1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật việt nam từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại thành phố hà nội (t)

26 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 577,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư nhằm mục đích là thu hút vốn đầu tư vào những lĩnh vực, trong đó ưu tiên, khuyến khíc

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

hồi giờ ngày tháng năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ưu đãi đầu tư có tầm quan trọng chiến lược trong sự tăng trưởng kinh tế và mang lại những tác động tích cực đến kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Mục tiêu của ưu đãi đầu tư là nhằm thúc đẩy sự phát triển của những ngành, nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn dân cư nhất định theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước Với mục tiêu góp phần tạo dựng môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh và cộng đồng doanh nghiệp, đẩy mạnh thu hút đầu tư cho sự phát triển kinh tế

và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam luôn chú trọng xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm tạo ra một khung pháp

lý hoàn thiện và phù hợp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trong những năm gần đây, ngành công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và công nghiệp công nghệ thông tin nói riêng của Việt Nam đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ so với những ngành kinh

tế khác và được đứng vào nhóm các nước có trình độ và triển vọng phát triển tiên tiến của thế giới Rõ ràng lĩnh vực CNTT đang và sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy Việt Nam trong tiến trình đuổi kịp các nước tiên tiến khác trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạn vừa qua, tăng trưởng bình quân của toàn ngành CNTT đạt khoảng 15%/năm, ngành công nghiệp phần mềm còn có tốc độ phát triển cao hơn, tới 33%/năm [36, tr.3]

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư nhằm mục đích là thu hút vốn đầu tư vào những lĩnh vực, trong đó ưu tiên, khuyến khích và ưu đãi những ngành sử dụng công nghệ cao phù hợp với chiến lược công

Trang 4

nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) của Việt Nam

Thành phố Hà Nội với vai trò là Thủ đô và cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước cũng đã đưa ra những chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng khuyến khích đầu

tư tạo những bước chuyển biến tích cực đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội của Thủ đô, trong đó đặc biệt quan tâm vấn đề ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực CNTT nói riêng

Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố

Hà Nội nhiệm kỳ 2015-2020 có xác định rõ định hướng trọng tâm phát triển Thủ đô 5 năm (2015-2020) trong đó có đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức, đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với cơ cấu lại kinh

tế Thủ đô bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh, bền vững Phấn đấu đạt mức tăng trưởng từ 8,5% - 9% Để đạt được mức tăng trưởng cao đáp ứng định hướng đề ra, một trong những giải pháp là đẩy mạnh tăng trưởng, tăng tỷ trọng trong ngành công nghiệp CNTT vì mức tăng trưởng hiện tại của ngành đạt 25-30% [36, tr.3]

Trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội, song hành với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, trong lĩnh vực đầu tư UBND thành phố đã căn cứ các quy định của pháp luật để ban hành nhiều văn bản liên quan đến việc khuyến khích, ưu đãi đầu tư nói chung và cho các doanh nghiệp CNTT nói riêng Tuy nhiên, mục đích của hầu hết nhà đầu tư là lợi nhuận, khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường quan tâm lựa chọn những nơi có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển, điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao như CNTT

Do đó, tuy thu hút đầu tư luôn ở top đầu cả nước nhưng so với TP Hồ Chí Minh thì việc thu hút đầu tư trong lĩnh vực CNTT còn nhiều bất cập, các biện pháp thực thi pháp luật về ưu đãi đầu tư thực sự chưa có

Trang 5

hiệu quả, chưa đồng bộ và chưa tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu

tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực CNTT Đây

là một vấn đề cấp bách cần có hướng giải quyết để sớm khắc phục, trong đó việc thành lập các khu CNTT tập trung là một giải pháp đột phá của thành phố Hà Nội

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, với mong muốn nghiên cứu chính sách pháp luật ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, học viên chọn đề tài:

“Ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại thành phố Hà Nội” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ luật học,

chuyên ngành Luật Kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến ưu đãi đầu tư nói chung và ưu đãi đầu tư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế hay ưu đãi đầu tư theo các lĩnh vực, ngành nghề nói riêng

- Giáo trình “Luật Đầu tư” của Trường Đại học Luật Hà Nội

(2011), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, đề cập những vấn đề cơ bản của pháp luật đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, Luật Đầu tư năm 2005;

- Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam NXB Khoa học xã

hội

- Nguyễn Thị Diễm Hường (2008), “Pháp luật hiện hành về

ưu đãi đầu tư”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật thành phố

Hồ Chí Minh Luận văn đã làm rõ các quy định của hệ thống pháp luật ưu đãi đầu tư của Việt Nam và WTO liên quan đến ưu đãi đầu

tư, có giá trị tham khảo

Trang 6

Các Luận văn của Học viện Khoa học Xã hội liên quan đến

đề tài luận văn này, bao gồm:

- Nguyễn Văn Cảnh (2016), Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu

tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Luận văn Thạc sỹ Luật học

- Đỗ Thị Hạnh (2015), “Ưu đãi đầu tư theo pháp luật Việt Nam, từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học

- Đào Thu Hương (2012), Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu

tư nước ngoài Luận văn Thạc sỹ Luật học

Như vậy, dưới góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung nghiên cứu về ưu đãi, thu hút vốn đầu tư; nêu

ra những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện ưu đãi đầu tư qua thực tiễn tại nhiều địa phương trong cả nước Tuy nhiên, việc áp dụng, phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp về ưu đãi đầu tư đối trong lĩnh vực CNTT, đối với doanh nghiệp CNTT và thực tiễn tại các khu CNTT tập trung cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu, đề cập đến

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đánh giá thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT nhằm đề xuất hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu

tư cho các doanh nghiệp CNTT cả nước nói chung và của thành phố

Hà Nội nói riêng

Trang 7

trung tại thành phố Hà Nội, chỉ ra những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn

thiện các quy định của pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh

nghiệp CNTT

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu

tư cho các doanh nghiệp CNTT Việt Nam và thực tế áp dụng tại khu CNTT tập trung Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Thực tế áp dụng các chính sách pháp luật ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT hoạt động tại khu CNTT tập trung tại Hà Nội từ năm 2013 đến nay (khi khu CNTT tập trung đầu tiên của Hà Nội được Bộ Thông tin và Truyền thông công nhận và đi vào hoạt động)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu triển khai trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chính sách và pháp luật về

ưu đãi đầu tư; sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp

so sánh luật học; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp

Trang 8

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT

6.2 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn nêu tổng quan các quy định của pháp luật hiện hành về ưu đãi đầu tư, ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT

- Luận văn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành trong việc ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT trong các khu CNTT tập trung

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi đầu tư cho các

doanh nghiệp công nghệ thông tin

Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các

doanh nghiệp công nghệ thông tin từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại Thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

về ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung Hà Nội

Trang 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ CHO CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Khái niệm và vai trò ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

1.1.1 Khái niệm ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam

* Quan niệm về ưu đãi đầu tư

Qua nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành thì thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” chưa có khái niệm thống nhất, chưa được định nghĩa hay giải thích cụ thể ở một vănn bản nào mà chủ yếu quy định về nội dung chính sách ưu đãi đầu tư [18, tr.6]

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “ưu đãi” theo nghĩa chung nhất

là “chú trọng, dành cho những quyền lợi, điều kiện tốt hơn những đối tượng khác” [39, tr.1732] Theo Từ điển tiếng Việt, “đầu tư” là việc

“bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [22, tr.301]

Luật Đầu tư số 67 năm 2014 được ban hành ngày 26/11/2014 không giải thích về “đầu tư” mà nêu khái niệm “dự án đầu tư” tại khoản 2 Điều 3 như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” Khoản 5 Điều 3 giải thích thuật ngữ “đầu tư kinh doanh” như sau: “ Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”

Trang 10

Tuy vậy, tổng quan hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay chưa định nghĩa thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” một cách thống nhất, mà chỉ dừng lại ở việc quy định về nội dung chính sách ưu đãi đầu tư Theo đó, thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” được sử dụng trong văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay có thể được hiểu là những lợi ích vật chất có thể tính toán, xác định được nhà đầu tư hay doanh nghiệp được hưởng khi mà họ thỏa mãn đủ các điều kiện nhất định; ưu đãi đầu tư là những lợi thế kinh tế có thể lượng hóa được mà Chính phủ của các quốc gia dành cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanh nghiệp nhất định nhằm khuyến khích họ xử sự theo một cách thức nhất định Chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ Việt Nam tương đối đa dạng nhưng chủ yếu là thu hút vốn đầu tư vào những địa bàn có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khó khăn, những lĩnh vực kinh tế đòi hỏi vốn lớn, sử dụng công nghệ cao, hoặc sử dụng nhiều lao động hoặc phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề tăng nhanh vốn đầu tư để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế là một vấn đề sống còn của dân tộc

Ưu đãi mà Nhà nước dành cho nhà đầu tư khi họ đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn được khuyến khích nhằm tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một chính sách ưu đãi đầu tư nước hấp dẫn vào những ngành, những lĩnh vực khuyến khích đầu tư

Như vậy, ưu đãi đầu tư được hiểu là hệ thống các chính sách, pháp luật và biện pháp khuyến khích của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoặc định hướng đầu

tư theo những mục tiêu phát triển nhất định

Trang 11

* Quan niệm về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Công nghệ cao năm 2008 và Luật Đầu tư năm 2014 cùng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã thực sự tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho các nhà đầu tư tích cực thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT Để hiểu rõ những nội dung ưu đãi mà Nhà nước dành cho nhà đầu tư phải nghiên cứu nhiều văn bản pháp luật như các quy định ưu đãi về thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, miễn hay giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…

và các văn bản hướng dẫn thi hành khác

Như vậy, ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT theo pháp luật Việt Nam là việc nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực CNTT bằng hệ thống những quy phạm pháp luật, tạo những điều kiện thuận lợi, những ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực CNTT và trên cơ sở đó tạo ra lợi thế so sánh với

các lĩnh vực khác, với các quốc gia khác

1.1.2 Vai trò của ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Ưu đãi đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện cho nhà nước chủ động cơ cấu lại nền kinh tế thông qua việc ban hành và

áp dụng các biện pháp ưu đãi đầu tư, tạo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật đầu tư Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế[18,tr.8] Pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT sẽ tạo cú hích mạnh mẽ đến cộng đồng các nhà đầu tư trong và ngoài nước,

Trang 12

nhằm phát triển ngành công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam theo định hướng của Đảng và nhà nước

Thứ nhất, thực hiện ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp

công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam góp phần đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin, tăng cường khả năng cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam so với các quốc gia khác

Thứ hai, thông qua ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp

công nghệ thông tin góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế

giữa các vùng, miền trong cả nước

Thứ ba, ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh quốc gia

Việc thúc đẩy phát triển công nghiệp CNTT trong nước sẽ làm cho Việt Nam chủ động được các sản phẩm trí tuệ nhân tạo phục

vụ cho an ninh quốc gia Hiện nay, trang thiết bị và công nghệ phục

vụ quân sự đã phát triển ở mức rất cao như thiết bị thông tin liên lạc, công nghệ sản xuất và điều khiển tên lửa, tác chiến điện tử… đòi hỏi phải có sản phẩm CNTT phù hợp do chúng ta tự lập trình để đảm bảo

an toàn, tránh bị sao chép hoặc ăn cắp bí mật quân sự thông qua các phần mềm gián điệp được tích hợp trong sản phẩm quân sự mua của nước ngoài

Với các phần mềm do chúng ta tự lập trình, thiết kế còn giải quyết được vấn đề bảo mật an ninh kinh tế của đất nước, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp Công nghệ sao chép, cài đặt phần mềm gián điệp cũng sẽ bị hạn chế nếu dùng sản phẩm CNTT trong nước sản xuất Mặt khác, khi ngành CNTT phát triển cao sẽ giúp cho việc triển khai mô hình Chính phủ điện tử, nhất là khi thế giới đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 13

Ngoài ra, từ sự phát triển của ngành công nghiệp CNTT trong nước tạo điều kiện cho tất cả các ngành khác, đặc biệt là dịch

vụ phát triển: Các sản phẩm phần mềm tài chính, ngân hàng, giáo dục, giao thông vận tải, các sản phẩm nội dung số, phát thanh, truyền hình, công nghiệp giải trí…

1.1.3 Mối quan hệ giữa ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin và các doanh nghiệp khác

Quá trình nghiên cứu các biện pháp ưu đãi đầu tư cho thấy có các biện pháp ưu đãi đầu tư như: (1) Các ưu đãi về tài chính - chủ yếu là ưu đãi về thuế TNDN, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, khấu hao tài sản; (2) Các ưu đãi liên quan đến miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất

Như vậy, ưu đãi đầu tư được hiểu là nhà nước dành những quyền lợi, điều kiện cho nhà đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề hoặc

ở khu vực địa bàn nhất định tốt hơn những đối tượng khác Ưu đãi đầu tư chú trọng về quyền lợi vật chất chủ yếu là lĩnh vực thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế XNK) và phí giao (đất, cho thuê đất) cho nhà đầu tư

Các biện pháp hỗ trợ đầu tư được quy định ở mục 2, Chương III Luật Đầu tư năm 2014 như hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ;

hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển là giúp thêm cho tất cả nhà đầu tư có dự án đầu tư, hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi để nhà đầu tư triển khai dự án có hiệu quả [18, tr 12]

Ngày đăng: 06/11/2017, 09:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w