Tuy nhiên, để hình thành và phát triển công nghiệp hỗ trợ cần phải thực hiện được những việc sau: i một là nghiên cứu quy hoạch ngành công nghiệp tổng thể, từ đó xác định ngành công nghi
Trang 2CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM
Thực hiện: Hoàng Văn Việt
Khoa: Kinh Tế
TÓM TẮT
Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà lập chính sách Có nhiều bài viết về các vấn đề thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Nghiên cứu này tiếp cận dưới góc độ phân tích khung khái niệm và các lý thuyết liên quan để thấy được vai trò của công nghiệp hỗ trợ và xác định hướng phát triển cho Kết quả phân tích cho thấy công nghiệp hỗ trợ là một nhân tố đóng vai trò quyết định hiệu quả hoạt động, khả năng phát triển và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành, địa phương và quốc gia Tuy nhiên, để hình thành và phát triển công nghiệp hỗ trợ cần phải thực hiện được những việc sau: (i) một là nghiên cứu quy hoạch ngành công nghiệp tổng thể, từ đó xác định ngành công nghiệp mũi nhọn với lợi thế cạnh tranh cao; (ii) hai là phát triển các doanh nghiệp trung tâm từ đó xây dựng các mối liên kết, mạng lưới thông tin và cơ
sở dữ liệu; (iii) ba là tạo môi trường pháp lý tốt với chính sách hỗ trợ hiệu quả; (iv) và cuối cùng cần phải có kế hoạch hành động cụ thể
Từ khóa: công nghiệp hỗ trợ, lợi thế kinh tế nhờ quy mô, cụm ngành, năng lực cạnh tranh
GIỚI THIỆU
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa với mục tiêu hình thành những ngành công nghiệp hiện đại có năng lực cạnh tranh cao không chỉ tại thị trường trong nước mà trên thị trường thế giới Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi rất nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự hình thành và phát triển công nghiệp hỗ trợ chính là chìa khóa quan trọng Có thể giải thích vai trò quan trọng của công nghiệp hỗ trợ từ những kinh nghiệm thực tế và từ những lý thuyết có liên quan Tại Nhật Bản, nhiều thương hiệu nổi tiếng như Panasonic,
Trang 3Honda cũng phát triển thương hiệu của mình nhờ việc phát triển từ ngành công nghiệp hỗ trợ bóng điện xoay, động cơ xe đạp điện Về mặt lý thuyết, quy luật lợi ích kinh tế nhờ quy
mô cho rằng khi các doanh nghiệp chuyên môn hóa tập trung sản xuất một hoặc một số sản phẩm với quy mô lớn thì giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống (Chandler, 1990) Vì vậy, trên thực tế các tập đoàn lớn trên thế giới chỉ tập trung vào những công đoạn mà mình tạo ra giá trị cao nhất với quy mô lớn, còn những công đoạn khác sẽ mua từ bên ngoài là ngành công nghiệp hỗ trợ Hơn nữa, theo Porter (1990) muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia hay một ngành trên thị trường quốc tế thì cần phải có công nghiệp hỗ trợ có khả năng cạnh tranh quốc tế Đồng thời, công nghiệp hỗ trợ là một bộ phận trong cụm ngành hay chuỗi giá trị, nó đóng vai trò quyết định tới sự thành công và phát triển của các doanh nghiệp trung tâm cũng như cả cụm ngành hay chuỗi giá trị
Nghiên cứu này thực hiện nhằm làm rõ khung khái niệm và phạm vi của ngành công nghiệp
hỗ trợ Đồng thời, phân tích những lý thuyết liên quan nhằm làm rõ nguyên nhân tồn tại, vai trò và tác động của công nghiệp hỗ trợ tới sự phát triển của ngành và quốc gia Từ đó nhằm đưa ra các kiến nghị phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và khung kế hoạch hành động
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Phân tích khái niệm
Công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên, vẫn còn cách hiểu khác nhau và thiếu thống nhất Trên thực tế, cụm từ ngành công nghiệp hỗ trợ được sử dụng đầu tiên bởi các doanh nghiệp Nhật Bản để nói về các doanh nghiệp nhỏ cung cấp linh kiện, phụ kiện cho mình trước khi trở thành một khái niệm chính thức Vào giữa những năm 1980 khái niệm này được biết đến nhiều hơn khi Chính phủ Nhật Bản sử dụng trong các văn bản chính thức, đồng thời cũng bắt đầu phổ biến tại các nước Châu Á (Thuy, 2007) Tại Việt Nam, trong giai đoạn đầu mở cửa những năm
1990, các doanh nghiệp nước ngoài cho rằng ngành công nghiệp hỗ trợ không tồn tại hoặc còn rất ban sơ Tuy nhiên, khảo sát của tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) năm 2004 cho thấy quan điểm này không hoàn toàn đúng, và ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã hình thành và phát triển (Ichikawa, 2005) Trong một số trường hợp, công nghiệp
Trang 4hỗ trợ còn được sử dụng với tên khác là công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là giới nghiên cứu học thuật (ví dụ: Trần Văn Thọ, 2006) Và hiện nay, ngành công nghiệp hỗ trợ đang nhận được sự quan tâm của nhà nước, các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu vì vai trò quan trọng và sự phù hợp của nó cho mô hình phát triển công nghiệp Việt Nam Tác giả sẽ phân tích các khái niệm khác nhau từ đó đưa ra một đề xuất về định nghĩa và phạm vi riêng về công nghiệp hỗ trợ
Theo quyết định Số 12/2011/QĐ-TTg thì khái niệm về công nghiệp hỗ trợ và sản phẩm
công nghiệp hỗ trợ được hiểu như sau:
Công nghiệp hỗ trợ: là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ liệu, linh kiện, phụ
kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng
Sản phẩm hỗ trợ: là các sản phẩm vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm
sản xuất tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh thuộc các ngành cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt - may, da - giầy và công nghiệp công nghệ cao
Như vậy, khái niệm của chính phủ Việt Nam đi khá chi tiết vào các loại sản phẩm và ngành hàng của công nghiệp hỗ trợ là gì Tuy nhiên, trong đó lại thiếu đi nhiều ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam ví dụ như chế biến nông sản (bao gồm cả thủy hải sản), sản xuất máy móc và vật tư nông nghiệp, sản xuất xe máy, đóng tàu Theo phụ lục đính kèm về danh mục những sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển bao gồm: ngành dệt - may; ngành da - giầy; ngành điện tử - tin học; ngành lắp ráp ô tô; ngành cơ khí chế tạo; và ngành công nghiệp công nghệ cao
Một khái niệm khác ở Việt Nam khá phổ biến trong cuốn sách “Biến động kinh tế Đông Á
và con đường công nghiệp hóa Việt nam” của GS Trần Văn Thọ (2006): “Công nghiệp phụ trợ là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian,
Trang 5những nguyên liệu sơ chế” Để phạm vi rõ ràng hơn, thì có thể giới hạn sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ được sản xuất với quy mô nhỏ bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Sau đây, tác giả sẽ phân tích một số khái niệm khác nhau về công nghiệp hỗ trợ trên thế giới Theo Bộ công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI, nay là METI) (1985) thì công nghiệp hỗ trợ đề cập tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa có đóng góp làm gia tăng sức mạnh cấu trúc ngành công nghiệp tại các nước Châu Á trong trung và dài hạn (Trích bởi Thuy, 2007) Mục đích của tổ chức này vào thời điểm đó là thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước Asean
Trên góc độ ứng dụng, tùy theo mục đích của nhà lập chính sách mà có sự điều chỉnh về khái niệm của công nghiệp hỗ trợ Tại Thái Lan định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là các doanh nghiệp sản xuất các bộ phận, các thiết bị để sử dụng cho khâu lắp ráp cuối cùng của ngành sản xuất ô tô, máy móc và ngành điện tử (Ratana, 1999) Ngân hàng phát triển hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JBIC, 2005) đã mở rộng khái niệm công nghiệp hỗ trợ là những ngành cung cấp sản phẩm cần thiết như nguyên vật liệu thô, các bộ phận và hàng hóa vốn cho các ngành lắp ráp (Trích bởi Thuy, 2007) Trong khi đó, Bộ năng lượng Mỹ định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là những ngành cung cấp nguyên liệu và quy trình đầu vào để hình thành và sản xuất các sản phẩm trước khi chúng được bán cho ngành sản xuất hàng hóa tiêu dùng cuối cùng (DOE, 2005) Có thể thấy khái niệm của Thái Lan cũng đi cụ thể vào một số ngành công nghiệp nhất định, trong khi đó khái niệm của JBIC và DOE là bao chùm chung ngành công nghiệp, và khái niệm của JBIC còn bao gồm cả hàng hóa vốn
Hợp đồng thầu phụ cũng là khái niệm và giao dịch khác giữa các doanh nghiệp với nhau
khá giống với công nghiệp hỗ trợ Theo định nghĩa của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), hợp đồng thầu phụ là một thỏa thuận giữa hai bên, một bên là thầu chính và một bên là thầu phụ, thầu chính giao phó lại cho một hoặc nhiều thầu phụ sản xuất các bộ phận, linh kiện, biết bị, bộ phận phụ hay các dịch vụ cần thiết để sản xuất hàng hóa cuối cùng Thầu phụ sẽ thực hiện công việc đúng theo yêu cầu chi tiết của thầu chính (Rendon, 2000) Như vậy theo phân tích của UNIDO thì hợp đồng thầu phụ khác với công nghiệp hỗ trợ là nó chỉ tập trung vào những cam kết và mối quan hệ lâu dài và không bao
Trang 6gồm các hợp đồng gia công Tại Nhật Bản, quan niệm về hợp đồng phụ đã thay đổi nhiều theo thời gian Trong giai đoạn đầu, hợp đồng thầu phụ được xem là cách mà các công ty lớn khai thác các doanh nghiệp nhỏ dựa vào vị thế thống trị của mình trong giao dịch để đạt lợi ích cao hơn, chẳng hạn như ép giá thấp hay thanh toán chậm (Thuy, 2007) Tuy nhiên, sau những năm 1980 vị thế của các nhà thầu phụ đã thay đổi, họ được xem là một thành phần quan trọng trong hệ thống kinh tế Nhật Bản nhờ vào việc nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản xuất trong việc hợp tác với các nhà thầu phụ khác và thành công trong việc chia sẻ rủi ro (Kimura, 2001) Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, hợp đồng thầu phụ dần mất đi lợi thế về sự ổn định lâu dài và khả năng thích nghi nhanh với sự thay đổi của các công ty lớn, gia tăng áp lực cạnh tranh, giới hạn khả năng thương lượng và giảm lợi nhuận của các nhà thầu phụ so với các nhà cung cấp độc lập (Kimura, 2001; Bala, 2006) Như vậy, các nhà thầu phụ có xu hướng phát triển dần thành các nhà cung cấp độc lập, với đặc điểm gần giống như các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (Ohno, 2007; Bala, 2008) Hiện nay, để hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển, UNIDO đã triển khai mở các Trung tâm lập quan hệ đối tác và phát triển thầu phụ công nghiệp Tại Việt Nam, trung tâm ra đời vào ngày 11 tháng 5 năm 2011 Đây là nơi kết nối các doanh nghiệp thầu phụ, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước với các công ty, tập đoàn trên thế giới Việt Nam có thể kết hợp hoạt động của công nghiệp hỗ trợ với hoạt động của trung tâm này để mở rộng cơ hội của các doanh nghiệp
Một khái niệm quan trọng và phổ biến khác về giao dịch giữa doanh nghiệp trung tâm và
doanh nghiệp hỗ trợ là Hợp đồng gia công Theo Grossman và Helpman (2005) thì hợp
đồng gia công không chỉ đơn thuần là việc mua nguyên vật liệu thô và hàng hóa trung gian đạt tiêu chuẩn mà còn có nghĩa là việc các doanh nghiệp tìm kiếm và thiết lập một mối quan
hệ song phương với một đối tác, đồng thời có sự đầu tư cho mối quan hệ đó để đối tác có thể sản xuất ra hàng hàng hóa và dịch vụ phù hợp với những yêu cầu cụ thể của công ty Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng gia công rất rộng và nhiều khi không thể phân định được rõ ràng, và nhiều người còn cho rằng hợp đồng gia công cũng có thể được xem là hợp đồng thầu phụ (FSC Guide Note, 2007) Theo điều 128, Mục 7, trong Luật thương mại Việt Nam
thì “Gia công trong thương mại là hành vi thương mại, theo đó bên nhận gia công thực
Trang 7hiện việc gia công hàng hoá theo yêu cầu, bằng nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công
để hưởng tiền gia công; bên đặt gia công nhận hàng hoá đã gia công để kinh doanh thương mại và phải trả tiền gia công cho bên nhận gia công”
Thuyết lợi thế so sánh
Lý thuyết lợi thế so sánh do David Ricardo đưa ra năm 1897 trong cuốn “Những nguyên tắc kinh tế chính trị và thuế” Nội dung cơ bản của học thuyết này là dù một quốc gia có thể có lợi thế tuyệt đối về nhiều sản phẩm (giả định là tất cả các sản phẩm) nhưng họ chỉ nên tập trung chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế cao nhất, còn những sản phẩm có lợi thế thấp hơn thì nên nhập khẩu Quy luật được áp dụng nhiều trong thực tiễn và đến nay vẫn còn giá trị dù được điều chỉnh hoàn thiện hơn (Trích bởi Hoàng Thị Chỉnh và cộng sự, 2010) Áp dụng quy luật lợi thế so sánh tại doanh nghiệp, như vậy các doanh nghiệp nên tập trung vào những công đoạn, bộ phận mà họ có lợi thế cao nhất để tạo ra giá trị cao nhất còn những công đoạn khác thì mua ngoài từ các doanh nghiệp hỗ trợ Có thể nói đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp chuyên môn hóa sâu vào mộ số bộ phận, công đoạn quan trọng; thậm chí một số thương hiệu lớn thế giới chỉ thực hiện công đoạn lắp ráp hoặc chỉ nghiên cứu, thiết kế và làm thị trường Như vậy, các tập đoàn lớn trên thế giới hoặc khi đầu tư vào Việt Nam cần phải tìm kiếm những doanh nghiệp cung cấp một hoặc nhiều hàng hóa trung gian khác nhau, thậm chí hiện nay có rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện gia công sản xuất toàn bộ sản phẩm cho các thương hiệu nước ngoài
Lợi thế kinh tế nhờ quy mô
Theo Chandler (1990) thì khi một doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa sẽ giúp cho chi phí trung bình dài hạn giảm xuống Điều này có được là nhờ khi quy mô tăng: (i) chi phí cố định hay chi phí khấu hao trung bình giảm; (ii) làm chuyên môn hóa cao và làm gia tăng năng suất; (iii) giúp doanh nghiệp có thể đầu tư máy móc hiện đại, nghiên cứu phát triển và đầu tư phát triển thương hiệu, thị phần Quy luật này có điểm tương đồng với lợi thế
so sánh, tuy nhiên nó phân tích và lý giải cụ thể hơn lợi ích của việc tăng quy mô sản xuất
và chuyên môn hóa ở nhiều góc độ khác nhau Như vậy, để gia tăng năng suất và giảm giá
Trang 8thành, các doanh nghiệp cần tập trung chuyên môn hóa sản xuất một hoặc một số công đoạn của sản phẩm và đầu tư nghiên cứu phát triển công đoạn đó, khâu còn lại có thể mua ngoài
Phi kinh tế do quy mô và chi phí cơ hội gia tăng
Khi các tập đoàn lớn trên thế giới gia tăng sản xuất với quy mô quá lớn và đã tận dụng tối
đa nguồn lực trong nước thì họ bị hạn chế bởi quy luật Phi kinh tế do quy mô (Canback, 2004) hay quy luật Chi phí cơ hội gia tăng (Marshall, 1937, trích bởi Nguyễn Phú Tụ, 2012) Cụ thể, khi một doanh nghiệp có quy mô quá lớn thì những chi phí quản lý, chi phí giao dịch tăng cao và không hiệu quả, hơn nữa sự tương tác giữa các thành viên trong công
ty kém hiệu quả Với quy luật chi phí cơ hội tăng, một doanh nghiệp khi mở rộng sản xuất trong nước đến một mức nào đó sẽ phải sử dụng những nguồn lực có chi phí cao hơn Chính
vì vậy họ sẽ phải dịch chuyển sản xuất của mình ra nước ngoài hay tìm kiếm các nhà cung cấp hàng hóa trung gian đầu vào khác
Lợi thế cạnh tranh quốc gia và ngành
Theo Porter (1990) thì khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành duy nhất hợp lý và có
ý nghĩa là năng suất của lao động và vốn Đó là giá trị của hàng hóa được sản xuất ra bởi
một đơn vị lao động hay vốn Như vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành hay một quốc gia chính là việc làm cho năng suất lao động của ngành đó, quốc gia đó gia tăng
lên Và việc các doanh nghiệp thành lập công ty con ở nước ngoài cũng có thể làm gia tăng
năng suất quốc gia miễn là nó liên quan tới việc chuyển các công việc kém cạnh tranh sang các quốc gia khác hoặc nhằm hỗ trợ việc thâm nhập sâu vào thị trường đó Ví dụ tiêu biểu
là Nhật Bản chuyển các hoạt động lắp ráp những sản phẩm đơn giản, ban đầu sang Hàn Quốc, Đài Loan, sau đó là Hồng Kông và bây giờ là Malaysia và Thái Lan (Porter, tiếng Việt 2008) Cũng theo Porter, thì nếu một nền kinh tế muốn phát triển và chiếm vị thế quốc
tế, thì chắc chắn phải có sự hy sinh của một số phân đoạn và một vài ngành công nghiệp nào
đó Nguyên nhân là vì nguồn lực quốc gia có giới hạn và sự phát triển mạnh của ngành này
sẽ gây áp lực lớn đối với ngành khác ví dụ như vốn, lao động hay tỷ giá Do đó việc xác
định ngành phát triển mũi nhọn của mỗi quốc gia là rất cần thiết
Trang 9Trong cuốn sách Lợi thế cạnh tranh quốc gia (1990), sau khi nghiên cứu nhiều mô hình
công nghiệp thành công và thất bại trên thế giới, Michael Porter cho rằng có bốn nhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay một ngành, các nhân
tố đó có mối quan hệ qua lại với nhau và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi thế cạnh tranh Trong
đó bao gồm: (i) một là điều kiện cầu; (ii) hai là điều kiện cung; (ii) ba là chiến lược, cấu trúc
và đối thủ của công ty; (iv) và bốn là các ngành công nghiệp hỗ trợ & liên quan Ngoài ra có hai nhân tố tác động gián tiếp tới lợi thế cạnh tranh quốc gia và ngành là yếu tố Chính phủ
và yếu tố Ngẫu nhiên Như vậy, một trong bốn nhân tố ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh
quốc gia là các ngành công nghiệp hỗ trợ & liên quan, đó là “sự tồn tại hoặc thiếu vắng các
nhà cung cấp và các ngành công nghiệp liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế” Porter
đề cao vai trò của công nghiệp hỗ trợ & có liên quan, coi đó như là một động lực thúc đẩy phát triển và là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia, của ngành Công nghiệp có liên quan là những ngành mà các công ty có thể phối hợp hoặc chia sẻ hoạt động trong chuỗi giá trị của ngành, có các sản phẩm bổ sung hay chuyển giao kỹ năng độc quyền
từ ngành này sang ngành khác (Porter, tiếng Việt 2008) Như vậy, Việt Nam muốn phát triển một ngành công nghiệp, trước tiên phải xác định đó là ngành công nghiệp mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh cao, đồng thời phải phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ cung cấp hàng hóa đầu vào cho ngành và mở rộng các ngành công nghiệp có liên quan khác
Chuỗi giá trị
Cụm từ chuỗi giá trị đề cập tới đầy đủ tất cả các hoạt động cần thiết để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó từ trạng thái khái niệm qua khâu sản xuất, giao cho khách hàng và xử lý sau khi xử dụng (Kaplinsky 1999; Kaplinsky và Morris 2001); cụ thể trong phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động: thiết kế, sản xuất, tiếp thị, phân phối và dịch vụ hậu mãi của các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu (Gereffi và Fernandez, 2011) Theo đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả các thành phần trong chuỗi hoạt động và phối hợp tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi (M4P 2008)
Chuỗi giá trị tập trung phân tích mối liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi Đó là mối quan hệ mua bán tiếp nối nhau, đầu ra của tác nhân này sẽ là đầu vào của tác nhân khác
Trang 10Trong một chuỗi giá trị, sẽ có những tác nhân trung tâm nắm vai trò quyết định tới sự hình thành và phát triển của toàn chuỗi Đó thường là các thương hiệu lớn, các nhà sản xuất, chế biến hay lắp ráp hàng hóa cuối cùng Như vậy, những tác nhân trước của tác nhân trung tâm này là hỗ trợ đầu vào, còn các tác nhân sau là những hỗ trợ đầu ra Chuỗi giá trị phân tích các khía cạnh của các tác nhân, các mối quan hệ và phân tích tổng thể toàn chuỗi
Cụm ngành
Cụm ngành là nơi tập hợp về mặt địa lý những doanh nghiệp, tổ chức và thể chế có mối liên kết, tương hỗ lẫn nhau trong một số lĩnh vực cụ thể (Porter, 1998) Phạm vi về mặt địa lý có thể là một tỉnh, một vùng, một quốc gia hay một vùng (nhiều quốc gia gần nhau) Cụm ngành bao gồm một loạt các ngành công nghiệp có liên kết và các chủ thể quan trọng khác Cụm ngành còn được mở rộng đến các đối tượng cung cấp hạ nguồn là các kênh phân phối, khách hàng và các nhà cung cấp sản phẩm bổ sung như kỹ năng, công nghệ và những hàng hóa thông thường khác Cuối cùng, nhiều cụm ngành bao gồm cả các cơ quan chính phủ và các tổ chức liên quan khác như các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm kỹ năng, hiệp hội ngành nghề và các tổ chức hỗ trợ khác Cụm ngành tác động lớn tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, ngành và quốc gia
Cụm ngành và năng suất: là một phần của cụm ngành sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận với
nguồn nhân lực, các nhà cung cấp, hệ thống thông tin, những hàng hóa bổ sung, các dịch vụ công, khoa học công nghệ, có động lực phát triển và tận dụng lợi thế nhờ quy mô mà không mất đi tính linh hoạt giúp cho doanh nghiệp gia tăng năng suất
Cụm ngành và cải tiến, sáng tạo: nằm trong một cụm ngành công nghiệp với các yêu cầu
khắt khe, phức tạp của các doanh nghiệp khách hàng cùng với những thông tin và quan sát thị trường nhanh, trực tiếp sẽ giúp cho các doanh nghiệp có động lực, cơ hội và khả năng cải tiến, sáng tạo hơn so với các doanh nghiệp nằm ở vị trí tách biệt
Cụm ngành và sự ra đời doanh nghiệp mới: các doanh nghiệp mới ra đời trong các cụm
ngành nhiều hơn so với các khu vực riêng biệt khác Bởi vì các khách hàng tập trung trong một cụm ngành giúp các doanh nghiệp mới giảm được rủi ro, giảm chi phí và tăng khả năng