1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thực trạng bảo lãnh ngân hàng tại các tổ chức tín dụng năm 2017

17 332 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 33,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những hoạt động cấp tín dụng phổ biến ở ngân hàng là hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Đây là một hoạt động không thể thiếu đối với các ngân hàng cũng như với sự phát triển kinh tế của đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó cũng như để hiểu hơn về những quy định của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng hiện nay cũng như thực trạng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại các tổ chức tín dụng có những điểm tích cực và hạn chế nào? Đó là lý do em chọn đề tài: “Phân tích cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thực trạng bảo lãnh ngân hàng tại các tổ chức tín dụng năm 2017”

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

B NỘI DUNG 1

I Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1

I.1 Bảo lãnh ngân hàng 1

I.1.1 Khái niệm 1

I.1.2 Phân loại bảo lãnh ngân hàng 2

I.1.3 Sự cần thiết phải ban hàng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng 3

I.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng 4

I.2.1 Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng 5

a Bên bảo lãnh 5

b Bên được bảo lãnh 6

c Bên nhận bảo lãnh 7

I.2.2 Phạm vi bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng 7

I.2.3 Hình thức và nội dung của giao dịch bảo lãnh ngân hàng 8

I.2.4 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng 9

a Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng bảo lãnh 9

b Quyền và nghĩa vụ của khách hàng được bảo lãnh 10

c.Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh 11

I.2.5 Thủ tục bảo lãnh ngân hàng 12

II Thực trạng bảo lãnh ngân hàng tại tổ các chức tín dụng năm 2017 13

C KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Một trong những hoạt động cấp tín dụng phổ biến ở ngân hàng là hoạt động bảo lãnh ngân hàng Đây là một hoạt động không thể thiếu đối với các ngân hàng cũng như với sự phát triển kinh tế của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng đó cũng như để hiểu hơn về những quy định của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng hiện nay cũng như thực trạng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại các tổ chức tín dụng có những điểm tích cực và hạn chế nào? Đó là lý

do em chọn đề tài: “Phân tích cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng

và thực trạng bảo lãnh ngân hàng tại các tổ chức tín dụng năm 2017”

B NỘI DUNG

I Cơ sở pháp lý của hoạt động bảo lãnh ngân hàng

I.1 Bảo lãnh ngân hàng

I.1.1 Khái niệm

Theo BLDS 2015, bảo lãnh được hiểu như sau: Bảo lãnh là việc người thứ

ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010, bảo lãnh ngân hàng được hiểu như sau: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận

Theo Thông tư số 07/2015/TT-NHNN, bảo lãnh ngân hàng được hiểu như sau: bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng theo đó bên bảo lãnh (tổ chức tín dụng) cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc

Trang 3

thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh phải hoàn trả lại cho bên bảo lãnh

Từ đó, ta thấy hoạt động bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm sau:

- Bảo lãnh ngân hàng vừa là một biện pháp bảo lãnh bảo đảm nghĩa

vụ đồng thời vừa là hợp đồng vay nợ có điều kiện

- Chủ thể bảo lãnh bao giờ cũng là tổ chức tín dụng

- Hành vi bảo lãnh là hành vi thương mại được thực hiện thường xuyên có tính chuyên nghiệp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng

- Mục đích xác lập giao dịch bảo lãnh của bên bảo lãnh là xác lập mục đích lợi nhuận

- Giao dịch bảo lãnh ngân hàng là một loại giao dịch kép: tổ chức tín dụng sẽ thực hiện giao dịch này thông qua ký kết hai hợp đồng là cấp bảo lãnh

và bảo lãnh, hai hợp đồng này có mối quan hệ nhân quả với nhau nhưng có tính độc lập cả về phương diện chủ thể và quyền, nghĩa vụ các bên Hợp động này vô hiệu không thể làm hợp đồng kia vô hiệu, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này không thể bị chi phối bởi việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kia

- Giao dịch bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập trên cơ sở văn bản chứng từ

- Theo thông lệ quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là loại bảo lãnh vô điều kiện và không thể hủy ngang

I.1.2 Phân loại bảo lãnh ngân hàng

Với chủ trương đa dạng hóa các loại hình nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng nhằm mở rộng khả năng cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng, pháp luật hiện hành quy định các tổ chức tín dụng được thực hiện những loại bảo lãnh ngân hàng sau:

1 Bảo lãnh vay vốn;

2 Bảo lãnh thanh toán;

Trang 4

3 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng;

4 Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm;

5 Bảo lãnh dự thầu;

6 Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước;

7 Bảo lãnh đối ứng;

8 Xác nhận bảo lãnh;

9 Các loại bảo lãnh khác mà pháp luật không cấm và phù hợp với thông

lệ quốc tế như: bảo lãnh phát hành chứng khoán…

I.1.3 Sự cần thiết phải ban hàng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng.

Thứ nhất: Xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế

Với chính sách mở cửa xây dựng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Nhà nước ta từng bước cho phép các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại để nhằm thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn hợp tác đầu tư, ứng dụng công nghệ và tiếp thu trình độ khoa học tiên tiến của nước ngoài vào sản xuất kinh doanh Điều này làm cho các giao dịch kinh tế giữa doanh nghiệp trong nước với nhau và giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác nước ngoài ngày càng trở nên phong phú, đa dạng về hình thức và quy mô Do tính bảo đảm cao cùng với khả năng vượt khỏi biên giới quốc gia, lại được điều chỉnh với nhiều công ước, quy tắc pháp luật chung thống nhất nên bảo lãnh ngân hàng được đặt ra như

là một lựa chọn, yêu cầu tất yếu để phục vụ và thúc đẩy quá trình phát triển của nền kinh tế

Thứ hai: Xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng,

nhằm đảm bảo sự an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp

vụ bảo lãnh là các trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng,

do đó hoạt động bảo lãnh cũng luôn chứa đựng nhiều rủi ro, tổn thất là rất đang dạng: rủi ro tín dụng, rủi ro chứng từ, rủi ro lãi suất… Mặt khác do tính đặc thù

Trang 5

của hoạt động ngân hàng và khả năng phản ứng dây chuyền nếu để xảy ra rủi ro trong bảo lãnh thì hậu quả xấu xảy ra cho hệ thống tổ chức tín dụng khó có thể lường trước được Do vậy, để ngăn ngừa rủi ro thì sự điều chỉnh của pháp luật luôn là một trong những nhân tố quyết định tới sự an toàn của hoạt động này

Thứ ba: Nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên trong quan hệ bảo

lãnh ngân hàng

Cũng giống như các quan hệ kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường, khi tham gia vào hoạt động bảo lãnh ngân hàng mỗi bên đều có những quyền lợi và nghĩa vụ nhất định Do vậy việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên là vấn đề mấu chốt cho việc đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên Tránh tình trạng

vi phạm kéo dài gây hậu quả xấu có thể xảy ra cần có những quy phạm pháp luật thống nhất điều chỉnh hoạt động này

Như vậy, nhằm khai thác tối đa hiệu quả kinh tế mà nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có thể mang lại và đảm bảo cho sự an toàn của hoạt động này, việc xây dựng hành lang pháp lý chung điều chỉnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra hiện nay

I.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng hiện nay được điều chỉnh bời Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25 tháng 6 năm 2015 và một số văn bản pháp luật khác có kiên quan

Điều chỉnh pháp lý đối với nghiệp vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng là một vấn đề phức tạp vừa mang tính kỹ thuật pháp lý vừa mang tính kỹ thuật nghiệp vụ, bao gồm việc xác định chủ thể, hình thức và nội dụng sự bảo lãnh, trình tự thủ tục bảo lãnh và các loại hình bảo lãnh

I.2.1 Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng

Nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng vốn mang bản chất là hoạt động thương mại nên có cấu trúc pháp lý khá đặc thù, bao gồm sự gắn kết giữa hai loại hợp đồng đó là: hợp đồng bảo lãnh (được ký kết giữa bên bảo lãnh với bên

Trang 6

nhận bảo lãnh) và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh (được ký kết giữa bên bảo lãnh với bên được bảo lãnh) Nếu tách riêng mỗi loại hợp đồng nói trên để nghiên cứu một cách độc lập thì có thể nhận thấy hợp đồng bảo lãnh không phải bao giờ cũng mang đầy đủ dấu hiện của quan hệ thương mại Còn hợp đồng dịch vụ bảo lãnh lại mang bản chất của giao dịch thương mại Do đó cấu trúc chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh ngân hàng bao gồm: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh

a Bên bảo lãnh

Bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đó là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và các ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện các loại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân nước ngoài

Trên nguyên tắc đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, pháp luật quy định mỗi tổ chức tín dụng chỉ được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh chuyên nghiệp đối với khách hàng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

- Được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng

- Có đăng ký kinh doanh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và nghiệp vụ này phải được ghi rõ trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp

b Bên được bảo lãnh

Nếu trong quan hệ bảo lãnh nói chung, bên được bảo lãnh có thể là mọi tổ chức, cá nhân có yêu cầu bảo lãnh cho các nghĩa vụ tài sản của mình đối với bên

có quyền thì trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh thông thường là các chủ thể kinh doanh theo luật định Theo quy định của pháp luật hiện hành, những chủ thể là khách hàng được bảo lãnh bởi tổ chức tín dụng bao gồm các tổ chức, các nhân trong nước và nước ngoài, trừ những đối tượng sau đây: thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám

Trang 7

đốc của tổ chức tín dụng; cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng đó thực hiện thẩm định, quyết định bảo lãnh; bố, mẹ, vợ, con của thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc chin nhánh của tổ chức tín dụng thì việc chấp nhận bảo lãnh hay không sẽ do tổ chức tín dụng xem xét quyết định

Theo quy định hiện hành, những chủ thể muốn được tổ chức tín dụng xem xét và chấp nhận bảo lãnh, cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật;

- Nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính hợp pháp;

- Được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cấp bảo lãnh đánh giá khả năng hoàn trả lại số tiền mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trả thay khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Đối với khách hàng là người không cư trú thì phải thỏa mãn các điều kiện tại Điều 11 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN gồm:

a Khách hàng là doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại nước ngoài

có vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam dưới hình thức đầu tư quy định tại điểm

a, c khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư 2014 hoặc dưới hình thức đầu tư trực tiếp khác tại nước ngoài theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư;

b Khách hàng ký quỹ đủ 100% giá trị bảo lãnh;

c Bên nhận bảo lãnh là người cư trú

c Bên nhận bảo lãnh

Bên nhận bảo lãnh là tổ chức, các nhân có quyền thụ hưởng bảo lãnh do bên bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh phát hành Và phải thỏa mãn những điều kiện chủ thể do pháp luật quy định nhằm góp phần đảm bảo sự hữu hiệu của hợp đồng, những điều kiện đó bao gồm:

Trang 8

- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Đối với người bảo lãnh là một tổ chức đó phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền

- Có các giấy tờ tài liệu hay bằng chứng khác chứng minh quyền chủ

nợ trong một nghĩa vụ cần bảo đảm

I.2.2 Phạm vi bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng

Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng, phạm vi bảo lãnh được hiểu là giới hạn của nghĩa vụ tài sản mà bên bảo lãnh(tổ chức tín dụng) cam kết sẽ thực hiện hay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) đối với bên

có quyền Do nghĩa vụ bảo lãnh là nghĩa vụ tài sản và chỉ được thực hiện bằng tài sản của bên bảo lãnh nên phạm vi bảo lãnh phải do bên bảo lãnh tự quyết định và phải được ghi rõ trong văn bản bảo lãnh như một điều khoản chủ yếu Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ tài cính

mà bên được bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện với bên nhận bảo lãnh Đồng thời các nghĩa vụ tài sản có thể được bảo lãnh bởi tổ chức tín dụng bao gồm:

1 Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay;

2 Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ đời sống;

3 Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

4 Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia dự thầu;

5 Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia quan hệ hợp đồng với bên nhận bảo lãnh như thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả tiền ứng trước;

6 Các nghĩa vụ khác do các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật

Trang 9

Trong trường hợp các tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh có thể thỏa thuận với nhau bằng văn bản về việc phân chia nghĩa vụ bảo lãnh thành các phần độc lập cho mỗi người bảo lãnh và khi đó, nghĩa vụ bảo lãnh của mỗi tổ chức tín dụng là độc lập và không liên đới với những tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh khác

Nếu giữa các tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh không có thỏa thuận về việc phân chia nghĩa vụ bảo lãnh thành các phần nghĩa vụ độc lập và riêng biệt cho mỗi tổ chức tín dụng bảo lãnh thì nghĩa vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh sẽ có tính cách liên đới, đồng thời bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bất kỳ tổ chức tín dụng nào trong số những tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với mình

I.2.3 Hình thức và nội dung của giao dịch bảo lãnh ngân hàng

Về phương diện hình thức, pháp luật quy định việc bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng phải được lập thành văn bản Các văn bản này có thể phải chứng thực nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

Trong giao dịch bảo lãnh của tổ chức tín dụng, thông thường có hai loại văn bản do các bên lập ra để ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên, đó là giấy

đề nghị bảo lãnh và cam kết bảo lãnh Giấy đề nghị bảo lãnh là văn bản do tổ chức, cá nhân có nhu cầu được bảo lãnh lập theo mẫu quy định của tổ chức tín dụng và được gửi cho tổ chức tín dụng Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh do

tổ chức tín dụng lập theo thể thức luật định Văn bản bảo lãnh có thể là cam kết đơn phương của tổ chức tín dụng bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh hoặc là cam kết song phương và đa phương giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh

và khách hàng được bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ của

họ đối với bên nhận bảo lãnh

Về phương diện nội dung, cả hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và cam kết bảo lãnh đều phải hội đủ các nội dung chủ yếu như tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng

Trang 10

bảo lãnh và khách hàng được bảo lãnh; giá trị nghĩa vụ được bảo lãnh, số tiền bảo lãnh và mức phí bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh và điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; mục đích bảo lãnh… Về nguyên tắc, các nội dung nêu trên của giao dịch bảo lãnh ngân hàng có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nếu các bên liên quan có thỏa thuận

I.2.4 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng

a Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng bảo lãnh

Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, do tổ chức tín dụng phải giao kết cả hai loại hợp đồng với hai chủ thể khác nhau nên chủ thể này sẽ có hai tư cách pháp lý khác nhau trong hai quan hệ pháp luật độc lập, với cơ cấu quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau

Trong quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh với khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh, do tổ chức tín dụng có tư cách là bên cung ứng dịch vụ bảo lãnh nên

cơ cấu quyền và nghĩa vụ của chủ thể này sẽ bao gồm:

Các quyền:

- Quyền yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu, thông tin về khả năng tài chính và những tài liệu khác liên quan đến nghĩa vụ được bảo lãnh

- Quyền yêu cầu khách hàng đề nghị bảo lãnh phải có sự bảo đảm bằng tài sản cho nghĩa vụ hoàn trả lại của họ đối với mình

- Quyền yêu cầu khách hàng được bảo lãnh thanh toán tiền phí dịch

vụ bảo lãnh cho mình theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, sau khi

đã phát hành thư bảo lãnh và gửi cho bên nhận bảo lãnh

- Quyền kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh

- Quyền từ chối bảo lãnh đối với khách hàng không đủ điều kiện bảo lãnh

Ngày đăng: 05/11/2017, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w