Đối với giáo viên khi hìnhthành kiến thức mới còn lúng túng, chưa biết phân loại các dạng toán, dạy họcchưa lấy học sinh làm trung tâm,…Đối với học sinh chưa biết cách phân tích đề toán,
Trang 1A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ do chọn đề tài:
Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Nhữngkiến thức mà các em được tiếp thu ở Tiểu học là cơ sở quan trọng để các emhọc lên các bậc học cao hơn Ở bậc Tiểu học, cùng với môn tiếng việt, mônToán là môn học chủ đạo Môn Toán bước đầu hình thành và phát triển nănglực tư duy, trìu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng, khả năngtìm tòi, gây hứng thú cho học sinh, có khả năng suy luận, … góp phần rènluyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt và sáng tạo
Trong những năm gần đây, giáo dục Tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làmcho hoạt động dạy học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để thực hiệnđược yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học nhằmvừa nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâmsinh lí của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh trong công cuộcđổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục Tiểu học nói riêng
Trong chương trình toán Tiểu học, giải toán có lời văn chiếm một vị trí rấtquan trọng Để giải được bài toán học sinh phải tư duy một cách tích cực vàlinh hoạt, phải huy động rất nhiều kiến thức và khả năng đã có vào những tìnhhuống khác nhau, phải biết tìm hiểu để phát hiện ra được những dữ kiện củabài toán khi chưa đưa ra một cách tường minh, học sinh phải biết suy luận mộtcách năng động và sáng tạo Vì vậy có thể nói giải toán có lời văn là một trongnhững biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh Trongchương trình Toán lớp 5, một trong những nội dung mới mà các em được học
đó là Toán chuyển động đều Đây là dạng toán khó, các kiến thức bắt nguồn từ
cuộc sống, chúng cung cấp lượng vốn sống hết sức cần thiết cho học sinh Họctốt dạng toán này không những giúp các em rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thờigian, nắm được mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thờigian mà còn được củng cố nhiều kiến thức, kĩ năng như: Các đại lượng cóquan hệ tỉ lệ, kĩ năng tóm tắt bài bằng sơ đồ, kĩ năng tính toán,
Và qua thực tế nhiều năm giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy cả giáo viên và họcsinh còn gặp nhiều khó khăn khi dạy dạng toán này Đối với giáo viên khi hìnhthành kiến thức mới còn lúng túng, chưa biết phân loại các dạng toán, dạy họcchưa lấy học sinh làm trung tâm,…Đối với học sinh chưa biết cách phân tích
đề toán, chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích các dữ liệu của bài toán,chưa biết suy luận từ dữ kiện đã cho để tìm cái chưa biết, Vì những lí do đótôi luôn trăn trở làm thế nào để giúp học sinh làm tốt dạng toán chuyển độngđều? Và đó cũng là câu hỏi đặt ra cho không ít giáo viên Tiểu học
Trang 2Chính vì những khó khăn này nên trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiêncứu, tìm hiểu và đúc rút ra một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 làm tốtdạng toán chuyển động đều góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
lớp 5 Tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm tốt dạng toán chuyển động đều” để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo.
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm tìm hiểu nội dung, phương pháp giải toán chuyển động đều
- Tìm ra những khó khăn, vướng mắc mà giáo viên và học sinh thường mắcphải khi dạy dạng toán chuyển động đều Qua đó đưa ra những biện pháp khắcphục có hiệu quả cho quá trình dạy dạng toán này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến dạng toán chuyển động đều
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình dạng toán chuyển động đềucủa lớp 5
- Tìm hiểu một số tồn tại, vướng mắc của giáo viên và học sinh khi dạy dạngtoán chuyển động đều
- Nghiên cứu để đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm tốt dạngtoán chuyển động đều
4 Đối tượng nghiên cứu:
Dạy – học nội dung toán chuyển động đều
5 Phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 làm tốt dạng toán chuyển động đều
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu, giáo trình liên quan đến
dạng toán chuyển động đều
- Phương pháp điều tra: Trao đổi với đồng nghiệp về những khó khăn, sai
sót khi dạy dạng toán chuyển động đều
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tìm hiểu kết quả các lớp học sinh
trước, phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu để đưa ra những giải pháp khắcphục
7 Giả thiết khoa học:
Trang 3Hiện nay giáo viên các trường tiểu học đã và đang thực hiện nhiều biệnpháp hướng dẫn học sinh làm tốt dạng toán chuyển động đều góp phần nângcao chất lượng dạy học Song, trong việc tổ chức dạy và học vẫn còn nhiều bấtcập Nếu đề xuất các giải pháp phù hợp sẽ góp phần nâng cao hơn nữa chấtlượng dạy học nội dung toán chuyển động đều ở lớp 5.
Trang 4B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu:
1 Cơ sở lí luận liên quan đến dạy học dạng toán chuyển động đều.
Giải toán chuyển động đều góp phần rèn cho học sinh kĩ năng đổi đơn vị đothời gian, làm các bài toán về chuyển động, nhận biết các dạng toán chuyểnđộng giúp các em dần dần biết so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, biết cácthao tác tư duy cơ bản để hình thành những phẩm chất trí tuệ và năng lực sángtạo
Trong chương trình toán lớp 5, toán chuyển động được đưa vào 9 tiết, trong
đó có 1 tiết cung cấp khái niệm ban đầu về vận tốc, đơn vị đo vận tốc, biết tínhvân tốc của một chuyển động đều; 1 tiết giúp học sinh biết tính quãng đường
đi được của một chuyển động đều và 1 tiết giúp học sinh biết tính thời gian củamột chuyển động đều; 6 tiết luyện tập và luyện tập chung giúp học sinh biếttính vận tốc, quãng đường, thời gian, kết hợp với việc cung cấp và giúp họcsinh giải toán chuyển động ngược chiều trong cùng một thời gian, giải toánchuyển động cùng chiều Còn lại những bài toán đơn lẻ, nằm ở chương năm ôntập trong cấu trúc chương trình
Trong nội dung chương trình toán lớp 5 về chuyển động đều, học sinh đượchọc các dạng sau:
- Dạng 1: Các bài toán có một chuyển động tham gia
- Dạng 2: Các bài toán về hai chuyển động cùng chiều đuổi nhau
- Dạng 3: Các bài toán về hai chuyển động ngược chiều
- Dạng 4: Bài toán có vật chuyển động trên dòng nước
- Dạng 5: Một số bài toán chuyển động nâng cao.
2 Cơ sở thực tiễn: Tìm hiểu một số tồn tại, vướng mắc của học sinh và giáo
viên khi dạy dạng toán chuyển động đều
2.1 Tìm hiểu một số tồn tại, vướng mắc của giáo viên: Qua thực tế tôi giảng
dạy và qua dự giờ một số tiết của đồng nghiệp tôi nhận thấy:
- Khi hình thành kiến thức mới giáo viên còn lúng túng, giáo viên làmviệc nhiều, nói nhiều, việc tổ chức dạy học theo tinh thần lấy học sinh làmtrung tâm chưa có hiệu quả
- Chưa chú ý đến việc phân tích, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữacác dạng toán nên chưa khắc sâu được kiến thức cho học sinh
- Nhiều giờ dạy, giáo viên chưa có phương pháp phù hợp với các đốitượng học sinh nên việc truyền thụ kiến thức chưa gây được sự ham thích,hứng thú cho các em
2.2 Một số tồn tại, vướng mắc của học sinh:
- Học sinh chưa biết phân tích đề toán để làm rõ những điều kiện bài toán cho
và yêu cầu cần giải quyết
Trang 5- Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán sao cho khi nhìn vào tóm tắt họcsinh biết lựa chọn phương pháp giải cho phù hợp.
- Khi làm bài, nhiều em không đọc kĩ đề bài, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp tấpnên bỏ sót dữ kiện đề bài cho Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa cácđơn vị đo của các đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai
- Các em chưa nắm vững hệ thống công thức, chưa xác định được đề bài rathuộc dạng toán nào của chuyển động đều nên dẫn đến việc đưa ra cách làmbài toán sai
- Trong quá trình giải toán, học sinh còn sai lầm khi đổi đơn vị đo thời gian
- Học sinh còn hay nhầm lẫn giữa hai dạng bài tập “Bài toán chuyển độngngược chiều trong cùng một thời gian” và “Bài toán chuyển động cùng chiều”
II Nguyên nhân về những tồn tại, vướng mắc của giáo viên và học sinh khi dạy dạng toán chuyển động đều.
1 Đối với giáo viên:
- Phần lớn giáo viên do thói quen, chủ quan, thường hay xem nhẹ khâu phântích các dữ liệu bài toán Mặt khác, đôi khi còn lệ thuộc vào SGK thái quá nênrập khuôn một cách máy móc, dẫn đến học sinh hiểu bài chưa kĩ, giáo viêngiảng giải nhiều nhưng chưa khắc sâu được bài học
- Giáo viên chưa chủ động, sáng tạo trong dạy học, phương pháp chưa phùhợp với bài dạy, chưa phù hợp với các đối tượng học sinh nên việc truyền thụkiến thức chưa gây được sự ham thích, hứng thú cho học sinh khi học dạngtoán này
- Giáo viên chưa thực sự quan tâm hết các đối tượng học sinh trong lớp
2 Đối với học sinh
- Do đặc điểm tâm sinh lý học sinh, ở lứa tuổi này các em còn mải chơi, thiếutập trung, vốn sống của các em chưa nhiều và lại rất mau quên
- Do thời gian phân bố cho loại toán chuyển động đều ít nên học sinh khôngđược củng cố, rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâu sắc,việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, óc sángtạo cho học sinh còn hạn chế
- Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng bài
và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có dẫn đến học sinh cònlúng túng, chán nản khi gặp loại toán này
- Trên lớp chưa chú ý nghe giảng, đôi khi những gì chưa hiểu không dám đưa
ra thắc mắc, nên dẫn đến không hiểu bài để làm
- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nênchóng quên các dạng của bài toán
Trang 6- Nhiều học sinh vận dụng máy móc bài tập mẫu mà không hiểu bản chất củabài toán nên khi không có bài tập mẫu hoặc đề bài ra khác một tí là học sinhkhông làm được.
III Kết quả khảo sát
Từ những vấn đề nêu trên, tôi đã khảo sát chất lượng học sinh của lớp5A ngay sau khi học sinh được học về kiến thức giải bài toán chuyển độngđều
Đề bài như sau:
Câu 1: (4 điểm ).
Một người đi xe đạp trong 80 phút với vận tốc 12,6 km/giờ Tính quãngđường người đó đi được
Câu 2: (6 điểm ).
Quãng đường AB dài 170 km Hai ô tô khởi hành cùng một lúc, một xe
đi từ A với vận tốc 45 km/giờ, một xe đi từ B đến A với vận tốc 40 km/giờ Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ hai ô tô gặp nhau?
Qua khảo sát tôi nhận thấy tình hình chất lượng giải toán chuyển độngđều của lớp như sau:
Kĩ năng tínhtoán sai, nhầm Giải toán sai
IV Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt dạng toán chuyển động đều.
Để khắc phục được tình trạng trên và để giúp học sinh làm tốt dạng toánchuyển động đều nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn toán đồng thời tạođược hứng thú học tập cho học sinh tôi đã đưa ra các biện pháp sau:
* Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải toán
Trong quá trình giảng dạy giáo viên không nhất thiết bắt buộc học sinhphải nhớ đây là dạng toán nào nhưng phải xác định được bài toán này thuộcdạng toán nào đã học? Điều chủ yếu là giáo viên phân tích kĩ từng mẫu bàitoán, biết lập luận một cách logic để tìm ra cách giải nhanh và đúng Học sinhphải biết xác định đâu là giả thiết, đâu là yêu cầu của bài toán, từ đó tìm racách giải tương ứng của mỗi dạng toán
Trang 7Từ cơ sở trên, tôi có phương hướng giải quyết vấn đề giúp học sinh hìnhthành kĩ năng, kĩ xảo trong việc giải toán theo các bước như sau:
+ Bước 1: Đọc kĩ đề toán, xác định bài toán cho biết gì và bài toán hỏi
gì?
Mỗi đề toán bao giờ cũng đều có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất lànhững điều đã cho, bộ phận thứ hai là cái phải tìm Muốn giải bất kì bài toánnào học sinh cũng cần phải xác định đúng hai bộ phận đó
Chúng ta cần tập trung vào những từ quan trọng của đề toán, từ nàochưa hiểu thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó
Học sinh cũng cần phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán,những gì không thuộc về bản chất của đề toán để hướng sự chú ý của mình vàonhững chỗ cần thiết
+ Bước 2: Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ, kí hiệu
ngắn gọn Thông qua đó để thiết lập mối liên quan cái đã cho và cái cần phảitìm
+ Bước 3: Phân tích các mối quan hệ giữa các “dữ kiện” đã cho với “kết
luận” để tìm ra cách giải bài toán Kết quả các bước này là xác định một trình
tự để giải bài toán
Thực chất của việc giải toán là bắc những chiếc cầu từ cái đã cho và cáiphải tìm Có nhiều phương pháp để để bắc được những chiếc cầu đó, và đóchính là quá trình phân tích bài toán Thông thường ở tiểu học thường dùngcác cách sau:
Suy nghĩ theo đường lối phân tích: Tập trung suy nghĩ vào câu hỏi củabài toán, nghĩ xem muốn trả lời được câu hỏi của bài toán thì ta phải biếtnhững gì và phải làm những phép tính gì? Trong những điều cần biết đó cáinào đã cho sẵn trong đề toán, cái nào phải tìm? Muốn tìm được cái này thì taphải biết những gì và làm phép tính gì? v v Cứ như thế ta suy nghĩ từ câu trảlời của bài toán trở về các điều đã cho của bài toán Đây là cách hay dùng nhất
Cũng có thể suy nghĩ xem từ các điều đã cho trong từng bài toán ta cóthể suy ra điều gì, tính ngay được cái gì? Từ những cái đó có thể suy ra hoặctính được điều gì giúp ích cho việc giải bài toán không? Như thế ta suy luậndần dần: Từ những điều đã cho đến câu hỏi của bài toán
Ngoài ra trong một số bài toán chúng ta phải kết hợp cả hai cách nói trên
để giải quyết bài toán
+ Bước 4: Lần lượt thực hiện các phép tính theo trình tự giải đã có để đi
tới đáp số
Sau quá trình nghĩ tìm cách giải và thiết lập được trình tự giải bài toán,chúng ta thực hiện các phép tính và đi đến kết quả Mỗi bài giải đều có haiphần: Các câu lời giải và các phép tính Việc viết câu lời giải phải ngắn gọn và
Trang 8đúng yêu cầu nội dung của bài toán và ứng với một câu lời giải là một phéptính kèm theo.
Sau khi giải xong một phép tính hay một bài toán đều phải tiến hànhcông việc thử lại xem phép tính hay đáp số của bài toán đó đã đúng hay chưa
Đối với những bài toán quá đơn giản thì có thể bỏ bớt một vài bướchoặc một vài hoạt động trong các bước trên
Tuy nhiên với các em học sinh khá, giỏi thì khuyến khích cho các emgiải bài toán bằng nhiều cách Phân tích, so sánh tìm ra cách giải hay nhất, hợp
lí nhất Đây là cách rất tốt để học sinh tự rèn luyện cho mình năng lực suy nghĩđộc lập, linh hoạt, trí thông minh và óc sáng tạo
Ví dụ: Với bài toán ( Bài tập 2/141 Toán 5 ).
Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 12,6 km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó?
* Biện pháp 2: Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo cho học sinh.
Tôi nhận thấy một sai lầm mà nhiều học sinh mắc phải khi giải toánchuyển động đều đó là các em chưa nắm vững cách đổi đơn vị đo thời gian.Tôicung cấp cho học sinh như sau:
* Cách đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn :
Tôi hướng dẫn cho học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mốiquan hệ giữa các đơn vị đo cơ bản
1 ngày = 24 giờ
1 giờ = 60 phút
1 phút = 60 giây
Hướng dẫn học sinh nắm được quy ước, muốn đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn
vị lớn ta lấy giá trị của đơn vị nhỏ chia cho đơn vị lớn tương ứng.
Ví dụ: 30 phút = giờ.
Hướng dẫn học sinh cách giải như sau:
- Cho học sinh xác định đơn vị nhỏ của bài tập là phút và có giá trị là 30
Trang 9* Cách đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ :
Tương tự như đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn
Hướng dẫn học sinh nắm được quy ước, muốn đổi từ đơn vị lớn ra đơn
vị nhỏ ta lấy giá trị của đơn vị lớn nhân với đơn vị nhỏ tương ứng.
Ví dụ: 2 ngày = giờ.
Hướng dẫn học sinh cách giải như sau:
- Cho học sinh xác định đơn vị lớn của bài tập là ngày và có giá trị là 2
- Đơn vị nhỏ là giờ
1 ngày = 24 giờ
2 24 = 48 giờ
Vậy 2 ngày = 48 giờ
* Cách đổi từ km/giờ sang km/phút, sang m/phút.
Hướng dẫn học sinh nắm được quy ước:
+ Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi chia cho 60 + Muốn đổi từ km/phút sang m/phút ta lấy số phải đổi nhân với 1000.
Ví dụ: 180 km/giờ = km/phút = m/phút.
Ta thực hiện như sau:
Bước 1: Thực hiện đổi km/giờ sang km/phút.
- Cho học sinh xác định đơn vị phải đổi là đơn vị nào?
( km/giờ sang km/phút) ( 1 giờ = 60 phút )
- Số phải đổi là số nào? ( 180 )
180 : 60 = 3
Vậy 180 km/giờ = 3 km/phút.
Bước 2: Thực hiện đổi km/phút sang m/phút.
- Cho học sinh xác định đơn vị phải đổi tiếp theo là đơn vị nào?
( km/phút sang m/phút) ( 1 km = 1 000 m )
- Số phải đổi là số nào? ( 2 )
3 1 000 = 3 000Vậy 3 km/phút = 3000 m/phút
Vậy: 180 km/giờ = 3 km/phút = 3000 m/phút.
* Cách đổi từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ.
Ta tiến hành ngược với cách đổi trên.
* Biện pháp 3: Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản, làm rõ bản
chất mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian.
Trang 10Cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản: (yêu cầu học sinh phải ghi
nhớ một cách thành thạo)
1 Các đại lượng thường gặp trong chuyển động đều:
Quãng đường, kí hiệu là s Đơn vị đo thường dùng là mét (m) hoặc ki
-lô - mét (km)
- Thời gian, kí hiệu là t Đơn vị đo thường dùng là giờ hoặc phút
- Vận tốc, kí hiệu là v Đơn vị đo thường dùng là km/giờ hoặc m/phúthoặc km/phút
2 Những công thức thường dùng trong tính toán:
- Quãng đường = vận tốc x thời gian ( s = v x t)
- Vận tốc = quãng đường : thời gian ( v = s : t)
- Thời gian = quãng đường : vận tốc ( t = s : v)
* Trong quá trình dạy học hình thành quy tắc, công thức tính tôi đặc biếtchú ý học sinh những vấn đề sau để học sinh tránh được những nhầm lẫn khilàm bài
- Đơn vị vận tốc phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và đơn vị thời gian
Giúp HS nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng: Vận tốc, quãng
đường, thời gian:
- Với cùng vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian (Quãng đườngcàng dài thì thời gian đi càng lâu)
- Trong cùng thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc (Quãng đườngcàng dài thì vận tốc càng lớn)
- Trên cùng quãng đường thì vận tốc và thời gian là hai đại lượng tỉ lệ nghịch(Thời gian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian dài thì vận tốc chậm)
Trong nội dung bài mới của toán chuyển động đều, khái niệm vận tốc làmột khái niệm khó hiểu, trừu tượng đối với học sinh nên khi dạy bài này tôiđặc biệt chú ý Để hiểu rõ nắm chắc bản chất của vận tốc, bằng các ví dụ cụ
thể sách giáo khoa, giúp học sinh hiểu: Nếu đem chia quãng đường đi được
v m/phút
V km/giờ
t giờ t phút
s km s m
Trang 11cho thời gian đi quãng đường đó thì sẽ được vận tốc trung bình của một chuyển động đều Hay gọi tắt là vận tốc của một chuyển động đều.
Vận tốc = Quãng đường : thời gian
Để học sinh hiểu rõ ý nghĩa của vận tốc là chỉ rõ sự chuyển động nhanh
hay chậm của một chuyển động đều tôi đã lấy 1 ví dụ để hướng dẫn học sinh
như sau:
Ví dụ: Hai người xuất phát một lúc từ A đến B Mỗi giờ người thứ nhất
đi được 25 km, người thứ hai đi được 20 km Hỏi ai đến B trước?
Bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Người thứ nhất
Người thứ hai
Từ sơ đồ học sinh dễ dàng nhận thấy người đến B trước là người đi
nhanh hơn Qua đó học sinh hiểu rõ bản chất “ Vận tốc chính là quãng đường
đi được trong một đơn vị thời gian”.
* Biện pháp 4: Phân dạng các bài toán chuyển động đều.
Dạng 1 : Các bài toán có một chuyển động tham gia.
Loại 1: Những bài toán áp dụng ngay công thức tính quãng đường, vận tốc, thời gian.
- Đây là dạng toán đơn giản nhất Học sinh chỉ cần áp dụng c«ng thøctính quãng đường, vận tốc, thời gian ( v = s : t, t = s : v, s = v t ) làtính được kết quả
Ví dụ 1: Bài tập 1/ 139 Toán 5.
Một người đi xe máy đi trong 3 giờ được 105 km Tính vận tốc của người
đi xe máy
Với đề bài trên tôi hướng dẫn cho học sinh như sau:
* Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán
* Hướng dẫn cách làm:
+ Bài toán cho biết gì ? Bài toán yêu cầu tính gì ?
+ Muốn tính vận tốc ta làm thế nào ?
+ Tính vận tốc theo đơn vị nào ?
* Gọi HS lên trình bày bài giải
Bài
giải
Vận tốc của người đi xe máy là:
105 : 3 = 35 (km/giờ) Đáp số : 35 km/giờ
Trang 12- Ở ví dụ 2 cũng tương tự ví dụ 1 Nhưng giáo viên cần lưu ý hướng học sinh chú ý đến đơn vị của thời gian là phút chưa đồng nhất với đơn vị của vận tốc làkm/giờ Vì vậy phải đổi:
Loại 2: Các bài toán chuyển động cần phải tính thêm thời gian chuyển
động trên đường
Ví dụ 1: Bài tập 2/145 Toán 5.
Một ca nô đi từ A đến B với vận tốc 12km/giờ Ca nô khởi hành lúc 7 giờ
30 phút và đến B lúc 11 giờ 15 phút Tính độ dài quãng đường AB
Với bài toán trên tôi tiến hành hướng dẫn học sinh thông qua các bước sau:
* Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán.
* Phân tích đề toán.
Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?
Muốn tính quãng đường AB ta làm thế nào ?
( Vận tốc x thời gian )
Muốn tính thời gian ca nô đi ta làm thế nào ?
( Thời gian đến - thời gian xuất phát)
* Giúp học sinh nắm rõ quá trình phân tích bài toán bằng sơ đồ sau:
Quã
ng đường AB
Vận tốc
Thời gian trên đường
Thời gian đến nơiThời
gian xuất phát
Quãng đường AB
Thời gian xuất phát Thời gian đến nơi
Trang 13Từ sơ đồ phân tích trên học sinh có thể tổng hợp tìm cách giải.
Bài giải
Thời gian ca nô đi là:
11 giờ 15 phút - 7 giờ 30 phút = 3 giờ 45 phút
3 giờ 45 phút = 3 43 giờ = 154 giờQuãng đường AB dài là:
12 x 154 = 45 (km) Đáp số : 45 km
* Lưu ý: Khi giải bài toán này cần hướng dẫn học sinh cách tính thời gian đi
trên đường của ca nô là:
Thời gian ca nô đi = Thời gian đến nơi - Thời gian xuất phát
Ví dụ 2: Bài 4/ trang 166 Toán 5.
Một ô tô đi từ Hà Nội lúc 6 giờ 15 phút và đến Hải Phòng 8 giờ 56 phút Giữa đường ô tô nghỉ 25 phút Vận tốc của ô tô là 45 km/giờ Tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng?
Với bài toán này cách giải cũng tiến hành tương tự ví dụ 1 Tôi hướngdẫn học sinh như sau:
* Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán.
* Phân tích bài toán
Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?
Để tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng ta cần biết yếu tố nào ?
( Vận tốc và thời gian xe ô tô đi trên đường )
Để tính thời gian đi trên đường ta cần biết yếu tố nào ?
( Thời gian xuất phát, thời gian đến nơi, thời gian nghỉ )
Phân tích bài toán bằng sơ đồ
Từ sơ đồ phân tích, học sinh lập sơ đồ tổng hợp để tìm cách giải
Quãng đường
Hà Nội – Hả
i P hòng
Vận t
ốc ô tôThời
gian trên đường
Thời gian đến nơiThời
gian xuất phát
Thời gian nghỉ
Vận tốc ô tô Thời gian đi trên đường
Thời gian xuất phát Thời gian đến
nơi
Thời gian nghỉQuãng đường Hà Nội- Hải phòng
pHải Phòng
Trang 14Bài giải
Thời gian ô tô đi trên đường là:
8giờ 56phút - 6giờ 15phút - 25phút = 2giờ 16phút
2giờ 16 phút 1534 giờQuãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng là:
45 x 15
Ví dụ1: Trên quãng đường AB nếu đi xe máy với vận tốc 36 km/giờ thì
hết 3 giờ Hỏi nếu đi xe đạp với vận tốc 12km/giờ thì hết bao nhiêu thời gian? Với bài toán trên, học sinh có thể giải theo 2 cách khác nhau
Cách 1: Theo các bước.
+ Tính quãng đường AB.
+ Tính thời gian xe đạp đi hết quãng đường.
Cách 2: Tôi hướng dẫn học sinh dựa vào mối quan hệ giữa vận tốc và
thời gian khi đi trên cùng một quãng đường Nếu vận tốc nhanh thì thời gian đi hết ít, ngược lại vận tốc chậm thì thời gian đi hết nhiều Vận tốc giảm đi baonhiêu lần thì thời gian tăng lên bấy nhiêu lần
Bài
giải
Vận tốc xe máy gấp vận tốc xe đạp số lần là:
36 : 12 = 3 ( lần )Thời gian xe đạp đi là:
3 x 3 = 9 ( giờ )Đáp số : 9 giờ
Trang 15* Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán.
* Hướng dẫn học sinh cách làm:
Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?
Muốn tính vận tốc của ô tô ta làm thế nào ?
( Quãng đường : thời gian của ô tô đi )
Muốn tính vân tốc của xe máy ta làm thế nào
( Quãng đường : thời gian của xe máy đi )
Lưu ý học sinh muốn tính vận tốc của xe máy ta phải đổi 4 giờ 30 phút về giờ (4 giờ 30 phút = 4,5 giờ)
Muốn tính mỗi giờ ô tô đi nhiều hơn xe máy bao nhiêu ki -lô - mét
135 :4,5 = 30 ( km/giờ )Mỗi giờ ô tô đi nhiều hơn xe máy số ki - lô - mét là:
45 – 30 = 15 (km)Đáp số: 15km
Dạng 2: Các bài toán về hai chuyển động cùng chiều đuổi nhau.
Với dạng này tôi cung cấp cho học sinh một số kiến thức:
Hai động tử chuyển động cùng chiều trên cùng một quãng đường và khởi hành cùng một lúc để đuổi kịp nhau thì:
Hiệu vận tốc = Vận tốc 1 - Vận tốc 2 ( Vận tốc 1 > Vận tốc 2 ) Thời gian đuổi kịp = Khoảng cách lúc đầu : Hiệu vận tốc
Khoảng cách lúc đầu = Thời gian đuổi kịp Hiệu vận tốc.
Hiệu vận tốc = Khoảng cách lúc đầu : thời gian đuổi kịp
Ví dụ 1: Bài tập 1b/146 Toán 5.
Một người đi xe đạp từ B đến C với vận tốc 12km/giờ, cùng lúc đó mộtngười đi xe máy từ A cách B 72km với vận tốc 36km/giờ và đuổi theo xeđạp Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp?
Với bài toán trên, tôi hướng dẫn học sinh cách giải thông qua các bước
* Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán.
* Hướng dẫn học sinh cách làm:
Bài toán cho biết gì ? Hỏi gì ?
Bài toán thuộc dạng nào ?
( Hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi nhau )
Vẽ hình để học sinh dễ hình dung nội dung bài toán
72km
12km/giờ 36km/giờ