1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã nghĩa minh, huyện nghĩahưng, tỉnh nam định

95 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 338,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài + Ý nghĩa khoa học của đề tài Trên cơ sở tổng quan các lý luận và thực tiễn về phong trào xây dựng NTM, phát triểnkết cấu hạ tầng KT – XH NTM, ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGUYỄN NGỌC TĨNH

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ

DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG

NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ NGHĨA MINH,

HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGUYỄN NGỌC TĨNH

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ

DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG

NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ NGHĨA MINH,

HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Quản lý xây dựng

Mã số: 60 58 03 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Lê Văn Hùng

HÀ NỘI, NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quảnghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ mộtnguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đãđược thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Tĩnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” được hoàn

thành tại trường Đại học Thuỷ lợi - Hà Nội Trong suốt quá trình nghiên cứu, ngoài

sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, của bạn bè và đồng nghiệp.

Tác giả xin chân thành cám ơn PGS.TS Lê Văn Hùng, người trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này.

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Thuỷ lợi

đã giảng dạy và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học và luận văn.

Đồng thời, xin dành sự biết ơn tới gia đình, Bố, Mẹ và đồng nghiệp trong cơ quan vì những chia sẻ khó khăn và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Vì thời gian thực hiện Luận văn có hạn nên không thể tránh được những sai sót, Tôi xin trân trọng và mong được tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp.

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Kết quả dự kiến đạt được 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHONG TRÀO XÂY DỰNG NTM , PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KT-XH NTM VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG NTM 5

1.1 Khái quát về xây dựng NTM 5

1.1.1 Mô hình NTM 5

1.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng NTM 11

1.1.3 Những thành tựu và kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới 14

1.2 Công trình hạ tầng KT-XH trong mô hình NTM 19

1.2.1 Khái niệm và các bộ phận hợp thành hệ thống công trình hạ tầng KT-XH trong phong trào xây dựng NTM 19

1.2.2 Vai trò của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đối với phát triển nông thôn 22

1.2.3 Yêu cầu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong mô hình NTM 23

1.3 Quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM 27

1.3.1 Khái quát về công tác quản lý và quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM 27

Trang 6

1.3.2 Vị trí của quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM trong hệ thống quản

lý xây dựng 28

1.3.3 Những vấn đề nảy sinh trong quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM30 Kết luận Chương 1 31

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG NTM 32

2.1 Nội dung quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng NTM.32 2.1.1 Khái niệm dự án đầu tư công trình hạ tầng NTM 32

2.1.2 Đặc trưng của dự án đầu tư xây dựng 33

2.1.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng 33

2.1.4 Chủ đầu tư xây dựng 34

2.1.5 Nguyên tắc cơ bản đầu tư xây dựng 35

2.1.6 Trình tự đầu tư xây dựng 36

2.2 Quản lý thực hiện đầu tư xây dựng công trình hạ tầng NTM 37

2.2.1 Hình thức tổ chức quản lý thực hiện đầu tư xây dựng 37

2.2.2 Các nội dung của quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng 37

2.3 Đánh giá tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM 40

2.4 Phân tích các mô hình quản lý xây dựng công trình NTM 44

2.4.1 Phân tích và đánh giá một số mô hình tổ chức quản lý dự án xây dựng có thể áp dụng trong quản lý đầu tư xây dựng công trình NTM 44

2.4.2 Những căn cứ để lựa chọn mô hình tổ chức quản lý dự án 54

Kết luận chương 2 55

CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG NTM TẠI XÃ NGHĨA MINH, HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH 56

3.1 Thực trạng mô hình quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng NTM tại xã Nghĩa Minh 56

3.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế, xã hội của xã Nghĩa Minh trước khi xây dựng NTM 56

3.1.2 Kết quả điều tra công trình hạ tầng và trình độ cán bộ Ban quản lý xây dựng NTM xã Nghĩa Minh tại thời điểm năm 2010 58

3.1.3 Cách thức quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng hiện có tại xã Nghĩa Minh trong giai đoạn đầu khi thực hiện xây dựng NTM 64

Trang 7

3.2 Đề xuất mô hình quản lý các dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM 68

3.2.1 Mô hình đề xuất quản lý dự án đầu tư xây dựng NTM 68

3.2.2 Thuyết minh, hướng dẫn thực hiện mô hình đề xuất trong việc quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM cho xã Nghĩa Minh 68

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM ở xã Nghĩa Minh 73

3.3.1 Các giải pháp phù hợp trong quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình hạ tầng NTM 73

3.3.2 Các giải pháp thu hút đầu tư xây dựng công trình hạ tầng NTM 75

3.3.3 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nội lực của người dân để xây dựng NTM 77

3.3.4 Giải pháp hiệu quả để tránh xảy ra tình trạng nợ đọng trong xây dựng các công trinh hạ tầng NTM ở Nghĩa Minh 78

3.4 Đánh giá kết quả đạt được khi thực hiện mô hình quản lý xây dựng NTM trên địa bàn xã Nghĩa Minh 79

Kết luận chương 3 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Sơ đồ biểu đạt nội dung dự án đầu tư xây dựng 32Hình 2.2 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 45Hình 2.3 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án 46Hình 2.4 Mô hình chìa khóa trao tay 47Hình 2.5 Mô hình Ban quản lý dự án tổ chức quản lý dự án theo các bộ

phận chức năng

48

Hình 2.6 Mô hình Ban quản lý dự án tổ chức quản lý dự án theo kết cấu

tổ chức dạng dự án 50Hình 2.7 Mô hình Ban QLDA tổ chức quản lý dự án theo kết cấu tổ chức

Hình 3.1: Mô hình quản lý dự án xây dựng CT HT NTM giai đoạn ban

đầu 65Hình 3.2: Mô hình đề xuất quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng

NTM 68

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo các số liệu nghiên cứu và thống kê, nông thôn Việt Nam là một khu vực rộng lớn

và đông dân nhất, là nơi đa dạng thành phần về tộc người, về văn hóa, là nơi bảo tồn,lưu giữ các phong tục tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra cácsản phẩm cần thiết cho cuộc sống con người

Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước

ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển vớitốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năm suất, chất lượng và hiệuquả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực Quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩuchiếm vị thế cao trên thị trường thế giới

Về cơ bản, kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ,ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng KT-XHđược tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinhthần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảmnghèo đạt kết quả to lớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường.Dân chủ cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao

Tuy nhiên, nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướnggiảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất;nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế.Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp cònchậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăngnhiều mặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúcđẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Các hình thức tổchức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá.Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng KT-XH còn yếukém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai cònnhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ

Trang 12

hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu,nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xãhội bức xúc

Để khắc phục những yếu kém trên, thúc đẩy nông thôn tiến nhanh, tiến mạnh và tiếnvững chắc trên con đường CNH – HĐH đất nước, thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TWHội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nôngdân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM;Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020

Trong chương trình xây dựng NTM, cơ sở hạ tầng nông thôn giữ một vai trò tiền đềquan trọng thiết yếu nên được các địa phương ưu tiên dành nhiều nguồn lực để đầu tưxây dựng Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất để cải tạo bộ mặt nông thôn, tạo đàcho phát triển KT-XH – văn hóa – an ninh và đặc biệt là tăng hưởng thụ trực tiếp chongười dân

Các dự án xây dựng công trình cơ sở hạ tầng NTM đòi hỏi yêu cầu kĩ thuật cao, kinhphí đầu tư lớn Trong khi chủ đầu tư là chính quyền cấp xã trình độ quản lý về tàichính và kĩ thuật còn non yếu Vậy quản lý như thế nào, để tránh thất thoát, lãng phí,tham nhũng và quản lý bằng cách gì, để đảm bảo các yêu cầu về kĩ thuật và chất lượngcông trình Đây là hai vấn đề lớn đặt ra hết sức nặng nề cho Đảng bộ, chính quyền vànhân dân các xã trên con đường xây dựng NTM tại địa phương mình Để khắc phục vàhạn chế tiêu cực của hai vấn đề trên, các xã (chủ đầu tư các công trình xây dựng NTM)vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên mới dừng lại ở cách làm chưa xây dựng được môhình quản lý các dự án xây công trình hạ tầng NTM nên hiệu quả đạt được chưa cao

Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản

lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý

xây dựng

Thực hiện đề tài này luận văn nhằm trả lời các vấn đề nghiên cứu sau :

+ Tại sao phải xây dựng NTM và quản lý dự án xây dựng công trình cơ sở hạ tầngNTM như thế nào để trở thành mô hình quản lý đảm bảo hiệu quả ?

Trang 13

+ Xã Nghĩa Minh dã làm gì để xây dựng thành công xã NTM.

2 Mục đích của đề tài

Đề xuất giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTMphù hợp hiệu quả

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu:

- Các dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng NTM bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật,

cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng môi trường

- Các cách quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM

+ Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chính sách và thực tiễn xây dựng NTM, trọng tâm làcông tác quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

+ Ý nghĩa khoa học của đề tài

Trên cơ sở tổng quan các lý luận và thực tiễn về phong trào xây dựng NTM, phát triểnkết cấu hạ tầng KT – XH NTM, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về dự án vàquản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng NTM, nghiên cứu hoạt động thực tiễn của quản

lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM ở xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnhNam Định, từ đó đề xuất ra mô hình quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng NTM phùhợp hiệu quả

Kết quả nghiên cứu của đề tài này là nội dung tham khảo hữu ích trong phong trào xâydựng NTM và sử dụng trong nghiên cứu, học tập và giảng dạy về xây dựng NTM.+ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được xem như một gợi ý quan trọng trong côngtác quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM cho các xã và thị trấn trên địa bànhuyện Nghĩa Hưng Để tiến tới năm 2020 huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định sẽ trởthành huyện NTM

Trang 14

5 Kết quả dự kiến đạt được

- Đề xuất hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM phùhợp với các xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHONG TRÀO XÂY DỰNG NTM , PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KT-XH NTM VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG NTM

1.1 Khái quát về xây dựng NTM

1.1.1 Mô hình NTM

1.1.1.1 Khái niệm nông thôn

Xét dưới nhiều góc độ khác nhau chúng ta có nhiều cách định nghĩa về nông thôn khácnhau Dựa trên hoàn cảnh sống, môi trường, phong tục tập quán, nghề nghiệp, cấu trúckhông gian, nơi tập hợp các cư dân sinh sống người ta chia ra hai khái niệm nôngthôn và thành thị để khu biệt với nhau

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Nông thôn là vùng lãnh thổ của mộtnước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên,hoàn cảnh kinh tế xã hội điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân chủ yếu sốnglàm nông nghiệp”[CITATION 23t \l 1033 ]

Như vậy khái niệm nông thôn được xây dựng dựa trên sự khu biệt với khái niệm thànhthị Chẳng hạn mật độ dân số thành thị đông đúc hơn nông thôn Các công trình kiếntrúc do con người xây dựng ở thành thị có mật độ gia tăng nhiều hơn so với nôngthôn hay nói cách nông thôn là khu vực có những yếu tố như lãnh thổ, môi trường tựnhiên, hoàn cảnh kinh tế, khác với thành thị

Theo định nghĩa trên cư dân nông thôn làm nông nghiệp là chủ yếu Tuy nhiên trongthực tế có rất nhiều làng nghề ở vùng nông thôn người dân đã không sống chủ yếubằng nghề nông Ví dụ làng nghề chạm khắc gỗ La Xuyên (xã Yên Ninh,Ý Yên, NamĐịnh) có 80% số hộ làm nghề chạm khắc gỗ, 15% số hộ làm nghề nông, còn lại 5% số

hộ làm các nghề phi nông nghiệp khác Làng nghề La Xuyên hiện đang phát triển theohướng tập trung, mở rộng quy mô sản xuất ; xây dựng, khẳng định thương hiệu ở trong

và ngoài nước Ông Phạm Ngọc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề La Xuyên chobiết:“ Năm 2012, hơn 25 công ty, doanh nghiệp nằm trên địa bàn La Xuyên phát triển,hoạt động kinh tế tương đối đều Có những công ty doanh nghiệp phát triển lớn, tổngthu nhập mỗi năm khoảng 25-30 tỉ, công ty doanh nghiệp thấp nhất, một năm tổng thu

Trang 16

nhập từ 3-4 tỉ, (theo Báo VOV: “Hướng phát triển cho một làng nghề truyền thống”, năm 2012) Như vậy, dân cư làng nghề La Xuyên sống chủ yếu bằng nghề chạm khắc

gỗ - một nghề phi nông nghiệp nhưng La Xuyên vẫn được coi là vùng nông thôn chứkhông phải là thành thị Như vậy khái niệm nông thôn chỉ hiểu một cách tương đối vìyếu tố “ dân cư chủ yếu làm nông nghiệp” trong định nghĩa không tuyệt đối đúng.Theo cơ quan quản lý nhà nước về nông thôn, tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNTcủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra ngày 21-8-2009, có định nghĩa nôngthôn như sau: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thànhphố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban Nhân dân xã”.Tại Thông tư này, khái niệm nông thôn cũng được xây dựng từ khái niệm thành thị.Khái niệm này phân loại nông thôn và thành thị dựa trên cơ sở quản lý hành chính,trong khái niệm không đề cập đến yếu tố dân cư

Từ những khái niệm trên có thể định nghĩa: Nông thôn là vùng lãnh thổ không thuộcnội thành, nội thị các thành phố, thị xã, có tập hợp dân cư sinh sống Tập hợp dân cưnày tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thểchế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác

Với tinh thần đó, Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn

2010-2020 bao gồm 5 đặc trưng sau :

Trang 17

1.Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nângcao.

2.Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môitrường sinh thái được bảo vệ

3.Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy

4.An ninh tốt, quản lý dân chủ

5.Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

Những nội dung trên quan hệ chặt chẽ với nhau nên trong quá trình thực hiện cần phảigiải quyết đồng bộ và toàn diện Thực hiện phong trào xây dựng NTM là khơi dậy vàphát huy tốt vai trò của nông dân trong công cuộc xây dựng NTM ở nước ta nhằm mụctiêu phát triển nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH đất nước

1.1.1.3 Chương trình xây dựng NTM

Chương trình xây dựng NTM là chương trình mục tiêu Quốc gia được bắt đầu bằngNghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây cũng là mộtNghị quyết toàn diện nhất về nông thôn từ trước tới nay với trọng tâm, xuyên suốt toàn

bộ nghị quyết là phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nó là chương trìnhkhung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chươngtrình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bànnông thôn trên phạm vi cả nước Xây dựng NTM thực chất là chương trình do nhândân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xâydựng NTM có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi íchthiết thân cho cư dân nông thôn (chiếm khoảng 70% dân số cả nước), thông qua đó,chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực

nông thôn (Nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn)

Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựngNTM đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước Nhiệm vụ về xây dựng NTMđược xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ Trung ương đến địa phươngtỉnh, huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thíđiểm xây dựng mô hình NTM cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện chocác vùng, miền Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng NTM đã được

Trang 18

hình thành từ Trung ương xuống địa phương Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại vănbản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch NTM Ủyban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động “Toàn dânxây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng NTM” Ngày 08-6-2011,Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựngNTM”.

Phong trào xây dựng NTM đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thuhút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội Quá trìnhtriển khai xây dựng NTM, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM các cấp đã tập trung chỉ đạocông tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về xây dựng NTM cho mọi tầng lớpnhân dân, tập trung chỉ đạo công tác quy hoạch và lập đề án xây dựng xã NTM đây lànhững tiền đề thiết yếu để thực hiện thắng lợi chương trình xây dựng nông thôn mới ởtừng địa phương Để thực hiện Chương trình xây dựng NTM thắng lợi trong điều kiệnnguồn lực có hạn, Ban Chỉ đạo đã thống nhất các xã lựa chọn những tiêu chí mà đa sốngười dân thấy cần thì tập trung làm trước, khuyến khích triển khai những công việctừng thôn, xóm, từng hộ dân có thể tự làm được, tập trung cao cho nhiệm vụ phát triểnsản xuất, dồn điền, đổi thửa, tập chung ruộng đất gắn với quy hoạch đồng ruộng, cơgiới hóa các khâu trong quá trình sản xuất, chế biến và đẩy mạnh ứng dụng khoa học -công nghệ vào sản xuất

Chương trình xây dựng NTM đã huy động tổng lực các nguồn vốn cho xây dựngNTM Ngoài nguồn vốn Trung ương hỗ trợ, các địa phương đã rất chú trọng huy độngcác nguồn vốn khác, như từ ngân hàng, doanh nghiệp và xã hội, đặc biệt là huy độngnội lực trong nhân dân thể hiện qua các việc làm như : đóng góp công lao động, hiếnđất, vật liệu, tiền, đóng góp tinh thần và động viên người thân có điều kiện kinh tếthành đạt tham gia ủng hộ kinh phí Bên cạnh đó, Chương trình xây dựng NTM cũngquan tâm tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao kỹnăng tay nghề; giải quyết việc làm cho nông dân theo cả hai hướng phi nông nghiệp vànông nghiệp; quan tâm tới chất lượng các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa; xây dựngtình làng nghĩa xóm; giữ gìn vệ sinh môi trường và an ninh nông thôn; đồng thời, chútrọng tuyên truyền phát động và tổ chức rộng khắp phong trào thi đua “Cả nước chungsức xây dựng NTM”

Trang 19

Kết quả sau 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM, diện mạo nhiều vùng nôngthôn được đổi thay, hạ tầng KT-XH thiết yếu được nâng cấp, đời sống đa số nông dânđược cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều nét đẹp văn hóa được phát huy, tình làng nghĩaxóm được vun đắp, đội ngũ cán bộ trưởng thành một bước Tuy nhiên, trong quá trìnhthực hiện cũng có nhiều vấn đề đòi hỏi cần phải giải quyết trước mắt cũng như lâu dàimới đáp ứng được mục tiêu yêu cầu của Chương trình Vì vậy Chương trình xây dựngNTM là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung quan trọng cần có

sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương đến địa phương nhằm đưa nôngthôn nước ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến lên vững chắc trên con đường CNH-HĐH đấtnước

1.1.1.4 Các nhóm và tiêu chí chủ yếu của mô hình NTM

Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành

“Bộ tiêu chí quốc gia về NTM” bao gồm 19 tiêu chí, các tiêu chí này được chia thành

5 nhóm Đây là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình xây dựng NTM ở từng địaphương Luận văn này sẽ đề cập một số tiêu chí cơ bản nhất trong các nhóm dưới đây:

1.Nhóm Quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển

Quy hoạch là bố trí, sắp xếp địa điểm, diện tích sử dụng các khu chức năng trên địabàn xã; khu phát triển dân cư (bao gồm cả chỉnh trang các khu dân cư hiện có và bố tríkhu mới); hạ tầng phát triển; kinh tế, xã hội, các khu sản xuất nông nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ… theo chuẩn nông thôn mới

Để có mô hình NTM mang tính kế thừa, bổ sung và phát triển theo hướng CNH-HĐH,vấn đề quy hoạch được đặt lên hàng đầu Nếu quy hoạch không đi trước một bướchoặc quy hoạch không có chất lượng thì xây dựng NTM sẽ gặp khó khăn và không điđến đích Bởi vậy quy hoạch NTM là khâu quan trọng, có ý nghĩa tiên quyết trong vấn

đề xây dựng NTM ở từng địa phương

Quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển trong Bộ tiêu chí xây dựng NTM gồm banội dung: (1) Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nôngnghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: xác định nhu cầu sửdụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ sản xuất hànghóa nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ…(2) Quy hoạch pháttriển hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường theo chuẩn mới: có khu thể thao xã, nhà văn

Trang 20

hóa và khu thể thao thôn, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nướcthải, công viên cây xanh, hồ nước sinh thái…(3) Quy hoạch phát triển các khu dân cưmới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắcvăn hóa dân tộc.

2.Nhóm phát triển hạ tầng KT-XH

Hạ tầng KT-XH là các công trình được xây dựng để phục vụ cộng đồng có ý nghĩakinh tế và xã hội nhằm nâng cao đời sống cộng đồng nơi đó Phát triển hạ tầng KT-XHnông thôn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội ở nông thôn.Bởi khi một khu vực nông thôn có phát triển về hạ tầng kinh tế như có nhiều khu sảnxuất tập trung, đường giao thông thuận tiện cho thông thương… sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho phát triển kinh tế Hay tại vùng đó có các cơ sở hạ tầng văn hóa như y tế, vănhóa, giáo dục… thì sẽ góp phần nâng cao đời sống của người dân

Các chỉ tiêu chính về cơ sở hạ tầng KT-XH của NTM là:

- 100% đường trục từ xã đến ngõ xóm thôn được bê tông hóa hoặc cứng hóa

- 85% chiều dài kênh mương được kiên cố hóa

- 99% số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn

- 100% số trường học các cấp (từ Mầm non đến THCS) có cơ sở vật chất đạt chuẩnquốc gia

- 100% số thôn có nhà văn hóa và khu thể thao

- 90% số hộ có nhà ở kiên cố

- Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông và có mạng Internet

3.Nhóm Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất.

Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất là mục tiêu cơ bản của đề án NTM Phát triểnkinh tế nhằm giúp người nông dân có đời sống ấm no, sung túc hơn

Các chỉ tiêu chính về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất của NTM là:

- Thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn 1,4 lần so với mức bình quân chung củatỉnh

Trang 21

- Có tổ hợp tác xã hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

Phát triển văn hóa – xã hội và bảo vệ môi trường

- Đạt phổ cập giáo dục trung học

- 85% học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, họcnghề)

- 30% số người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế

- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

- Trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn làng văn hóa

- 85% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia

- Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường

4.Nhóm hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh.

- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” và các tổ chứcđoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

- An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

1.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng NTM

1.1.2.1 Xây dựng NTM là phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại

Thực tiễn nông nghiệp nước ta hiện nay chưa phát triển được theo chiều sâu, chủ yếuphát triển theo bề nổi dựa trên những ưu đãi có sẵn của tự nhiên Những người làmnông nghiệp chủ yếu là người dân có trình độ thấp, quanh năm “bán mặt cho đất, bánlưng cho trời”, mức đầu tư vào công nghệ ít, hàm lượng kỹ thuật chế biến trong sảnphẩm còn thấp trong đó chi phí sản xuất cao, do đó các sản phẩm nông nghiệp nước tagiảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và luôn gặp khó khăn khi vượt qua các ràocản kỹ thuật hết sức khắt khe của các nước công nghiệp Mặc dầu, khi gia nhập WTO,theo các hiệp định song phương, đa phương chúng ta sẽ được hưởng các ưu ái thuếquan nhưng chúng ta lại gặp các hàng rào phi thuế quan như vệ sinh an toàn thựcphẩm, các tiêu chuẩn về môi trường, sức khỏe cộng đồng… khắt khe khiến hàng hóanông sản của chúng ta nhiều khi đã vượt qua các rào cản thuế quan vẫn bị trả lại Mặtkhác, hàng hóa xuất khẩu phải có chứng chỉ an toàn để chứng minh mặt hàng nông sảnluôn đảm bảo an toàn vệ sinh, chẳng hạn như chứng chỉ xác định nguồn gốc, chứng chỉbáo cáo chất lượng… Đây thực sự là một trở ngại cho nông nghiệp Việt Nam Vì vậy

Trang 22

một trong những nội dung xây dựng NTM là: tập trung chỉ đạo phát triển sản xuấtnông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vàosản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và thunhập cho người dân; xây dựng các chương trình, đề án, nhân rộng các mô hình sảnxuất nông nghiệp có ảnh hưởng rộng, tính ứng dụng cao; xây dựng và phát triểnthương hiệu các sản phẩm nông nghiệp thế mạnh của từng địa phương; mở rộng diệntích sản xuất hàng hóa áp dụng các tiêu chuẩn an toàn Đồng thời chú trọng phát triểncác hình thức tổ chức sản xuất, liên kết sản xuất, chế biến, bao tiêu sản phẩm; bảo tồn

và phát triển các làng nghề, ngành nghề nông thôn; triển khai có hiệu quả Chươngtrình đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đây là nội dung phát triển nông nghiệp,nông thôn theo hướng hiện đại tiến tới hòa nhập với thế giới

1.1.2.2 Xây dựng NTM để có quy hoạch phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên (đất

đai, nguồn nước…) hợp lý và hiệu quả

Do chiến tranh, do trình độ quản lý nên quy hoạch phân bổ các nguồn tài nguyên nôngthôn vẫn còn hạn chế Các quy hoạch về đất, mặt nước cho sản xuất lúa gạo, cây côngnghiệp ngắn ngày, cây dài ngày, chăn nuôi và thủy sản… chưa rõ ràng, chưa đủ cụ thể

để quản lý chặt chẽ theo yêu cầu của sản xuất từng loại cây trồng, vật nuôi Tình trạngquy hoạch sản xuất nông, lâm, thủy sản liên tục bị phá vỡ tạo ra sự hỗn loạn trong sảnxuất, hao phí vốn đầu tư của người nông dân, gây khó khăn cho đời sống của họ.Quy hoạch đất để sản xuất nông, lâm, thủy sản lâu dài, đất chuyển sang làm kết cấu hạtầng nông thôn và tạo mặt bằng để phát triển các hoạt động công nghiệp, dịch vụ,thương mại nông thôn vẫn chưa được xác định Vì thế xây dựng NTM với các tiêu chí

rõ ràng nhằm quy hoạch phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên nông thôn hợp lý vàhiệu quả

1.1.2.3 Xây dựng NTM để tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của

người nông dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn

Trang 23

của cư dân thành thị và nông thôn quá xa và càng ngày càng rộng ra Theo số liệu củaTổng cục Thống kê Việt Nam, nếu như khoảng cách thu nhập trung bình giữa ngườigiàu và người nghèo ở Việt Nam là 8,9 lần trong năm 2008 thì đến năm 2011 mức này

là 9,2 lần Các vấn đề xã hội ngày càng phát triển gay gắt Tình trạng ô nhiễm và suythoái môi trường ngày càng gia tăng Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôngây ô nhiễm đất, nước và không khí, làm cạn kiệt tài nguyên môi trường do khai thác

tự phát Chương trình xây dựng NTM tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất,tinhthần của người nông dân nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn

và thành thị

1.1.2.4 Xây dựng NTM để thay đổi diện mạo nông thôn, thay thế nông thôn truyền

thống bằng nông thôn hiện đại.

Hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH là điều kiện vật chất quan trọng, có tính quyết địnhđến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tuy nhiên, sau gần 30 năm thực hiệnđường lối đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa đạt được nhiều thành tựutương xứng với tiềm năng và lợi thế Bởi lẽ:

Hệ thống các công trình hạ tầng KT-XH nông thôn trong thời gian qua đã sự phát triểnđáng kể về số lượng và về chất lượng, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tiếntrình CNH, HĐH nông thôn Về căn bản hệ thống hạ tầng KT-XH nông thôn ở nước tachưa đạt được tiêu chuẩn quốc tế, còn mang đậm sắc thái hạ tầng KT-XH của nhữngnước có nền kinh tế chậm phát triển

Hầu hết các công trình hạ tầng KT-XH nông thôn đều đã được xây dựng từ lâu, tậptrung chủ yếu ở thời kỳ đổi mới Theo kiểu “thiếu đâu xây đó”, đáp ứng được nhu cầutrước mắt thiếu tính lâu dài, không tuân theo quy hoạch Nên các công trình hạ tầngKT-XH nông thôn chưa làm thay đổi căn bản tình trạng lạc hậu, kém phát triển của hệthống hạ tầng KT-XH, mới chỉ là một bước cải thiện hệ thống hạ tầng KT-XH cũ vàđến nay đã xuống cấp

Do đặc tính phục vụ cộng đồng, vì vậy việc duy trì bảo dưỡng các công trình hạ tầngKT-XH nông thôn, việc phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn đòi hỏi nguồn vốn lớn,trong khi nền kinh tế nước ta luôn trong tình trạng thiếu nguồn vốn để đầu tư phát triển

hạ tầng KT-XH nông thôn Vì vậy phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn là do nỗ lựccủa từng vùng, từng làng xã, do có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh

Trang 24

tế, xã hội… nên phát triển hạ tầng nông thôn đều mang tính địa phương, đậm tính tựphát, tuỳ tiện, thiếu một quy hoạch tổng thể Vì vậy trên thực tế đã biểu hiện: Khôngkết hợp được các loại hạ tầng trong một khối thống nhất và đồng bộ; mang tính ngắnhạn không phù hợp với tiến trình CNH, HĐH và đô thị hoá; khai thác nguồn vốn đầu

tư bằng quan hệ xin, cho; tuỳ tiện huy động đóng góp của dân; sử dụng tuỳ tiện đấtcông… Vì vậy, cần xây dựng một NTM, khắc phục được những hạn chế, yếu kémtrên

1.1.3 Những thành tựu và kinh nghiệm xây dựng và phát triển nông thôn ở Việt

Nam và một số nước trên thế giới.

1.1.3.1 Phong trào đổi mới nông thôn ở Hàn Quốc

Hàn Quốc vào những năm 60 của thế kỷ XX là một nước nghèo Nông thôn lạc hậusản xuất lương thực không đủ dùng, phần lớn người dân còn thiếu ăn Sau trận lụt lớnnăm 1969, khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hynhận ra rằng viện trợ của chính phủ là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứulấy mình Cần khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt

để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào

“Saemaulundong” (Phong trào đổi mới nông thôn) được đích thân Tổng thống Parkphát động vào ngày 22/4/1970 Phong trào đổi mới nông thôn đã đề cao “Tinh thầnSaemaul” gồm 3 thành tố: “Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác” Sự ra đời kịp thời của

“Saemaulundong” đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo đã tạo ra

sự bứt phá mạnh mẽ và nhanh chóng đạt được những kết quả khả quan Tới năm 1974,chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lương thực tăng đến mức HànQuốc đã tự túc lương thực Việc chú trọng phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nênmột cuộc cách mạng trong trồng trọt và chăn nuôi khiến thu nhập một năm bình quâncủa một hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với bìnhquân một hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD) Đến năm 1980, bộmặt nông thôn Hàn Quốc đã hoàn toàn thay đổi 100% các làng quê nông thôn HànQuốc đã có đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa,… “Saemaulundong”

từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn

Quốc (NongNghiep.vn, 2011)

Trang 25

1.1.3.2 Xây dựng và phát triển nông thôn ở Malaysia

Trên con đường phát triển thịnh vượng, Malaysia không chỉ quan tâm phát triển cáckhu đô thị, các khu công nghiệp tập trung mà còn chú trọng quan tâm đến phát triểnnông thôn kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh Chính phủ nước Malaysia cho rằng cơ sởcủa phát triển nông thôn là phát triển vốn xã hội (giáo dục, sức khỏe), tăng cường quảntrị cấp địa phương, đầu tư nghiên cứu và khuyến nông, cung cấp các thể chế hỗ trợ nhưgiao thông, tài chính, Đặc biệt, chính phủ đã xác định nông dân là nền tảng phát triểnQuốc gia GS Ibrahim Ngah - Đại học Công nghệ Malaysia cho biết, phát triển nôngthôn luôn được coi là chương trình nghị sự quan trọng của Malaysia Rất nhiều nỗ lực

và nguồn lực đã được đầu tư để cải thiện phúc lợi của người dân nông thôn, bao gồmphát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất Kinh nghiệm của Malaysia cũng chỉ ra rằng,các phương pháp tiếp cận và các mô hình phát triển nông thôn cần được triển khai đặcthù theo địa phương với thời gian phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, nguồn lực

tài chính (http://nongthonmoi.gov.vn/nhungkinhnghiemquidelamnongthonmoi,2011) 1.1.3.3 Chính sách cải cách nông thôn ở Trung Quốc

Để xóa bỏ tình trạng nghèo nàn lạc hậu ở nông thôn, từ năm 1978, Trung Quốc đã thựchiện nhiều chính sách cải cách nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cưdân nông thôn, lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT, tăng 8,5% so với 5 năm trước.Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 kmđường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triểnkhai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn Chính phủ căn cứvào các đặc điểm tự nhiên, xã hội, tình hình cụ thể ở các vùng nông thôn, đưa ra cácchính sách, biện pháp chỉ đạo đầu tư linh hoạt, thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếudùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối vớinhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, cònlại là tiền của ngân sách

Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, nhữngmốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kếthợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nôngsản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc

Trang 26

thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bánlương thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấptrực tiếp cho nông dân trồng lương thực.

Trung Quốc thực hiện hạn chế lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệpcủa nước này được quy định rất ngặt nghèo Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất,phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo

cả nước luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên

Tài chính hỗ trợ Tam nông tại Trung Quốc tập trung 3 mục tiêu là nông nghiệp giatăng sản xuất, nông thôn phát triển, và nông dân tăng thu nhập Định hướng phát triểntài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa

và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập chonông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thựckhông thấp hơn giá thị trường, hỗ trợ nông dân mua máy móc thiết bị nông nghiệp vànguồn vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đàotạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnh đó nhà nước luôngiảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trongvòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản.Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nướctrợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước địnhhướng)

(http://nongthonmoi.gov.vn/Baihocvakinhnghiemtutrungquoc/2011)

1.1.3.4 Phong trào xây dựng NTM ở một số địa phương ở Việt Nam

1.Xây dựng NTM ở tỉnh Quảng Ninh Theo báo cáo của Ban Xây dựng NTM Quảng

Ninh, Sau 5 năm thực hiện, chương trình xây dựng NTM diện mạo nông thôn QuảngNinh đã đổi mới và mức thu nhập của người dân khu vực nông thôn đã tăng từ 10,98triệu đồng/năm (năm 2010) lên trên 29,5 triệu đồng/năm (năm 2015), gấp gần 2,7lần…

Ngay từ năm 2010, tỉnh Quảng Ninh đã đồng loạt triển khai chương trình NTM trên125/125 xã, 13/14 đơn vị cấp huyện và chỉ đạo thực hiện ở tất cả các tiêu chí 100%các địa phương trên toàn tỉnh đều quyết liệt triển khai và đặt lộ trình cụ thể trong xâydựng NTM

Trang 27

Đến năm 2015 toàn tỉnh đã có 79 xã cơ bản đạt tiêu chí xã NTM, 5 huyện, thị xã,thành phố cơ bản đạt tiêu chí NTM (trong đó có TX Đông Triều đạt chuẩn) Hiện, toàntỉnh đã đạt 15,17 tiêu chí/xã và 33,74 chỉ tiêu/xã; số xã đạt chuẩn NTM của QuảngNinh cao hơn so với mức bình quân chung cả nước và không có xã nào chỉ đạt dưới 5tiêu chí.

Thành công của chương trình NTM tại Quảng Ninh là tỉnh đã huy động sức mạnh tổnghợp của toàn xã hội trong xây dựng NTM Trong tổng nguồn vốn huy động trong 5năm thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh là trên 57.700 tỷ đồng.Trong đó nguồn vốn xã hội hoá là gần 12.900 tỷ đồng, chiếm trên 22% Quảng Ninhkhông chỉ dành nguồn lực cho NTM mà kêu gọi cả cộng đồng chung sức xây dựngNTM Phong trào này đã được các cấp, các ngành, MTTQ, các đoàn thể và các địaphương triển khai sáng tạo, chủ động bằng các chương trình hành động thiết thực.Trong 5 năm qua, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã ủng hộ gần 12.700 tấn ximăng, hơn 1,5 triệu viên gạch chỉ, 2.000m2 gạch lát nền; ủng hộ trên 205 tỷ đồng xâydựng điện lưới ra huyện đảo Cô Tô; hỗ trợ giảm 10% giá các nguyên vật liệu xâydựng Các doanh nghiệp còn góp phần đào tạo, giải quyết việc làm cho lao động khuvực nông thôn, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp…Ngoài ra, còn có sự ủng hộ của ngườidân thông qua việc đóng góp tiền, công sức lao động, hiến đất Đến nay, chương trình

đã huy động được sự đóng góp cực kỳ hiệu quả của nhân dân để đầu tư được 1.210công trình với tổng mức đầu tư 868,7 tỷ đồng

Từ sự chung sức, đồng lòng này, tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành mục tiêu cơ bản đạttỉnh NTM vào năm 2015 và hướng đến xây dựng nông thôn tiên tiến, đây cũng là mô

hình độc đáo sáng tạo của tỉnh Quảng Ninh (theo Minh Tâm - Quảng Ninh: Từ NTM tới nông thôn tiên tiến - bài viết trên Info.net của Bộ TT và TT)

2.Xây dựng NTM ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định với phương châm “nhân dân làm,

nhà nước hỗ trợ” và “dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát, dân hưởng thụ”, huyệnHải Hậu tỉnh Nam Định đã trở thành huyện thứ năm trên cả nước và là huyện thứ haicủa miền Bắc đạt chuẩn NTM (NTM)

Huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định là một huyện thuần nông với gần 80% lao động nôngnghiệp, ngành nghề phát triển chậm, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn chưa đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thu nhập bình quân đầu người

Trang 28

còn thấp (năm 2010 bình quân 11,5 triệu đồng/người) Triển khai xây dựng NTM,huyện Hải Hậu mới đạt 10/19 tiêu chí NTM Sau 4 năm xây dựng NTM, đến nay, HảiHậu đã có 35/35 xã, thị trấn được UBND tỉnh Nam Định công nhận đạt chuẩn NTM,bình quân toàn huyện đạt 19/19 tiêu chí NTM/xã Và mới đây, Thủ tướng Chính phủ

đã ký quyết định công nhận Hải Hậu là huyện NTM

Với cách làm riêng của mình, từ 19 tiêu chí xã NTM do Trung ương ban hành, huyệnHải Hậu vận dụng, cụ thể hóa thành 12 tiêu chí xóm NTM và 8 tiêu chí gia đình NTM.Thống nhất quy trình thực hiện chung là: “Làm từ đồng về nhà, từ nhà lên xóm, từxóm lên xã”, “xóm lo công trình của xóm, xã lo công trình của xã”, lấy mỗi gia đình làhạt nhân trong xây dựng NTM Hải Hậu cũng “thiết kế” được một cơ chế hỗ trợ cũngnhư khen thưởng rất cụ thể, qua đó khuyến khích, tạo động lực cho các xóm tronghuyện tham gia thực hiện Năm 2011, trong khi nhiều địa phương còn lúng túng, chưabiết phải triển khai xây dựng NTM ra sao thì Hải Hậu đã hoàn thành dồn điền, đổi thửa

- một khâu đột phá trong xây dựng NTM ở cả 35 xã, thị trấn trong huyện, kết hợp vớiviệc dồn đổi quỹ đất công, chỉnh trang đồng ruộng, quy hoạch vùng sản xuất

Theo thống kê, trong quá trình thực hiện chương trình, toàn huyện đã huy động trên1.500 tỷ đồng xây dựng NTM, nhân dân đóng góp 586 tỷ đồng; vốn cấp trên và ngânsách địa phương 663 tỷ đồng; nguồn vốn khác hơn 259 tỷ đồng Ngoài ra, nhân dân đã

tự nguyện hiến trên 345 ha đất nông nghiệp, 25 ha đất ở và trên 150.000 ngày công laođộng tháo, dỡ hàng ngàn công trình để xây dựng các công trình đường giao thông,phúc lợi công cộng

Đến nay, bộ mặt nông thôn Hải Hậu đã thay đổi, đời sống người dân đã được nâng lên

rõ rệt Đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa Toàn huyện đã có 536/546 xóm đã cónhà văn hóa, khu vui chơi; 535/546 xóm đạt tiêu chí xóm, gia đình NTM, đường giaothông được mở rộng với 971/974 km đường giao thông khu dân cư đạt chuẩn, 346/396

km đường giao thông trục chính nội đồng đạt chuẩn

(theo http://baocongthuong.com.vn/haihaunamdinhsomdatchuannongthonmoi/2015)

Tóm lại trong Mục 1.1 Khái quát về xây dựng NTM giúp chúng ta nhận thức xây

dựng NTM là xu hướng, con đường tất yếu nhằm đưa nông thôn nước ta tiến nhanhtrên con đường CNH-HĐH đất nước và hội nhập với sự phát triển nông thôn các nướctrên thế giới Trong phong trào xây dựng NTM, xây dựng phát triển các công trình hạ

Trang 29

tầng nông thôn mới là nền tảng để phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội nông thôn, từngbước thay đổi diện mạo nông thôn đưa nông thôn nước ta phát triển thành nông thônhiện đại Vì vậy trong Mục 1.2 dưới đây chúng ta sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu Côngtrình hạ tầng KT-XH trong mô hình NTM

1.2 Công trình hạ tầng KT-XH trong mô hình NTM

1.2.1 Khái niệm và các bộ phận hợp thành hệ thống công trình hạ tầng KT-XH

trong phong trào xây dựng NTM

1.2.1.1 Khái niệm

Cho đến nay, quan niệm về kết cấu hạ tầng vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau TheoPGS TS Nguyễn Ngọc Nông thì: “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, cácngành công nghệ dịch vụ” [CITATION PGS \l 1033 ] Cụ thể cơ sở hạ tầng bao gồm:Việc xây dựng đường xá, kênh đào tưới nước, bãi cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng,

cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cấp thoátnước, cơ sở giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ sức khoẻ PGS TS Lê Du Phong chorằng kết cấu hạ tầng là “tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạolập và tồn tại trong mỗi Quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt độngKT-XH ” [CITATION PGS1 \l 1033 ] Còn theo PGS TS Đỗ Hoài Nam thì cho rằng

hạ tầng “là khái niệm dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trìnhcông nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện” [CITATION PGS2 \l

1033 ]

Quá trình sản xuất cần có người lao động, tư liệu sản xuất và công nghệ Trong tư liệusản xuất có một bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là những cơ sởphương tiện chung nhờ đó mà quá trình công nghệ, sản xuất và dịch vụ được thực

hiện Bộ phận này chính là cơ sở hạ tầng, kết cấu hạ tầng hay hạ tầng

Như vậy mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, sử dụng tên gọi khác nhau nhưngcác quan điểm, ý kiến này đều cho rằng: Cơ sở hạ tầng hoặc kết cấu hạ tầng hay hạtầng đều là những yếu tố vật chất làm nền tảng cho các quá trình sản xuất và đời sống

xã hội hình thành và phát triển Với quan niệm về hạ tầng như vậy, cùng với sự pháttriển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm cho hạ tầng không những có vai tròquan trọng trong lĩnh vực kinh tế mà nó còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong pháttriển xã hội Tương ứng với mỗi lĩnh vực hoạt động của xã hội có một loại hạ tầng

Trang 30

tương ứng chuyên dùng Hạ tầng trong kinh tế phục vụ cho hoạt động kinh tế, hạ tầngtrong quân sự phục vụ cho hoạt động quân sự, hạ tầng trong lĩnh vực giáo dục, y tếphục vụ cho hoạt động giáo dục, y tế… Trong thực tế cũng có những loại hạ tầng đanăng có tầm hoạt động rộng lớn, có tác động nhiều mặt như: Hạ tầng giao thông vậntải, điện năng, thuỷ lợi… Đó là những hệ thống hạ tầng trong khi tồn tại và vận hànhkhông chỉ phục vụ cho một hoạt động ví dụ như hoạt động kinh tế mà còn phục vụ chonhiều hoạt động khác Do đó khái niệm hạ tầng KT-XH được sử dụng để chỉ những hạtầng có tính đa năng phục vụ cho lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội hoặc để chỉ chonhững hạ tầng chuyên dùng phục vụ cho lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội khi cùng

đề cập đến

Thực tế cho thấy, hạ tầng KT-XH ngày càng đóng vị trí quan trọng trong sự phát triểnKT-XH của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Hạ tầng KT-XH là một trongnhững chỉ tiêu tổng hợp đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia Bất cứ một xãhội nào, một quốc gia nào muốn phát triển thì đều cần có một hệ thống cơ sở hạ tầnghoàn chỉnh và đồng bộ, điều đó cũng có nghĩa là phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,phải xem nó là nền tảng, là điều kiện tiền đề vật chất để thúc đẩy các hoạt động KT-

XH phát triển

Hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn trước hết là gắn với sở hữu của làng, xã.Sau nữa là gồm những phương tiện làm cơ sở cho sự phát triển KT-XH trên địa bànnông thôn Chúng tôi tán thành với quan niệm của GS.TS Đỗ Hoài Nam và PGS.TS LêCao Đoàn trong cuốn sách “Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, đó là: “Hạ tầng KT-XH nông thôn là những cơ

sở vật chất và thiết chế cung cấp dịch vụ cho sinh hoạt kinh tế, xã hội, dân sinh trongcộng đồng làng xã vàdo làng xã quản lý, sở hữu và sử dụng, làm nền tảng cho sự pháttriển KT-XH nông thôn Hạ tầng KT-XH ở nông thôn bao gồm hạ tầng KT-XH chotoàn ngành nông nghiệp và nông thôn của vùng, của làng, xã và nó được hình thành,

sử dụng vì mục đích phát triển KT-XH của làng, xã”

1.2.1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn

Hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH được chia thành

Trang 31

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao

gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông,

cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các công trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà

văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác Cáccông trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nângcao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ

Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo

vệ, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của conngười Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo

vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH ở nông thôn là nền tảng vật chất, cung cấp dịch vụcho hoạt động KT-XH của toàn ngành nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong mộtthôn, một làng, một xã hay một vùng nông thôn

Khi xem xét về kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn cũng cần thấy rằng, sự phát triểncủa mỗi làng, xã không thể chỉ xem xét trên phạm vi hẹp với những kết cấu hạ tầngKT-XH gắn với nó, xét theo địa lý và lĩnh vực: Đường xá giao thông, công trình thuỷlợi, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục…, vì trong CNH, HĐH nông nghiệp nôngthôn, sự gắn kết và ảnh hưởng lan toả giữa các làng xã, giữa các huyện, giữa thành thị

và nông thôn khá rõ nét kể cả trong phát triển và giao lưu kinh tế Do vậy sẽ có một sốcông trình trong kết cấu hạ tầng KT-XH như các tuyến đường liên xã, liên huyện, các

hệ thống thuỷ nông, trạm bơm, trạm điện… tuy không thuộc quyền sở hữu của mộtlàng xã nhất định, nhưng lại phục vụ cho hoạt động KT-XH của nhiều xã hoặc cả vùngthì những hạ tầng này cũng thuộc phạm vi của kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn.Những kết cấu hạ tầng KT-XH đó thường nằm trong phạm vi quản lý của các banngành thuộc bộ máy chính quyền cấp huyện hoặc ngành dọc cấp Sở (như hệ thốngthuỷ nông thuộc quyền quản lý của Sở NN&PTNT) Thực tế, cộng đồng dân cư củacác xã vừa được hưởng lợi từ khai thác từ sử dụng, vừa có nghĩa vụ tham gia vào quản

lý, bảo vệ và duy tu bảo dưỡng các kết cấu hạ tầng này

Nhìn chung, ở nước ta trong suốt chiều dài lịch sử phát triển ở các vùng nông thôn đãhình thành một hệ thống cơ sở hạ tầng KT-XH phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và

Trang 32

kinh tế nông thôn, như: Hệ thống đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, chợ Hệ thốngnày phục vụ cho nhiều hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau Việc thiếu những cơ sởnày có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển KT-XH của cả vùng nôngthôn Nếu không có đường xá thì không thể có hoạt động vận tải hàng hoá và hànhkhách; không có chợ, cửa hàng, kho tàng thì không thể tổ chức các hoạt động mua bán

và trao đổi hàng hoá… Điều đó càng khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hệ thống

hạ tầng KT-XH nông thôn trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn hiệnnay Chính sự phát triển của hạ tầng KT-XH sẽ góp phần tạo bước phát triển đột pháthúc đẩy KT-XH nông thôn, gắn kết kinh tế giữa các vùng, miền và từ đó phát huyđược thế mạnh kinh tế của mỗi địa phương phù hợp với quy luật chung của kinh tế thịtrường

1.2.2 Vai trò của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đối với phát triển nông

thôn

Thứ nhất, hệ thống KCHT KT-XH nông thôn hoàn thiện và đồng bộ sẽ thúc đẩy sản

xuất phát triển, giúp giảm giá thành sản xuất, giảm chi phí vận chuyển, chi phí dịch vụ,giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp và các ngànhliên quan trực tiếp tới nông nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá Trong điềukiện ngày nay với xu hướng và hội nhập, nếu thiếu hệ thống thông tin viễn thông, hệthống ngân hàng hay hệ thống giao thông hiện đại thì không thể đạt được mục tiêuphát triển như mong muốn

Thứ hai, hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự phát

triển khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài vào thị trường nôngnghiệp, nông thôn Qua đó, góp phần tạo thêm việc làm thu hút nguồn lao động dưthừa, tăng thêm thu nhập cho cư dân ở các vùng nông thôn, nâng cao năng suất laođộng, hạ giá thành trong sản xuất Ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho người nông dântiếp cận được với tiến bộ khoa học - kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận được với các dịch vụchất lượng cao như tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm

Thứ ba, hệ thống kết cấu KT-XH nông thôn là điều kiện quan trọng tác động tới việc

phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ Phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn sẽ tạođiều kiện phát triển đồng đều giữa các vùng, miền trong cả nước, góp phần thực hiện

Trang 33

mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội Thực hiện mục tiêu công bằng

xã hội không chỉ thể hiện ở khâu phân phối kết quả mà nó còn thể hiện ở chỗ tạo điềukiện sử dụng tốt năng lực của mình, đó chính là cơ hội học tập, cơ hội được chăm losức khoẻ và đặc biệt là cơ hội được làm việc, tham gia vào quá trình tái sản xuất xãhội

Thứ tư, hệ thống kết cấu KT-XH nông thôn là điều kiện vật chất quan trọng, có tính

quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cũng như sự chuyển dịch cơcấu nội bộ ngành nông nghiệp Ngân hàng thế giới cho rằng: “Những trở ngại tronggiao thông vận tải thường là trở ngại chính đối với sự phát triển khả năng chuyên mônhàng hoá sản xuất tại khu vực có tiềm năng phát triển nhưng không thể tiêu thụ đượcsản phẩm hoặc không được cung cấp lương thực một cách ổn định ” [24] Như vậynếu không có hạ tầng giao thông nói chung hay hạ tầng giao thông nông thôn nói riêngthì không thể có giao lưu hàng hóa nông sản với các hàng hoá khác, không thể tạo điềukiện phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Thứ năm, hệ thống kết cấu KT-XH phát triển sẽ tăng cường được khả năng giao lưu

hàng hoá, thị trường nông thôn được mở rộng, khơi thông sự ngăn cách giữa thị trườngnông thôn và toàn bộ nền kinh tế Nhờ đó, kích thích sự phát triển kinh tế hộ gia đình,góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, gia tăng thu nhập, nâng cao chấtlượng đời sống cư dân Điều đó sẽ tạo ra sự thay đổi diện mạo KT-XH nông thôn, thuhẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, từng bước xoá bỏ sự ngăncách về không gian giữa thành thị và nông thôn

Thứ sáu, hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn sẽ tạo điều kiện tổ chức tốt đời

sống xã hội trên từng địa bàn, tạo một cuộc sống tốt hơn cho nhân dân, nhờ đó màgiảm bớt và ngăn chặn tình trạng di cư tự do từ nông thôn ra thành thị Đồng thời, tạolập sự công bằng, nâng cao mức hưởng thụ các dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế và vănhoá cho dân cư vùng nông thôn, xoá đi những chênh lệch trong phát triển KT-XH giữacác vùng trong cả nước

1.2.3 Yêu cầu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong mô hình

NTM

Phát triển hạ tầng KT-XH ở nông thôn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với sựphát triển của một vùng hay nhiều vùng nông thôn Việc phát triển hạ tầng KT-XH ở

Trang 34

nông thôn chính là xây dựng, phát triển các công trình vật chất phục vụ sản xuất và đờisống của cư dân nông thôn Nói cách khác, mục tiêu của phát triển hạ tầng KT-XH ởnông thôn là để phục vụ sản xuất, nâng cao tính hiệu quả của sản xuất, nâng cao đờisống, mức sống dân cư nông thôn

Việc phát triển đa dạng hạ tầng KT-XH liên quan đến tất cả các mặt của đời sống cưdân ở khu vực nông thôn xuất phát từ nhu cầu đa dạng của cư dân nông thôn Đó làcác nhu cầu đi lại, nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt, nhu cầu được dùngnước sạch, môi trường vệ sinh sạch sẽ, nhu cầu sử dụng các dịch vụ giáo dục, văn hoá,chăm sóc sức khoẻ cộng đồng…Thực tế cho thấy, các mặt trên có mối liên hệ đan xennhau Việc tách bạch chúng về mặt lý thuyết là cần thiết để nhận thức rõ nét từng mặtnhưng trong thực tiễn, do chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên các hoạt độngdiễn ra trên mặt này không thể không tính đến mức độ ảnh hưởng của các mặt khác

Do vậy, trong phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn đáp ứng yêu cầu NTM cần đảmbảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn cần phải đi trước một bước, thể hiện

tính tiên phong, mở đường cho phát triển KT-XH Điều này xuất phát từ yêu cầu củaviệc tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh có tính cạnh tranh, từ vị trí, vai trò của hạtầng KT-XH ở nông thôn và yêu cầu khai thác có hiệu quả những tiềm năng của cácvùng nông thôn nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH trong quá trình CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Với một nền kinh tế còn ở điểm xuất phát thấp, khinông nghiệp nông thôn còn đóng vai trò quan trọng thì việc xây dựng một hệ thống hạtầng KT-XH hoàn thiện và đồng bộ ở nông thôn sẽ góp phần tạo tiền đề đẩy mạnhCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tiếp theo đó, sự phát triển của khu vực nôngnghiệp và nông thôn sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của các ngành, lĩnh vực

và khu vực khác của nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, nâng cao mức sống của người nông dân nói riêng và của toàn xã hộinói chung, đồng thời sẽ góp phần giảm bớt nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế Thực tếcho thấy, nếu hạ tầng phát triển chậm hơn hay không đủ so với nhu cầu thì sẽ khôngđáp ứng được nhu cầu của sản xuất Nhưng ngược lại, nếu hạ tầng phát triển quánhanh so với nhu cầu thì sẽ không phát huy được hiệu quả Do đó, một vấn đề đặt ra làphải xây dựng một cơ cấu hợp lý giữa đầu tư cho hạ tầng và đầu tư cho sản xuất Kinh

Trang 35

nghiệm thực tiễn cho thấy, hạ tầng cần phải được phát triển nhanh hơn sản xuất, tức làđầu tư cho hạ tầng phải tăng nhanh hơn đầu tư cho sản xuất.

Thứ hai, phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn phải đảm bảo nâng cao cả hiệu quả kinh

tế, hiệu quả xã hội và môi trường Đây là xu hướng khách quan nhưng tất yếu nhằmtạo việc làm mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế, đảm bảomôi trường bền vững, thực hiện công bằng xã hội ở nông thôn và đối với nông dân Donguồn lực cho phát triển hạ tầng KT-XH ở nông thôn không phải lúc nào cũng dồidào, sẵn có mà việc đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH nông thôn cũng không phải là cáchoạt động đầu tư kinh doanh đơn thuần có thể mang lại lợi nhuận cao Lĩnh vực đầu tưphát triển hạ tầng KT-XH không chỉ đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà nó còn là lĩnh vực đầu

tư thu hồi vốn chậm, có những lúc không thu hồi vốn (đầu tư hạ tầng công cộng) phục

vụ cho xã hội Do vậy khi đầu tư phát triển hạ tầng phải hết sức cân nhắc, tính toángiữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội tránh tình trạng quá tập trung, quá tính toánlợi ích kinh tế mà lãng quên đến lợi ích xã hội mà hạ tầng mang lại Cần thiết phải tínhtoán, cân nhắc để xác định chiến lược và bước đi của phát triển hạ tầng KT-XH ở nôngthôn để vừa đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế, đồng thời có thể mang lại những hi ệuquả về mặt xã hội, môi trường Vì vậy nhà nước cần phải có các chính sách và giảipháp phù hợp nhằm huy động đa dạng các nguồn lực trong xã hội bên cạnh việc giatăng đầu tư ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH nông thôn Trongnhững điều kiện cụ thể, nhất là xét về lâu dài, có thể phải ưu tiên hiệu quả xã hội bêncạnh hiệu quả kinh tế Và muốn đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội thực sự bền vữngphải đảm bảo cả hiệu quả môi trường, cải thiện môi trường sinh thái nông thôn, tôn tạocảnh quan, giữ gìn bản sắc dân tộc, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học

Thứ ba, phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn phải đảm bảo duy trì sự ổn định xã hội ở

vùng nông thôn Về cơ bản, ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng,dân số vẫn chủ yếu sống ở khu vực nông thôn Phát triển hạ tầng KT-XH ở nông thônđem lại tác động tích cực nhiều mặt, nhưng cũng có thể gây ra tình trạng mất ổn định

về mặt xã hội Điển hình là việc thu hồi đất của những người nông dân để tạo mặt bằngcho xây dựng hạ tầng KT-XH nông thôn dẫn đến tình trạng nông dân không còn đấtđai (tư liệu sản xuất cơ bản trong sản xuất nông nghiệp) để duy trì các hoạt động sảnxuất, mất đi nguồn thu nhập chính cho cuộc sống thường ngày và hệ quả là họ phải tìm

Trang 36

kiếm việc làm mới tại chỗ hay ở các khu vực khác Việc xuất hiện tình trạng khiếukiện kéo dài phần lớn đều xuất phát từ những mâu thuẫn trong công tác đền bù, giảiphóng mặt bằng, tình trạng thiếu công khai, dân chủ, minh bạch trong huy động và sửdụng nguồn vốn đóng góp của dân cư cho xây dựng hạ tầng KT-XH ở nông thôn Dovậy, việc xây dựng hạ tầng KT-XH ở nông thôn trước hết cần gắn với việc khuyếnkhích phát triển các ngành nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp nhằm tạo điều kiện

về việc làm, thu nhập cho các hộ nông dân bị thu hồi đất Nếu việc phát triển hạ tầngKT-XH nông thôn không có tác dụng làm giảm tình trạng thất nghiệp, điều đó sẽ dễgây ra sự bất ổn về chính trị - xã hội ở các vùng nông thôn và ảnh hưởng tiêu cực đến

sự phát triển kinh tế Mặt khác, với các công trình có huy động nguồn vốn xã hội hóa,nguồn vốn đóng góp của nhân dân cần phải đảm bảo sự công khai, minh bạch, dânchủ Điều đó sẽ góp phần duy trì sự ổn định về mặt xã hội ở khu vực nông thôn

Thứ tư, phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh

tế, mà phải kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đảm bảo quốcphòng, an ninh Điều đó có nghĩa phát triển hạ tầng KT-XH phải đảm bảo tính đồngbộ: Điện, đường, trường, trạm…phải bảo đảm theo đúng lộ trình đầu tư xây dựng tránhtình trạng đầu tư chồng chéo gây lãng phí, không hiệu quả kinh tế Đảm bảo an ninhquốc phòng là điều kiện hết sức cần thiết trong phát triển hạ tầng KT-XH ở nông thôn,đảm bảo được quốc phòng, an ninh nông thôn là đảm bảo được ổn định chính trị, làbảo đảm được môi trường đầu tư Thời gian qua đã có lúc, có nơi tình hình chính trị,

an ninh nông thôn chưa được bảo đảm đã làm thiệt hại, lãng phí không nhỏ đến hiệuquả đầu tư phát triển hạ tầng KT-XH như: Tiến độ chậm; giải ngân vốn chậm; nợ đọngvốn xây dựng cơ bản Như vậy đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH nông thôn vừa phảinhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo từng bước nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vừa phải đảm bảo về mặt an ninh, quốcphòng

Thứ năm, phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn phải góp phần đẩy nhanh tốc độ công

nghiệp hóa và đô thị hoá nông thôn Việc quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở khuvực nông thôn phải kết hợp hài hoà với quy hoạch phát triển hạ tầng KT-XH, quyhoạch phát triển các vùng đô thị Sự hình thành và phát triển các khu đô thị đóng vaitrò đầu tàu thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của cả vùng Đồng

Trang 37

thời, nó mở ra khả năng cung cấp các dịch vụ đa dạng góp phần nâng cao chất lượngđời sống cư dân nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn Theo tiến trình đôthị hoá, các điểm dân cư khu vực nông thôn sẽ được phát triển theo xu thế “đô thị hoátại chỗ”, biến đổi nông thôn thành đô thị Tuỳ theo điều kiện phát triển hạ tầng KT-XH

cụ thể ở mỗi nơi mà mức độ đô thị hoá tại chỗ sẽ khác nhau Trong tiến trình đô thịhoá nông thôn phải xem xét đầy đủ đến: Tác động của môi trường trong quy hoạch sửdụng đất; trong tổ chức không gian đô thị; trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật; đảm bảo

sự liên thông, hoà nhập về quy hoạch giao thông, cấp thoát nước, thông tin, dịch vụ giữa khu đô thị mới và khu dân cư làng, xã cũ Tránh tình trạng làng, xã thành phường

vì mục đích tăng dân số đô thị để đô thị được nâng cấp hay tạo các "ốc đảo" dân cưlàng, xã trong khu đô thị mới

Tóm lại, đi sâu nghiên cứu Mục 1.2 Công trình hạ tầng KT-XH trong mô hình nông

thôn mới đã giúp chúng ta hiểu về khái niệm, vai trò và yêu cầu phát triển hệ thống hạtầng KT-XH nông thôn Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng, là khâu then chốt để thựchiện các mục tiêu phát triển KT-XH nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình CNH,HĐH Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cùng quá trìnhtoàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ngày nay, để thực hiệnthành công sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển hạ tầng KT-XHnông thôn phải đi trước một bước để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động KT-XHphát triển Mặt khác phát triển hạ tầng KT-XH nông thôn lại đặt ra cho chúng ta vấn

đề quản lý xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng như thế nào để phù hợp với sản xuất vàđời sống nông thôn đảm bảo mục tiêu xây dựng nông thôn mới tránh lãng phí, thấtthoát trong xây dựng

1.3 Quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM.

1.3.1 Khái quát về công tác quản lý và quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM

Công tác tổ chức quản lý được tiến hành trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau củacon người, nó có niều nét chung và cũng có những đặc tính riêng tùy thuộc vào nơi ápdụng Nên sản xuất xã hội không thể tồn tại và phát triển nếu các chức năng quản lýkhông được thực hiện

Trang 38

Nội dung và mức độ phức tạp của các chức năng quản lý phụ thuộc trước hết vào trình

độ phát triển của sản xuất

Quản lý xây dựng là quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượngquản lý là những người lao động có tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quátrình sản xuất xã hội nhằm đạt mục tiêu kinh tế đã định

Hay có thể nói: Quản lý xây dựng là sự tác động vào tập thể những con người nhằm tổchức và phố hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất Tổ chức và phối hợp các

bộ phận riêng lẻ trong quá trình sản xuất sẽ tạo thành một đơn vị thống nhất có sứcmạnh mới, sức mạnh của tập thể lớn hơn tổng các lực lượng riêng lẻ

Quản lý xây dựng đương nhiên phải quản lý tài sản, vốn, kỹ thuật công nghệ nhưngquản lý thông qua con người chứ không trực tiếp tác động vào những đối tượng đó Vìvậy vấn đề quan trọng trong hoạt động quản lý xây dựng là xây dựng mối quan hệ hợptác giữa những người lãnh đạo và những người bị lãnh đạo là tập thể những người laođộng [CITATION NXB \l 1033 ]

Từ đó suy ra quản lý xây dựng hạ tầng NTM là quản lý kinh tế và cũng là quản lý xâydựng Với các phương tiện và bằng các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phápluật quy định, nó tác động lên con người và thông qua con người nhằm thúc đẩy tiến

độ thi công công trình và quản lý chất lượng công trình theo kế hoạch mục tiêu xâydựng NTM

1.3.2 Vị trí của quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM trong hệ thống quản lý

xây dựng

Công tác quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM có một vị trí hết sức quan trọngtrong hệ thống quản lý xây dựng nói chung và trong phong trào xây dựng NTM nóiriêng

Cũng như các công tác công tác quản lý xây dựng khác, công tác quản lý xây dựngcông trình hạ tầng NTM phải quản lý và chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động trêncông trường về các khía cạnh: chi phí, chất lượng và tiến độ Quản lý xây dựng phảilên được kế hoạch tổ chức, triển khai và giám sát tiến độ xây dựng trong từng giaiđoạn xây dựng, đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, đạt chất lượng yêu cầu vàtrong ngân sách cho phép Kiểm tra tất cả các hồ sơ thiết kế thi công của dự án trướckhi trình Quản lý dự án phê duyệt để nhà thầu triển khai thi công Đảm bảo các bản vẽ

Trang 39

thi công đáp ứng đúng yêu cầu về mặt kỹ thuật, kinh tế và khả thi Đảm bảo kế hoạchkinh phí đáp ứng nhu cầu xây dựng và có phương án xử lý các khó khăn và rủi ro cóthể xảy ra trong quá trình xây dựng Quản lý, phối hợp và thúc đẩy các nhà thầu và nhà

tư vấn nhằm đảm bào công việc được thực hiện theo kế hoạch Quản lý an toàn, phòngchống cháy nổ trong quá trình thi công, vệ sinh môi trường bên trong và xung quanhcông trường Kiểm tra hồ sơ thanh quyết toán khối lượng do nhà thầu thực hiện Phốihợp với các ban ngành có liên quan nhằm thực hiện tốt công tác quản lý xây dựng, tiến

độ thi công và chất lượng công trình

Quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM cũng phải tuân thủ theo các quy định củaquản lý chất lượng công trình xây dựng Đây là hoạt động quản lý của các chủ thểtham gia các hoạt động xây dựng trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựngcông trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng

và an toàn của công trình Quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM phải tuân thủ cácnguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng như : (1) Công trìnhxây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định từ chuẩn bị, thực hiện đầu tưxây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản,thiết bị, công trình và các công trình lân cận (2) Hạng mục công trình, công trình xâydựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thubảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật chocông trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan.(3) Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quyđịnh, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thựchiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc donhà thầu phụ thực hiện (4) Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượngcông trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu,quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theoquy định của Nghị định này Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xâydựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật (5) Cơ quan chuyên môn

về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhântham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu côngtrình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị

Trang 40

và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật.(6) Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng chịu trách nhiệm về chất lượngcác công việc do mình thực hiện.

Trong phong trào xây dựng NTM việc đẩy mạnh nâng cao hiệu quả công tác quản lýxây dựng công trình hạ tầng NTM là một việc làm hết sức cần thiết, có một vị trí vaitrò hết sức quan trọng Nhờ đó mà các công trình xây dựng đáp ứng được tiến độ vàđảm bảo phục vụ tốt việc phát triển KT-XH của các địa phương theo các tiêu chí pháttriển kết cấu hạ tầng cơ sở của phong trào xây dựng NTM

Công tác quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM có vị trí quan trọng trong hệ thốngquản lý xây dựng và trong phong trào xây dựng NTM nên được Đảng ủy, UBND, Banchỉ đạo phong trào xây dựng NTM rất quan tâm tăng cường chỉ đạo và đầu tư Đây làmột trong những nhân tố thiết yếu để làm nên thắng lợi của phong trào xây dựngNTM

1.3.3 Những vấn đề nảy sinh trong quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM

Trong phong trào xây dựng NTM do đặc thù nông thôn, kinh tế chậm phát triển, trình

độ mặt bằng dân trí chưa cao nên trong công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹthuật đã rất khó khăn mà công tác quản lý cũng rất khó khăn và phức tạp Vấn đề nàyđòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần tráchnhiệm Do đó nâng cao chất lượng công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹthuật và năng lực cán bộ quản lý là việc làm then chốt làm nên thành bại của phongtrào xây dựng NTM

Công tác quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM trong cùng một thời điểm thườngdiễn ra nhiều công trình với nhiều hạng mục khác nhau Để chống thất thoát lãng phí,nâng cao chất lượng công trình và đẩy nhanh tiến độ dự án cần phải tăng cường côngtác thanh tra kiểm tra, giám sát chất lượng và tiến độ, giải quyết nhanh chóng và dứtđiểm những thiếu sót và vướng mắc trong quá trình triển khai Không để chồng chấtđến khi không còn có cách nào khắc phục được nữa mới biết và báo cáo.Nghiêm chínhchấp hành pháp luật và xóa bỏ những tiêu cực trong hoạt động đầu tư

Quản lý xây dựng công trình hạ tầng NTM cần bám sát các văn bản chỉ đạo của nhànước và của ban chỉ đạo cấp trên xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật cho phù hợpvới điều kiện thực tế, có tính khả thi đồng thời cần hướng dẫn các nhà thầu, đơn vị thi

Ngày đăng: 05/11/2017, 13:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.7 Mô hình Ban QLDA tổ chức quản lý dự án theo kết cấu tổ chức dạng ma trận - Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã nghĩa minh, huyện nghĩahưng, tỉnh nam định
Hình 2.7 Mô hình Ban QLDA tổ chức quản lý dự án theo kết cấu tổ chức dạng ma trận (Trang 55)
Bảng 3.2 Hiện trạng các công trình hạ tầng theo báo cáo thống kê của xã Nghĩa Minh năm 2010 - Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã nghĩa minh, huyện nghĩahưng, tỉnh nam định
Bảng 3.2 Hiện trạng các công trình hạ tầng theo báo cáo thống kê của xã Nghĩa Minh năm 2010 (Trang 62)
Hình 3.1: Mô hình quản lý dự án xây dựng Công trình hạ tầng NTM giai đoạn ban đầu - Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã nghĩa minh, huyện nghĩahưng, tỉnh nam định
Hình 3.1 Mô hình quản lý dự án xây dựng Công trình hạ tầng NTM giai đoạn ban đầu (Trang 67)
Hình 3.2: Mô hình đề xuất quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM - Nghiên cứu hoàn thiện mô hình quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM tại xã nghĩa minh, huyện nghĩahưng, tỉnh nam định
Hình 3.2 Mô hình đề xuất quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng NTM (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w