1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nôi dung báo cáo chuyên đề "Sử dụng bã thải từ quá trình ủ yếm khí kết hợp làm phân bón cho cây trồng"

27 205 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa Môi trường & TNTN, 10/2012SỬ DỤNG BÃ THẢI TỪ HẦM Ủ KẾT HỢP CHO CÂY TRỒNG Nguyễn Võ Châu Ngân Bộ môn Kỹ thuật Môi trường... 2009: phối trộn chất thải hầm ủ biogas với rơm tạo ra nguồ

Trang 1

Khoa Môi trường & TNTN, 10/2012

SỬ DỤNG BÃ THẢI TỪ HẦM Ủ KẾT HỢP CHO CÂY TRỒNG

Nguyễn Võ Châu Ngân

Bộ môn Kỹ thuật Môi trường

Trang 2

Nội dung

• Tổng quan

• Phương pháp - Phương tiện

• Kết quả - Thảo luận

• Kết luận - Kiến nghị

Trang 3

Tổng quan

Trang 4

• Sử dụng bã thải hầm ủ biogas cho canh tác

nông nghiệp đã được nghiên cứu từ những

năm ‘40 trên thế giới với nhiều cây trồng

• Tại Việt Nam:

– Nguyễn Gia Lượng (1989): năng suất bắp tăng 26%

và su hào tăng 31%

– Viện Năng lượng (1990): khoai tây tăng 64%

– Viện Đất và Hóa học (2003): cải bắp tăng 24%

– SNV (2007): tiết kiệm kinh phí phân bón và thuốc trừ sâu cho cây chè ở miền Bắc

Trang 5

Tổng quan

• Tại ĐBSCL:

– REC: năng suất đậu nành tăng 20%

– Đỗ Ngọc Quỳnh et al (1999): thu nhập nông hộ

tăng 2 triệu đồng nhờ bón phân cho cây cam

– Arnold U (2009): phối trộn chất thải hầm ủ biogas với rơm tạo ra nguồn phân compost chất lượng cao – Dương Văn Ni et al (2009): năng suất cây bắp tăng 1,64 khi trồng trên đất phù sa

– Phạm T Phương Thúy và Dương M Viễn (2010): năng suất cây bắp tăng 1,57 khi trồng trên đất phèn – Ngô Quang Vinh (2010): kết quả tương tự khi trồng cải xanh và rau diếp

Trang 6

Tổng quan

Trang 8

Tổng quan

• Nghiên cứu sử dụng chất thải hầm ủ nạp kết hợp PM+WH, PM+SMC là cần thiết để khẳng định hiệu quả ứng dụng và tính kinh tế của quá trình ủ kết hợp

• Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sử dụng chất thải từ hầm ủ kết hợp như nguồn phân bón cho canh tác cây cải xanh

(Brassica juncea H F.) ở quy mô phòng thí

nghiệm

Trang 9

Phương pháp - phương tiện

• Thí nghiệm trồng cải xanh được tiến hành tại khu thí nghiệm Khoa Môi trường & TNTN

• Nguồn phân bón cho thí nghiệm:

– Phân vô cơ (bán trên thị trường)

– Chất thải đầu ra từ các hầm ủ 4m 3 của các hộ dân

ở Hòa An - Phụng Hiệp - Hậu Giang Các hầm ủ kết hợp nạp 90%PH+10%SMC hoặc 90%PH+10%WH

• Liều lượng và thời điểm bón phân thực hiện

theo hướng dẫn của Trần Thu Ba (2010)

• Bã thải được bón trực tiếp vào gốc cây trồng

Trang 10

Phương pháp - phương tiện

Trang 11

• Tay quay phá váng của hầm ủ kết hợp EQ2

Trang 12

Phương pháp - phương tiện

• Ngăn nạp và ngăn thải của hầm ủ kết hợp EQ2

Trang 13

Phương pháp - phương tiện

• Đất đồng nhất được chia (10kg) vào các chậu thí nghiệm kích thước 30 cm × 30 cm × 25 cm

• Cải xanh trồng từ hạt giống, mật độ 4 cây/chậu

• Tổng cộng có 8 nhóm thí nghiệm được bố trí, tất cả thí nghiệm lặp lại 12 lần (3 x 4)

Thí nghiệm Chất thải hầm ủ Chất thải hầm ủ+P+K Khác

Trang 14

Phương pháp - phương tiện

• Phân tích mẫu bã thải: pH, TS, VS, BOD,

COD, TKN, TP, Salmonella, tổng Coliform

• Phân tích mẫu đất: chỉ tiêu độ ẩm, N, P, K của

1 mẫu đất đầu vào và 7 mẫu đất đầu ra

• Đo đạc và phân tích mẫu rau: lấy ngẫu nhiên 3 chậu thí nghiệm, nhổ rau, cắt bỏ rễ, đo đạc các chỉ tiêu tăng trưởng (cân nặng, dài, rộng) và

phân tích độ ẩm, Salmonella

• Số liệu được xử lý và phân tích thống kê theo Duncan’s Multiple Range Test (SPSS 13)

Trang 15

Kết quả - Thảo luận

Trang 16

• Bã thải có N cao, P và K thấp so với dưỡng

chất có trong phân vô cơ  bố trí 2 nhóm thí nghiệm: không bổ sung P và K (PM0, SMC0, WH0); bổ sung P và K (PM1, SM1, WH1)

• Sau 2 tuần gieo hạt và nảy mầm, tất cả rau đối chứng chết  không thảo luận thí nghiệm này

• Phân tích thống kê về tăng trưởng của cây rau không có sự khác biệt ý nghĩa (p ≤ 5%) giữa các thí nghiệm có và không có bổ sung P và K

 chỉ thảo luận về PM0, SMC0, WH0

Trang 17

Kết quả - Thảo luận

Trang 19

• Năng suất rau thu hoạch đạt 21,1, 9,1, 8,7 và 3,9 tấn sinh khối tươi trên mỗi ha tương ứng

với các thí nghiệm SMC0, PM0, WH0 và IF

• Bón bã thải hầm ủ rút ngắn thời gian canh tác

Blooming time (day) PM+WH/PM+SMC        PM      IF

35      38      42

Trang 20

Kết quả - Thảo luận

Trang 21

• Trung bình thành phần vật chất khô của cây

cải xanh thu hoạch đạt 8,4%, 6%, 9,3% và

7,8% tương ứng với IF, SMC0, WH0 và PM0

• Hiện diện của Salmonella trong rau thu hoạch

 ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nếu ăn rau tươi, đặc biệt trường hợp hầm ủ có kết nối với nhà vệ sinh

Trang 22

Kết quả - Thảo luận

Trang 23

• Yêu cầu bón phân hiện tại đang gây nhiều lãng phí cho người nông dân

• Hàm lượng N, K tích tụ trong đất theo thời gian

là nguyên nhân gây ô nhiễm đất, và là nguồn gây ô nhiễm nước

• Đất bón bã thải ít mất nước và dưỡng chất

nhờ vào chế độ bón và cấu trúc vật liệu bón

Trang 24

Kết quả - Thảo luận

Trang 25

Kết luận - Kiến nghị

• Kết quả từ các thí nghiệm trồng rau cải xanh

có bón bã thải từ hầm ủ nạp kết hợp cho năng suất cao hơn thí nghiệm bón phân vô cơ

• Ngoài ra cây trồng không cần bón bổ sung

thêm các loại phân P - K

• Cây trồng dễ dàng hấp thụ các chất dinh

dưỡng có trong bã thải để phát triển rút ngắn được thời gian thu hoạch, tiết kiệm thời gian canh tác và chi phí mùa vụ cho người dân

Trang 26

Kết luận - Kiến nghị

• Bã thải giúp ngăn chặn mất dưỡng chất từ đất

do quá trình bốc hơi hoặc rửa trôi gây ra, cải thiện chất lượng đất

• Cân nhắc bón bã thải cho các loại rau (rau cần nấu chín khi ăn) hoặc bón cho cây ăn trái

• Bã thải từ hầm ủ nạp kết hợp (PM+WH hoặc PM+SMC) hoàn toàn có thể sử dụng như một nguồn phân bón hữu cơ cho canh tác mùa vụ

 canh tác nông nghiệp hợp sinh thái

Trang 27

Xin cám ơn sự quan tâm theo dõi!

Ngày đăng: 04/11/2017, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w