[27] Quỹ đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là rất lớn nhưng việc quản lý và sử dụng nhìn chung còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như:
Trang 1––––––––––––––––––––––––
PHẠM MAI ANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2––––––––––––––––––––––––
PHẠM MAI ANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Lan
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Lan - Giảng viên trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên; Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ ở một học vị nào sau đại học
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Mai Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Đỗ Thị Lan, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy, cô giáo Khoa Quản lý Tài nguyên - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Móng Cái, Phòng Quản lý đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Mai Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế 4
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 4
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 8
1.1.4 Khái quát chung về quỹ đất của các tổ chức 10
1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 10
1.3 Tổng quan về tình hình quản lý, sử dụng đất liên quan đến việc quản lý sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới 12
1.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam 15
1.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ở một số thành phố ở Việt Nam 15
1.3.4 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh17 Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
Trang 62.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.3.2 Phương pháp thống kê, so sánh 26
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và trình bày kết quả 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Móng Cái 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35
3.1.3 Thực trạng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn 37
3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 45
3.2 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 46
3.2.1 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai 46
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 50
3.2.3 Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn thành phố Móng Cái 54
3.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 55
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái 55
3.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Móng Cái 57
3.3.3 Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 66
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái 68
3.4.1 Giải pháp về chính sách pháp luật 68
3.4.2 Giải pháp về kinh tế 68
3.4.3 Giải pháp về khoa học công nghệ 69
Trang 73.4.4 Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
trong thời gian tới 69
3.4.5 Các giải pháp khác 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 76
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thực trạng tình hình quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn
thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 51
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp thành phố Móng Cái năm 2015 52
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp thành phố Móng Cái 53
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng thành phố Móng Cái năm 2015 54
Bảng 3.5 Tổng số tổ chức, khu đất, diện tích sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 55
Bảng 3.6 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế theo mục đích sử dụng đất năm 2015 56
Bảng 3.7 Diện tích đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị hành chính 57
Bảng 3.8 Mục đích sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được điều tra 58
Bảng 3.9 Tình hình giao đất sử dụng đất và cho thuê đất 59
Bảng 3.10 Tình hình ảnh hưởng môi trường của các TCKT sử dụng đất trên địa bàn thành phố Móng Cái 60
Bảng 3.11 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế được điều tra 61
Bảng 3.12 Tình hình cấp GCNQSDĐ của các TCKT trên địa bàn thành phố Móng Cái 63
Bảng 3.13 Các khó khăn trong việc xin giao đất, thuê đất 64
Bảng 3.14 Hiệu quả sử dụng đất của các TCKT trên địa bàn thành phố Móng Cái 65
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo kết quả tổng kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2014 thì diện tích mà các tổ chức đang quản lý, sử dụng khoảng 3.364.490 ha, chiếm 10,16% diện tích tự nhiên của cả nước [27]
Quỹ đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là rất lớn nhưng việc quản lý và sử dụng nhìn chung còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như: sử dụng không đúng diện tích, không đúng mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép… Để từng bước khắc phục những tồn tại trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 về kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các
tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thay thế những quy chế cũ để phù hợp hơn với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của nước ta Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng về đất đai nói chung
và diện tích đất đang giao cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới có nền kinh tế phát triển năng động đa ngành nghề, nằm trong tam giác phát triển khu vực phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Quảng Ninh chủ trương thực hiện phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kết nối sự phát triển kinh tế của tỉnh với sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và toàn vùng Bắc Bộ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước Trong những năm qua, nền kinh tế toàn tỉnh phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thu được nhiều thành quả to lớn Với thế mạnh của tỉnh là vùng nguyên liệu than tốt nhất Đông Nam Á, có các cửa khẩu thông thương với Trung Quốc, di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
đã được UNESCO công nhận Quảng Ninh có tiềm năng phát triển kinh tế với tốc độ cao ở tất cả các ngành nghề, đặc biệt là công nghiệp, dịch vụ
Trang 12Với sự chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt với sự ra đời và quá trình từng bước hoàn thiện của Luật đất đai 1993, 2003 đến Luật đất đai 2013 đã khơi thông cơ chế hàng hoá đối với đất đai trong những năm qua nhờ vào các chính sách vĩ mô và định hướng phát triển không gian đô thị, ngoài việc chỉnh trang và xây dựng các khu dân
cư cũ trong nội thị, tỉnh đã quy hoạch và xây dựng nhiều các khu dân cư mới gắn liền với công nghiệp, dịch vụ, vì vậy tốc độ đô thị hoá trong tỉnh cao, đặc biệt là thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí với chủ trương đầu tư cơ sở hạ tầng để khai thác quỹ đất, tạo ra nhiều nguồn thu từ đất Công tác quản lý đất đai, đặc biết tại các khu vực đô thị đã có những chuyển biến mạnh mẽ
Thành phố Móng Cái là một trong các trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Ninh, kết quả kiểm kê đất đai của các tổ chức theo Chỉ thị 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ thì diện tích mà các tổ chức đang quản lý, sử dụng chiếm một phần trong tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố Thành phố Móng Cái là một cực phát triển quan trọng của cả Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tại đây có nhiều cảng lớn, nhỏ là cửa ngõ thông thương chiến lược của Vùng Thành phố Móng Cái được biết đến như một cửa ngõ thông thương quan trọng với nước láng giềng Trung Quốc, góp phần vào sự phát triển của địa phương nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung, có một nền tảng kinh tế vững chắc trong sự phát triển của tỉnh Quảng Ninh Thành phố Móng Cái nằm trong dải hành lang ven biển của Vịnh Bắc Bộ, là một cực quan trọng trong tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, với lợi thế về phát triển cảng nước sâu, du lịch, kinh tế biển, khoáng sản, hệ thống giao thông thuận lợi Móng Cái có nhiều ưu thế để có thế phát
triển trong tương lai Do vậy, việc thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng
quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh" được đặt ra với mong muốn đưa ra những giải pháp
Trang 13thiết thực và tích cực nhằm tăng cường vai trò nắm chắc, quản chặt quỹ đất của Nhà nước (đại diện chủ sở hữu đối với đất đai) nói chung và diện tích đất đang giao cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng và đặc biệt là diện tích đang giao cho các tổ chức kinh tế quản lý sử dụng trên địa bàn thành phố Móng Cái và góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
2 Mục tiêu của đề tài
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Về khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào cơ sở khoa học trong công tác quản lý và sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái
3.2 Về thực tiễn
Đã đánh giá được thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất được giao và đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tốt hơn, hiệu quả hơn trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như
là một tư liệu sản xuất đặc biệt Tuy hiên đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau
Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng), đất đai làm nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh
Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp đòi hỏi mở rộng qui mô xây dựng, các nhà máy mới tăng lên làm tăng số lượng diện tích đất đai dành cho yêu cầu này
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp là sự phát triển của các ngành xây dựng, các công trình dân cư phát triển đòi hỏi xây dựng nhà ở và hình thành đô thị, các khu dân cư mới Nhưng yêu cầu này ngày càng tăng lên làm cho nhu cầu đất đai dành cho các ngành đó cũng tăng lên
Trong nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất này Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồn thức ăn cho cây trồng Mọi tác động của con người vào cây trồng đều được dựa vào đất đai và thông qua đất đai Đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác
- Điều kiện tự khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện tự nhiên sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều ít, nhiệt độ bình quân thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, thời gian không có
Trang 15sương dài hoặc ngắn trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát dục của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh
- Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng)
Sự sai khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn tới
sự khác nhau về đất đai và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố ngành nông – lâm nghiệp, hình thành sự phân dị địa giới theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thủy lợi hóa và
cơ giới hóa Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công, điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện tự ánh sáng, nhiệt độ nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định khả năng, công dụng và hiện quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế Tình trạng phổ biến hiện nay là nhiều địa phương sử dụng đất chưa hợp lý, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, một số địa phương đã sử dụng đất nông nghiệp để phát triển, mở rộng các khu công nghiệp, khu kinh tế, xây dựng
và phát triển đô thị một cách tràn lan, thiếu tính toán, nhiều nơi dành đất rồi để đấy không sử dụng, gây lãng phí đất canh tác, phá hoại môi trường
1.1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ, dân số và lao động, thông tin và quản
lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuận vào sản xuất
Nhân tố kinh tế-xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định
Trang 16bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Còn sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuận hiện có, quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuận và mức độ dáp ứng của chúng quyết định bởi nhu cầu của thị trường
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế-xã hội khác nhau sẽ tác động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất đai, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau
sẽ dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế và các ngành càng phát triển, yêu cầu về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ được nâng cao
Từ những vắn đề đề nêu trên cho ta thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế- xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đế việc sử dụng đất đai Tuy nhiên, mỗi nhân tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc nhất đối với sản xuất nông nghiệp Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tác động đến việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế trong lĩnh vực sử dụng đất đai Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mục đích sử dụng đất kết hợp chặc chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quản xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững
1.1.2.3 Nhân tố không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất (như các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, xây dựng, mọi hoạt động kinh tế
và hoạt động xã hội) đều cần đế đất đai như điều kiện không gian để hoạt động Không gian bao gồm cả vị trí mặt bằng Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người Vì
Trang 17vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ abr nhất của việc sử dụng đất
Khả năng không dich chuyển của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất lượng đất đai mang tính khu vực chặt chẽ Cùng với mật độ dân
số của các khu vực khác nhau, tỷ lệ cơ cấu và lượng đầu tư sẽ có sự khác biệt rất rõ rệt Tài nguyên đất đai có hạn, lại giới hạn về không gian Đây là nhân
tố hạn chế lớn nhất đối vớ việc sử dụng đất ở nước ta Vì vậy cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả kết hợp bảo vệ tài nguyên đất và môi trường
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đem lại giá trị kinh tế
1.1.3 Xu thế phát triển về sử dụng đất
1.1.3.1 Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Với sự tăng trưởng của dân số và phát triển của kinh tế, kỹ thuật, văn hóa và khoa học, quy mô phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày càng một nâng cao, yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càng cao, các ngành nghề cung phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đất ngày càng mở rộng (từ cục bộ một vùng đã phát triển trên phạm vi cả thế giới, thậm chí cả những vùng đất trước đây không thể sử dụng được)
Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đcíh khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng cao
Tuy nhiên, thời kỳ quá độ chuyển từ kinh doanh quản canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài
Để nâng cao sức sản xuất và sức tải trọng của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng múc đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác quản lý Ở những khu vực khác nhau của một vùng hoặc một quốc gia đều có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật cũng
Trang 18như các điều kiện đặc thù, do đó phải áp dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều địa phương thức tùy từng thời điểm khác nhau
1.1.3.2 Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hóa và chuyên môn hóa
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép tăng khả năng mở rộng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp bồi dưỡng và cải tạo để nâng cao sức sản xuất của đất, thỏa mãn các nhu cầu của con người Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu qủa kinh tế cao nhất cần có
sự phân công và chuyên môn hóa theo khu vực
1.1.3.3 Sử dụng đất đai phát triển theo hướng xã hội hóa và công hữu hóa
Xã hội hóa sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hóa sản xuất Vì vậy, xã hội hóa sử dụng đất và công hữu hóa là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hóa sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hóa và công hữu hóa sử dụng đất
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Chương II, Điều 18 quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
Theo Luật Đất đai năm 2013, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
- Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
- Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao QSDĐ bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
- Nhà nước công nhận QSDĐ đối với người đang sử dụng ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu cho người đó
- Nhận chuyển QSDĐ là việc xác lập quyền sử dụng đất do được người
khác chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho QSDĐ hoặc góp vốn bằng QSDĐ mà hình thành pháp nhân mới
Trang 19- Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai
Người sử dụng đất quy định tại Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến tổ chức như sau:
- Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công lập, và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ; tổ chức kinh tế nhận chuyển QSDĐ
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại
diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
- Tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
Theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức
quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
- Sử dụng đất không đúng mục đích là hành vi sử dụng đất không đúng với mục đích sử dụng, loại đất ghi trong GCNQSDĐ hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc giấy tờ khác
Trang 201.1.4 Khái quát chung về quỹ đất của các tổ chức
Quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được kiểm kê bao gồm quỹ đất thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Theo Thông tư số 55/2013/TT-BTNMT ngày 30/12/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành về hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê
đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, quỹ đất của các tổ chức trên địa bàn toàn quốc được thống kê phân theo các loại: giao đất không thu
tiền sử dụng đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
- Luật Đất đai năm 2013 ngày 29/11/2013
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ quy định về khung giá đất
- Chỉ thị số 134/CT-TTg ngày 20/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm luật đất đai của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
- Chỉ thị 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014
- Thông tư số 55/2013/TT-BTNMT ngày 30/12/2013 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường
Trang 21- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính
- Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về bản đồ địa chính
- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên
và môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất
- Thông tư số 20/2015/TT-BTNMT ngày 20/4/2015 của Bộ Tài nguyên
và môi trường ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất
- Báo cáo số 21/BC-BTNMT ngày 27/4/2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình và kết quả xây dựng bảng giá đất năm 2015 của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính quy định về hướng dẫn Nghị định 45 về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính quy định về hướng dẫn Nghị định 46 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
- Tờ trình số 185/TTr-TNMT-QHKH ngày 31/3/2016 của Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Quảng Ninh v/v Báo cáo HĐND Tỉnh thông qua danh mục các dự án thu hồi đất để thực hiện các dự án, công trình trên địa bàn thành phố Móng Cái năm 2016
- Thông báo số 119/TB-UBND ngày 17/6/2014 cuả UBND tỉnh Quảng Ninh v/v thực hiện thủ tục gia hạn thời gian sử dụng đất
- Báo cáo số 59/BC-UBND ngày 23/5/2014 cuả UBND tỉnh Quảng Ninh v/v Kết quả thống kê đất đai tỉnh Quảng Ninh năm 2014
- Quyết định số 3288/QĐ-UBND ngày 12/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Ninh v/v ban hành quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư các dự án phát triển kinh tế - xã hội có sử dụng đất, mặt nước; công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng kinh doanh khu đô thị, dự án phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 22- Quyết định số 999/2013/QĐ-UBND ngày 15/4/2013 của UBND tỉnh v/v ban hành quy định tạm thời để xác định các dự án được giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Quyết định số 2999/2016/QĐ-UBND ngày 15/09/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh v/v Quy định hướng dẫn quản lý dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước và dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
1.3 Tổng quan về tình hình quản lý, sử dụng đất liên quan đến việc quản
lý sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Nước Thụy Điển
Ở Thụy Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý
và sử dụng đất là mối quan tâm chung của toàn xã hội Vì vậy, toàn bộ pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước
Bộ Luật Đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ đất đai và hoạt động của toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như QHSDĐ, đăng ký đất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu đất đai và đều được luật hóa Pháp luật và chính sách đát đai ở Thụy Điển
về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường, có
sự giám sát chung của xã hội
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đât gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân Quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn
đề bồi thường, QHSDĐ, thu hồi đất, đăng ký QSDĐ và hệ thống đăng ký….[31]
1.3.1.2 Nước Trung Quốc
Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đang thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập
Trang 23thể của quần chúng lao động Mọi đơn vị cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng phi pháp đất đai Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất
Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc sách cơ bản của Trung Quốc
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục đích sử dụng đất trưng dụng Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10 lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng Tiêu chuẩn hỗ trợ định cư cho mỗi nahan khẩu nông nghiệp bằng
từ 4 đến 6 lần giá trị sản lượng bình quân của đất canh tác/đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao nhất không vượt quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm trước đó Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đền bù đất trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng vào mục đích khác [31]
1.3.1.3 Nước Pháp
Các chính sách quản lý đất đai ở Cộng hòa Pháp được xây dựng trên một
số nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai và hình thành các công cụ quản lý đất đai
Pháp là quốc gia phát triển, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức quản lý trong lĩnh vực đất đai của Pháp còn khá rõ đối với nước ta Vấn đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá
rõ nét trong ý thức của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay
Về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, mặc dù là quốc gia duy trì chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, nhưng công tác quản lý về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, quy củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước, vị trí địa
lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đẩy đủ thông tin về hiện trạng sử dụng đất,
Trang 24phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và sử dụng đất có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ
sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động mua bán, chuyển nhượng đất đai Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất Văn tự chuyển đổi chủ sở hữu đất đai có Tòa án hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi
Ngày nay, đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển [31]
1.3.1.4 Nước Australia
Australia có lịch sử hình thành từ thuộc địa của Anh, nhờ vậy Australia
có được cơ sở hệ thống pháp luật quản lý xã hội nói chung và quản lý đất đai nói riêng từ sớm Trong suốt quá trình lịch sử từ lúc là thuộc địa đến khi trở thành quốc gia độc lập, pháp luật và chính sách đất đai của Australia mang tính kế thừa và phát triển một cách liên tục, không có sự thay đổi và giản đoạn
do sự thay đổi về chính trị Đây là điều kiện thuận lợi làm cho pháp luật và chính sách đất đai phát triển nhất quán và ngày càng hoàn thiện, được xếp vào loại hàng đầu của thế giới, vì pháp luật đất đai của Australia đã tập hợp và vận dụng được hàng chục luật khác nhau của đất nước
Luật đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia là đất thuộc sở hữu Nhà nước và đất thuộc sở hữu tư nhân, Australia công nhận Nhà nước và
tư nhân có quyền sở hữu đất đai và bất động sản trên mặt đất Phạm vi sở hữu đất đai theo luật định là tính từ tâm trái đất trở lên, nhưng thông thường Nhà nước có quyền bảo tồn đất ở từng độ sâu nhất định, nơi có những mỏ khoáng sản quý như vàng, bạc, thiếc, than, dầu mỏ… (theo sắc luật về đất đai khoáng sản năm 1993)
Luật Đất đai Australia bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích lũy đất đai Tuy nhiên, luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và việc tửng thu đó gắn liền với việc Nhà nước phải thực hiện bồi thường thỏa đáng [31]
Trang 25Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù quy định chế
độ sở hữu đối với đất đai khác nhau, đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu thế toàn cầu hoá hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế
mở cửa, phát triển, tạo điều kiện để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia
1.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
Tổng hợp bổ sung, cập nhật kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2014, kết quả Thống kê quỹ đất năm 2015 của các tổ chức kinh tế đang quản lý, sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
* Sử dụng vào mục đích khác
* Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Từ các số liệu này nêu ra được các vấn đề bức xúc hiện nay về tình hình quản lí, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
1.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ở một số thành phố ở Việt Nam
1.3.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ở Hà Nội
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2014, Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hà Nội là 7.562,799 ha, diện tích đất cấp xã (phường) quản lý sử dụng là 485,653 ha chiếm 6,42 %, diện tích đất của tổ chức kinh tế quản lý, sử dụng là 1.014,42 ha chiếm 13%, diện tích đất các cơ quan đơn vị nhà nước quản lý, sử dụng là 704,546 ha chiếm 9,3%, diện tích đất các tổ chức khác quản lý, sử dụng là 4,526 ha chiếm 0,06% diện tích tự nhiên của toàn thành phố [19]
Trang 26Diện tích sử dụng đất đúng mục đích các tổ chức kinh tế của Thành phố
Hà Nội là 919,9 ha, đạt 90,6 % so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích các tổ chức kinh tế cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 46,7 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê
và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 2,9% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 0,3% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước) [19]
1.3.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ở Hải Phòng
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2014, Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hải Phòng là 152.742,74 ha, diện tích đất cấp xã (phường) quản lý sử dụng là 27.297,46 ha chiếm 21,24 %, diện tích đất của tổ chức kinh tế quản
lý, sử dụng là 8.126,93 ha chiếm 5,32%, diện tích đất các cơ quan đơn vị nhà nước quản lý, sử dụng là 69.602,12 ha chiếm 54,15%, diện tích đất các tổ chức khác quản lý, sử dụng là 625,47 ha chiếm 0,49% diện tích tự nhiên của toàn thành phố [19]
Diện tích sử dụng đất đúng mục đích các tổ chức kinh tế của Thành phố Hải Phòng là 7.795,8 ha, đạt 96% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích các tổ chức kinh tế cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 160,0 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 9,94% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 0,9% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước)
1.3.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế ở Đà Nẵng
Theo kết quả Kiểm kê quỹ đất năm 2014, Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Đà Nẵng là 128.543,09 ha, diện tích đất cấp xã (phường) quản lý sử dụng là 27.297,46
ha chiếm 21,1 %, diện tích đất của tổ chức kinh tế quản lý, sử dụng là 2.522,07 ha chiếm 1,96%, diện tích đất các cơ quan đơn vị nhà nước quản lý, sử dụng là 69.602,12 ha chiếm 54,1%, diện tích đất các tổ chức khác quản lý, sử dụng là 625,47 ha chiếm 0,49% diện tích tự nhiên của toàn thành phố
Diện tích sử dụng đất đúng mục đích các tổ chức kinh tế của Thành phố
Đà Nẵng là 2.275,5 ha, đạt 90,2% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
Trang 27diện tích các tổ chức kinh cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 146,6 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 9,1% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 0,7% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước) [19]
1.3.4 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Đất đai là tài nguyên vô cùng quan trọng, có vị trí đặc biệt, quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội Do nằm ở vị trí ở địa đầu của Tổ quốc, Quảng Ninh có điều kiện phát triển một nền kinh tế tổng hợp, tỉnh đã xác định đất đai là một trong những tiềm lực lớn trong lĩnh vực phát triển sản xuất, đời sống, đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển không gian đô thị Tuy nhiên vệc quản
lý, sử dụng đất mang tính chiến lược nhằm bảo đảm cho sự phát triển được cân đối, bền vững kết hợp với bảo vệ môi trường Nói cách khác phát triển đô thị phải đáp ứng nhu cầu của đời nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sau
Tỉnh Quảng Ninh là tỉnh phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, trong đó tốc độ
đô thị hoá rất nhanh, do đó công tác quản lý đất đai của các cấp thành phố, phường, xã, thị trấn, cấp huyện, thị xã rất quan trọng, đặc biệt là nắm chắc quỹ đất để có kế hoạch khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Thực tế, trong những năm qua, Quảng Ninh đang ở giai đoạn đầu tư phát triển, do đó đất đai được sử dụng nhiều hơn cho các mục đích sử dụng Điều này dẫn đến việc biến động không ngừng, kể cả việc chuyển đổi QSDĐ trong nhân dân Thị trường bất động sản có những thời điểm nóng lên khó kiểm soát được, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất đai phải được tăng cường
để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh, công tác quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường và đi vào nề nếp, pháp luật đất đai đi vào cuộc sống, ý thức của người sử dụng đất từng bước được nâng lên Các nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả
Trang 28Theo số liệu thống kê đất đai năm 2015, Tỉnh Quảng Ninh có tổng diện tích đất tự nhiên là 617772,79 ha Trong đó:
- Nhóm đất nông nghiệp là 461.751,33 ha chiếm 74,74 % tổng diện tích
- Cán bộ Tài nguyên và Môi trường tỉnh có 215 người, với 01 người có trình độ tiến sỹ (chiếm 0,46%), 03 đang nghiên cứu sinh (chiếm 1,4%), 59 người có trình độ thạc sỹ (chiếm 27,44%), 135 người có trình độ đại học cao đẳng (chiếm 62,79%) và 17 người có trình độ trung cấp (chiếm 7,9%)
- Cán bộ Tài nguyên và Môi trường huyện, Thị xã có 137 người, với 28 người có trình độ thạc sỹ (chiếm 20,4%), 98 người có trình độ đại học (chiếm 71,5%), 11 người có trình độ trung cấp (chiếm 8,0%)
- Cán bộ Tài nguyên và Môi trường cấp cơ sở có 372 người tại 186 xã, phường, thị trấn [20]
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh luôn được củng cố cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng kịp thời sự chuyển biến của việc sử dụng đất trong tình hình mới
Kết quả thống kê đất đai năm 2015 đã đánh giá cơ bản chính xác tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh theo hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm và biến động đất đai từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2015
Số liệu thống kê đất đai năm 2015 của tỉnh Quảng Ninh được tổng hợp
từ kết quả của các địa phương trong tỉnh và được xây dựng đúng hướng dẫn
về loại đất, đối tượng quản lý, sử dụng theo hướng dẫn tại Thông tư số
Trang 2928/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Thu thập thông tin từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh
Kết quả thống kê đất đai năm 2015 tỉnh Quảng Ninh là cơ sở phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai cũng như công tác lập quy hoạch, KHSDĐ, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương trong thời gian tới
Năm 2011, tỉnh Quảng Ninh có 2.663 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 149.793,8 ha, chiếm 94,8% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc chuyển nhượng trái pháp luật chiếm tỷ lệ 2,9%
- Cơ quan nhà nước có 327 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 11.280,9 ha, đạt 99,99% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với các cơ quan nhà nước là rất ít (toàn tỉnh có 02 cơ quan nhà nước cho cho mượn với diện tích 0,07 ha)
- Tổ chức chính trị có 28 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 19,68
ha, đạt 97,8% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức xã hội có 17 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 5,86 ha, đạt 98,79% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức chính trị - xã hội có 17 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 2.128,5 ha, đạt 68,03% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 6 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 1,59 ha, đạt 97,26% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức sự nghiệp công có 689 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 1.625,45 ha, đạt 99,02% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho thuê trái phép là 0,024 ha của 01 tổ chức tại phường Cẩm Thành, thị xã Cẩm Phả; diện tích cho mượn là 0,1 ha của 06 tổ chức tập trung ở thị xã Cẩm Phả
- Tổ chức kinh tế có 1.435 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 27.436,89 ha, đạt 95,11% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho thuê trái phép là 0,9 ha của 09 tổ chức ở các địa phương là Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Quảng Yên, Hoành Bồ; diện tích cho mượn là 0,54 ha của
Trang 3004 tổ chức, trong đó Cẩm Phả 03 tổ chức, Hạ Long 01 tổ chức; diện tích chuyển nhượng trái phép có 01 tổ chức ở phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả với diện tích 0,003 ha [28]
- UBND cấp xã quản lý, sử dụng có 186 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 2.875,35 ha, đạt 99,4% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích cho mượn là 2,94 ha của 06 tổ chức tập trung ở thị xã Quảng Yên, huyện Bình Liêu, Cô Tô
- Nông, lâm trường có 11 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 85.903,95 ha, đạt 96,7% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng;
- Quốc phòng, an ninh có 15 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 18.515,55 ha, đạt 86,99% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng các tổ chức sử dụng đất vào mục đích an ninh quốc phòng có 13 tổ chức cho mượn trái phép với diện tích là 8,68 ha [28]
* Sử dụng vào mục đích khác:
Toàn tỉnh có 48 tổ chức sử dụng vào mục đích khác với diện tích 26,92
ha, trong đó số tổ chức sử dụng vào mục đích làm nhà ở là 31 tổ chức với diện tích 10,62 ha, số tổ chức sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp là 17 tổ chức với diện tích 16,3 ha; phần lớn diện tích sử dụng vào mục đích khác tập trung ở các tổ chức kinh tế với 15 tổ chức sử dụng làm nhà
ở và 13 tổ chức sử dụng làm đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và UBND cấp xã với 8 tổ chức sử dụng làm nhà ở với diện tích 5,45 ha ở Hoành
Bồ, Uông Bí, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà [28]
Trang 31Mặt khác đối với các tổ chức là các Công ty lâm nghiệp được giao, thuê đất lâm nghiệp, các đơn vị quốc phòng được giao đất làm thao trường, bãi tập
có diện tích lớn và địa hình phức tạp, nhiều diện tích chưa được sử dụng còn
để hoang hoá dẫn đến tình trạng bị lấn, chiếm Một số hộ dân sử dụng đất ở gần với đất của các lâm trường ý thức chấp hành pháp luật đất đai kém nên thường có hịên tượng vi phạm pháp luật đất đai
Một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng đã có tình trạng lấn, chiếm đất của các lâm trường bên cạnh do đó diện tích khi triển kiểm kê đợt này đã tăng có tổ chức tăng gấp 2 đến 3 lần diện tích được giao, thuê
* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức:
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 1.929,78 ha do 136 tổ chức quản lý, trong đó diện tích
đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 1.057,52 ha do 48 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 872,26 ha do 88 tổ chức quản lý Nguyên nhân là do một số tổ chức thiếu năng lực về tài chính nên khi được giao đất, thuê đất đã không thực hiện đúng tiến độ của dự án hoặc không thực hiện [28]
* Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê:
Tính đến ngày 31/12/2015, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 12.832,18 ha đất đã được giao, cho thuê và cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện việc sản xuất nông nghiệp, trồng rừng và phát triển nhà ở, sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng hạ tầng nhưng đến thời điểm kiểm
kê 31/12/2015 vẫn chưa thực hiện việc sử dụng đất theo đúng mục đích được giao, được cho thuê và cấp giấy chứng nhận [28]
Trang 32Nguyên nhân do một số diện tích đất sản xuất nông nghiệp năng xuất thấp nên các hộ dân đã bỏ hoang không tiến hành sản xuất theo mục đích được giao Phần diện tích đất đồi núi chưa sử dụng đã được giao để trồng, khoanh nuôi, phục hồi rừng nhưng do vị trí có địa hình cao, giao thông đi lại khó khăn và khó trồng rừng nên các tổ chức, cá nhân đã được giao đất vần chưa thực hiện được việc trồng rừng theo kế hoạch Một phần diện tích đất ở trong các khu đô thị đã được GCNQSDĐ nhưng người dân vẫn chưa xây dựng nhà ở hoặc một số dự án phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng đang triển khai theo kế hoạch và do một số nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan của chủ đầu tư
* Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất khác với hồ sơ địa chính:
Việc sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thời gian qua đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về đất đai Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất đều sử dụng đúng mục đích, ranh giới theo quy định Tính đến ngày 31/12/2015, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, việc sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng khác với hồ sơ địa chính nguyên nhân do các chủ sử dụng đất hoặc chủ đầu tư đã triển khai trước việc thực hiện dự
án theo quy hoạch khi chưa hoàn thành các thủ tục pháp lý về chuyển mục đích theo quy định
Chỉ có một số hộ dân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép không theo quy hoạch Các trường hợp này đều đã được UBND các xã, phường, thị trấn lập biên bản xác định vi phạm, xử phạt hành chính và yêu cầu chủ sử dụng đất hoàn nguyên trạng mục đích sử dụng theo đúng quyết định được giao, cho thuê đất
* Tình hình tranh chấp địa giới hành chính:
Việc thành phố Hải Phòng có dẫn chứng về nguồn tài liệu bản đồ hành chính được lập từ các thời kỳ trước để chứng minh phần diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản tại khu vực đầm Nhà Mạc, phần diện tích tự nhiên của 8 xã đảo khu vực Hà Nam thuộc thị xã Quảng Yên và một phần diện tích của vịnh Hạ Long có tiếp giáp địa giới với Hải Phòng thuộc ranh giới đất của thành phố Hải Phòng là không phù hợp với thực tế [28]
Vì phần diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản tại khu vực đầm Nhà Mạc và phần diện tích tự nhiên của 08 xã đảo khu vực Hà Nam thuộc thị xã Quảng
Trang 33Yên thuộc ranh giới địa phận của tỉnh Quảng Ninh theo đường ranh giới do
Bộ Nội vụ xác lập năm 1991 theo Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chính phủ Phần diện tích đảo trên vịnh Hạ Long tiếp giáp với Hải Phòng là diện tích năm trong quần thể di sản Vịnh hạ Long đã được UNESSCO công nhận và hiện đang do tỉnh Quảng Ninh quản lý
Do đó, toàn bộ diện tích thuộc các khu vực này đều không phải diện tích nằm trong khu vực tranh chấp và được kiểm kê vào diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quỹ đất và các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai do Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo các đối tượng, mục đích sử dụng của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2016 tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình cơ bản: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố
Móng Cái có ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
2.2.1 Thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh:
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh từ trước đến tháng 8/2016:
+ Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất của các tổ chức kinh tế + Tình hình sử dụng diện tích đất hiện tại đang sử dụng theo hồ sơ được giao + Hiệu quả sử dụng đất
+ Hiệu quả môi trường: điều tra từ người dân sống xung quanh, cơ quan quản lí và tổ chức kinh tế sử dụng đất
2.3.3
- Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả đối với quỹ đất đã giao cho cho các tổ chức sử dụng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp chính được sử dụng để thực hiện đề tài đó là:
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đây là phương pháp được dùng để thu thập số liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu đề tài Một số phương pháp cụ thể đó là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, thu thập số liệu sơ cấp, điều tra phỏng vấn các nhà quản lý, các chuyên gia và người dân,… Các phương pháp điều tra được kết hợp sử dụng nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Để đảm bảo nguồn số liệu điều tra được đầy đủ, có tính thống nhất cao, không chồng chéo, mâu thuẫn, đề tài sẽ được xây dựng trên cơ sở thu thập tài liệu của các ban ngành ở Trung ương, thu thập tài liệu - bản đồ và trực tiếp điều tra nguồn số liệu của các tổ chức
Trang 352.3.1.1 Thu thập số liệu sơ cấp
Được tiến hành đối với các thửa đất của các tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất, cho thuê đất
* Phương pháp khảo sát thực địa:
Áp dụng phương pháp khảo sát, đo đạc, quan sát, đối chiếu hiện trạng sử dụng đất với hồ sơ giao đất, thuê đất, bản đồ hiện trạng giao đất, thuê đất của thửa đất cần điều tra nhằm xác định rõ tình hình quản lý, sử dụng đất của tổ chức được điều tra, cụ thể như sau:
- Xác định ranh giới thửa đất thực tế mà tổ đang quản lý, sử dụng và so sánh với các mốc ranh giới đã được bàn giao tại thực địa
- Xác định mục đích đang sử dụng của thửa đất và tiến độ đầu tư các công trình trên đất
* Phương pháp điều tra:
Sử dụng phương pháp điều tra đối với các nhóm đối tượng liên quan nhằm xác định thực trạng tình hình quản lí và sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn Các đối tượng hướng tới để sử dụng phương pháp điều tra được chia ra thành 3 nhóm đối tượng là: (1) người dân sống xung quanh khu, lô đất mà tổ chức kinh tế quản lí và sử dụng; (2) các cán bộ quản lí tại các phòng ban thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Móng Cái; (3) các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp đang quản lí và sử dụng đất trên địa bàn Phương pháp điều tra được áp dụng cụ thể như sau:
- Sử dụng phiếu điều tra hoặc phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin từ
3 nhóm đối tượng điều tra là: người dân sống xung quanh khu đất được các tổ chức kinh tế quản lí sử dụng, cán bộ và các phòng ban liên quan, đơn vị kinh
tế sử dụng đất để từ đó đánh giá được hiệu quả về môi trường trong quá trình
sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố
* Số lượng mẫu chọn để điều tra, phỏng vấn:
Điều tra 35 tổ chức được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất trên cơ sở tham khảo ý kiến của Phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp phường (có danh sách ở phụ lục)
2.3.1.2 Thu thập số liệu thứ cấp
- Các văn bản pháp quy có liên quan Tổng cục Quản lý đất đai, Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Móng Cái
Niên giám thống kê thành phố Móng Cái năm 2015
- Số liệu về tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Móng Cái Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Móng Cái
Trang 36- Số liệu về hiện trạng sử dụng đất năm 2015 thành phố Móng Cái
- Số liệu về hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất và tình
hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái
- Số liệu về bổ sung tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Móng Cái Kết quả thống kê đất đai năm 2015 trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh
- Số liệu về giao đất, thuê đất của các tổ chức kinh tế năm 2015 trên địa
Các số liệu thu thập được phân tích, xử lý, tính toán và tiến hành so sánh,
từ đó đưa ra, làm rõ các vấn đề trong thực trạng của địa phương Các số liệu trong báo cáo được xử lý với sự hỗ trợ hiệu quả của các phần mềm vi tính mà chủ yếu là dùng excel
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và trình bày kết quả
Báo cáo sử dụng phương pháp tổng hợp trình bày kết quả: các số liệu được thu thập, tính toán, phân tích theo các bảng, biểu kết hợp với phần thuyết minh
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Móng Cái
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc và phía Đông giáp thị xã Đông Hưng tỉnh Quảng Tây Trung Quốc
- Phía Nam giáp biển
- Phía Tây giáp huyện Hải Hà
- Thành phố Móng Cái có diện tích 519,58 Km2 chiếm 8,43% diện tích toàn tỉnh (chưa kể diện tích lãnh hải) Móng Cái có 17 đơn vị hành chính bao gồm 8 phường và 9 xã (có 2 xã đảo: Vĩnh Trung và Vĩnh Thực)
Hình 3.1 Bản đồ địa giới hành chính thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Thành phố Móng Cái có nhiều điều kiện thuận lợi và tiềm năng lớn để phát triển kinh tế - xã hội, là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa phía Đông Bắc của Việt Nam với Trung Quốc, Móng Cái có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, đối ngoại và an ninh – quốc phòng
Trang 383.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Móng Cái có địa hình đồi núi trung du ven biển, nằm trong cánh cung Đông Triều - Móng Cái, thấp dần từ Bắc xuống Nam bị chia cắt khá phức tạp, hình thành 3 vùng rõ rệt: vùng núi phía Bắc, vùng trung du ven biển và vùng hải đảo phía Nam
Địa hình vùng núi phía Bắc:
Vùng đồi núi có độ cao từ 300 m – 866 m độ dốc trên 250, bao gồm 2 xã Hải Sơn, Bắc Sơn là 2 xã miền núi khó khăn nhất của thành phố, là đầu nguồn của các con sông lớn như sông Ka Long, sông Thín Coóng, sông Pạt Cạp, Tràng Vinh Rừng ở đây là rừng đầu nguồn có 7051,56 ha, nên việc trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ rừng có vai trò quan trọng để hạn chế lũ lụt và điều tiết nguồn nước
Địa hình vùng trung du ven biển:
Diện tích khoảng 28.000,0 ha, chiếm 54,0% diện tích tự nhiên bao gồm đồi thấp xen kẽ là những thung lũng, ruộng bậc thang và một số đồng ruộng bằng phẳng ven sông, biển, vùng này gồm các xã: Hải Tiến, Hải Đông, Hải Xuân, Vạn Ninh và phường Hải Hòa, Ninh Dương, Trà Cổ, Hải Yên, Bình Ngọc, có độ cao trung bình tại các khu vực: khu vực đồi núi có độ cao từ 25.0 m
- 94.0 m Các dải đồi thấp, xen kẽ các thung lũng có cao độ từ 20 - 25 m
Địa hình vùng hải đảo phía Nam:
Đảo Vĩnh Thực là vùng núi thấp, cao độ địa hình biến thiên trong khoảng 40,0 m – 166,0 m, xen kẽ giữa các vùng núi thấp là các thung lũng lúa nước
và đất canh tác cao độ địa hình biến thiên trong khoảng 0.5 m - 8.0 m
Địa chất công trình:
Qua kết quả khảo sát địa chất công trình và thực tế xây dựng các công trình khả năng chịu lực của nền đất tại khu vực Móng Cái là tương đối tốt, tại vùng đồi và khu vực ven núi, xây dựng hầu như không cần gia cố móng đặc biệt, cường độ chịu lực của đất cao 2kg/cm2 [28]
3.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu của Móng Cái tương đối ôn hoà mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của biển nên nóng ẩm và mưa nhiều, một năm có 2 mùa, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 là
vùng ven biển bị chi phối mạnh mẽ của biển
Trang 39Độ ẩm không khí:
Độ ẩm không khí của Móng Cái tương đối cao so với các nơi khác trong tỉnh trị số trung bình trong năm là 84%, các nơi khác chỉ đạt 81 – 83% Nhìn chung độ ẩm không khí tương đối ở Móng Cái chênh lệch giữa các khu vực không lớn, phụ thuộc vào độ cao và địa hình, có sự phân hoá theo mùa, mùa mưa nhiều độ ẩm không khí cao hơn mùa ít mưa
Chế độ gió:
Móng Cái có 2 loại gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam
Từ tháng 11 - tháng 4 năm sau thường là gió mùa Đông Bắc tốc độ gió trung bình năm 2,3 m/s, gió mùa Đông Bắc thổi về theo đợt, mỗi đợt kéo dài
từ 3-5 ngày, gió mạnh nhất có tốc độ 4-5 m/s
Từ tháng 5 đến tháng 10 thịnh hành gió Đông Nam, gió thổi từ biển vào đất liền mang theo nhiều hơi nước Tốc độ gió trung bình từ 2 - 4m/s (cấp 2- 3) có khi tới cấp 5 đến cấp 6
Bão:
Xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10, tháng có nhiều bão là tháng 7 và tháng 8 thường sớm hơn các khu vực khác Bão có tốc độ gió từ 20 - 40m/s, thường có mưa lớn, lượng mưa từ 100 – 200 mm, có nơi tới 500 mm
Sương muối, sương mù:
Vùng núi thường có sương muối vào tháng 1, sương mù xuất hiện vào tháng 2-3, phổ biến trên toàn thành phố, gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và tầu thuyền đi lại trên biển [28]
Trang 40vịnh Bắc Bộ, diện tích lưu vực khoảng 773 km2 phần Móng Cái là 99 km2.khu thượng lưu sông nhỏ, độ dốc lớn, phía hạ lưu sông rộng và nhiều cửa sông nên thoát lũ nhanh ít gây úng lụt
- Sông Tràng Vinh bắt nguồn từ các đỉnh núi cao phía tây bắc thành phố chảy qua hồ Tràng Vinh rồi ra biển, lưu lượng mùa lũ là 33.0 m3/s Lưu lượng trung bình là 5.15 m3/s, lưu lượng mùa kiệt là 0.1 m3/s Lũ ở đây lên xuống nhanh, thất thường, thường chịu ảnh hưởng của thủy triều
- Sông Pạt Cạp diện tích lưu vực 41 km2, lưu lượng nước sông lớn nhất
686 m3/s, lưu lượng nước sông nhỏ nhất 1,17 m3/s
Ngoài ra còn có các suối nhỏ độ dốc lớn dòng chảy ngắn, mùa khô ít có tác dụng cho sản xuất và đời sống do có lưu lượng dòng chảy nhỏ
- Đất mặn (M):
Đất mặn được chia thành 3 nhóm đất chính và 5 nhóm đất phụ, diện tích đất mặn là 11087.07 ha chiếm 21.34% diện tích đất tự nhiên Trong đó: Đất mặn sú vẹt đước 9893,93 ha, Đất mặn nhiều 487,45 ha, Đất mặn ít trung bình 184,44 ha, phân bố chủ ở các xã, phường Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông,