1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển cho quản lý các khu rừng đặc dụng vùng Tây Bắc Việt Nam

202 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 5,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phổ cập giáo dục là một trong những chính sách phát triển giáo dục của tất cả các quốc gia trong xã hội hiện đại, Phổ cập giáo dục (PCGD) là một con đường để nâng cao mặt bằng dân trí, trình độ học vấn của dân cư, trên cơ sở đó đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. PCGD quan hệ rất mật thiết với dân chủ hoá giáo dục, thực hiện bình đẳng về cơ hội giáo dục với các chính sách xã hội khác nhau và là con đường để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến giáo dục và đặc biệt là PCGD. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương đúng đắn về giáo dục nói chung và PCGD nói riêng. Ngay từ khi nước nhà mới độc lập ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã ra lời kêu gọi "diệt giặc dốt" động viên người biết chữ dạy người chưa biết chữ để toàn dân biết đọc, biết viết nhằm thanh toán nạn mù chữ. PCGD góp phần đặt nền móng cho việc thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị định 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục ghi rõ "Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non (PCGDMN) cho trẻ em năm tuổi, PCGD tiểu học và PCGD trung học cơ sở", như vậy, PCGDMN cho trẻ năm tuổi đã được chính thức đưa vào Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2011; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 về PCGDMN cho trẻ năm tuổi, củng cố kết quả PCGD tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, xác định rõ: "Hoàn thành PCGDMN cho trẻ năm tuổi vào năm 2015"; Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội khóa XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015, xác định: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư và cơ cấu lại chi ngân sách cho các mục tiêu của giáo dục và đào tạo. Ưu tiên ngân sách cho phổ cập giáo dục tiểu học, miễn học phí; phổ cập trung học cơ sở và PCGDMN năm tuổi, trước mắt còn có thu học phí,…” Từ tình hình thực tiễn phát triển GDMN, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, Quốc hội về phát triển GDMN, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015 nhằm nâng cao chất lượng GDMN nói chung và trẻ em năm tuổi nói riêng, chuẩn bị cho trẻ em ở mọi vùng miền, đặc biệt là trẻ em vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo có kỹ năng, thể chất và trí tuệ sẵn sàng vào lớp 1; ngày 09/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 239/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010-2015. So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam thực hiện phổ cập muộn hơn do phải trải qua các cuộc chiến tranh kéo dài và sự tồn tại lâu dài của chế độ phong kiến. Trong vòng 20 năm cả nước đã hoàn thành mục tiêu PCGD tiểu học, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang thực hiện PCGDMN cho trẻ năm tuổi trên phạm vi toàn quốc, nhiều tỉnh thành đã đạt được những tiêu chí của PCGDMN cho trẻ năm tuổi. Nhiều địa phương đã phấn đấu đạt chuẩn PCGDMN cho trẻ năm tuổi sớm hơn mục tiêu chung của quốc gia nhưng sau đó lại gặp khó khăn trong việc duy trì, giữ vững mục tiêu và nâng cao chất lượng PCGD giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi. Trong thời gian qua các chính sách của công tác PCGDMN cho trẻ năm tuổi trong trường mầm non đã đạt được những kết quả nhất định, chất lượng giáo dục trẻ ngày càng tăng lên; hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị đồ chơi được đầu tư theo quy định, phù hợp với điều kiện thực tế; đội ngũ giáo viên được bố trí đủ theo quy định, đáp ứng được yêu cầu về trình độ và tỉ lệ giáo viên trên lớp theo quy định; chế độ của trẻ và giáo viên được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Tuy nhiên, một số nội dung chính sách được ban hành chưa sát với thực tiễn, với đối tượng người thụ hưởng, bên cạnh đó, việc triển khai chính sách cũng nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế. Vì vậy, chính sách phổ cập giáo dục cho trẻ em năm tuổi cũng tồn tại một số hạn chế nhất định, tác động đến mục tiêu phát triển của Ngành giáo dục và đào tạo. Cao Bằng là một tỉnh miền núi, biên giới, t lệ hộ ngh o còn cao, ngân sách đầu tư cho giáo dục còn nhiều hạn chế; địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt. Ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số đời sống của đồng bào chậm được cải thiện; trình độ dân trí còn hạn chế; địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, một số phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại, một số ít người dân vùng dân tộc thiểu số chưa quan tâm tạo điều kiện cho con đi học, ... ảnh hưởng tới việc quy hoạch, phát triển trường lớp, tổ chức các hoạt động giáo dục chăm sóc, nuôi dạy, huy động và duy trì sỹ số trẻ đến trường; cơ sở vật chất, phòng học, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, nhà công vụ cho giáo viên, các phòng chức năng đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng; đội ngũ giáo viên mầm non tại một số tỉnh còn thiếu so với quy định. Nhiều điểm trường, lớp lẻ rất xa trung tâm xã, phải đi bộ từ 5 – 7 km. Kinh phí đầu tư cho PCGDMN cho trẻ em năm tuổi chưa đáp ứng so với yêu cầu. Chính vì vậy đề tài luận văn: “Thực hiện Chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau, các văn bản của Nhà nước, chính quyền các cấp đề cập tới công tác PCGDMN cho trẻ năm tuổi, cho thấy sự cần thiết của công tác PCGDMN cho trẻ em ở độ tuổi chuẩn bị tới trường ở các địa phương cụ thể như:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

VŨ THỊ BÍCH THUẬN

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CHO QUẢN LÝ CÁC KHU RỪNG ĐẶC DỤNG VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lâm sinh

Mã ngành: 62 62 02 05

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi

2 PGS.TS Đỗ Anh Tuân

Hà Nội, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Ở ngoài nước 6

1.1.1 Chiến lược toàn cầu về bảo tồn ĐDSH trên thế giới 6

1.1.2 Tầm quan trọng của hệ thống các KBTTN trên Thế giới 7

1.2 Ở trong nước 16

1.2.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển trong quản lý các KBT hiện nay 16 1.2.2 Thực trạng về quản lý bảo tồn ở Việt Nam 22

1.2.3 Quản lý bảo tồn ĐDSH khu vực Tây Bắc Việt Nam 25

1.3 Thảo luận 27

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Nội dung nghiên cứu 30

2.2 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Quan điểm và phương pháp luận 30

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KT - XH KHU VỰC NGHIÊN CỨU 45

3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 45

3.1.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 45

3.1.2 Địa hình, đất đai 49

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 50

3.2 Đặc điểm văn hoá- xã hội 52

3.3 Đặc điểm về dân cư 54

3.4 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi 56

3.5 Hiện trạng rừng và tài nguyên động vật, thực vật rừng 56

3.5.1 ĐDSH VQG Hoàng Liên 57

3.5.2 ĐDSH Khu BTTN Mường Nhé 59

Trang 3

3.5.3 ĐDSH Khu BTTN Xuân Nha 60

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 62

4.1 Nghiên cứu tổng quan khung pháp lý về quản lý VQG/KBT ở VN 62

4.1.1 Khái quát hệ thống chính sách quản lý RĐD ở Việt Nam 62

4.1.2 Những tồn tại của hệ thống chính sách quản lý RĐD ở Việt Nam 66

4.2 Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý tại KBTTN Mường Nhé, KBTTN Xuân Nha và VQG Hoàng Liên 70

4.2.1 Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và sử dụng TNR 70

4.2.2 Hiệu quả quản lý RĐD trong khu vực nghiên cứu 77

4.2.3 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quản lý RĐD tại khu vực Tây Bắc 107

4.3 Nhóm loài gỗ và LSNG mà cộng đồng khai thác từ RĐD 111

4.3.1 Những sản phẩm mà cộng đồng địa phương khai thác từ RĐD 111

4.3.2 Mức độ tác động lên RĐD của cộng đồng địa phương 118

4.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến tác động bất lợi của cộng đồng lên RĐD 123

4.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên RĐD theo định hướng phát triển bền vững trên cơ sở gắn bảo tồn với phát triển 134

4.4.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý RĐD vùng Tây Bắc trên cơ sở bảo tồn và phát triển 134

4.4.2 Giải pháp tạo sinh kế thay thế cho cộng đồng 136

4.4.3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của các bên trong quản lý RĐD 139

4.4.4 Hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến quản lý RĐD 141

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC

Trang 4

PARC : Xây dựng các khu bảo vệ nhằm bảo tồn tài nguyên thiên

nhiên trên cơ sở sinh thái cảnh quan PRA : Đánh giá nông thôn có sự tham gia

QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng

QLNN : Quản lý nhà nước

RRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

RĐD : Rừng đặc dụng

World Vision : Tổ chức Tầm nhìn Thế giới

SPSS : Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học

xã hội (Statistical Package for Social Sciences) SWOT : Phân tích Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức TNR : Tài nguyên rừng

TFF : Quỹ hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNDP : Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc

WWF : Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên

WB : Ngân hàng thế giới

FFI : Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Quốc tế

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNESCO

UNEP

: :

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

2.1 Số phiếu khảo sát tại các điểm nghiên cứu 39

3.3 Dân tộc, dân số các địa phương tại các điểm nghiên cứu 54

3.5 Sự phân bố số họ, chi và loài theo các ngành của hệ thực vật tại

các điểm nghiên cứu

57

4.1 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu 71 4.2 Cơ cấu tổng thu nhập của các nhóm hộ gia đình 72 4.3 Mô hình tương quan giữa tổng thu nhập với các nhân tố ảnh hưởng 75 4.4 Mô hình tương quan chung giữa tổng thu nhập với các nhân tố ảnh

hưởng

75

4.5 Trình độ của đội ngũ cán bộ Ban quản lý các VQG/KBT 80

4.7 Diện tích bình quân 01 kiểm lâm VQG/KBT quản lý năm 2013 82 4.8 Các khoá tập huấn nâng cao năng lực cho kiểm lâm các VQG/KBT

trong những năm gần đây

83

4.9 Cơ chế khuyến khích cho kiểm lâm tại các điểm nghiên cứu 86 4.10 Quy hoạch đất đai tại VQG/KBT trong khu vực nghiên cứu 87 4.11 Các vụ vi phạm tài nguyên RĐD ở các VQG/KBT từ 2011-2014 89 4.12 Các bên liên quan chính trong hoạt động quản lý tại VQG/KBT 97 4.13 Mô hình tương quan giữa hiệu quả quản lý với các nhân tố 104 4.14 Mức độ cần thiết của các giải pháp nâng cao hiệu quả QL RĐD 105 4.15 Phân tích về cơ hội và thách thức giữa các VQG/ KBTTN (SWOT) 107 4.16 Các sản phẩm mà cộng đồng địa phương khai thác từ RĐD 112 4.17 Các loài bị tác động nhiều thuộc các nhóm tài nguyên 113 4.18 Phương thức khai thác và mục đích sử dụng các sản phẩm khai

thác tại RĐD

119

4.19 Mức độ tác động của cộng đồng địa phương 120 4.20 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tác động vào rừng 122 4.21 Những hoạt động bất lợi của cộng đồng đến tài nguyên RĐD 123 4.22 Nguyên nhân dẫn đến những tác động bất lợi của cộng đồng ở

vùng đệm đến quản lý tổng hợp tài nguyên RĐD

127 4.23 Mô hình tứ diện về phát triển kinh tế hộ với QL tài nguyên RĐD 134

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

2.1 Phân vùng địa lý khu vực Tây Bắc Việt Nam và địa điểm nghiên

2.2 Nhu cầu của người dân lên tài nguyên RĐD 31

2.4 Khung vấn đề quản lý RĐD với phát triển cộng đồng 33 2.5 Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động của người

4.1 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng theo điểm nghiên cứu 71

4.7 Biểu đồ đánh giá trình độ của cán bộ các VQG/KBT 81 4.8 Mức độ đánh giá của người dân về quy hoạch đất tại VQG/KBT 88 4.9 Số vụ vi phạm lâm luật phân theo hành vi tại các điểm nghiên cứu 90 4.10 Số vụ vi phạm vào RĐD phân theo năm tại các điểm nghiên cứu 92 4.11 Mức độ tác động của cộng đồng lên tài nguyên RĐD 120 4.12 Những tác động bất lợi tới quản lý RĐD tại các VQG/KBT 124 4.13 Những áp lực trong hoạt động bảo tồn tại các VQG/KBT 128

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của luận án

Trong vài thập kỷ qua, để đối phó với các nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) ngày càng tăng, hệ thống các vườn quốc gia (VQG) và khu bảo tồn (KBT) trên Thế giới và ở Việt Nam đã dần được hình thành Sự đầu tư theo chiều sâu và rộng cho các VQG/KBT cũng được các Quốc gia quan tâm Hệ thống chính sách về quản lý các VQG/KBT được xây dựng và ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà VQG/KBT có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Theo số liệu thống kê hiện trạng rừng tại Quyết định số TCLN ngày 06/8/2015 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc đến 31/12/2014,

3135/QĐ-BNN-cả nước có 13.796.506 ha đất có rừng, trong đó rừng RĐD là 2.085.132 ha (rừng tự nhiên 2.008.254 ha; rừng trồng 76.878 ha) Hệ thống KBT đã được thành lập, phân

bố trên địa bàn cả nước với 164 khu Đồng thời với việc quy hoạch phát triển các hệ thống KBT, Nhà nước đã ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quản lý, bảo vệ các hệ thống KBT và bảo tồn ĐDSH; Việt Nam đã và đang tham gia nhiều Công ước Quốc tế có liên quan tới lĩnh vực này

Trên thực tế, các VQG/KBT ở nước ta đang phải đối mặt giữa vấn đề bảo tồn

và phát triển, nhưng để giải quyết vấn đề này thì không hề đơn giản Những mối đe dọa chính tới VQG/KBT thường xuất phát từ mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn và sinh kế của người dân sống trong và bên ngoài ranh giới VQG/KBT Ở một số khu rừng đặc dụng (RĐD) do quá thiên hướng vào mục đích bảo tồn, ngăn chặn những tác động có thể có ảnh hưởng đến từ bên ngoài mà chưa chú ý đúng mức tới phát triển bền vững một cách tổng thể, điều này gây ra những mâu thuẫn không thể giải quyết được Khi những mâu thuẫn này chưa được xác định và giải quyết, thì những vấn đề cơ bản của bảo tồn cũng khó có thể giải quyết Điều này dẫn đến tác động tiêu cực của người dân tới tài nguyên rừng (TNR) ở các VQG/KBT là điều khó có thể tránh khỏi

Trang 8

Mặt khác, thực tế hiện nay công tác tổ chức và quản lý hệ thống RĐD ở nước

ta đang có nhiều tồn tại như: hệ thống cơ quan quản lý RĐD chưa thống nhất; tiêu chí quy hoạch và quản lý RĐD chưa rõ ràng; thiếu căn cứ, cơ sở để quyết định biên chế, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các Ban quản lý RĐD nên còn chưa

rõ ràng, chồng chéo, thiếu quy định chặt chẽ về phân cấp và phân công trách nhiệm quản lý RĐD giữa Trung ương và địa phương; Chế độ ưu đãi đối với cán bộ làm công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ RĐD còn thiếu Mâu thuẫn và xung đột giữa quyền lợi phát triển sinh kế của người dân địa phương với những qui định và thực thi quản lý RĐD Vì vậy, việc thống nhất tổ chức và quản lý hệ thống RĐD là thực

sự cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện tại nhằm đảm bảo quản lý và bảo tồn hiệu quả các hệ sinh thái, tài nguyên ĐDSH và phát triển sinh kế bền vững

Quản lý tổng hợp TNR ở các khu RĐD là cách tiếp cận để quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên hài hòa với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho cộng đồng địa phương trong các hệ thống sinh thái – nhân văn, nhằm hướng đến mục tiêu quản

lý tốt các giá trị của thiên nhiên phục vụ cho phát triển bền vững

Với đặc thù về hệ sinh thái – nhân văn của khu vực Tây Bắc Việt Nam, quản

lý RĐD ở đây cũng gặp nhiều thách thức do yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội mang lại Thực tế cho thấy việc kết hợp bảo tồn với phát triển, hay quản lý bảo tồn tổng hợp tài nguyên RĐD một cách bền vững là nhu cầu bức thiết

Để góp phần giải quyết các vấn đề trên luận án: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển cho quản lý các khu RĐD vùng Tây Bắc Việt Nam” được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp quản

lý tổng hợp TNR cho các khu RĐD nói chung, khu vực Tây Bắc Việt Nam nói riêng

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về ý nghĩa khoa học: Luận án đã đánh giá được thực trạng về khung chính sách về quản lý RĐD nói chung, ở 1 VQG và 2 KBTTN ở vùng Tây Bắc nước ta Luận án cũng thiết lập được mối liên hệ giữa phát triển kinh tế hộ với việc sử dụng

Trang 9

TNR bằng một mô hình tuyến tính giữa tổng thu nhập với các biến số về sự phụ thuộc của người dân vào rừng và nhu cầu thị trường

Về mặt thực tiễn: Luận án đã chỉ ra được những ảnh hưởng chủ yếu của cộng đồng các địa phương tới công tác quản lý RĐD và cũng qua đó thiết lập được mối quan hệ đa biến giữa hiệu quả quản lý RĐD với vấn đề nâng cao nhận thức, nguồn thu từ rừng, mô hình kinh tế và sự tham gia của các bên Từ đó, có được một số đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý các VQG/KBT cho vùng Tây Bắc Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các giải pháp quản lý tài nguyên rừng

bền vững trên cơ sở bảo tồn và phát triển tại các khu RĐD vùng Tây Bắc Việt Nam

* Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được thực trạng khung chính sách, hoạt động quản lý của VQG Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai và Lai Châu) và KBTTN Xuân Nha (tỉnh Sơn La), KBTTN Mường Nhé (tỉnh Điện Biên) làm căn cứ bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn

về bảo tồn và phát triển cho quản lý RĐD ở vùng Tây Bắc

- Xác định được các nhóm loài cây gỗ và LSNG được khai thác và sử dụng tại khu vực nghiên cứu; đánh giá hiệu quả quản lý TNR thông qua mối liên hệ giữa các bên liên quan trong sử dụng TNR, phát triển kinh tế với các mục tiêu bảo tồn

- Đề xuất một số giải pháp quản lý tổng hợp TNR cho RĐD theo định hướng quản lý và phát triển bền vững tại vùng Tây Bắc Việt Nam

4 Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu vào 3 đối tượng sau: (1) RĐD tại các điểm nghiên cứu (2) Nhóm nhân tố quản lý VQG/KBT như cán bộ công tác tại các VQG/KBT, hệ thống tổ chức quản lý VQG/KBT, (3) Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến

Trang 10

hiệu quả quản lý tài nguyên RĐD, bao gồm: chính sách pháp luật, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, cộng đồng địa phương…

* Giới hạn nghiên cứu

Do điều kiện về thời gian nên luận án tập trung nghiên cứu 6 xã của 1 VQG

và 2 KBTTN đại diện cho vùng Tây Bắc Bao gồm VQG Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai

và Lai Châu), KBTTN Xuân Nha (tỉnh Sơn La), KBTTN Mường Nhé (tỉnh Điện Biên) đại diện cho các khu RĐD vùng Tây Bắc Việt Nam

Hình 2.1: Phân vùng địa lý khu vực Tây Bắc Việt Nam và địa điểm nghiên cứu

5 Những đóng góp của luận án

Luận án cung cấp những điểm mới sau:

i) Đã xác định và bổ sung được một số cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm quản

lý các VQG và KBTTN vùng Tây Bắc dựa trên các kết quả phân tích thực trạng quản lý và mối liên hệ giữa các mục tiêu bảo tồn và phát triển sinh kế của người dân sống trong và quanh RĐD

ii) Xây dựng và đề xuất được mô hình quản lý tổng hợp TNR ở RĐD theo

hướng gắn bảo tồn và phát triển bền vững cho vùng Tây Bắc Việt Nam

Trang 11

6 Cấu trúc luận án

Luận án dài 149 trang, đánh máy A4, được cấu trúc thành 4 chương và hai phần (Phần mở đầu và phần kết luận và kiến nghị) như sau:

- Phần mở đầu

- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu;

- Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu;

- Chương 3: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu;

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;

- Phần kết luận và kiến nghị

Ngoài ra còn có hệ thống 29 bảng, 18 hình Tham khảo 88 tài liệu trong đó

80 tài liệu tiếng Việt, 08 tài liệu tiếng nước ngoài có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Ở ngoài nước

1.1.1 Chiến lược toàn cầu về bảo tồn ĐDSH trên thế giới

Tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì cân bằng tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội ĐDSH trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người Sau hội nghị thượng đỉnh toàn cầu lần thứ II tại Rio de Janeiro, Brazil, thế giới đã có cái nhìn sâu hơn về bảo tồn ĐDSH và một chiến lược về bảo tồn ĐDSH đã được hình thành Nguyên tắc chủ đạo trong chiến lược này là chú trọng đến các mối quan hệ giữa phát triển KT-

XH với bảo tồn tài nguyên ĐDSH

Xu hướng chung của Thế giới về bảo tồn ĐDSH hiện nay là bảo tồn gắn với phát triển bền vững Nhiều nghiên cứu đã chứng minh cho hướng đi đúng đắn này, theo P.B.Primack (1999) “Nếu như phát triển bền vững là một khái niệm hữu ích trong sinh học bảo tồn thì nó cần được xem xét trong hệ thống quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên” [47] UNESCO cũng đã khởi xướng một cách tiếp cận bảo tồn vì người dân, do dân thực hiện dưới sự giám sát và cung cấp dịch

vụ của nhà nước với chương trình “con người và sinh quyển” [47] IUCN và WWF

đã thừa nhận “KBT chỉ có thể tồn tại khi nó có giá trị đối với toàn thể quốc gia và

đặc biệt đối với người dân địa phương” Theo DSEWPaC (2011) [80] thì một trong

những cơ hội lớn cho việc đầu tư có hiệu quả về bảo tồn ĐDSH ở cấp độ quốc gia là việc sử dụng các quyết định dựa trên cơ sở khoa học để dự đoán, theo dõi, đánh giá lợi ích của ĐDSH và chính sách đầu tư Như vậy có thể thấy: Trừ những trường hợp đặc biệt đối với một số KBT có tính biệt lập hoàn toàn với khu dân cư, còn lại thì giải pháp tốt nhất và mang tính chiến lược vẫn phải là bảo tồn gắn với phát triển kinh tế, xã hội bền vững

Trang 13

1.1.2 Tầm quan trọng của hệ thống các KBTTN trên Thế giới

Theo định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn ĐDSH là mục tiêu cơ bản

của KBT: “KBT là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” [29]

Công ước ĐDSH (1992) xác định các KBT là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH “tại chỗ” Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công Ước có các mục qui định rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống KBT, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBT và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBT để đảm bảo bảo tồn

và sử dụng bền vững

VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm

1872 VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ Nhiều KBT và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBT và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và KBT và mục đích bảo tồn TNR đã không đạt được Phương thức này gọi là biện pháp "Rào và phạt"

Tại các nước Đông Nam Châu Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì

để duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn Các mô hình ở Đông Nam Châu Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản

lý TNR và KT- XH Người dân địa phương có nhiều kiến thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này

Trang 14

Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG/KBT trên thế giới, từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBT và VQG với các hoạt động sinh

kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý của các KBT, từ những yếu tố cơ bản như đối tượng được bảo vệ (các loài, các dịch vụ hệ sinh thái), người làm công tác bảo

vệ (các vấn đề quản trị), đến các yếu tố phức tạp hơn như các yếu tố liên quan đến tài chính Đánh giá một cách tổng hợp sẽ mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về các vấn đề liên quan đến việc quản lý ĐDSH trong các KBT[83]

Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các VQG/KBT khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn ĐDSH với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương

1.1.3 Cách tiếp cận trong quản lý các KBT

Phương pháp nghiên cứu chính trong quản lý bảo tồn ở trên thế giới thể hiện qua ba phương pháp tiếp cận chính là tiếp cận nghiên cứu về kỹ thuật bảo tồn; tiếp cận sinh kế bền vững và tiếp cận nghiên cứu bảo tồn và phát triển

Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật bảo tồn

Về mặt lý thuyết và cơ sở khoa học để thành lập các KBT có hiệu quả thì phải chú ý đến những quan điểm về kích thước, hình dạng, số lượng loài, những loài đặc trưng, quý hiếm và mối liên hệ giữa các KBT Trong thực tế, rất nhiều KBT ra đời hoàn toàn phụ thuộc vào sự sẵn có từ tự nhiên như đất đai, sinh vật Theo Morris: “Không có cách quản lý KBT nào luôn đúng hoặc sai Việc áp dụng bất

cứ một phương pháp quản lý nào cũng phải dựa vào các đối tượng quản lý ở một địa điểm cụ thể Chỉ khi đã xác định được các đối tượng quản lý thì các kết quả nghiên cứu khoa học mới được áp dụng” [47] Có thể phân chia thành các hình thức sau:

Trang 15

- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation): Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản

lý thay đổi Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp [3]

- Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation): Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng [3] Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các ngân hàng giống…

- Phục hồi (Rehabilitation): Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có [47]

Có thể thấy rằng việc hình thành các KBT thường thiên hướng vào tiếp cận

kỹ thuật, chú ý đến bảo tồn đơn thuần, đa phần dựa trên quan điểm kỹ thuật, sinh học, sinh thái và khả năng quản lý đối với từng đối tượng Mối quan hệ giữa bảo tồn TNR với phát triển sinh kế của con người chưa được nghiên cứu hoặc ít được đề cập đến để có những giải pháp bảo tồn ĐDSH một cách bền vững

Tiếp cận sinh kế bền vững (sustainable livelihood approach)

Sinh kế bền vững được định nghĩa là khả năng, nguồn lực (vốn, tài nguyên

và quyền tiếp cận) và các hoạt động đảm bảo cuộc sống Sinh kế được gọi là bền

Trang 16

vững khi nó có khả năng thích nghi và phục hồi với những sự thay đổi lớn về môi trường và xã hội, cũng như duy trì và tăng cường các nguồn lực, cung cấp các cơ hội về sinh kế bền vững cho thế hệ mai sau và tạo ra các lợi ích ngắn hạn và dài hạn

ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế [3]

Tiếp cận sinh kế bền vững do DFID giới thiệu từ đầu những năm 1990, cốt lõi của tiếp cận này là việc xem xét 5 nguồn lực của cộng đồng địa phương bao gồm Nhân lực, Nguồn lực tự nhiên, Nguồn lực tài chính, Nguồn lực vật chất và Nguồn lực xã hội trong một bối cảnh địa phương và khung thể chế chính sách bao trùm

Chỉ khi hiểu rõ về các nguồn lực của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên, xã hội, thể chế và chính sách thì mới có thể có những can thiệp hợp lý và thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững

Mục đích chính của hỗ trợ sinh kế là giúp các cộng đồng giảm bớt phụ thuộc

và giảm tác động tiêu cực tới tài nguyên thiên nhiên Theo IUCN (2007), hỗ trợ sinh

kế có thể được thực hiện theo các hình thức như sau: i) Tạo dựng một môi trường thuận lợi - cải thiện các nguồn lực sinh kế; ii) Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và sinh kế hiện tại; iii) Phát triển các hoạt động sinh kế thay thế hoặc bổ trợ; iv) Tạo môi trường thuận lợi về thể chế, chính sách

Trong 4 loại hình trên cho thấy hình thức (i) và (ii) bao gồm việc tạo dựng một môi trường thuận lợi, cải thiện các nguồn sinh kế và tăng cường hoạt động tạo thu nhập có tính khả thi, hiệu quả và bền vững Thực tế, hai loại hình này dựa trên nguồn lực sẵn có của người dân địa phương và tăng cường phát triển nó để tạo thu nhập Trong khi đó loại hình (iii) là phát triển sinh kế bổ trợ hoặc thay thế, hay có thể gọi là sinh kế mới có thể dẫn tới sự thất bại do không có phân tích các nguồn lực của người dân địa phương một cách cụ thể Ngoài ra, loại hình (iv) là tạo môi trường thuận lợi về thể chế chính sách nằm ngoài phạm vi địa phương Tuy nhiên,

các can thiệp này cũng mang lại nhiều đóng góp cho phát triển sinh kế địa phương

Trang 17

Phương pháp tiếp cận gắn bảo tồn với phát triển:

Tiếp cận và kịch bản cùng thắng (win-win) đã được đề cập khá phổ biến trong các diễn đàn về môi trường và nghèo đói (Mục tiêu thiên niên kỷ, Sáng kiến

về nghèo đói và môi trường, Công ước về ĐDSH ) Ở Việt Nam khái niệm phát triển bền vững, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, hay cân bằng giữa bảo tồn và phát triển có thể được coi là những khái niệm được diễn giải dựa trên cơ sở tiếp cận

“win- win” phổ biến này [3]

Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có thể có một số trường hợp win-win xảy ra ở một địa điểm và thời gian xác định và ở quy mô nhỏ Tuy nhiên, các đánh đổi vẫn tồn tại, có sự mất mát về các khía cạnh văn hoá, xã hội và sinh thái xảy ra nhưng vẫn chưa được ghi nhận hoặc nhìn nhận một cách thấu đáo Đôi khi có các giải pháp mang tính đền bù cho sự mất mát đó nhưng vẫn chưa thực sự có hiệu quả Nhiều cách tiếp cận như cung cấp sinh kế thay thế cho người dân địa phương,

hỗ trợ việc thành lập và cung cấp kinh phí cho các tổ tuần tra rừng cộng đồng, hỗ trợ tài chính cho bảo vệ rừng, hay một số cách tiếp cận mới như: chi trả dịch vụ môi trường (PES - Payment for Environmental Services), hay giảm phát thải do phá rừng và suy thoái rừng (REDD- Reduced Emmisions from Deforestation and Degradation) đã và đang được áp dụng ở Việt Nam như là phương pháp để hài hoà giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển và chia sẻ chi phí - lợi ích giữa các cấp độ địa phương, quốc gia và quốc tế

Tuy nhiên, những tiếp cận này còn gặp nhiều trở ngại McShane và Wells (2004) đã kết luận rằng các dự án bảo tồn và phát triển thường dựa trên các giả thuyết thiếu tính chắc chắn hoặc thiếu minh chứng và thường bị ảnh hưởng bởi cách tiếp cận win-win Không những thế, các dự án thường thất bại trong việc thoả mãn lợi ích của rất nhiều bên liên quan cũng như bỏ qua các lợi ích và giá trị quan trọng

Do đó cần thiết phải có cách tiếp cận thực tế hơn về đánh đổi (trade-off) [3]

Trong bối cảnh đòi hỏi có sự hiểu biết về tư duy đánh đổi trong quá trình ra quyết định để có thể chia sẻ các lợi ích và thiệt hại do các quyết định giữa bảo tồn

và phát triển tạo ra Trên cơ sở đó có thể tiến đến những sự lựa chọn và quyết định

Trang 18

tốt hơn cho người nghèo và bảo tồn ĐDSH Dự án: “Xúc tiến bảo tồn trong bối cảnh

xã hội - ACSC” do Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES), Đại học bang Arizona và, Khoa chính sách công của Đại học Công nghệ Georgea (Hoa Kỳ), Đại học Nông nghiệp Sokoine (SUA), Tanzania, Hiệp hội luật môi trường (SPDA) của Peru thực hiện từ năm 2007 đến 2011 đã đề xuất một cách tiếp cận tổng hợp để nghiên cứu Trade- off dựa trên các giả thuyết và nguyên tắc sau:

Nguyên tắc tiếp cận

Đánh đổi (Trade-off): được định nghĩa đơn giản là được và mất Trong bảo tồn và phát triển, đánh đổi đang trở thành một quy luật Tiếp cận đánh đổi cho phép các bên liên quan nhìn nhận các sự lựa chọn khó khăn cho bảo tồn và phát triển và thay đổi sự đa dạng, chức năng và dịch vụ của hệ sinh thái mang lại và một loạt các

cơ hội cho con người theo không gian và thời gian Càng thừa nhận đánh đổi và sự lựa chọn khó khăn thì càng có thể tăng khả năng chống chịu và mang lại nhiều kết quả cho bảo tồn Phương pháp tiếp cận này dựa trên các nghiên cứu bảo tồn có sự tham gia và phân tích tổng hợp nhiều nhân tố ảnh hưởng đến bảo tồn

(1) Nghiên cứu bảo tồn có sự tham gia:

Việc gắn kết giữa bảo tồn và phát triển bền vững, liên quan phần lớn đến tiếp cận có sự tham gia trong phát triển trong phát triển các giải pháp bảo tồn dựa vào cộng đồng IUCN và WWF (2003) đã cho rằng:

- KBT chỉ có thể tồn tại khi nó cung cấp giá trị không chỉ đối với quốc gia và còn đối với người dân địa phương;

- Quyền lợi của người dân địa phương sống trong khu BTTN phải được tôn trọng, họ phải được cùng tham gia quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên;

- Những kiến thức bản địa, kỹ thuật truyền thống cần phải sử dụng và đóng góp vào quá trình quản lý KBT;

Nghiên cứu bảo tồn có sự tham gia thường quan tâm đến các chủ đề cụ thể

có liên quan đến sự phát triển và lợi ích của cộng đồng, bao gồm nghiên cứu nâng

Trang 19

cao nhận thức cộng đồng trong bảo tồn; nghiên cứu giải pháp hợp tác, chia sẻ lợi ích trong bảo tồn; nghiên cứu phát triển bảo tồn có sự tham gia

Mục tiêu của tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng là để người dân hiểu được mục đích của bảo tồn, những quy định của KBT thì khi đó cộng đồng

sẽ được tham gia trong quản lý các KBT Tốt nhất là khi cộng đồng được tham gia vào quy hoạch và quản lý KBT, người dân địa phương được đào tạo và tuyển dụng vào làm trong BQL và hưởng lợi từ việc bảo tồn ĐDSH, cũng như hoạt động bảo vệ

từ KBT [47] Nhiều tổ chức bảo tồn lớn trên thế giới như WWF, IUCN, UNEP trong các nội dung hỗ trợ cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển bao giờ cũng chú trọng đến vấn đề giáo dục, nâng cao nhận thức cho cộng đồng trong việc bảo vệ, bảo tồn ĐDSH, môi trường và tài nguyên

Những cố gắng để bảo tồn ĐDSH đôi khi lại mâu thuẫn với nhu cầu cần thiết của con người Nhiều nhà nghiên cứu về sinh học bảo tồn nhận thấy rằng sự cần thiết của phát triển bền vững, phát triển kinh tế thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai của con người đối với nguồn tài nguyên, nhân lực và hạn chế tối thiểu tác động của nó đến ĐDSH Trên cơ sở bảo tồn và phát triển bền vững đã có nhiều nguyên cứu tập trung vào chủ đề: “ Xã hội truyền thống và ĐDSH”, gắn kết bảo tồn ĐDSH với các nguyên tắc đạo đức, phong tục tập quan của các cộng đồng dân cư bản địa, xem xét việc chia sẻ lợi ích bảo tồn với người dân một cách công bằng và rõ ràng [47]

Ở Ấn Độ, diện tích đất lâm nghiệp đứng thứ hai sau diện tích đất nông nghiệp, và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ) Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu RĐD đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn

Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn

Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn ĐDSH nêu rõ rằng: "Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách

Trang 20

liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn ĐDSH" (Denr và TCSD, 1994) (dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005) [34, tr.7]

Ở Indonesia, kế hoạch hành động ĐDSH ghi nhận rằng "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính ĐDSH cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (Bappenas, 1993) (dẫn theo Lê

Sỹ Trung, 2005) [34, tr.7]

Ở Thái Lan, hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền

sở hữu và kiểm soát rừng của Nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỉ lệ phá rừng hàng năm vẫn ở mức cao 2,6% Một nghiên cứu tại vùng đệm của KBT động vật hoang dã Phu Kheio, Đông Bắc Thái Lan đã giới thiệu một cách tiếp cận mới để quản lý chúng trên cơ sở thu hút sự tham gia của người dân địa phương Kết quả thảo luận ở đây cũng đã khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một sự hiểu biết tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên nhiên sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong tương lai

Theo DSEWPaC (2011) KBT phải chịu một loạt các áp lực ảnh hưởng đến bảo vệ ĐDSH Các mối đe dọa trực tiếp đến ĐDSH bao gồm mất môi trường sống

do lấy đất cho nông nghiệp, thủy điện (đập), khai thác, phát triển đường giao thông

và khai thác quá mức các nguồn TNTN thông qua việc săn bắn và khai thác gỗ bất hợp pháp Nghèo đói, áp lực dân số, đô thị hóa và nhu cầu ngày càng cao của con người đối với TNR là các mối đe dọa chính ở các nước phát triển và đang phát triển Thông thường, việc quản lý các KBT kém hiệu quả bởi các quy định của Nhà nước phức tạp, quản lý kém và quản trị yếu Do đó hiệu quả quản lý KBT bị ảnh hưởng bởi kích thước và ranh giới các KBT, mối quan hệ kinh tế- văn hoá - xã hội với cộng đồng địa phương Sự thành công hay thất bại của các KBT ở các nước đang phát triển phụ thuộc đáng kể vào mức độ của quyền sở hữu, tương tác và cam kết của cộng đồng địa phương, các bên liên quan và chính quyền địa phương Khi xây

Trang 21

dựng một KBT có nghĩa là bản sắc văn hoá, giá trị và sinh kế của các cộng đồng bị ảnh hưởng [81]

D.A Gilmour (1999) [21] lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia Do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển TNR

Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) năm 2001 đã đưa ra một thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn TNR”

(2) Phân tích tổng hợp nhiều nhân tố ảnh hưởng đến bảo tồn

Trong thực tế bảo tồn gắn với phát triển xã hội, do đó xu hướng ngày nay nghiên cứu về bảo tồn cần quan tâm cả hai khía cạnh là đối tượng cần bảo tồn và các nhân tố ảnh hưởng tổng hợp đến bảo tồn Các nghiên cứu trước đây tập trung nhiều vào hướng kỹ thuật, các nhân tố ảnh hưởng đến bảo tồn và quản lý bảo tồn chưa được chú trọng Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, việc phân biệt giữa chúng

là không rõ ràng vì thực tế chúng có mối quan hệ với nhau, do vậy nghiên cứu bảo tồn tổng hợp là một xu hướng khách quan của thực tiễn

Ngày nay, bảo tồn không chỉ đơn thuần là giải pháp kỹ thuật, sinh học, sinh thái mà còn liên quan đến các nhân tố, kinh tế, xã hội, chính sách và tự nhiên Điều này được mô tả một cách tổng hợp trong các dự án kết hợp bảo tồn và phát triển (ICDPs) Cách thức tiếp cận chính trong nghiên cứu đối với ICDPs gần giống với cách tiếp cận trong phát triển nông thôn, bằng cách sử dụng phương pháp PRA để thu thập thông tin, phát hiện vấn đề và tiếp theo là sử dụng một số công cụ phân tích

có sự tham gia để lựa chọn, phân tích vấn đề, phát hiện nguyên nhân, tìm kiếm giải

Trang 22

pháp cho bảo tồn dựa vào cộng đồng; nhằm mục đích quản lý tốt hơn đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên; cải thiện đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng dân cư gắn với quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên tại khu vực sinh sống; củng cố các tổ chức; luật và các chính sách được ủng hộ và cải tiến

1.2 Ở trong nước

1.2.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển trong quản lý các KBT hiện nay

Lý thuyết về bảo tồn và phát triển đã tồn tại trong nhiều lĩnh vực bảo tồn, tuy nhiên trong bảo tồn ĐDSH, thì lý thuyết này hiện nay mới được quan tâm một cách đúng mức

Rừng là một bộ phận không thể thay thế của môi trường sinh thái, rừng giữ vai trò quan trọng đối với đời sống của con người Rừng không chỉ cung cấp gỗ, củi

và các lâm sản khác, rừng còn có vai trò cực kỳ to lớn trong việc phòng hộ, duy trì môi trường sống như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi, hạn chế bão lụt, hấp thụ cacbon, duy trì và bảo tồn ĐDSH Các chức năng này của rừng được hiểu là các giá trị môi trường và dịch vụ môi trường

“RĐD có giá trị đặc biệt đối với bảo tồn thiên nhiên, là mẫu chuẩn của hệ sinh thái rừng quốc gia, có nguồn gen sinh học; có giá trị nghiên cứu khoa học; bảo

vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ vui chơi giải trí, du lịch kết hợp với bảo vệ, góp phần bảo vệ môi trường” [18] Ngoài ra, RĐD cung cấp một loạt các dịch vụ hệ sinh thái, trùng với các khu vực sử dụng rừng truyền thống của các cộng đồng địa phương; chúng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp sinh

kế, tạo thu nhập và giá trị của việc làm Nhiều khu RĐD còn mang đến các giá trị văn hóa, di sản và giá trị lịch sử Nghị định 117 đã coi BQL RĐD là “chủ rừng” có vai trò cung cấp dịch vụ hệ sinh thái và tổ chức du lịch Các mối đe dọa đối với KBT cũng như thực tiễn quản lý cũng đang thay đổi đáng kể Áp lực lên KBT do khai thác quá mức đã gia tăng, cũng như áp lực lớn từ địa phương nhằm chuyển đổi hoặc phân hạng lại các KBT Đã có những thay đổi về yêu cầu quản lý đối với các

Trang 23

VQG/ KBT loài và sinh cảnh, và khu bảo vệ cảnh quan Thực tế của vùng đệm ở các KBT cũng đã thay đổi về mặt thỏa thuận quyền sở hữu và quyền hưởng dụng

Việt Nam có cam kết mạnh mẽ nhằm làm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, trùng khớp với những cam kết của Công ước ĐDSH nhằm thúc đẩy công bằng, thừa nhận quyền của người bản địa và khuyến khích các thu xếp quản trị có tính sáng tạo [4] Tuy nhiên, những cộng đồng nằm trong phạm vi hoặc bên cạnh các KBT của Việt Nam hiện đang đại diện cho nhóm những người nghèo và chịu bất bình đẳng còn lại tại Việt Nam Những ưu tiên trong cuộc cải tổ công bằng xã hội hiện nay bao gồm lồng ghép cơ chế đồng quản lý, thúc đẩy các quyền của cộng đồng, sử dụng đa mục tiêu và những thỏa thuận về chia sẻ lợi ích Điều này bao gồm thử nghiệm sử dụng bền vững, thừa nhận quyền do cha ông để lại, phát triển đồng quản

lý và chia sẻ lợi ích [49], [36], [28], [23] Trong khi sự tham gia có mặt tại hầu hết các chiến lược và dự án về KBT thì các cách tiếp cận lại chưa được thống nhất, nhưng trong trường hợp đồng quản lý chẳng hạn Các cách tiếp cận mới cần có sự tham gia của cấp địa phương – song lại chưa có chương trình đào tạo chuẩn nào về

sự tham gia của cộng đồng và làng xã vào việc bảo tồn các KBT, hoặc cũng chưa có các cách tiếp cận thống nhất đối với xây dựng năng lực về chia sẻ lợi ích công bằng,

về các quyền và các mối bất bình

Việt Nam đang tiến vào một kỷ nguyên mới trong đó sẽ không còn thấy sự tăng trưởng ngoạn mục của các KBT như 3 thập kỷ vừa qua nữa, ngoại trừ với các khu vực có tính đại diện thấp [55] Trong kỷ nguyên mới này, hỗ trợ quốc tế đối với bảo vệ ĐDSH cũng sẽ bắt đầu giảm xuống Trọng tâm sẽ là việc thống nhất, giải quyết những tồn tại bất cập, xây dựng hành lang ĐDSH và qui hoạch sinh thái ở qui

mô rộng lớn Công tác quản lý các KBT sẽ chuyển từ việc thiết lập và phủ rộng các KBT sang việc thống nhất quản lý, tăng cường hiệu quả và công bằng xã hội [11] Điều này đồng nghĩa với việc chuyển hoạt động xây dựng năng lực bắt đầu từ đầu sang xây dựng hệ thống năng lực công bằng, có hiệu quả một cách lâu dài Điều này đòi hỏi phải xem lại những yếu kém của cách tiếp cận qui hoạch hiện nay ở cả cấp

độ hệ thống và từng KBT Điều này đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề còn đang tồn

Trang 24

tại liên quan đến cộng đồng, những yếu kém tại biên giới hay yếu kém của cơ chế điều tra và giám sát/ quan trắc ĐDSH

Hiệu quả quản lý tổng hợp tài nguyên RĐD

i) Hiệu quả kinh tế:

Để đánh giá quy mô cũng như trình độ đạt được mục tiêu về tìm kiếm lợi nhuận và các lợi ích kinh tế của các loại hoạt động người ta sử dụng tiêu chí hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế chỉ đơn thuần đánh giá về khía cạnh tính kinh tế của hoạt động, được sử dụng trong việc đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tạo ra các vật phẩm cụ thể, tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế là chỉ số so sánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả làm ra (đầu ra) với các chi phí đã bỏ vào quá trình hoạt động (đầu vào) để có được các kết quả

ii) Hiệu quả xã hội:

Việc tính toán hiệu quả của các hoạt động xã hội, hay có tính chất xã hội (hiệu quả xã hội) cũng được tính toán theo nguyên tắc chung là việc xem xét kết quả của các hoạt động trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tạo ra nó Tuy nhiên việc xác định hiệu quả các hoạt động xã hội, hay có tính chất xã hội là việc làm rất khó và phức tạp vì các lí do sau:

- Các hoạt động xã hội thường không trực tiếp sáng tạo ra các giá trị vật chất nhưng bản thân nó có những ảnh hưởng nhất định đến qui trình tạo ra giá trị vật chất, kết quả của nó không thể lượng hóa mà được đánh giá chủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định lượng

- Kết quả hoạt động xã hội thường được biểu hiện trên rất nhiều lĩnh vực cả lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội như tạo công ăn việc làm góp phần tăng thu nhập, bảo vệ môi trường, thay đổi tư duy, cách làm, nâng cao năng lực, uy tín, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và sự am hiểu về các lĩnh vực xã hội, tạo ra sức sản xuất mới…

iii) Hiệu quả kinh tế - xã hội:

Trang 25

Hiệu quả kinh tế xã hội là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ giữa kết quả sản xuất (xét trên cả hai mặt kinh tế và xã hội) và các nguồn phương tiện tạo ra nó; được đánh giá thông qua thước đo thực hiện mục tiêu sản xuất và những nhiệm vụ xã hội của từng thời kỳ, từng kế hoạch dài hạn và hàng năm Khi xét hiệu quả kinh tế- xã hội, cần phân biệt và xét cả 2 mặt: kinh tế và xã hội, đây là hai mặt gắn bó, tác động qua lại và thống nhất với nhau Cần phải xét các mối quan hệ xã hội trong sản xuất

và phân phối, gắn với bản chất và mục đích của sản xuất

iv) Hiệu quả sinh thái:

Hiện nay giá trị của rừng hầu như mới chỉ biết đến như là nơi cung cấp các sản phẩm sử dụng trực tiếp đó là gỗ, củi, thức ăn Trong khi đó các giá trị môi trường

và dịch vụ môi trường của rừng vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ Chính vì vậy mặc dù đã và đang tạo ra nhiều lợi ích khác nhau cho các ngành sản xuất cũng như môi trường sống của con người nhưng vai trò của các hệ sinh thái rừng nói chung vẫn bị đánh giá thấp

Đánh giá hiệu quả

Đánh giá hiệu quả hoạt động là một loại hình đánh giá nhằm xác định tính hiệu quả của các hoạt động Đánh giá hiệu quả là quá trình thu thập, tính toán các thông tin liên quan đến yếu tố đầu vào cần thiết để hoạt động được tiến hành và các kết quả của hoạt động mang lại để xác định các trị số về mối quan hệ tương quan giữa kết quả hoạt động với các chi phí cần thiết để các hoạt động thưc hiện

Đánh giá hiệu quả quản lý là việc đánh giá mức độ hiệu quả trong việc quản lý một KBT, chủ yếu là đánh giá mức độ các giá trị được bảo vệ và mức độ đạt được các mục tiêu và mục đích (Hướng dẫn của Uỷ ban Thế giới về các Khu Bảo tồn WCPA) [80]

Hiệu quả quản lý RĐD

Hiệu quả quản lý RĐD được đánh giá trên hai khía cạnh là hiệu quả kinh tế -

xã hội và hiệu quả sinh thái đặc biệt khi xu hướng bảo tồn tài nguyên RĐD chuyển

từ “bảo tồn nghiêm ngặt” sang “bảo tồn và phát triển bền vững” Hiệu quả quản lý

Trang 26

bảo tồn không chỉ xác định là thu được bao nhiêu tiền hay làm ra những giá trị vật chất cụ thể mà nó còn là những giá trị phi vật thể, giá trị tiềm năng cho các thế hệ, các đối tượng, giá trị đảm bảo an toàn sinh thái cho con người tồn tại Hiệu quả này được thể hiện trên các mặt như ý thức của người dân địa phương và cộng đồng được nâng lên, số vụ vi phạm lâm luật giảm đi, chất lượng tài nguyên RĐD được giữ vững và ngày càng được nâng lên…

RĐD được xem là loại rừng có giá trị sử dụng gián tiếp lớn hơn rất nhiều so với giá trị sử dụng trực tiếp Chính vì vậy khi nói đến công tác quản lý RĐD là người ta nghĩ việc bảo vệ những giá trị gián tiếp mà RĐD mang lại cho con người

Những giá trị của rừng dễ dàng nhận thấy là giá trị từ các sản phẩm hữu hình của rừng như gỗ, củi, LSNG từ các sản phẩm sử dụng trực tiếp Những giá trị phần lớn là vô hình mà hiện nay mới được biết đến là giá trị môi trường và dịch vụ môi trường thì lại chưa có những đánh giá một cách cụ thể và xác đáng

Như vậy có thể thấy RĐD có một vị trí quan trọng không thể thay thế trong

tự nhiên Các giá trị của rừng được thể hiện trên hai khía cạnh là:

(1) Giá trị đáp ứng nhu cầu xã hội chung như giá trị về ĐDSH, giá trị về môi trường, giá trị về du lịch sinh thái

(2) Giá trị giới hạn đáp ứng nhu cầu của cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng như công ăn việc làm, thu nhập từ các sản phẩm của rừng, lương thực thực phẩm, chăm sóc sức khỏe…

Lý thuyết về bảo tồn và phát triển nhằm đề cập đến khía cạnh giải quyết một cách hài hòa lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp mà rừng mang lại Quản lý bảo tồn phải dựa trên cơ sở đem lại lợi ích trực tiếp cho người dân địa phương và lợi ích gián tiếp cho cả cộng đồng mà vẫn đảm bảo được mục tiêu bảo tồn ĐDSH

Tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Value - TEV) được xem xét rất hạn hẹp Các nhà kinh tế thường có xu hướng chỉ xem xét giá trị của rừng thông qua các lượng sản phẩm hữu hình mà rừng đã tạo ra để phục vụ các nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con người Tuy nhiên các sản phẩm có thể sử dụng trực tiếp này

Trang 27

chỉ thể hiện được một phần nhỏ trong tổng giá trị của rừng Trong thực tế, rừng đã tạo ra một lợi ích kinh tế vượt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình đang được buôn bán chính thức trên thị trường

Theo Pearce, 1990, muốn xem xét tổng giá trị của rừng thì phải xem xét toàn

bộ giá trị của các nguồn tài nguyên, các dòng dịch vụ môi trường và đặc tính của toàn bộ hệ sinh thái như một thể thống nhất Tổng giá trị kinh tế của rừng bao gồm:

- Các giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value- DUV): Là giá trị của những nguyên liệu thô và những sản phẩm vật chất được sử dụng trực tiếp trong các hoạt động sản xuất, tiêu dùng và mua bán của con người Giá trị sử dụng trực tiếp đến với con người khi họ được hưởng lợi từ việc có thể tiêu dùng các sản phẩm do ĐDSH cung cấp dưới hình thức các loài có thể đánh bắt, thu lượm hay chiết xuất được (ví dụ như thức ăn, cây thuốc, gỗ, thuốc nhuộm, v.v) Một loại giá trị sử dụng trực tiếp khác là các lợi ích không bị tiêu hao (ví dụ các dịch vụ cảnh quan được cung cấp bởi các hoạt động du lịch sinh thái)

- Các giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value- IUV): là giá trị kinh tế thường được cung cấp bởi ĐDSH dưới các dạng dịch vụ hệ sinh thái như tái chế vật liêu hữu cơ, các dịch vụ môi trường và chức năng sinh thái mà rừng tạo ra như duy trì chất lượng nước, giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ các-bon, làm sạch nguồn nước

- Các giá trị lựa chọn (Option –OP): Là những giá trị chưa được biết đến của nguồn gen, các loài động vật hoang dã trong rừng và các chức năng sinh thái rừng khi chúng được đưa vào ứng dụng trong lĩnh vực giải trí, dược phẩm, mỹ phẩm, nông nghiệp trong tương lai

- Các giá trị để lại (Bequest value- BV): Là những giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp mà các thế hệ sau có cơ hội được sử dụng

- Các giá trị tồn tại (Existence Value- EV): là giá trị nội tại đi kèm với sự tồn tại của các loài trong rừng và hệ sinh thái rừng mà không kể đến việc sử dụng trực tiếp như ý nghĩa về văn hóa, thẩm mỹ, di sản, kế thừa [82]

Trang 28

Đối với các nhà kinh tế, ĐDSH được coi như là một phương tiện cung cấp nguồn lực tự nhiên làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế và phúc lợi Nếu chúng

ta quan tâm đến độ bền vững của các hoạt động kinh tế trên hành tinh này thì điều tối quan trọng cho sự phát triển liên tục là nguồn lực tự nhiên phải tăng theo thời gian Vai trò thứ hai cũng liên quan của ĐDSH có thể là khối lượng thông tin mà dựa vào đó các nghiên cứu và quá trình phát triển vì sự tiến bộ của loài người được tiến hành Trong cả hai trường hợp, những tổn thất về ĐDSH sẽ khiến cho việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế bền vững trên hành tinh trở lên khó khăn hơn, thậm chí là không thể được Một số nhà nghiên cứu tin rằng sự thiếu hụt về nguồn vốn tự nhiên (natural capital stock) do tỷ lệ tuyệt chủng đang ngày một tăng lên sẽ là mối đe doạ lớn nhất đối với phát triển bền vững bất chấp những thay đổi tích cực về kỹ thuật nhằm giảm bớt những thiệt hại

Quan điểm tiếp cận gắn bảo tồn với phát triển bền vững đã được Hoàng Hòe (2002) nhận định trong điều kiện cụ thể của Việt Nam: “Bảo tồn thiên nhiên là một

bộ phận không thể thiếu của phát triển” Cùng với quan điểm gắn bảo tồn với phát triển bền vững, nghiên cứu đòi hỏi có sự thay đổi rõ rệt trong cách tiếp cận Phương pháp luận của nghiên cứu có sự tham gia được áp dụng nhiều trong các lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung; trong đó nghiên cứu phát triển các vùng đệm cũng đã áp dụng phương pháp này

1.2.2 Thực trạng về quản lý bảo tồn ở Việt Nam

Quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/8/2015 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc đến 31/12/2014, cả nước có 13.796.506 ha đất có rừng, trong

đó rừng RĐD là 2.085.132 ha (rừng tự nhiên 2.008.254 ha; rừng trồng 76.878 ha) Với 164 khu RĐD Trong đó có 30 VQG; 58 khu dự trữ tự nhiên; 11 KBT loài sinh cảnh; 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học, chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị ĐDSH tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nước

Trang 29

KBT ở Việt Nam được định nghĩa một cách chung nhất như là một khu vực địa lý, có các hệ sinh thái đặc trưng, tiêu biểu cho vùng sinh thái tự nhiên, được quy hoạch, xác định ranh giới, có các phân khu chức năng dành cho bảo tồn ĐDSH [49], [50] Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 định nghĩa thuật ngữ “PA” (protected areas) một cách cụ thể hơn “KBT là những khu RĐD, những khu rừng này được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch” Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, RĐD bao gồm: VQG, KBT thiên nhiên (khu dự trữ thiên nhiên, KBT loài- sinh cảnh), khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học

Theo Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ thống RĐD định nghĩa như sau:

Khu dự trữ thiên nhiên là khu vực có hệ sinh thái rừng hoặc có cả hệ sinh

thái đất ngập nước, hệ sinh thái biển, ngoài các chức năng chung của RĐD, được xác lập chủ yếu để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái tự nhiên

Vườn quốc gia là loại RĐD có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc

gia VQG có chức năng chung của RĐD đồng thời có thể có một trong các chức năng chủ yếu là bảo tồn và dự trữ thiên nhiên; bảo tồn loài- sinh cảnh; bảo vệ cảnh quan

Như vậy có thể thấy giữa VQG và KBTTN đều có những điểm giống nhau

về phân chia các khu chức năng, hệ thống tổ chức, cách thức quản lý và mục tiêu hoạt động

Nghiên cứu của ICEM (2003) nhận xét hầu hết các KBTTN ở khu vực Đông Nam Á là những khu vực có tỷ lệ nghèo đói cao Phần lớn các KBT ở Việt Nam đều

có người dân sinh sống Đặc biệt, phần lớn dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào tài nguyên của các KBT này Mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn ngày càng trở nên gay gắt trong vài thập kỷ gần đây MONRE (2005, 2011) cho thấy sức ép gia tăng dân số, khai thác trái phép và quá mức tài nguyên sinh vật, chuyển đổi mục đích sử

Trang 30

dụng đất và mặt nước thiếu cơ sở khoa học và phát triển cơ sở hạ tầng đã và đang

gây suy thoái và suy giảm ĐDSH [28]

Trước đây, công tác bảo tồn ĐDSH tại các VQG/KBT chủ yếu tập trung vào bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái, cố gắng ngăn chặn những hành động từ bên ngoài Những hành động có thể tác động đến hệ sinh thái RĐD đều bị coi là những hành động xâm hại Những thể chế giúp sức đắc lực cho quá trình bảo vệ này là Luật và các văn bản dưới Luật, ngoài ra một số cộng đồng địa phương còn có thêm một văn bản mang tính chất địa phương nữa là các hương ước và quy ước thôn bản

Cùng với quá trình phát triển của Đất nước và nhận thức của người dân cũng ngày càng được nâng cao nên quan điểm bảo tồn “nghiêm ngặt” bộc lộ nhiều nhược điểm Người dân địa phương vì nhiều nguyên nhân như thiếu đất canh tác, đói nghèo, thiếu việc làm, tập quán đốt nương làm rẫy và cả lý do thương mại khi lợi nhuận do buôn bán các loại ĐTVHD nên vào RĐD để khai thác, bất chấp sự quản

lý một cách chặt chẽ của lực lượng kiểm lâm Mâu thuẫn giữa lực lượng bảo vệ rừng và người dân càng tăng cao hơn nữa khi các chính sách bảo tồn “nghiêm ngặt” càng được tăng cường Một thực tế hiện nay đang tồn tại đó là ở những khu vực rừng giàu, mức độ ĐDSH cao, người dân và cộng đồng, những người sống phụ thuộc vào rừng lại có đời sống khó khăn, sinh kế không được cải thiện [24]

Việt Nam đã và đang trong quá trình đổi mới công tác quản lý rừng dưới sự đồng thuận của các HGĐ và các tổ chức Chính phủ ngày càng trao cho người dân địa phương nhiều quyền hơn trong công tác quản lý rừng Tuy nhiên hiện nay, việc nhận thức về quyền của người dân địa phương vẫn còn hạn chế, các cơ quan nhà nước còn ít quan tâm đến kiến thức và quan điểm của địa phương trong quá trình quản lý Thách thức được đặt ra là làm thế nào để các bên tham gia hiểu rõ hơn về quan điểm của các cộng đồng dân cư sống trong hoặc gần KBT Bên cạnh đó, việc xác định rõ năng lực của địa phương trong công tác quản lý rừng đặc biệt là quản lý các khu RĐD nhằm đảm bảo việc ra quyết định đạt hiệu quả cao là hết sức cần thiết Quản lý RĐD là một trong các nội dung quan trọng nhất của công tác quản lý ĐDSH Hơn thế trong bối cảnh mà các áp lực lên tài nguyên ĐDSH luôn gia tăng và

Trang 31

thay đổi theo các chiều hướng phức tạp thì các VQG/KBT đang trở thành những nơi quan trọng nhất gìn giữ các giá trị ĐDSH và tính toàn vẹn của tự nhiên Do vậy quản lý tốt công tác bảo tồn trở thành một trong các ưu tiên hàng đầu trong vấn đề bảo tồn ĐDSH Đối với Việt Nam, với hơn 40 năm kinh nghiệm phát triển và hình thành của hệ thông các KBT đã hình thành được một hệ thống các VQG/KBT rừng, đất ngập nước, biển trên khắp cả nước, các KBT đó đã và đang góp phần quan trọng vào các nỗ lực chung của toàn cầu để bảo về ĐDSH của trái đất và đặc biệt là gìn giữ các hệ sinh thái, loài và nguồn gen đăc biệt của nước ta Do vậy, nhiệm vụ quản

lý, bảo vệ và phát triển tốt các VQG/KBT trở thành một trong các mục tiêu quan trọng của ngành và của quốc gia

1.2.3 Quản lý bảo tồn ĐDSH khu vực Tây Bắc Việt Nam

Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Vùng này là một trong 3 tiểu vùng địa lý

tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng)

Khu vực Tây Bắc có diện tích rộng, có nhiều dân tộc sinh sống Thái, Dao, Mông, Kinh, Mường, Tày, Hà Nhì… tỷ lệ hộ nghèo đói cao, dân trí thấp, trình độ canh tác còn nhiều hạn chế Đây cũng là khu vực có những nét văn hóa bản địa đặc trưng, đa dạng Sự phân bố dân cư của vùng theo độ cao rất rõ rệt: vùng rẻo cao (đỉnh núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao, Tạng Miến, với phương thức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên; vùng rẻo giữa (sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một số nghề thủ công; còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Thái - Kadai, điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác Sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn, mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Mường

Trang 32

Canh tác nông nghiệp là nghề chủ đạo trong khu vực, tuy nhiên diện tích đất lúa nước ít, yếu tố mùa vụ còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất lúa thấp Sản xuất lâm nghiệp chưa được chú trọng, đóng góp từ lâm nghiệp cho tổng thu nhập của HGĐ còn mờ nhạt chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của khu vực về lĩnh vực này Trình độ canh tác lạc hậu mang tính truyền thống, năng suất thấp, sản xuất hàng hóa mang tính nhỏ lẻ, chưa tạo ra một thị trường lớn Các giải pháp đi làm thuê; buôn bán; tác động vào TNR được người dân lựa chọn để bù đắp nhu cầu lương thực và sinh hoạt hàng ngày, trong đó tác động vào TNR là giải pháp được đa số các HGĐ lựa chọn bởi sức hấp dẫn về lợi nhuận và khả năng chủ động

Tây Bắc Việt Nam là một khu vực có tính đa dạng cao về văn hóa, thành phần dân tộc và hệ động thực vật Trên khu vực đã hình thành được 1 VQG và 9 KBTTN nhằm mục đích bảo tồn tài nguyên động thực vật đặc trưng của vùng Hệ thống VQG/KBTTN đóng vai trò quan trọng đối với bảo tồn ĐDSH và đại diện khá đầy đủ cho các hệ sinh thái, sinh cảnh rừng của khu vực Tây Bắc Bên cạnh những nét đặc trưng về tự nhiên, khu vực Tây Bắc còn mang nét đặc thù về văn hóa, xã hội, bởi sự phân bố và sinh sống lâu đời của cộng đồng các dân tộc như dân tộc Mông, Dao, Thái, Mường… Có thể thấy hệ thống VQG/KBT ở khu vực này có thể đại diện cho tính đa dạng về các hệ sinh thái nhân văn khác nhau của vùng

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực của nhà nước, của chính quyền và của chính cả người dân địa phương, trong những năm qua công tác bảo tồn ĐDSH ở khu vực này gặp rất nhiều trở ngại Những người dân sinh sống bên trong và dọc ranh giới KBT luôn tạo ra các mối đe dọa trực tiếp đối với TNR của KBT như chăn thả gia súc tự do, khai thác gỗ trái phép, khai thác LSNG quá mức, săn bắn, bẫy bắt ĐVHD, sử dụng đất không bền vững và các hoạt động của họ có nhiều nguy cơ dẫn đến cháy rừng Diện tích rừng vẫn bị mất nhường chỗ cho những hoạt động nương rẫy, kéo theo đó là sự tác động của con người tới RĐD, nhiều loài cây gỗ quý, cây dược liệu, cây cảnh, động vật rừng bị khai thác một cách triệt để, chất lượng rừng bị giảm sút Áp lực đối với VQG/KBT còn từ việc tổ chức khai thác buôn bán động thực vật bất hợp pháp từ bên ngoài Dân số sống rải rác, cơ cấu ngành nghề đơn

Trang 33

điệu nên đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn cùng với trình độ dân trí thấp, còn nhiều hủ tục lạc hậu, nhận thức về bảo vệ môi trường hạn chế, đời sống còn phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm thu được từ rừng

Với đặc thù về hệ sinh thái – nhân văn của khu vực Tây Bắc Việt Nam, quản

lý bảo tồn ở đây cũng gặp nhiều thách thức do yếu tố kinh tế, xã hội mang lại Mặc

dù đây là vùng có diện tích rộng và dân số lại ít hơn nhiều so với vùng đồng bằng, cuộc sống của người dân phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào nguồn tài nguyên sinh vật, nhất là rừng, nhưng trong suốt những năm qua nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản của miền núi đã bị suy thoái nghiêm trọng, rừng tự nhiên chỉ còn lại khoảng 10% diện tích toàn vùng Hệ sinh thái ở đây đã bị phá vỡ, dẫn đến đất bị xói mòn nghiêm trọng, lũ lụt, hạn hán, sụt lở đất gây nhiều tổn thất lớn Cuộc sống của dân cư vùng Tây Bắc còn nhiều khó khăn, nhất là nhân dân các dân tộc thuộc các vùng sâu, vùng xa Thực tế cho thấy việc kết hợp bảo tồn với phát triển, hay quản lý bảo tồn tổng hợp tài nguyên rừng là nhu cầu bức thiết

Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cuộc sống người dân, cũng như chính sách khuyến khích để giảm thiểu những tác động vào rừng tự nhiên của cộng đồng nhưng hiệu quả thực sự chưa cao Nhận thức của người dân về vai trò của RĐD chưa được người dân địa phương nhìn nhận một cách toàn diện Những tác động của cộng đồng còn nhiều cũng như sự phụ thuộc của họ vào rừng tự nhiên còn lớn Trong khi đó những chính sách về bảo tồn còn mang nặng tính “bảo vệ nghiêm ngặt”, cố gắng ngăn chặn những tác động của cộng đồng lên tài nguyên RĐD nên mâu thuẫn trong bảo tồn ĐDSH ngày càng gay gắt

Lựa chọn cách thức quản lý trong bảo tồn ĐDSH cho phù hợp với xu hướng chung là điều cần thiết, trong đó cần chú trọng đến nhân tố con người và mối quan

hệ nhiều chiều giữa các yếu tố với nhau trong quản lý

1.3 Thảo luận

Từ những nghiên cứu về quản lý bảo tồn ĐDSH tại các khu RĐD cho thấy: Cùng với vai trò bảo tồn các hệ sinh thái, nếu được quản lý hiệu quả, các KBTTN được đánh giá là quan trọng do khả năng đảm bảo cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái,

Trang 34

như cung cấp nước sạch và bảo vệ đất; cung cấp các lợi ích kinh tế cho các cộng đồng xung quanh, đồng thời đóng góp các giá trị tinh thần, tâm linh cho con người KBTTN cũng cung cấp các cơ hội được hiểu biết về tự nhiên và môi trường cho con người Với chức năng và tầm quan trọng của các KBTTN, việc bảo vệ và phát triển các KBTTN này là yêu cầu cần thiết

- Xu hướng hiện nay nghiên cứu quản lý bảo tồn ĐDSH theo hướng toàn diện, kết hợp phân tích tác động của nhiều nhân tố làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp quản lý một cách tổng hợp tài nguyên RĐD còn thiếu

- Các chính sách hỗ trợ cho công tác bảo tồn ĐDSH chưa thực sự có hiệu quả,

cơ chế khuyến khích đối với cán bộ làm công tác bảo tồn chưa được quan tâm Tuy nhiên để thúc đẩy việc áp dụng quan điểm bảo tồn gắn liền với phát triển cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa, hình thành một cơ chế chính sách cụ thể trong đó có quan tâm đến những yếu tố ảnh hưởng như phong tục tập quán của địa phương, cơ chế quản lý linh hoạt, cơ chế đồng quản lý các KBT, cơ chế chia sẻ lợi ích bảo tồn với cộng đồng địa phương…

- Sự nhất quán trong cách phân loại và gọi tên các KBT là vấn đề cần thiết nhưng thực tế hiện nay cách phân loại và gọi tên còn chưa đồng bộ giữa các ban ngành, văn bản Chính vì vậy sự thống nhất trong quản lý các KBT trong quan điểm

định hướng về bảo tồn chưa có, sự quản lý còn mang tính địa phương, riêng lẻ

- Quy hoạch bảo tồn đã tiếp cận quan điểm sinh thái- nhân văn, tuy nhiên để giải quyết những bất cập mà bảo tồn hiện đang đối mặt, cần chú trọng đến xây dựng các tiêu chí phân chia phân khu chức năng dựa vào hai nhóm nhân tố là tự nhiên và

xã hội; thử nghiệm và tổ chức bảo tồn theo quan điểm cảnh quan, lưu vực, nghiên cứu thử nghiệm quản lý rừng đa chức năng, đa mục tiêu

- Về nghiên cứu bảo tồn: Phát triển phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong bảo tồn, gắn nghiên cứu kỹ thuật với kiến thức bản địa; phân tích ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố đến đối tượng bảo tồn; nghiên cứu xác định giải pháp chia sẻ lợi ích một cách công bằng và ổn định từ bảo tồn

Trang 35

Ở Việt Nam, về lý luận trước đây giữa bảo tồn và phát triển, chúng ta thường giải quyết theo quan điểm ”được- mất” Để giải quyết mục tiêu bảo tồn đôi khi phải

hy sinh mục tiêu phát triển và ngược lại Tuy nhiên thực tế cho thấy giữa bảo tồn và phát triển có mối quan hệ hai chiều biện chứng, nếu giải quyết hài hoà có thể đạt được cả hai mục tiêu đặt ra

Nhu cầu của người dân lên tài nguyên RĐD ngày càng có xu hướng tăng lên bởi sinh kế của cộng đồng sau khi thành lập các VQG/KBT bị hạn chế, thói quen canh tác nương rẫy, du canh du cư, khai thác và sử dụng các sản phẩm từ tự nhiên phục vụ sinh hoạt và bán, do công tác quản lý RĐD hiện nay chưa thực sự đạt hiệu quả cao, xung đột giữa cộng đồng với các cơ quan quản lý RĐD Trong khi đó tài nguyên RĐD là hữu hạn cả vê số lượng và chất lượng, RĐD còn bị quản lý bởi các thể chế, chính sách, pháp luật, các cam kết mang tính chất địa phương Chính bởi thực tế này đã dẫn đến những mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng với quản lý RĐD

Về quản lý nhà nước, chúng ta vẫn còn quan niệm RĐD thường được luật pháp quy định một cơ quan nhà nước được giao quản lý, bảo tồn và phát triển nó Như vậy những chủ thể khác như cộng đồng dân cư sống trong VQG/KBT, các doanh nghiệp, chính quyền địa phương, người dân địa phương, các tổ chức hoạt động trong và ngoài ranh giới đã bị loại ra khỏi quyền quản lý và sử dụng những tài nguyên đó Điều này dẫn đến những mâu thuẫn khó giải quyết là sinh kế của người dân vùng lõi và vùng đệm với quản lý tài nguyên RĐD

Luận án sẽ đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả quản lý tài nguyên RĐD, trong đó nhấn mạnh tới việc giải quyết lợi ích của cộng đồng địa phương với lợi ích chung khi thành lập các VQG/KBT, sự hỗ trợ của các cơ quan QLNN và giải quyết các vấn đề nội tại trong quản lý các VQG/KBT

Từ lý luận và thực tế về quản lý RĐD hiện nay, Luận án đề xuất hệ thống các giải pháp định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên RĐD vùng Tây Bắc, những giải pháp này giải quyết hài hoà hai mục tiêu: Phát triển bền vững cộng đồng địa phương và quản lý tốt tài nguyên RĐD

Trang 36

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

(1) Nghiên cứu tổng quan khung pháp lý về quản lý VQG/KBT ở Việt Nam (2) Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý tại KBTTN Mường Nhé và Xuân Nha

và VQG Hoàng Liên

a Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và sử dụng TNR

b Hiệu quả quản lý RĐD trong khu vực nghiên cứu

c Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quản lý RĐD tại khu vực Tây Bắc

(3) Xác định nhóm loài (gỗ và LSNG) có liên quan đến sinh kế của cộng đồng làm cơ sở đánh giá ảnh hưởng/ tác động của cộng đồng tới quản lý RĐD (4) Đề xuất một số giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên RĐD theo định hướng phát triển bền vững trên cơ sở gắn bảo tồn với phát triển

2.2 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Quan điểm và phương pháp luận

Quản lý tổng hợp tài nguyên RĐD là quản lý mối quan hệ qua lại, nhân quả giữa các yếu tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật, chính sách Do vậy quan điểm, phương pháp nghiên cứu cần tiếp cận tổng hợp các yếu tố để phát hiện mối quan hệ, làm cơ

sở đưa ra các giải pháp nhằm hài hoà các mối quan hệ trong quản lý tổng hợp TNR, chú trọng mối quan hệ giữa phát triển cộng đồng với quản lý TNR

Trang 37

Hình 2.2: NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÂN LÊN TÀI NGUYÊN RỪNG ĐẶC DỤNG

Nhu cầu của người dân tên tài nguyên RĐD có

Thói quen canh tác nương rẫy

Thói quen sử dụng các phẩm từ rừng

Cuộc sống gắn liền với rừng

Cơ chế chính sách chưa phù hợp, đồng bộ

Chưa chú trọng đến phát triển sinh kế

Hệ thống các CQ

QL chưa

có hiệu quả

RĐD ngày càng giảm

về số lượng và chất

lượng

Một số loài ĐTV quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Xung đột giữa cơ quan quản lý RĐD với người dân

Mức độ tác động lên RĐD ngày càng lớn

Trang 38

Hình 2.3: BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN RĐD

Bảo tồn và phát triển tài nguyên RĐD

Tạo sinh kế thay thế cho cộng

mô hình trang trại

Phát triển cụm CN, làng nghề,

HTX, DN

Tăng cường hợp tác với các bên liên quan

Chia sẻ lợi ích từ RĐD với cộng đồng

Gắn trách nhiệm với lợi ích

Tăng cường sự tiếp cận của CĐ với KHCN

Đời sống người dân được cải thiện

Tài nguyên RĐD được bảo tồn

Giảm xung đột giữa cơ quan quản lý RĐD với người dân

Trang 39

Hình 2.4: KHUNG VẤN ĐỀ QUẢN LÝ RĐD VỚI PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Giải pháp: Theo mô hình WIN- WIN

1 Tạo sinh kế thay thế cho cộng đồng

2 Thực hiện cơ chế đồng quản lý

Nhu cầu của cộng đồng lên tài nguyên RĐD có xu hướng ngày càng tăng:

- Do sinh kế của cộng đồng bị hạn chế khi thành lập VQG/KBT

- Do thói quen khai thác TNR

- Do quản lý tài nguyên RĐD còn chưa hiệu quả

Tài nguyên RĐD là hữu hạn:

- Diện tích RĐD ngày càng bị thu hẹp

- Chất lượng RĐD ngày càng bị suy giảm

- RĐD bị ràng buộc bởi thể chế, chính sách, pháp luật và các cam kết trong quản lý và khai thác

Trang 40

Nghiên cứu này được tiến hành dựa vào các quan điểm sau đây: Lý thuyết hệ thống; Quan điểm sinh thái nhân văn; Quan điểm bảo tồn – phát triển; Tiếp cận có

sự tham gia

a Lý thuyết hệ thống

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại Áp dụng quan điểm tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu có nghĩa là: Khi nghiên cứu một hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội ta phải xem xét đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với các hiện tượng khác, vì mọi hiện tượng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau Mặt khác mỗi hiện tượng đều nằm trong trạng thái biến đổi và phát triển mà nguồn gốc và động lực chủ yếu của hiện tượng đó nằm trong bản thân sự vật, vì vậy việc nghiên cứu một sự vật phải xem lý thuyết hệ thống là nền tảng của phương pháp luận

Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế có nghĩa là các yếu tố trong hệ thống kinh tế như nguồn thu nhập, mức

sống, nhu cầu của thị thường, các nguồn sinh kế, lợi nhuận có ảnh hưởng tới các hình thức và mức độ tác động của người dân tới TNR Do các tác động của người dân có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố kinh tế nên có thể tác động vào các yếu tố kinh tế nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của người dân tới TNR trong KBT Đây là một trong những cơ sở lý luận quan trọng để đề xuất các giải pháp trong luận án

Các tác động của người dân tới TNR là hoạt động mang tính xã hội Các tác

động do con người thực hiện và phục vụ cuộc sống của con người Vì vây, các tác động chịu sự chi phối của của các yếu tố xã hội như: Nhận thức của người dân về vai trò của rừng, hiểu biết về chính sách, thể chế, luật pháp của nhà nước, phong tục tập quán, tín ngưỡng Ngoài ra, các chính sách của VQG/KBT, chính quyền địa phương, các quy định riêng của cộng đồng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tác động của người dân địa phương vào TNR Ngược lại các tác động của người dân tới TNR cũng thể hiện các yếu tố xã hội trong một cộng đồng như: Vấn đề công bằng, bình đẳng, tổ chức và thể chế của cộng đồng có được thực thi

Ngày đăng: 06/11/2017, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Chi cục kiểm lâm Điện Biên (2008). Báo cáo dự án quy hoạch chi tiết KBTTN Mường Nhé, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cục kiểm lâm Điện Biên (2008). "Báo cáo dự án quy hoạch chi tiết KBTTN Mường Nhé
Tác giả: Chi cục kiểm lâm Điện Biên
Năm: 2008
14. Chính Phủ (2010), Nghị định số 65/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học, ngày 11/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính Phủ (2010)," Nghị định số 65/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2010
15. Chính Phủ (2013), Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, ngày 11/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2013
17. Chính Phủ (2006), Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, ngày 03/3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2006
18. Chính Phủ (2010), Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng, ngày 24/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2010
19. Chính phủ (2015), Nghị Định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020, ngày 09/9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
20. Cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT (2007), Tài liệu nâng cao nhận thức về Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản dưới luật ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nâng cao nhận thức về Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản dưới luật ở Việt Nam
Tác giả: Cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
21. D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), Quản lý vùng đệm ở Việt Nam, IUCN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Tác giả: D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản
Năm: 1999
22. Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), Những xu hướng phát triển vùng núi phía Bắc Việt nam, Tập 2 – Các nghiên cứu mẫu và bài học từ Châu Á, Trung tâm Đông Tây, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển vùng núi phía Bắc Việt nam, Tập 2 – Các nghiên cứu mẫu và bài học từ Châu Á
Tác giả: Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
23. Dự án PARC (2006), Tóm tắt chính sách: Xây dựng hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam - Những yêu cầu đổi mới chính sách và thể chế. Dự án Xây dựng các khu bảo tồn nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở sinh thái cảnh quan (PARC) VIE/95/G31&031. Cục Kiểm lâm/UNOPS/UNDP/IUCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt chính sách: Xây dựng hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam - Những yêu cầu đổi mới chính sách và thể chế
Tác giả: Dự án PARC
Năm: 2006
25. Hoàng Đình Quang (2011) Những vấn đề quản lý rừng đặc dụng ở Việt nam, Tạp chí Rừng & Môi Trường, Trung ương hội khoa học kỹ thuật Việt Nam số 43/2011 chuyên đề Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề quản lý rừng đặc dụng ở Việt nam
26. Hoàng Quốc Xạ (2005), Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng vùng đệm của VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng vùng đệm của VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Hoàng Quốc Xạ
Năm: 2005
27. Hồ Đăng Phúc (2007), Sử dụng phần mềm SPSS trong phân tích số liệu, Viện toán học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phần mềm SPSS trong phân tích số liệu
Tác giả: Hồ Đăng Phúc
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
28. ICEM (Trung tâm Quốc tế về quản lý môi trường) 2003, Báo cáo quốc gia của Việt Nam về các khu bảo tồn và phát triển. Đánh giá các khu bảo tồn và phát triển tại bốn nước khu vực hạ lưu sông Mê Kông, Indooroopilly, Queensland, Ôx-trây-lia. 66 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia của Việt Nam về các khu bảo tồn và phát triển
29. IUCN (2008), Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, một số kinh nghiệm và bài học quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, một số kinh nghiệm và bài học quốc tế
Tác giả: IUCN
Năm: 2008
30. Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (2010-2014), Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2010-2014, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2010-2014
31. Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (2010-2014), Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2010-2014, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2010-2014
32. Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (2009), Bảo vệ ĐDSH của hệ sinh thái rừng vùng núi Tây Bắc Việt Nam tại Khu BTTN Xuân Nha, Dự án quỹ bảo tồn Việt Nam, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ ĐDSH của hệ sinh thái rừng vùng núi Tây Bắc Việt Nam tại Khu BTTN Xuân Nha
Tác giả: Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha
Năm: 2009
33. Lê Văn Phúc, Nông Vũ Thoan (Chủ biên) (2008), Bộ tài liệu hướng dẫn Lập kế hoạch quản lý tài nguyên có sự tham gia (PRUP), Dự án Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm, GTZ, Hà Nội, tham khảo bản điện tử tại địa chỉ http://prup.tueba.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=47&Itemid=54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài liệu hướng dẫn Lập kế hoạch quản lý tài nguyên có sự tham gia (PRUP)
Tác giả: Lê Văn Phúc, Nông Vũ Thoan (Chủ biên)
Năm: 2008
34. Lê Sỹ Trung (2005), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho một số giải pháp trong quy hoạch sử dụng đất góp phần quản lý rừng bền vững vùng đệm VQG Ba Bể, luận án tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho một số giải pháp trong quy hoạch sử dụng đất góp phần quản lý rừng bền vững vùng đệm VQG Ba Bể
Tác giả: Lê Sỹ Trung
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w