I. MỞ BÀI 1. Lý do chọn đề tài Từ lâu, các cấp ủy Đảng và chính quyền trong tỉnh ta rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, xem đây là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển của địa phương. Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, đến nay nhiều thành tựu về bình đẳng giới từng bước đã được khẳng định. Đặc biệt, với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đang từng bước thực hiện có hiệu quả việc thúc đẩy bình đẳng giới. Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: Quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái… trên cơ sở chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo sự đồng thuận. Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững. Ngày nay, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội nói chung và gia đình nói riêng đã được nâng lên rất nhiều so với trước. Tuy nhiên, xét về thực trạng vấn đề giới vẫn còn những bức xúc trong gia đình như: Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình; tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại và xảy ra ở một số nơi… Nguyên nhân chính dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình là do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng với sự thay đổi chậm chạp của ý thức xã hội và hầu như nam giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột của mình với gia đình, chính họ đã tự đặt cho mình trọng trách lớn. Phụ nữ thì còn tự ti, luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng. Đối với những gia đình ở khu vực nông thôn, sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị đã làm cho những người phụ nữ ở lại địa phương thêm gánh nặng, vừa đảm nhận lao động sản xuất vừa lo toan việc nội trợ. Mặt khác, trình độ học vấn cũng góp phần quan trọng trong việc tạo quyền quyết định trong gia đình. Nếu trong gia đình cả hai vợ chồng có học vấn cao thì sự bàn bạc, thỏa thuận chiếm tỷ lệ lớn; nếu người vợ có trình độ học vấn thấp thì quyền quyết định mọi mặt chủ yếu vẫn là chồng và ngược lại. Về vấn đề kinh tế gia đình cũng là nguyên nhân dẫn đến mất bình đẳng trong gia đình… Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng, tỉnh Lào Cai còn nhiều dấu tích của tư tưởng phong kiến còn tồn tại trong cuộc sống của người dân nơi đây. Đặc biệt tàn dư của nó là tư tuởng trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng. Vì vậy tôi chọn đề tài “Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng, tỉnh Lào Cai – Thực trạng và giải pháp” làn đề tài nghiên cứu thực tế, từ đó muốn tìm hiểu xem ở những cơ sở này vấn đề bình đẳng giói, đặc biệt là bình đẳng giói trong gia đình được nhìn nhận và thực hiện như thế nào. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về kết quả thực hiện Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng trong những năm qua Trên cơ sở thực trạng, đề tài chỉ ra nguyên nhân và đề ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng. II. NỘI DUNG 1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ Xà HỘI 1.1. Xã Xuân Quang Xuân Quang là xã vùng thấp nằm ở phía Đông Nam của huyện Bảo thắng, là địa hình khu vực trung du miền núi gồm những dải núi thấp, các đồi bát úp xen kẽ là các vùng có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển trồng lúa và cây ngắn ngày, thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác. Có diện tích tự nhiên là 5981 ha, chiếm 8,77% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, trong đó: đất nông nghiệp là 2.459,8 ha, đất lâm nghiệp là 1.852,8 ha, đất phi nông nghiệp là 894,7 ha, đất chưa sử dụng là 773,7 ha( đất đồi đá). Với mật độ dân số 3.009 hộ và 12.065 khẩu, có 11 dân tộc sinh sống, đ¬ược chia thành 20 thôn, có một thôn vùng cao, 02 thôn vùng sâu, vùng xa, 02 thôn đặc biệt khó khăn. Có quốc lộ 70 và 4E chạy qua nên thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế với bên ngoài. Trung tâm xã nằm cách Thị trấn Phố Lu (trung tâm huyện Bảo Thắng) khoảng 12 km theo hướng Quốc lộ 4E. Trong những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Xuân Quang luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ của Đảng ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của xã, các tổ chức Hội, đoàn thể trong xã, huyện ủy, UBND huyện, các cơ quan chuyên môn của huyện Bảo Thắng. Hội đã làm tốt công tác chỉ đạo, triển khai, tuyên truyền toàn dân chung tay xây dựng nông thôn mới. Đồng thời tổ chức sâu rộng đến từng chi hội, tổ hội, hội viên phụ nữ trong xã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức hội viên tham gia các phong trào “giúp nhau phát triển kinh tế”; Xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện cụ thể từng khâu, từng bước, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng mức thu nhập cho các hộ nghèo, kéo gần khoảng cách giữa các hộ trong xã. Tuy nhiên vẫn còn một số ít hội viên Hội Phụ nữ xã chưa nhận thức đầy đủ về nội dung, mục đích của các phong trào giúp nhau làm kinh tế giỏi. Chính vì vậy đến nay vẫn còn 444 hộ nghèo chiếm 14,1%. Đây cũng là một vấn đề dặt ra đối với Hội Phụ nữ nói riêng và với cấp ủy chính quyền, đoàn thể và nhân dân trên địa bàn toàn xã. 1.2. Xã Phong Niên Phong Niên là xã vùng 3 của huyện Bảo Thắng với tổng diện tích đất tự nhiên là 4.255 ha, gồm 22 thôn, trong đó có 11 thôn đặc biệt khó khăn. Dân số 1.964 hộ, 7.903 khẩu với 10 dân tộc cùng chung sống. tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 50% dân số, đời sống nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Đảng bộ xã Phong Niên có 27 chi bộ trực thộc trong đó có 22 chi bộ thôn, 4 chi bộ trường học, 01 chi bộ trạm y tế, có 181 đảng viên trong đó 09 đồng chí đảng viên được miễn công tác sinh hoạt; là xã có kinh tế, văn hóa, chính trị trọng tâm của Huyện Bảo Thắng, có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải để phát triển kinh tế xã hội cũng như việc học tập quán triệt, tổ chức thực hiện chủ trương chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là triển khai học tập và thực hiện Chỉ thị số 05CTTW; Quy định số 08QĐTU, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết trung ương 4 (Khóa XII) của Đảng về tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống các biểu hiện”Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”, trong nội bộ. Hiện nay toàn xã có 15 cơ sở sản xuất và hộ gia đình chuyên kinh doanh sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản; dịch vụ vận chuyển vật liệu xây dựng, hàng hoá nông sản ....ngoài ra còn có 45 hộ kinh doanh buôn bán, các dịch vụ, hiệu sửa chữa xe máy, xe đạp, rađiô, vô tuyến...mang lại thu nhập đáng kể cho nhân dân. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn xã 284,1 triệu đồng đạt 78% DT huyện giao. Trong những năm qua được sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân trên địa bàn, trong đó có sự chung tay không nhỏ của các chi hội phụ nữ xã tổ chức phong trào “giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững” số hộ nghèo trong xã đã giảm đáng kể. Giảm nghèo trong năm 2016: giảm 160 hộ so với năm 2015 đạt 128 % KH huyện giao. 1.3. Thị trấn Phong Hải Phong Hải là thị trấn miền núi vùng cao của huyện Bảo Thắng. Có diện tích tự nhiên là 9161 ha; với 2.582 hộ, 10.355 khẩu gồm 9 dân tộc anh em cùng chung sống trên 19 thôn, tổ dân phố, trong đó có 14 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn, mặc dù đã được đầu tư, song chưa đáp ứng được yêu cầu, một số thôn giao thông đi lại rất khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác tuyên truyền, hoạt động cộng đồng ở các nhà văn hóa còn hạn chế, đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm trên 50% so với dân số trên địa bàn. Toàn thị trấn có 19 chi hội phụ nữ (66 tổ hội) với 1783 hội viên sinh hoạt. Trong những năm qua được sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy đảng, chính quyền và sự cố gắng nỗ lực, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, chị em phụ nữ toàn thị trấn hưởng ứng phong trào giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững giảm tỷ lệ hộ nghèo đáng kể. Kết quả hiện có 841 hộ nghèo chiến 33,82%, 310 hộ cận nghèo chiếm 12,46% so với tổng số hộ trên địa bàn. Năm 2017, kế hoạch giảm nghèo 160 hộ tuy nhiên theo điều tra sơ bộ tính đến ngày 119 địa phương mới giảm được 90 hộ, kế hoạch giảm nghèo không đạt một phần do rủi ro trong chăn nuôi. Công tác đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện tốt, các chế độ chính sách đến các đối tượng đều được thực hiện theo quy định.
Trang 1I MỞ BÀI
1 Lý do chọn đề tài
Từ lâu, các cấp ủy Đảng và chính quyền trong tỉnh ta rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, xem đây là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển của địa phương Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, đến nay nhiều thành tựu về bình đẳng giới từng bước đã được khẳng định Đặc biệt, với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đang từng bước thực hiện có hiệu quả việc thúc đẩy bình đẳng giới
Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: Quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái… trên cơ sở chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo sự đồng thuận Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững Ngày nay, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội nói chung và gia đình nói riêng đã được nâng lên rất nhiều so với trước Tuy nhiên, xét về thực trạng vấn đề giới vẫn còn những bức xúc trong gia đình như: Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình; tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại và xảy ra ở một số nơi…
Nguyên nhân chính dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình là do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng với sự thay đổi chậm chạp của ý thức xã hội
và hầu như nam giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột của mình với gia đình, chính họ
đã tự đặt cho mình trọng trách lớn Phụ nữ thì còn tự ti, luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng
Đối với những gia đình ở khu vực nông thôn, sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị đã làm cho những người phụ nữ ở lại địa phương thêm gánh nặng, vừa đảm nhận lao động sản xuất vừa lo toan việc nội trợ
Trang 2Mặt khác, trình độ học vấn cũng góp phần quan trọng trong việc tạo quyền quyết định trong gia đình Nếu trong gia đình cả hai vợ chồng có học vấn cao thì sự bàn bạc, thỏa thuận chiếm tỷ lệ lớn; nếu người vợ có trình độ học vấn thấp thì quyền quyết định mọi mặt chủ yếu vẫn là chồng và ngược lại Về vấn đề kinh tế gia đình cũng là nguyên nhân dẫn đến mất bình đẳng trong gia đình…
Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng, tỉnh Lào Cai còn nhiều dấu tích của tư tưởng phong kiến còn tồn tại trong cuộc sống của người dân nơi đây Đặc biệt tàn dư của nó là tư tuởng trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng Vì vậy tôi chọn đề tài
“Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng, tỉnh Lào Cai – Thực trạng và giải pháp” làn đề tài nghiên cứu thực
tế, từ đó muốn tìm hiểu xem ở những cơ sở này vấn đề bình đẳng giói, đặc biệt là bình đẳng giói trong gia đình được nhìn nhận và thực hiện như thế nào
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu về kết quả thực hiện Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình
Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng trong những năm qua
- Trên cơ sở thực trạng, đề tài chỉ ra nguyên nhân và đề ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Thị trấn Phong Hai, xã Thái Niên, Xuân Quang huyện Bảo Thăng
II NỘI DUNG
1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
1.1 Xã Xuân Quang
Xuân Quang là xã vùng thấp nằm ở phía Đông Nam của huyện Bảo thắng, là địa hình khu vực trung du miền núi gồm những dải núi thấp, các đồi bát úp xen kẽ là các vùng có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển trồng lúa và cây ngắn ngày, thuận lợi cho phát triển nông- lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác Có
Trang 3diện tích tự nhiên là 5981 ha, chiếm 8,77% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, trong đó: đất nông nghiệp là 2.459,8 ha, đất lâm nghiệp là 1.852,8 ha, đất phi nông nghiệp là 894,7 ha, đất chưa sử dụng là 773,7 ha( đất đồi đá) Với mật độ dân số 3.009 hộ và 12.065 khẩu, có 11 dân tộc sinh sống, được chia thành 20 thôn, có một
thôn vùng cao, 02 thôn vùng sâu, vùng xa, 02 thôn đặc biệt khó khăn Có quốc lộ 70
và 4E chạy qua nên thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế với bên ngoài Trung tâm xã nằm cách Thị trấn Phố Lu (trung tâm huyện Bảo Thắng) khoảng 12 km theo hướng Quốc lộ 4E
Trong những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Xuân Quang luôn nhận được
sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ của Đảng ủy, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của xã, các tổ chức Hội, đoàn thể trong xã, huyện ủy, UBND huyện, các cơ quan chuyên môn của huyện Bảo Thắng Hội đã làm tốt công tác chỉ đạo, triển khai, tuyên truyền toàn dân chung tay xây dựng nông thôn mới Đồng thời tổ chức sâu rộng đến từng chi hội, tổ hội, hội viên phụ nữ trong xã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động,
tổ chức hội viên tham gia các phong trào “giúp nhau phát triển kinh tế”; Xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện cụ thể từng khâu, từng bước, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng mức thu nhập cho các hộ nghèo, kéo gần khoảng cách giữa các hộ trong xã Tuy nhiên vẫn còn một số ít hội viên Hội Phụ nữ xã chưa nhận thức đầy đủ về nội dung, mục đích của các phong trào giúp nhau làm kinh tế giỏi Chính vì vậy đến nay vẫn còn 444 hộ nghèo chiếm 14,1% Đây cũng là một vấn đề dặt ra đối với Hội Phụ nữ nói riêng và với cấp ủy chính quyền, đoàn thể và nhân dân trên địa bàn toàn xã
1.2 Xã Phong Niên
Phong Niên là xã vùng 3 của huyện Bảo Thắng với tổng diện tích đất tự nhiên
là 4.255 ha, gồm 22 thôn, trong đó có 11 thôn đặc biệt khó khăn Dân số 1.964 hộ, 7.903 khẩu với 10 dân tộc cùng chung sống tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 50% dân số, đời sống nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Đảng bộ xã Phong Niên có 27 chi bộ trực thộc trong đó có 22 chi bộ thôn, 4 chi bộ trường học, 01 chi bộ trạm y tế, có 181 đảng viên trong đó 09 đồng chí đảng viên
Trang 4được miễn công tác sinh hoạt; là xã có kinh tế, văn hóa, chính trị trọng tâm của Huyện Bảo Thắng, có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải để phát triển kinh tế - xã hội cũng như việc học tập quán triệt, tổ chức thực hiện chủ trương chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là triển khai học tập và thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW; Quy định số 08-QĐ/TU, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết trung ương 4 (Khóa XII) của Đảng về tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống các biểu hiện”Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”, trong nội bộ Hiện nay toàn xã có 15 cơ sở sản xuất và hộ gia đình chuyên kinh doanh sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản; dịch vụ vận chuyển vật liệu xây dựng, hàng hoá nông sản ngoài ra còn có 45 hộ kinh doanh buôn bán, các dịch vụ, hiệu sửa chữa xe máy,
xe đạp, rađiô, vô tuyến mang lại thu nhập đáng kể cho nhân dân Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn xã 284,1 triệu đồng đạt 78% DT huyện giao Trong những năm qua được sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân trên địa bàn, trong đó có sự chung tay không nhỏ của các chi hội phụ nữ xã tổ chức phong trào
“giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững” số hộ nghèo trong xã đã giảm đáng kể Giảm nghèo trong năm 2016: giảm 160 hộ so với năm 2015 đạt 128 % KH huyện giao
1.3 Thị trấn Phong Hải
Phong Hải là thị trấn miền núi vùng cao của huyện Bảo Thắng Có diện tích tự nhiên
là 9161 ha; với 2.582 hộ, 10.355 khẩu gồm 9 dân tộc anh em cùng chung sống trên 19 thôn, tổ dân phố, trong đó có 14 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn, mặc dù đã được đầu tư, song chưa đáp ứng được yêu cầu, một số thôn giao thông đi lại rất khó khăn nhất là vào mùa mưa lũ Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác tuyên truyền, hoạt động cộng đồng ở các nhà văn hóa còn hạn chế, đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm trên 50% so với dân số trên địa bàn Toàn thị trấn có 19 chi hội phụ nữ (66 tổ hội) với 1783 hội viên sinh hoạt Trong những năm qua được sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy đảng, chính quyền và
Trang 5sự cố gắng nỗ lực, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, chị em phụ nữ toàn thị trấn hưởng ứng phong trào giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững giảm tỷ lệ hộ nghèo đáng kể Kết quả hiện có 841 hộ nghèo chiến 33,82%, 310 hộ cận nghèo chiếm 12,46% so với tổng số hộ trên địa bàn Năm 2017, kế hoạch giảm nghèo 160 hộ tuy nhiên theo điều tra sơ bộ tính đến ngày 11/9 địa phương mới giảm được 90 hộ, kế hoạch giảm nghèo không đạt một phần do rủi ro trong chăn nuôi Công tác đảm bảo
an sinh xã hội được thực hiện tốt, các chế độ chính sách đến các đối tượng đều được thực hiện theo quy định
2 THỰC TRẠNG
2.1 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình chưa đựoc đánh giá đúng mức
Bất kì ở đâu, lúc nào người ta cũng nhìn thấy sự đóng góp to lớn của nữ giới trong các hoạt động gia đình Những đóng góp của họ được xem là “quan trọng”, thế nhưng địa vị của họ trong gia đình không được cải thiện so với nam giới tương ứng với những đóng góp đó Những đánh giá về vai trò của nữ giới còn mang tính chất khuôn sáo, chiếu lệ chứ chưa thật sự ghi nhận đúng mức những đóng góp của họ Nhiều trường hợp, khi ông chồng làm việc mọi người ghi nhận đóng góp của anh ta nhưng khi người vợ làm việc đó người ta cho là việc tất nhiên Nhất là trong các công việc nội trợ bởi nhiều người cho rằng “nội trợ và chăm sóc con cái là thiên chức của người phụ nữ chứ không phải công việc của đàn ông’’ Kể cả khi người vợ tham gia những công việc tạo ra thu nhập đáng kể cho gia đình nhưng dường như người chồng
“trả công” vợ không xứng đáng với lao động bỏ ra bằng nhưng “đánh giá không xứng đáng” của mình Nhiều khi các chị còn bị trách cứ “làm tý việc cũng kể lể”, “đàn bà không làm những việc ấy thì làm gì” “Tý việc” mà các ông chồng nói là hơn 60% công việc nội trợ gia đình Nếu một gia đình khá giả ở thành phố có điều kiện nuôi người giúp phải trả công từ 400000 ngàn đồng đến 600000 ngàn đồng mỗi tháng, có cơm ăn, quần áo mặc và chỗ ở Thế nhưng người vợ làm nội trợ gia đình thì không ai tính công sức của họ thành tiền mà chỉ được coi là “tý việc” không đáng kể Đây là
Trang 6hiện tượng có tính chất phổ biến trong các gia đình ở Thị trấn Phong hải, xã Thái Niên, xã Xuân Quang nói riêng và trong gia đình nông thôn Việt Nam nói chung Điều này phần nào lý giải khi điều tra tiêu chí “Ai là người đóng góp nhiều nhất vào thu nhập gia đình?” thì kết quả nghiêng về nam giới Có tới 50% ý kiến của nam giới
và 40% ý kiến của nữ giói cho rằng nam giới mang lại nguồn thu nhập chính cho gia đình, trong khi chỉ có 10% ý kiến của nam giới và 20% ý kiến của nữ cho rằng nữ giơi có đóng góp nhiều nhất vào thu mang lại cao hơn người chồng
Bảng2 :Ai là người đóng góp nhiều nhất vào thu nhập gia đình?
Người
được hỏi
Vợ Chồng Cả hai
Na
m
3 10%
15 50% 12
40%
Nữ 6
20%
12 40% 12
40%
Điều này cho thấy uy tín về kinh tế của người chồng cao hơn người vợ
2.2 Sự phân công lao động trong gia đình chưa hợp lý
Sự phân công lao động trong gia đình ở Thị trấn Phong hải, xã Thái Niên, xã Xuân Quang thể hiện khá rõ sự phân công theo giới Trong gia đình, nữ giới thường phải chịu trách nhiệm về những công việc thiết yếu, lặp đi lặp lại và cần phải tiến hành đều đặn, trong khi nam giới đảm nhận những việc lớn, ít nhàm chán hơn
Ở nhiều xã hội, sự phân công lao động phổ biến theo giới là giao nấu ăn cho phụ nữ, coi đó là khả năng thiên bẩm của giới nữ Không nam giới nào cảm thấy xấu
hổ mà coi là đương nhiên nếu họ không biết nấu ăn hoặc nấu ăn vụng Nhưng nếu người vợ nấu ăn vụng sẽ bị khiển trách thậm tệ Điều này là khà phổ biến trong các gia đình ở Thị trấn Phong hải, xã Thái Niên, xã Xuân Quang Phụ nữ ở phải đảm nhận hầu hết các công việc nội trợ, từ nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa đến chăm sóc con cái
Ngoài công việc chăm sóc gia đình, các chị còn tham gia hầu hết các hoạt động lao động khác Họ là những người tham gia chủ đạo và trực tiếp sản xuất nông
Trang 7nghiệp, là nghề chính của 2/3 gia đình ở đây Theo khảo sát địa bàn cho thấy hầu hết
nữ giới đều tham gia với vai trò chính trong các công việc như làm giống, cấy, làm phân, chăm sóc…chỉ có hai công việc họ ít tham gia hơn là làm giống và làm đất Ở nhiều hoạt động nghề phụ hay buôn bán, dịch vụ nữ gíơi đóng vai trò là lao động chính, tạo ra thu nhập đáng kể cho gia đình Kết quả phát phiếu điều tra cho thấy:
Bảng3 : Ai trong gia đình là lao động chính trong các loại việc sau?
Chợ búa 3 5% 40 66, 7% 7 11, 7% 10 16, 6%
Chăn nuôi 9 15% 36 60% 6 10% 9 15% Làm ruộng 26 44, 3% 28 46, 7% 3 5% 3 5%
Qua bảng này ta thấy phụ nữ tham gia vào hầu hết hoạt động sản xuất của gia đình và mức độ tham gia nhiều hơn nam giới Số liệu điều tra cho thấy, trung bình mỗi ngày phụ nữ làm việc tới 15 tiếng, trong khi nam giới chỉ khoảng hơn 10 tiếng Tuy trường độ làm việc của nữ giới nhiều hơn nam giới nhưng lao động của nam giới được đề cao hơn bởi công việc của nam giới vất vả, nặng nhọc hơn Còn lao động của
nữ giới có thể được trẻ em, người già hổ trợ, trong đó có nhiều lao động không tạo ra sản phẩm trực tiếp (việc nhà)
Trường độ làm việc lớn khiến ngươiì phụ nữ không có thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn và chăm sóc bản thân Các chị ở khu vực trung tâm xã, thị trấn chủ yếu là cán bộ, tiểu thương, tiểu chủ còn có chút thơi gian để nghỉ ngơi, phụ nữ các khu vực thuần nông, nhất là phụ nữ nghèo và các đồng bào dân tộc thiểu số phải làm việc triền miên, hết việc đồng áng, làm thêm lại đến việc nhà Thời gian biểu hàng ngày của một phụ nữ có làm thêm nghề phụ sẽ phần nào minh hoạ cho gánh nặng công việc của người phụ nữ nông thôn
Nhiều chị đi làm thêm, hoặc tham gia chạy chợ buôn bán kiếm thêm thu nhập nhưng vẫn là người chịu trách nhiệm chính trong công việc gia đình Nếu không chu toàn sẽ bị chồng và gia đình nhà chồng trách móc, áp lực gia đình càng nặng nề hơn
Trang 8Điều này ảnh hưởng rất lơn đến sự phát triển thể chất va tinh thần của người phụ nữ Nếu không có thời gian nghỉ ngơi, giải trí những người phụ nữ này rất dể măc phải stress Thực tế qua điều cho thấy, nếu như người đàn ông một ngày trung bình có khoảng 6 tiếng nghỉ ngơi thì phụ nữ chỉ có khoảng 1 tiếng
Sự bất công còn thể hiện ở việc sử dụng thời gian rảnh rỗi của 2 giới Theo điều tra có tới 80% nam giới được hỏi cho biết họ sử dụng thời gian rổi để tụ tâp cà fê, ăn nhậu hoăc đánh bài Trong khi đó 80% nữ được hỏi cho biết thời gian rổi họ thường kiểm tra con cái học bài hoặc may vá quần áo Họ chỉ tranh thủ nghỉ ngơi giải trí khi xem một bộ phim hay hoặc một chương trình yêu thích
Rõ ràng sự phân công trách nhiệm trong gia đình còn có sự bất bình đẵng giữa nam và nữ, mà phần thiệt luôn thuộc về nữ giới
2.3 Thái độ của nam giới đối với công việc nội trợ
Nhiều nam giới ở Phong Hải, Thái Niên, Xuân Quang vẫn con quan niệm “đàn ông ngoài nhà đàn bà trong bếp” họ cho rằng vị trí của người đàn ông là gánh vác những trọng trách của gia đình và xã hội, còn việc bếp núc là của đàn bà Xã hội đang lên tiếng kêu gọi nam giới chia sẻ công việc nhà với phụ nữ, nhưng ở Thị trấn Phong hải, xã Thái Niên, xã Xuân Quang qua điều tra chỉ có 30% người được hỏi thỉnh thoảng phụ giúp vợ nấu ăn, còn hơn 80% cho biết họ chưa từng vào bếp và có đến hơn 90% trả lời chưa bao giờ giặt giũ cho vợ con cả Với tiêu chí “nam giới có cần phải chia sẻ công việc nhà với nữ giới không?”, chỉ có 30% nam giới trả lời là có, 40% trả lời không và 30% là ý kiến khác Và có tơi 50% ý kiến của nữ giới mong muốn nam giới chia sẻ công việc nội trợ, chỉ có 20% ý kiến trả lời không
Bảng 5: Nam giới cần chia sẻ việc nhà với nữ giới không?
Trang 9Lý giải nguyên nhân không giúp đỡ vợ làm viêc nhà, các bậc nam giới cho răng: “Nấu nướng là thiên chức của người đàn bà, đàn ông còn phải làm nhiều viêc khác”
“Nhà có đàn bà, đàn ông nhúng tay vào con ra thể thống gi?”
Đa phần nam giới cho rằng nấu nướng là công việc của phụ nữ, đàn ông có nhúng tay vào cũng chỉ là “trợ giúp” hoặc “tạm thay”
Nấu ăn thể hiên quyền lực không ngang nhau giữa hai giới Người vợ thường phải chiều theo ý chồng, nấu mon gì đều phải theo sở thích và khẩu vị của người chồng Nếu người vợ không làm theo dễ dẫn tới mâu thuẫn giữa vợ chồng Để giữ gìn hạnh phúc gia đinh người phụ nữ thường nhận phần thiệt về mình
2.4 Quyền ra quyết định chính trong gia đình
Hiện nay, người phụ nữ đã có quyền tham gia bàn bac về tất cả các vấn đề trong gia đinhh nhưng quyết đinh cuối cùng thuộc về người chồng Theo điều tra cho thấy nếu ý kiến hai bên khac nhau, không thống nhất với nhau thì tiếng nói của người chồng là quyết định, người vợ buộc phải nghe theo Đây là một trong những biểu hiện cho thấy quan hệ quyền lực không ngang nhau giữa hai giơi trong gia đinh
2.5 Bạo lực trong quan hệ vợ chồng
Đó là bất kỳ hành động nào trong gia đình do chồng (hoặc vợ) gây ra, làm tổn thương đến sức khoẻ thể xác, tinh thần hoặc xâm phạm quyền tự do củ người bạn đời của mình Nạn nhân của bạo lực trong quan hệ vợ chồng thường là phụ nữ
Theo thống kê của UBND thị trấn và các xã thì số vụ bạo hành không nhiều, môt năm chỉ có vài ba vụ Nhưng đó chỉ là những vụ gây ra hậu quả nghiêm trọng mới được thống kê lên trên Trong thực tế con số đó chắc chắn sẽ nhiều hơn rất nhiều Qua điều tra 30 chị thì có ba chị thường xuyên bị chồng đánh chửi; 12 chị cho biết thỉnh thoảng bị chồng mắng nhiếc Điều tra cho thấy không có trường hơp nào nam giới bị vợ đánh chửi Qua thăm dò dư luận thì số lượng cac căp vợ chồng mâu thuẫn chông đánh chửi vợ khá nhiêu Nhất là ở khu vưc thuồn nông và khu vức thôn sâu, xa
Trang 10của các xã Trong thời gian qua có các vụ đánh chửi nhau phải có sự can thiêp của cán
bộ khu vưc Lý do gây mâu thuẫn chỉ là những bất đồng trong gia đình, do ghen tuông
do say rượu…Đặc biệt có một lý do nhay cảm it ai nhắc tới nhưng có ảnh hưởng rất sâu trong quan hệ vợ chồng, đó là sự không hoà hợp về tình dục, người chồng bắt ép
vợ phải chiều mình…
Nhìn chung, tình trạng bạo hành phụ nữ trong các gia đình ở THỊ TRẤN PHONG HẢI, XÃ THÁI NIÊN, XÃ XUÂN QUANG vẫn còn tồn tại nhưng lai được
ít người thừa nhận họ chỉ coi đó là mâu thuẫn vợ chồng Kết quả điều tra cho thấy:
Bảng 6 : chồng đánh vợ có bị coi là nghiên trọng không?
Nhìn vào bảng có thể nhận thấy phần lớn người dân đều cho rằng chồng đánh, mắng vợ không phải là vấn đề nghiêm trọng Bởi lẽ nhiều người còn quan niệm rằng xung đột vợ chồng là điều khong thể tránh khỏi trong đờ sống gia đình Họ cho rằng đến bat đĩa trong chạn có lúc con bị xô đẩy huống hồ quan hệ vợ chông, đó là chuyện bình thường trong cuộc sống Cho nên nhiều người dân, kể cả cán bộ chính quyền có
xu hướng coi bạo lực trong quan hệ vợ chồng là chuyện riêng tư, không nên can thiệp Chỉ khi người vợ bị đánh thành thương tích hoặc bị đánh thường xuyên thì người ta mới nhờ đến chính quyền địa phương Nếu họ chỉ mới chửi mắng nhau thì họ không cần giúp đỡ việc nhà nào nhà ấy lo “đóng cựa bảo nhau”, không ai muốn và cũng không ai có khả năng can thiệp vào Chính ngời phụ nữ bị đánh và người thân của họ cũng có suy nghĩ như vây
Đặc biệt có một hình thức bạo hành phụ nữ ít ai thừa nhận, đó là bạo hành tình dục Đa số các chị dù “không muốn” nhưng vẫn phải “chiều chồng”, họ nghĩ đó