nghiên cứu và phát triển lĩnh vực thí nghiệm chẩn đoán, nhằm theo dõi để phát hiện sớm các hư hỏng tiềm ẩn trong thiết bị điện đang hoạt động trên lưới

e Nghiệm thu, bàn giao :

Khi công trình hoàn tất, các bên liên quan cử đại diện tham gia nghiệm thu, đóng điện

Các Công ty thí nghiệm chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu liên quan để trình hội

Ngày đăng: 06/11/2017, 11:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w