1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại thành phố Hà Nội

73 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin Ưu đãi đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ MAI THANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu đảm bảo đọ tin cây, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

PHẠM VĂN TÍN

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ CHO CÁC

1.1 Khái niệm và vai trò ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ CHO

CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỪ THỰC TIỄN

KHU CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẬP TRUNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ

2.1 Đặc điểm khu công nghệ thông tin tập trung tại Hà Nội tác động đến ưu đãi đầu

2.2 Thực trạng áp dụng các quy định ưu đãi về tài chính đối với doanh nghiệp

công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung Hà Nội 31 2.3 Thực trạng áp dụng các quy định ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử

dụng đất đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin

2.4 Thực trạng áp dụng một số biện pháp ưu đãi khác đối với doanh nghiệp

công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung Hà Nội 39 2.5 Thực trạng cơ chế đảm bảo ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp công nghệ

thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung Hà Nội 44

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về ưu đãi đầu tư đối

với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung Hà

Trang 4

: Capability Maturity Model Intertion

: Chuẩn quản lý quy trình chất lượng

: Đầu tư nước ngoài : Foreign Direct Investment

: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

: Gross Domestic Products

: Tổng sản phẩm quốc nội

: Giá trị gia tăng : Khu công nghệ cao : Khu công nghiệp : Nghị định

: Supply Chain Management

: Hệ thống quản trị chuỗi cung cấp

: Thu nhập doanh nghiệp UBND : Ủy ban nhân dân

VAT

VCCI

WTO

: Value Added Tax

: Thuế giá trị gia tăng

: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam : World Trade Organization

: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ưu đãi đầu tư có tầm quan trọng chiến lược trong sự tăng trưởng kinh

tế và mang lại những tác động tích cực đến kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Mục tiêu của ưu đãi đầu tư là nhằm thúc đẩy sự phát triển của những ngành, nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn dân cư nhất định theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước Với mục tiêu góp phần tạo dựng môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh và cộng đồng doanh nghiệp, đẩy mạnh thu hút đầu tư cho sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam luôn chú trọng xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm tạo ra một khung pháp lý hoàn thiện và phù hợp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trong những năm gần đây, ngành công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và công nghiệp công nghệ thông tin nói riêng của Việt Nam đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ so với những ngành kinh tế khác và được đứng vào nhóm các nước có trình độ và triển vọng phát triển tiên tiến của thế giới Rõ ràng lĩnh vực CNTT đang và sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy Việt Nam trong tiến trình đuổi kịp các nước tiên tiến khác trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạn vừa qua, tăng trưởng bình quân của toàn ngành CNTT đạt khoảng 15%/năm, ngành công nghiệp phần mềm còn có tốc độ phát triển cao hơn, tới 33%/năm [36, tr.3]

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư nhằm mục đích là thu hút vốn đầu tư vào những lĩnh vực, trong đó ưu tiên, khuyến khích và ưu đãi những ngành sử dụng công nghệ cao phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

(CNH, HĐH) của Việt Nam

Thành phố Hà Nội với vai trò là Thủ đô và cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước cũng đã đưa ra những chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng khuyến khích đầu tư tạo những bước chuyển biến tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô, trong đó đặc biệt quan tâm vấn đề ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực CNTT nói riêng

Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2015-2020 có xác định rõ định hướng trọng tâm phát triển Thủ đô 5 năm (2015-2020) trong đó có đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức, đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với cơ cấu lại kinh tế Thủ đô bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh, bền vững Phấn đấu đạt mức tăng trưởng từ 8,5% - 9% Để đạt được mức tăng trưởng cao đáp ứng định hướng đề ra, một trong những giải pháp là đẩy mạnh tăng trưởng, tăng tỷ trọng trong ngành công nghiệp CNTT

vì mức tăng trưởng hiện tại của ngành đạt 25-30% [36, tr.3]

Trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội, song hành với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, trong lĩnh vực đầu tư UBND thành phố đã căn cứ các quy định của pháp luật để ban hành nhiều văn bản liên quan đến việc khuyến khích, ưu đãi đầu tư nói chung và cho các doanh nghiệp CNTT nói riêng Tuy nhiên, mục đích của hầu hết nhà đầu tư là lợi nhuận, khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường quan tâm lựa chọn những nơi có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển, điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao như

CNTT Do đó, tuy thu hút đầu tư luôn ở top đầu cả nước nhưng so với TP Hồ Chí Minh thì việc thu hút đầu tư trong lĩnh vực CNTT còn nhiều bất cập, các biện pháp thực thi pháp luật về ưu đãi đầu tư thực sự chưa có hiệu quả, chưa đồng bộ và chưa tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình thực

Trang 7

hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực CNTT Đây là một vấn đề cấp bách cần có hướng giải quyết để sớm khắc phục, trong đó việc thành lập các khu CNTT

tập trung là một giải pháp đột phá của thành phố Hà Nội

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, với mong muốn nghiên cứu chính sách pháp luật ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT, đề xuất giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, học viên chọn đề tài: “Ưu đãi đầu tư cho các

doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại thành phố Hà Nội” để nghiên cứu

làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến ưu đãi đầu tư nói chung và ưu đãi đầu tư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế hay ưu đãi đầu tư theo các lĩnh vực, ngành nghề nói riêng

- Giáo trình “Luật Đầu tư” của Trường Đại học Luật Hà Nội (2011),

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, đề cập những vấn đề cơ bản của pháp luật đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, Luật Đầu tư năm 2005;

- Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư nước ngoài với công cuộc công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam NXB Khoa học xã hội

- Nguyễn Thị Diễm Hường (2008), “Pháp luật hiện hành về ưu đãi đầu

tư”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Luận

văn đã làm rõ các quy định của hệ thống pháp luật ưu đãi đầu tư của Việt Nam và WTO liên quan đến ưu đãi đầu tư, có giá trị tham khảo

Các Luận văn của Học viện Khoa học Xã hội liên quan đến đề tài luận văn này, bao gồm:

- Nguyễn Văn Cảnh (2016), Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư trực

tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hạ Long,

Trang 8

tỉnh Quảng Ninh Luận văn Thạc sỹ Luật học

- Đỗ Thị Hạnh (2015), “Ưu đãi đầu tư theo pháp luật Việt Nam, từ thực

tiễn tỉnh Lâm Đồng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học

- Đào Thu Hương (2012), Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước

ngoài Luận văn Thạc sỹ Luật học

Như vậy, dưới góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung nghiên cứu về ưu đãi, thu hút vốn đầu tư; nêu ra những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện ưu đãi đầu tư qua thực tiễn tại nhiều địa phương trong cả nước Tuy nhiên, việc áp dụng, phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp về ưu đãi đầu tư đối trong lĩnh vực CNTT, đối với doanh nghiệp CNTT và thực tiễn tại các khu CNTT tập trung cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu, đề cập đến

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đánh giá thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT nhằm đề xuất hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT cả nước nói chung và của thành phố Hà Nội nói riêng

- Đề xuất phương hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện các

quy định của pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các

doanh nghiệp CNTT Việt Nam và thực tế áp dụng tại khu CNTT tập trung Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Thực tế áp dụng các chính sách pháp luật ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT hoạt động tại khu CNTT tập trung tại Hà Nội từ năm 2013 đến nay (khi khu CNTT tập trung đầu tiên của Hà Nội được

Bộ Thông tin và Truyền thông công nhận và đi vào hoạt động)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu triển khai trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chính sách và pháp luật về ưu đãi đầu tư; sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp so sánh

luật học; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.2 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn nêu tổng quan các quy định của pháp luật hiện hành về ưu đãi đầu tư, ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT

- Luận văn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành trong việc ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT

Trang 10

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT trong các khu CNTT tập trung

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi đầu tư cho các doanh

nghiệp công nghệ thông tin

Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp

công nghệ thông tin từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại Thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi

đầu tư đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung Hà Nội

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ CHO CÁC

DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Khái niệm và vai trò ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

1.1.1 Khái niệm ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam

* Quan niệm về ưu đãi đầu tư

Qua nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành thì thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” chưa có khái niệm thống nhất, chưa được định nghĩa hay giải thích cụ thể ở một vănn bản nào mà chủ yếu quy định về nội dung chính sách ưu đãi đầu tư [18, tr.6]

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “ưu đãi” theo nghĩa chung nhất là “chú trọng, dành cho những quyền lợi, điều kiện tốt hơn những đối tượng khác” [39, tr.1732] Theo Từ điển tiếng Việt, “đầu tư” là việc “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [22, tr.301]

Luật Đầu tư số 67 năm 2014 được ban hành ngày 26/11/2014 không giải thích về “đầu tư” mà nêu khái niệm “dự án đầu tư” tại khoản 2 Điều 3 như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” Khoản 5 Điều 3 giải thích thuật ngữ “đầu tư kinh doanh” như sau: “ Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc

Trang 12

thực hiện dự án đầu tư” Đồng thời Luật đầu tư năm 2014 cũng quy định cụ thể vấn đề “ưu đãi đầu tư” tại Mục 1 Chương 3: Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư

Tuy vậy, tổng quan hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay chưa định nghĩa thuật ngữ “ưu đãi đầu tư” một cách thống nhất, mà chỉ dừng lại ở việc quy định về nội dung chính sách ưu đãi đầu tư Theo đó, thuật ngữ

“ưu đãi đầu tư” được sử dụng trong văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay có thể được hiểu là những lợi ích vật chất có thể tính toán, xác định được nhà đầu tư hay doanh nghiệp được hưởng khi mà họ thỏa mãn đủ các điều kiện nhất định; ưu đãi đầu tư là những lợi thế kinh tế có thể lượng hóa được mà Chính phủ của các quốc gia dành cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanh nghiệp nhất định nhằm khuyến khích họ xử sự theo một cách thức nhất định Chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ Việt Nam tương đối đa dạng nhưng chủ yếu là thu hút vốn đầu tư vào những địa bàn có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khó khăn, những lĩnh vực kinh tế đòi hỏi vốn lớn, sử dụng công nghệ cao, hoặc sử dụng nhiều lao động hoặc phù hợp với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Việt Nam Chính sách ưu đãi đầu

tư của Việt Nam vừa mang tính chất nhằm thu hút vốn đầu tư vừa có mục tiêu giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí kinh doanh, tăng thêm lợi nhuận, cũng có thể là khuyến khích xuất khẩu và tăng cường năng lực cạnh tranh cho hàng hóa nội địa của các doanh nghiệp trong nước Các ưu đãi đầu tư ở Việt Nam thường được thể hiện thông qua các lợi ích cụ thể như được miễn thuế, giảm thuế, được miễn hay giảm tiền thuê đất

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề tăng nhanh vốn đầu tư để đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng kinh tế là một vấn đề sống còn của dân tộc Ưu đãi mà Nhà nước dành cho nhà đầu tư khi họ đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn được khuyến khích nhằm tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược phát

Trang 13

triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một chính sách ưu đãi đầu tư nước hấp dẫn vào những ngành, những lĩnh vực khuyến khích đầu tư

Theo Từ điển Luật học, “ưu đãi đầu tư” là “ưu đãi mà Nhà nước dành cho nhà đầu tư khi họ đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn được khuyến khích nhằm tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước” [38, tr.838] Nhà nước có thể áp dụng các ưu đãi trong chính sách thuế; tín dụng; chính sách sử dụng đất, tài nguyên; chính sách xuất khẩu, nhập khẩu và các ưu đãi khác Căn cứ vào quy hoạch định hướng phát triển trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định danh mục ngành, nghề của từng lĩnh vực ưu đãi đầu tư, danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư và các tiêu chuẩn về trình độ công nghệ; quy mô sử dụng lao động cũng như quy định các mức ưu đãi đầu tư cụ thể

Như vậy, ưu đãi đầu tư được hiểu là hệ thống các chính sách, pháp luật

và biện pháp khuyến khích của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định

* Quan niệm về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Để đảm bảo cho hoạt động đầu tư và hệ thống các biện pháp, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển theo định hướng của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng trong quá trình đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư không thể tồn tại dưới dạng các quan hệ xã hội bình thường mà cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật Dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, Nhà nước quản lý và hướng các hoạt động đầu tư và ưu đãi đầu tư theo định hướng của mình Do đó, hệ thống các văn bản pháp luật

có nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp công nghệ cao, trong đó có doanh

Trang 14

nghiệp CNTT, chẳng hạn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi tiền thuê đất.v.v Chính điều đó đã đem lại những tiến bộ vượt bậc trong việc tạo ra môi trường pháp lý thống nhất cho hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp CNTT

Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Công nghệ cao năm 2008 và Luật Đầu tư năm 2014 cùng với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã thực sự tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho các nhà đầu tư tích cực thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT Để hiểu rõ những nội dung ưu đãi mà Nhà nước dành cho nhà đầu tư phải nghiên cứu nhiều văn bản pháp luật như các quy định ưu đãi về thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, miễn hay giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu… và các văn bản hướng dẫn thi hành khác

Như vậy, ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT theo pháp luật Việt Nam là việc nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực CNTT bằng hệ thống những quy phạm pháp luật, tạo những điều kiện thuận lợi, những ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực CNTT và trên cơ sở đó tạo ra lợi

thế so sánh với các lĩnh vực khác, với các quốc gia khác

1.1.2 Vai trò của ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Ưu đãi đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện cho nhà nước chủ động cơ cấu lại nền kinh tế thông qua việc ban hành và áp dụng các biện pháp

ưu đãi đầu tư, tạo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật đầu tư Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế[18,tr.8] Pháp luật về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT sẽ tạo cú hích mạnh mẽ đến cộng đồng các nhà đầu tư

Trang 15

trong và ngoài nước, nhằm phát triển ngành công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam theo định hướng của Đảng và nhà nước

Thứ nhất, thực hiện ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ

thông tin theo pháp luật Việt Nam góp phần đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin, tăng cường khả năng cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam so với các quốc gia khác

Trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế và nền kinh tế khu vực đang ngày càng phát triển và xích lại gần nhau hơn, tốc độ công nghiệp hoá và chuyên môn hoá ngày càng cao Bản thân các nhà đầu tư với mục đích cuối cùng rất

rõ ràng là lợi nhuận, việc lựa chọn và quyết định địa bàn và lĩnh vực đầu tư là một sự tính toán rất kỹ lưỡng Trong sự tính toán đó, nhà đầu tư hết sức chú ý đến các chính sách và biện pháp ưu đãi thu hút đầu tư Quốc gia nào có các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư hợp lý, hiệu quả và hấp dẫn nhất

sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư hơn Sự cụ thể hoá các chính sách ưu đãi đầu tư trong các quy định pháp luật và bảo đảm thực hiện các quy định đó tạo cho nhà đầu tư có tâm lý ổn định, tin tưởng vào các chính sách thu hút đầu

tư của Việt Nam, làm tăng khả năng thu hút vốn của các nước có nhu cầu đầu

tư vào các lĩnh vực nói chung, lĩnh vực CNTT nói riêng tại Việt Nam

Việc ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT còn thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao về CNTT đồng thời thúc đẩy công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT Thực tế hiện nay nguồn nhân lực CNTT của Việt Nam đang còn thiếu và yếu Sinh viên CNTT sau khi ra trường vào làm việc tại các doanh nghiệp CNTT chưa đủ trình độ để làm việc ngay mà hầu hết phải đào tạo bổ sung các kỹ năng chuyên môn theo lĩnh vực mà doanh nghiệp đang thực hiện

Trang 16

Ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp CNTT còn trực tiếp mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước từ việc xuất khẩu các sản phẩm CNTT ra nước ngoài, đồng thời giảm nhập khẩu các sản phẩm CNTT phục vụ phát triển kinh tế góp phần đảm bảo nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia

Thứ hai, thông qua ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ

thông tin góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế giữa các vùng,

miền trong cả nước

Trong một quốc gia, không phải ở nơi nào, lĩnh vực nào cũng có thể thu hút vốn đầu tư Mỗi địa bàn, mỗi lĩnh vực có những khó khăn và thuận lợi riêng của mình Khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư sẽ lựa chọn những địa bàn, những lĩnh vực đầu tư nào an toàn nhất, thuận lợi nhất và có khả năng đạt được lợi nhuận cao nhất

Ngành CNTT của Việt Nam còn non trẻ, nếu như không có các chính sách, biện pháp ưu đãi đầu tư, nhà đầu tư sẽ phải cân nhắc lựa chọn đầu tư vào lĩnh vực khác bởi họ biết chắc chắn rằng ngành CNTT sẽ gặp khó khăn rất lớn Các chính sách ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT sẽ khích lệ doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, tạo ra sự cân bằng giữa các lĩnh vực đầu tư, góp phần cho hoạt động phát triển đầu tư theo đúng định hướng của Nhà nước, đảm bảo cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ngày càng nhanh, mạnh và vững chắc

Với chế độ ưu đãi đầu tư tại các địa bàn cụ thể, nhà đầu tư sẽ cân nhắc địa điểm ở doanh nghiệp ở nơi có mức độ ưu đãi cao nhất nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình, hưởng những tiện ích, ưu đãi mà tỉnh, thành phố đó cho phép tạo sự cân đối về phát triển CNTT trên toàn lãnh thổ Việt Nam Hiện nay, theo Luật đầu tư năm 2014 các ưu đãi đầu tư được tập trung chủ yếu ở một số lĩnh vực như: Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công

Trang 17

nghệ cao, hoạt động sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, sản xuất sản phẩm điện tử… Các địa bàn được ưu đãi đầu tư bao gồm địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế… Đây chính là các ngành, lĩnh vực, địa bàn mà Việt Nam cần thu hút tối đa lượng vốn đầu tư trong và ngoài nước

Thứ ba, ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh quốc gia

Việc thúc đẩy phát triển công nghiệp CNTT trong nước sẽ làm cho Việt Nam chủ động được các sản phẩm trí tuệ nhân tạo phục vụ cho an ninh quốc gia Hiện nay, trang thiết bị và công nghệ phục vụ quân sự đã phát triển ở mức rất cao như thiết bị thông tin liên lạc, công nghệ sản xuất và điều khiển tên lửa, tác chiến điện tử… đòi hỏi phải có sản phẩm CNTT phù hợp do chúng ta tự lập trình để đảm bảo an toàn, tránh bị sao chép hoặc ăn cắp bí mật quân sự thông qua các phần mềm gián điệp được tích hợp trong sản phẩm quân sự mua của nước ngoài

Với các phần mềm do chúng ta tự lập trình, thiết kế còn giải quyết được vấn đề bảo mật an ninh kinh tế của đất nước, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp Công nghệ sao chép, cài đặt phần mềm gián điệp cũng sẽ bị hạn chế nếu dùng sản phẩm CNTT trong nước sản xuất Mặt khác, khi ngành CNTT phát triển cao sẽ giúp cho việc triển khai mô hình Chính phủ điện tử, nhất là khi thế giới đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Ngoài ra, từ sự phát triển của ngành công nghiệp CNTT trong nước tạo điều kiện cho tất cả các ngành khác, đặc biệt là dịch vụ phát triển: Các sản phẩm phần mềm tài chính, ngân hàng, giáo dục, giao thông vận tải, các sản phẩm nội dung số, phát thanh, truyền hình, công nghiệp giải trí…

Trang 18

CNTT là ngành kinh tế mang hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, có tiềm năng xuất khẩu, là cơ hôi lớn cho các nước đang phát triển giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại và đang nhận được nhiều sự quan tâm của Chính phủ và cộng đồng về một viễn cảnh mới trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng, trong đó đặc biệt là ngành công nghiệp phần mềm và nội dung số đã có những bước phát triển nhanh về tỷ lệ, triển vọng về doanh thu và ấn tượng về chính sách hỗ trợ của nhà nước Phát triển CNTT là công cụ hỗ trơ đắc lực và hiệu quả để phát triển tất cả các ngành kinh tế khác cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trước bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế và sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp phần mềm

và nội dung số thế giới và trong nước, khu CNTT tập trung sẽ góp phần:

- Tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp phần mềm hoạt động, góp phần phát triển công nghiệp phần mềm, nội dung số và công nghiệp phần cứng trên địa bàn thành phố và khu vực Khu Công nghiệp CNTT tập trung là địa điểm thu hút đầu tư chủ yếu đối với các doanh nghiệp CNTT trong nước

và quốc tế, có đóng góp ngày càng quan trọng trong tổng giá trị ngành công nghiệp CNTT Việt Nam, đồng thời góp phần phát triển khoa học, công nghệ trong lĩnh vực CNTT

- Việc phát triển các Khu CNTT tập trung nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của môi trường, kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo việc sử dụng tài nguyên đất hiệu quả, đúng mục tiêu

- Tạo môi trường để cộng đồng các doanh nghiệp CNTT nâng cao khả năng nghiên cứu, liên kết chia sẻ thị trường, tăng cường đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu phát triển trong khu CNTT tập trung, đẩy mạnh việc trao đổi, kết hợp các hoạt động sản xuất và nghiên cứu giữa các khu CNTT tập trung và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo nhằm tìm kiếm sản phẩm mới, thị trường mới,

Trang 19

đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh Thông qua Khu CNTT tập trung các doanh nghiệp CNTT tiếp cận nhanh các chính sách nhà nước, hỗ trợ các doanh nghiệp mới hoạt động tại đây, ươm tạo các doanh nghiệp mới với nhiều tiềm năng phát triển Việc hỗ trợ này có thể được thực hiện nhờ các quỹ như: quỹ hỗ trợ doanh nghiệp, quy đầu tư mạo hiểm, quỹ ươm tạo doanh nghiệp

- Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến thu hút đầu tư trong nước và quốc tế vào Khu CNTT tập trung, mở rộng và phát triển thị trường CNTT Tăng cường các hình thức quảng bá hình ảnh các Khu CNTT tập trung Việt Nam, cũng như hình ảnh, thương hiệu của CNTT và Truyền thông Việt Nam tạo sức hút đầu tư đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước và các tập đoàn hàng đầu thế giới

- Mở rộng thị trường CNTT nội địa, đồng thời đẩy mạnh việc tìm kiếm, phát triển thị trường sang các nước phát triển nhằm thu hút các doanh nghiệp CNTT vào hoạt động trong các khu CNTT tập trung ở Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng

1.1.3 Mối quan hệ giữa ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin và các doanh nghiệp khác

Quá trình nghiên cứu các biện pháp ưu đãi đầu tư cho thấy có các biện pháp ưu đãi đầu tư như: (1) Các ưu đãi về tài chính - chủ yếu là ưu đãi về thuế TNDN, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, khấu hao tài sản; (2) Các ưu đãi liên quan đến miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất

Như vậy, ưu đãi đầu tư được hiểu là nhà nước dành những quyền lợi, điều kiện cho nhà đầu tư thuộc lĩnh vực, ngành nghề hoặc ở khu vực địa bàn nhất định tốt hơn những đối tượng khác Ưu đãi đầu tư chú trọng về quyền lợi vật chất chủ yếu là lĩnh vực thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập

cá nhân, thuế XNK) và phí giao (đất, cho thuê đất) cho nhà đầu tư

Trang 20

Các biện pháp hỗ trợ đầu tư được quy định ở mục 2, Chương III Luật Đầu tư năm 2014 như hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển là giúp thêm cho tất cả nhà đầu tư có dự án đầu tư,

hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi để nhà đầu tư triển khai dự án có hiệu quả [18,

tr 12]

Như vậy, hỗ trợ đầu tư được hiểu là việc nhà nước tạo cơ hội cho phép nhà đầu tư được hưởng những điều kiện thuận lợi nhất định để thúc đẩy đầu

tư Doanh nghiệp CNTT thuộc nhóm đối tượng được hưởng cả hai hình thức:

ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của nhà nước

Với sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2014 có thể nói rằng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của Việt Nam đã thay đổi và phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ưu đãi đầu tư hiện nay không nhằm khuyến khích xuất khẩu hay nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, không vi phạm quy định về trợ cấp theo Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), ưu đãi đầu tư được áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp, các nhà đầu tư – trong đó các các doanh nghiệp CNTT - nếu đáp ứng những điều kiện do Nhà nước đặt ra

1.2 Nội dung và đặc điểm của ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

1.2.1 Nội dung ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin

Trang 21

Ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp nói chung – trong đó có doanh nghiệp CNTT hoạt động trong khu CNTT tập trung - được quy định trong Mục 1 Chương III Luật Đầu tư năm 2014, từ Điều 15 đến Điều 18 [31]

1.2.1.1 Đối tượng, ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư

Doanh nghiệp CNTT có đặc điểm riêng không giống với các loại hình doanh nghiệp khác: họ có nguồn nhân lực được đào tạo ở trình độ cao và chuyên biệt, có kỹ năng làm việc theo nhóm rất tốt Sản phẩm của họ là sản phẩm của trí tuệ - trí thông minh nhân tạo, sản phẩm không cần có kho bãi để lưu giữ mà được lưu giữ trong các thiết bị lưu trữ nhỏ gọn là ổ cứng máy vi tính Việc trao đổi, bàn giao sản phẩm của họ được thực hiện hầu hết qua mạng Internet hoặc đĩa CD Vì vậy, các doanh nghiệp CNTT không cần mặt bằng lớn làm nhà xưởng, kho bãi mà cần đầu tư nhiều tiện ích, trang thiết bị

để làm văn phòng làm việc cho các lập trình viên, kỹ thuật viên Do nhân lực của danh nghiệp CNTT là người có trình độ cao nên họ cần có môi trường làm việc thuận tiện, phù hợp

Cộng đồng doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp CNTT nói riêng, trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước hiện nay, có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận quan trọng tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp CNTT nói chung và doanh nghiệp CNTT tại các khu CNTT thành phố Hà Nội đã có bước phát triển đột phá, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách

Doanh nghiệp CNTT là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh

tế, cơ cấu ngành kinh tế Doanh nghiệp CNTT phát triển, tăng nhanh là nhân

Trang 22

tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập

1.2.1.2 Ưu đãi về đất đai xây dựng nhà xưởng, văn phòng

Nhà nước đã ban hành các quy định về giao quyền sử dụng đất hướng tới giảm bớt các đầu mối trung gian không cần thiết để rút ngắn khoảng thời gian chờ đợi kéo dài cho các chủ đầu tư Cải tiến và tạo cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa chính quyền các cấp trong việc triển khai các thủ tục giao đất, cho thuê đất để các doanh nghiệp thực hiện dự án Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, viễn thông trong có tác động tích cực đến sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ thông tin trong các khu CNTT tập trung

1.2.1.3 Các ưu đãi về thuế

* Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong thời gian qua, hệ thống thuế Việt Nam đã được cải cách tích cực Các doanh nghiệp công nghệ thông tin được nhà nước ưu đãi hoặc miễn giảm các sắc thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu…

Luật Đầu tư 2014 của Việt Nam đã xoá bỏ sự phân biệt về chế độ thuế giữa các thành phần kinh tế Sự ưu đãi về chế độ miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là nhằm thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực CNTT Tuy nhiên, trong thực tế, điều này lại không có ý nghĩa lớn lắm vì biện pháp khuyến khích, ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT được các doanh nghiệp

ưa chuộng nhất không phải là ưu đãi về thuế mà là cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống quản lý hành chính phù hợp với lĩnh vực của doanh nghiệp CNTT Vì vậy, phải có sự phối hợp đồng bộ các biện pháp, tiếp tục cải cách pháp luật về thuế

Trang 23

theo hướng ổn định, đơn giản hoá, thông thoáng trong quá trình thực hiện và

có mức thuế phù hợp hơn

* Đối với thuế xuất,thuế nhập khẩu

Sản phẩm của doanh nghiệp CNTT ngoài việc được sử dụng trong nội địa, còn được các doanh nghiệp xuất khẩu ra nước ngoài thu về ngoại tệ cho đất nước Nhà nước đã có những ưu đãi nhất định trong lĩnh vực thu thuế xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp CNTT trong khu CNTT tập trung như miễn thuế nhập khẩu trang thiết bị đối với những sản phẩm chưa sản xuất tại Việt Nam khi thành lập doanh nghiệp; các sản phẩm phầm mềm xuất khẩu được hưởng thuế xuất khẩu là 0%

1.2.1.4 Các ưu đãi khác

Các doanh nghiệp CNTT trong khu CNTT tập trung còn được ưu đãi về việc thực hiện các thủ tục hành chính và thủ tục hải quan trong quá trình thành lập và hoạt động và thuế thu nhập cá nhân của của người làm trong lĩnh vực CNTT, cụ thể:

Khoản 5 Điều 22 Nghị định 154/2013/NĐ-CP quy định doanh nghiệp

“được tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hải quan trong quá trình xuất nhập khẩu máy móc thiết bị và sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin” Ngoài ra, doanh nghiệp còn “được hưởng các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghệ cao Trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng được hưởng nhiều mức ưu đãi theo quy định của pháp luật thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất’[5]

Với các thủ tục hành chính của doanh nghiệp: Ban quản lý khu công nghệ thông tin tập trung song hành cùng doanh nghiệp từ khi thành lập – theo

đề nghị của doanh nghiệp Ban quản lý khu CNTT tập trung sẽ cử cán bộ tham gia cùng doanh nghiệp đến các cơ quan chức năng để thực hiện thủ tục đầu tư

Trang 24

Trường hợp gặp khó khăn trong quá trình thực hiện, Ban quản lý khu CNTT tập trung sẽ báo cáo lên Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Sở thông tin và truyền thông Hà nội để có giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp Trường hợp có khó khăn liên quan đến nhiều cơ quan thì Ban quản lý khu CNTT tập trung sẽ tổng hợp các ý kiến kiến nghị của doanh nghiệp và đề nghị Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, mời các cơ quan liên quan đến trụ sở Ban quản lý khu CNTT tập trung để họp bàn và đối thoại với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ nhanh nhất các khó khăn vướng mắc của ác doanh nghiệp trong quá trình hoạt động

Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT trong các khu CNTT tập trung quy định 3 nhóm vấn đề cơ bản: địa vị pháp lý của khu CNTT tập trung, nội dung các ưu đãi đầu tư và thủ tục thực hiện các

ưu đãi đầu tư Cùng với xu hướng chạy đua thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao của các nước trong khu vực và trên thế giới, quy định pháp luật về các vấn đề nêu trên đang dần được hoàn thiện nhằm xây dựng một hệ thống các quy định về ưu đãi đầu tư vào các khu CNTT tập trung một cách khoa học, dễ hiểu, minh bạch và mang tính thực thi cao

1.3 Nguồn pháp luật điều chỉnh ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Pháp luật về ưu đãi đầu tư tạo ra sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật đầu tư, phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực công nghệ thông tin ra đời là do yêu cầu của việc điều chỉnh chính sách phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên, pháp luật về ưu đãi đầu tư cũng tác động trở lại làm cho việc khuyến khích đầu tư CNTT phát sinh, phát triển theo hướng có lợi

Thực hiện ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển Trong nền kinh tế thị trường, việc xác

Trang 25

lập và thực hiện các nguyên tắc pháp lý cơ bản như nguyên tắc cạnh tranh, nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi… sẽ đảm bảo cho sự vận hành hoạt động đầu tư của nhà đầu tư có hiệu quả Thực hiện chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực công nghệ thông là đảm bảo một môi trường pháp lý an toàn cho các hoạt động đầu tư, để hoạt động đầu tư được điều chỉnh theo một trật tự; là phương tiện có ý nghĩa quan trọng việc tạo lập môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp CNTT

Luật Công nghệ thông tin ban hành ngày 29/6/2006; Luật Công nghệ cao ban hành ngày 13/11/2008; Luật Đầu tư ban hành ngày 26/11/2014… và các Nghị định hướng dẫn thực hiện các văn bản luật nói trên đã tạo nên nguồn pháp luật cơ bản điều chỉnh ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT tại các khu CNTT tập trung

Nghị định số 154/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 của Chính phủ ban hành quy định về khu công nghệ thông tin tập trung Nghị định này có hiệu lực từ 1/1/2014, trong đó quy định “khu CNTT tập trung là khu tập trung các hoạt động nghiên cứu – phát triển, đào tạo, sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ CNTT, cung cấp hạ tầng, cung ứng dịch vụ CNTT cho các tổ chức, doanh nghiệp, các hoạt động khác liên quan đến CNTT” [5, tr1]; các doanh nghiệp hoạt động và thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực CNTT tại khu CNTT tập trung được hưởng hỗ trợ, ưu đãi về tín dụng đầu tư, được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất hoặc thuê lại đất đã xây dựng

cơ sở hạ tầng theo quy định của pháp luật về đất đai, cùng các ưu đãi về thuế

1.3.1 Ưu đãi đối với chủ thể đầu tư – doanh nghiệp công nghệ thông tin

Nghị định số 154/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 của Chính phủ quy định về khu công nghệ thông tin tập trung đã có quy định chi tiết vấn đề ưu đãi đối với chủ thể đầu tư là các doanh nghiệp CNTT hoạt động trong khu

Trang 26

CNTT tập trung Trong đó quy định hỗ trợ, ưu đãi cho tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong khu CNTT tập trung ở Chương V gồm các điều từ Điều 21 đến điều 25 Như vậy, các doanh nghiệp CNTT hoạt động ở ngoài khu CNTT tập trung sẽ không được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của Nghị định

Tại khoản 1 Điều 16, Luật đầu tư năm 2014 đã quy định các ngành, nghề được hưởng ưu đãi đầu tư như sau: “Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao, hoạt động nghiên cứu và phát triển; sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số” [31] và loại

bỏ các ngành, nghề truyền thống khỏi lĩnh vực đầu tư được hưởng ưu đãi

1.3.2.Về ưu đãi tài chính đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin

Nhà nước đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008 Trong đó quy định việc ưu đãi thuế TNDN tại chương III, gồm các điều từ Điều 13 đến Điều 18 [25]

Chính phủ cũng đã banh hành nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ưu đãi thuế TNDN được quy định tại Chương IV Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ Trong đó có doanh nghiệp CNTT như đã nêu ở mục 1.2 của luận văn này

Trang 27

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 ngày 06/04/2016 đã có quy định ưu đãi đối với nhà đầu tư trong lĩnh vực CNTT trong việc nhập khẩu trang thiết bị, máy móc mà trong nước chưa sản xuất được Cụ thể tại khoản 21 Điều 16 quy định như sau: “Hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được, tài liệu, sách báo khoa học chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ” [32]

1.3.3 Địa bàn ưu đãi đầu tư

Được quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 như sau: Địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Như vậy, doanh nghiệp CNTT chỉ được miễn, giảm thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu khi hoạt động trong khu CNTT tập trung hoặc hoạt động ở các khu vực địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy định của Chính phủ quy định về phân loại đô thị

Ngành CNTT nằm trong nhóm ngành nghề được ưu đãi theo quy định của hệ thống pháp luật hiện hành nên có nhiều thuận lợi cho nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng trụ sở hoặc văn phòng làm việc Thực tế cho thấy các doanh nghiệp CNTT hầu hết đều chọn các thành phố trung tâm

để đặt trụ sở làm việc cho công ty mình.- do đặc thù ngành nghề và nhân lực làm việc trong công ty

1.3.4 Ưu đãi về đất đai

Khoản 1 Điều 22 Nghị định 154/2013/NĐ-CP quy định nhà đầu tư

“được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất hoặc thuê lại đất đã xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghệ thông tin tập trung theo

Trang 28

quy định của pháp luật về đất đai” Việc ưu đãi về đất đai như ưu tiên thực hiện trình tự giao đất, cho thuê đất, mức phí thuê đất sẽ khiến doanh nghiệp rút ngắn thời gian đầu tư xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc sẽ làm tiết kiệm khá nhiều chi phí cho chủ đầu tư

1.3.5.Về chức năng của BQL khu CNTT tập trung

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý khu CNTT tập trung quy định tại Điều 20 nghị định 154 Cụ thể: “Quản lý các hoạt động trong khu công nghệ thông tin tập trung theo quy định của pháp luật; Thực hiện các hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư; Góp ý các dự án đầu tư vào khu công nghệ thông tin tập trung; Giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư tại khu công nghệ thông tin tập trung; Thực hiện các nhiệm vụ theo ủy quyền hoặc yêu cầu của

cơ quan nhà nước” [5]

Thành phố Hà Nội giao nhiệm vụ quản lý chung các khu CNTT tập trung cho Sở Thông tin và Truyền thông Tại Sở Thông tin và Truyền thông

có phòng Công nghiệp CNTT chịu trách nhiệm theo dõi các khu CNTT tập trung thông qua Ban quản lý khu CNTT tập trung trên địa bàn thành phố

Các doanh nghiệp CNTT hoạt động trong khu CNTT tập trung được Ban quản lý khu phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của thành phố Hà Nội hỗ trợ về thủ tục hành chính trong quá trình hoạt động như hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, ưu đãi về thủ tục hải quan khi nhập khẩu máy móc, trang thiết bị và xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài

Cơ chế quản lý các doanh nghiệp CNTT được hưởng ưu đãi đầu tư được quy định tại Nghị định 154/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 của Chính phủ Tại Điều 19 nghị định 154 quy định “đối với khu công nghệ thông tin tập

Trang 29

trung được đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước, Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Tổ chức quản lý và ban hành quy chế hoạt động” [5]

Khoản 2 Điều 19 quy định “đối với khu công nghệ thông tin tập trung được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, Tổ chức quản lý khu công nghệ thông tin tập trung là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp” [5] Như vậy, sẽ có hai loại hình Ban quản lý khu CNTT tập trung: một loại là do Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết định thành lập và một loại là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý khu CNTT tập trung quy định tại Điều 20 nghị định 154 Cụ thể: “Quản lý các hoạt động trong khu công nghệ thông tin tập trung theo quy định của pháp luật; Thực hiện các hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư; Góp ý các dự án đầu tư vào khu công nghệ thông tin tập trung; Giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư tại khu công nghệ thông tin tập trung; Thực hiện các nhiệm vụ theo ủy quyền hoặc yêu cầu của

cơ quan nhà nước” [5]

Thành phố Hà Nội giao nhiệm vụ quản lý chung các khu CNTT tập trung cho Sở Thông tin và Truyền thông Tại Sở Thông tin và Truyền thông

có phòng Công nghiệp CNTT chịu trách nhiệm theo dõi các khu CNTT tập trung thông qua Ban quản lý khu CNTT tập trung trên địa bàn thành phố

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ưu đãi đầu tư là hệ thống các chính sách, biện pháp khuyến khích của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trang 30

hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định Khu CNTT tập trung là loại hình khu công nghệ cao, tập trung hoặc liên kết cơ sở nghiên cứu - phát triển, sản xuất, kinh doanh, đào tạo về CNTT Tổ chức, cá nhân đầu tư và hoạt động trong khu CNTT được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước áp dụng đối với khu công nghệ cao

Việc xây dựng và phát triển các khu CNTT tập trung ở Hà Nội là một chủ trương đúng đắn nhằm thúc đẩy quá trình CNH, HĐH Thủ đô và đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhà nước đã xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh về khu CNTT tập trung, bước đầu tạo ra một hành lang pháp lý cho vận hành các khu CNTT tập trung Trong đó, các quy định về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp CNTT trong các khu CNTT tập trung có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện mục tiêu nói trên

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ

CHO CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TỪ THỰC TIỄN KHU CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẬP TRUNG

Khoản 1 Điều 2 của Nghị định 54/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 của Chính phủ quy định: “Khu công nghệ thông tin tập trung là khu tập trung các hoạt động nghiên cứu - phát triển, đào tạo, sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin, cung cấp hạ tầng, cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin cho các tổ chức, doang nghiệp và các hoạt động khác liên quan đến công nghệ thông tin” [5, tr, 1]

Do đặc điểm của nhân lực CNTT là những người được đào tạo bài bản,

có trình độ chuyên môn cao và có kỹ năng làm việc theo nhóm nên việc họ phải di chuyển đi làm xa là điều họ khó chấp nhận, đặc biệt là trong điều kiện giao thông hiện nay ở Hà Nội Do đó, việc quy hoạch xây dựng các khu CNTT tập trung cần tính đến yếu tố địa lý, khoảng cách đến nơi làm việc của các lập trình viên, kỹ thuật viên

Trang 32

Thực tiễn các khu CNTT tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội:

Đến nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội có duy nhất Khu CNTT tập trung Cầu Giấy đã đi vào hoạt động ổn định Khu công nghệ thông tin tập trung Cầu Giấy – tiền thân là Cụm Tiểu thủ công nghiệp và Công nghiệp nhỏ quận Cầu Giấy - được công nhận là Khu công nghệ thông tin tập trung theo quyết định số 1069/QĐ-BTTT ngày 23/8/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông, có quy mô 8,35 ha, thuộc địa bàn phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy Trong khu CNTT tập trung Cầu Giấy có 36 doanh nghiệp được Thành phố Hà Nội giao đất để xây dựng trụ sở

Toàn khu CNTT tập trung Cầu Giấy có 85 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT với tổng số lao động khoảng 27.388 người (chiếm 69,3% tổng

số lao động) và tổng doanh thu của các doanh nghiệp CNTT năm 2015 đạt khoảng 52.120 tỷ đồng (chiếm 32,1% tổng doanh thu của toàn ngành công nghiệp CNTT Hà Nội), tăng trưởng về doanh thu so với năm 2014 là 22,6%, trong đó nộp ngân sách nhà nước khoảng 2760 tỷ đồng Năm 2016 đạt doanh thu từ CNTT gần 54.782 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước trên 3000 tỷ đồng [34, tr.6]

Các sản phẩm, dịch vụ CNTT tại Khu CNTT tập trung Cầu Giấy rất đa dạng và phong phú với thị trường trong nước và quốc tế: các sản phẩm, giải pháp tổng thể chuyên ngành cho doanh nghiệp, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giải pháp hạ tầng CNTT, tích hợp hệ thống, an toàn an ninh mạng, … các sản phẩm viễn thông, triển khai các dự án phục vụ lĩnh vực an ninh, quốc phòng, giao thông vận tải, hàng hải; các sản phẩm phần mềm kế toán, dịch vụ

kê khai thuế qua mạng, phần mềm quản trị nguồn nhân lực, quản lý bán hàng; các sản phẩm phần mềm quản lý dự án, giải pháp phần mềm tư vấn thiết kế,

Trang 33

Thực hiện Quyết định số 4645/QĐ-UBND ngày 06/10/2011 của UBND Thành phố về phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp CNTT Thành phố Hà Nội đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định số 6109/QĐ-UBND ngày 26/12/2012 của UBND Thành phố về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, theo đó, thành phố Hà Nội sẽ ưu tiên xây dựng và phát triển thêm nhiều khu CNTT tập trung trên địa bàn Cụ thể:

- Dự án Khu Công viên phần mềm và nội dung số trọng điểm của thành

phố Hà Nội nằm ở vị trí đầu mối giao thông quan trọng trong Quy hoạch tổng

thể các dự án hai bên tuyến đường Nhật Tân - Nội Bài Sau khi Dự án này được triển khai xây dựng và đi vào hoạt động sẽ tạo ra môi trường sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao khả năng thu hút các doanh nghiệp trong lĩnh vực phần mềm, nội dung số hàng đầu của cả nước và nước ngoài tới hoạt động sản xuất - kinh doanh và nghiên cứu phát triển sản phẩm Dự án cũng là

cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các giải pháp nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp CNTT nâng cao năng lực cạnh tranh, liên kết chia sẻ thị trường, tăng cường đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu phát triển, ươm tạo các doanh nghiệp mới với nhiều tiềm năng phát triển, tiếp cận nhanh những chính sách của nhà nước về phát triển CNTT [34,tr6]

- Dự án khu Công viên công nghệ phần mềm Hà Nội có quy mô 43,45ha

nằm trong tổng thể dự án Khu Đô thị sinh thái Sài Đồng A (413ha) do Công

ty TNHH Nhà nước Một thành viên Hanel làm chủ đầu tư tại phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội Với 08 phân khu chức năng gồm: Khu phát triển gia công phần mềm quốc tế và nghiên cứu - phát triển; Khu dịch vụ ITO&BPO, Trường Cao đẳng công nghệ; Tổ hợp Khách sạn - Trung tâm thương mại công nghệ; Khu nhà ở chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và người làm

Trang 34

việc, Dự án sẽ được thiết kế và triển khai xây dựng theo mô hình đạt tiêu chuẩn quốc tế về Khu CNTT tập trung như: hạ tầng CNTT, ứng dụng năng lượng sạch, môi trường sạch, kiến trúc các tòa nhà hiện đại và thân thiện với môi trường [34, tr.6]

- Dự án Khu Công viên CNTT Hà Nội có diện tích hơn 36ha do Công ty

Cổ phần Him Lam - Chi nhánh Hà Nội làm chủ đầu tư tại phường Long Biên

và phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội Dự án thời gian thực hiện là

50 năm, tổng diện tích quy hoạch hơn 36ha với các phân khu chức năng như: Khu văn phòng, sản xuất gia công phần mềm, Khu Công trình CNTT, Trung tâm Đào tạo CNTT, Trung tâm thương mại và triển lãm, Dự án sẽ triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút các dự án thuộc lĩnh vực CNTT

và các dự án hỗ trợ CNTT cũng như các hạ tầng phát triển đồng bộ tạo nền tảng thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng khu vực Dự án tạo cơ sở tiền đề để xây dựng các công trình CNTT và các công trình hỗ trợ CNTT tạo môi trường làm việc hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm phục vụ tốt nhất cho việc sản xuất các sản phẩm công nghệ và dịch vụ hỗ trợ khác đáp ứng nhu cầu trong việc nghiên cứu, phát triển, sản xuất và xuất khẩu phần mềm của doanh nghiệp CNTT trong Khu Hình thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao đáp ứng nhu cầu không chỉ của các doanh nghiệp hoạt động trong Khu

mà còn từng bước tiến tới xuất khẩu nhân lực CNTT ra toàn cầu

Ngoài ra, Him Lam đang trong quá trình hợp tác với một số đối tác trong

và ngoài nước để phát triển Khu IT Park, đặc biệt là nhà đầu tư Nhật Bản trong lộ trình phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài vào Khu Công viên CNTT Hà Nội giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025 [34, tr.8]

Trang 35

2.2 Thực trạng áp dụng các quy định ưu đãi về tài chính đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung

Hà Nội

UBND thành phố Hà Nội căn cứ các quy định hiện hành của hệ thống pháp luật đã có những hỗ trợ, ưu đãi cho tổ chức, doanh nghiệp hoạt động tại khu CNTT tập trung, trong đó có các quy định về ưu đãi tài chính, cụ thể như sau:

2.2.1 Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp

Từ năm 2008, việc ban hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH 12, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 và Nghị định 124/2008/NĐ-

CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN 2008, ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và cả doanh nghiệp sản xuất đầu tư trong khu công nghiệp đều bị bãi bỏ Các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi về thuế TNDN tương ứng theo địa bàn có điều kiện khó khăn, đặc biệt khó khăn (quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định) hoặc theo lĩnh vực đầu tư tương tự như các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp Việc loại bỏ hầu hết các ưu đãi đầu tư trong khu công nghiệp trong một thời gian ngắn đã gây thắc mắc cho các nhà đầu tư về tính ổn định của môi trường đầu tư của Việt Nam, đồng thời ảnh hưởng tới kết quả thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Luật số 32/2013/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN được Quốc hội XIII thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 19/6/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đã khắc phục vấn đề này, cụ thể: Về ưu đãi đầu

tư đối với nhóm doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp nói chung,

trong đó có doanh nghiệp CNTT

Trang 36

Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư tuỳ theo lĩnh vực đầu tư Điều 15 Nghị đinh 218/2013/NĐ-CP quy định ưu đãi đầu tư được căn cứ theo lĩnh vực đầu tư, thống nhất với quy định của Luật Đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong việc xác định thuế TNDN Tùy từng lĩnh vực đầu tư cụ thể mà nhà đầu tư hưởng mức thuế suất

ưu đãi và thời gian ưu đãi theo quy định tại Điều 15 Nghị định

218/2013/NĐ-CP bao gồm các dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm và nhóm doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao, ứng dụng cộng

áp dụng thuế suất ưu đãi 10% theo quy định tại Khoản này theo đề nghị của

Bộ Tài chính”[5]

Ngày đăng: 06/11/2017, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý Khu CNTT tập trung Cầu Giấy (2016): Báo cáo kết quả công tác quản lý Khu CNTT tập trung Cầu Giấy năm 2016; Báo cáo kết quả công tác quản lý Khu CNTT tập trung Cầu Giấy 6 tháng đầu năm2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác quản lý Khu CNTT tập trung Cầu Giấy năm 2016; Báo cáo kết quả công tác quản lý Khu CNTT tập trung Cầu Giấy 6 tháng đầu năm2017
Tác giả: Ban quản lý Khu CNTT tập trung Cầu Giấy
Năm: 2016
2. Bộ kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư của một số nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư của một số nước
Tác giả: Bộ kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2014
3. Nguyễn Văn Cảnh (2016), Ưu đãi đầu tư với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hạ Long, tỉnh QUảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu đãi đầu tư với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hạ Long, tỉnh QUảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Văn Cảnh
Năm: 2016
4. Chính phủ (2008), Nghị đinh 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị đinh 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
5. Chính phủ (2013), Nghị định 154/2013/NĐ-CP ngày 18/11/2013 quy định về khu công nghệ thông tin tập trung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 154/2013/NĐ-CP ngày 18/11/2013 quy định về khu công nghệ thông tin tập trung
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
6. Chính phủ (2013), Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế GTGT
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
7. Chính phủ (2013), Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Chính phủ (2014), Nghi định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về thu tiền sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về thu tiền sử dụng đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Chính phủ (2014), Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về thu tiền thuê đất, mặt nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về thu tiền thuê đất, mặt nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
11. Chính phủ (2015), Nghị định 114/2015NĐ-CP ngày 09/11/2015 về sửa đổi bổ, sung điều 21 của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 114/2015NĐ-CP ngày 09/11/2015 về sửa đổi bổ, sung điều 21 của Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
12. Chính phủ (2015), Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
13. Chính phủ (2016), Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
14. Đảng bộ thành phố Hà Nội (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ Thành phố, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ Thành phố
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hà Nội
Năm: 2010
15. Đảng bộ thành phố Hà Nội (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ Thành phố
Tác giả: Đảng bộ thành phố Hà Nội
Năm: 2015
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Đỗ Thi Hạnh (2015) Ưu đãi đầu tư theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu đãi đầu tư theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Tỉnh Lâm Đồng
20. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biện soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biện soạn Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2002
21. Đào Thu Hương (2012), Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước ngoài, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước ngoài
Tác giả: Đào Thu Hương
Năm: 2012
23. Quốc hội (2006) Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ KHU CNTT TẬP TRUNG CẦU GIẤY - Ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn khu công nghệ thông tin tập trung tại thành phố Hà Nội
SƠ ĐỒ KHU CNTT TẬP TRUNG CẦU GIẤY (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w