1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản của sông trường giang, tỉnh quảng nam thích ứng với biến đổi khí hậu

136 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 7,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH --- TRẦN THỊ HƯNG NGHIÊN CỨU KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN CỦA SÔNG TRƯỜNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM THÍCH ỨNG VỚI BI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

-

TRẦN THỊ HƯNG

NGHIÊN CỨU KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN CỦA SÔNG TRƯỜNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

-

TRẦN THỊ HƯNG

NGHIÊN CỨU KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN CỦA SÔNG TRƯỜNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Vịnh

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Vịnh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Học viên thực hiện

Trần Thị Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn Văn Vịnh, cán bộ giảng dạy của trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi vô cùng biết ơn

và cảm tạ sự giúp đỡ quý báu của thầy

Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên trong Khoa các Khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội trong quá trình hoàn thành tốt chương trình đào tạo Thạc sĩ tại Khoa

Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm và tập thể cán bộ thực hiện đề tài “Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Nam”, mã số ĐTĐL.CN-15/16 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia nghiên cứu và sử dụng số liệu để hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình học tập, nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2017

Học viên cao học

Trần Thị Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nguồn số liệu sử dụng cho luận văn 4

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tình hình nghiên cứu các sông trên thế giới và Việt Nam 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Tình hình khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản trên thế giới

và Việt Nam 14

1.2.1 Trên thế giới 14

1.2.2 Ở Việt Nam 18

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận 21

1.3.1 Vị trí địa lý 21

1.3.2 Điều kiện địa hình 21

1.3.3 Điều kiện khí hậu 22

1.3.4 Chế độ thủy văn 23

1.4 Biến đổi khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu 24

1.4.1 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 24

1.4.2 Biến đổi khí hậu của tỉnh Quảng Nam 26

Chương 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Thời gian nghiên cứu 33

2.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 34

2.3.1 Phương pháp tổng hợp, kế thừa số liệu 34

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học 34

2.3.3 Phương pháp phỏng vấn 36

2.3.4 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 37

2.3.5 Phương pháp xử lý, thống kê số liệu 39

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 40

3.1.1 Điều kiện về kinh tế 40

3.1.2 Điều kiện về xã hội 44

3.2 Hiện trạng đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu 49

3.2.1 Đa dạng loài thực vật nổi 50

3.2.2 Đa dạng loài thực vật bậc cao 51

3.2.3 Đa dạng loài động vật nổi 52

3.2.4 Đa dạng loài động vật đáy 53

3.2.5 Đa dạng loài cá 55

3.3 Hiện trạng nguồn lợi thủy sản khu vực nghiên cứu 57

3.3.1 Cá 57

3.3.2 Nhuyễn thể 57

3.3.3 Giáp xác 58

3.4 Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản khu vực nghiên cứu 58

3.4.1 Khai thác tự nhiên 58

3.4.2 Nuôi trồng thủy sản 60

3.5 Ảnh hưởng của BĐKH đến nguồn lợi thủy sản khu vực nghiên cứu 67

3.5.1 Ảnh hưởng của thay đổi nhiệt độ 68

3.5.2 Ảnh hưởng của thay đổi lượng mưa 69

3.5.3 Ảnh hưởng của nước biển dâng 71

3.5.4 Ảnh hưởng của thay đổi tần suất bão lũ 73

3.6 Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản

của sông Trường Giang thích ứng với BĐKH 75

3.6.1 Giải pháp về khoa học công nghệ 76

3.6.2 Giải pháp về hợp tác quốc tế 77

3.6.3 Giải pháp về cơ chế, chính sách 77

3.6.4 Giải pháp về tài chính 77

3.6.5 Giải pháp về bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai 78

3.6.6 Giải pháp về nâng cao nhận thức cộng đồng 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

BĐKH Biến đổi khí hậu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Sản lượng thủy sản trên thế giới từ năm 2009 đến năm 2014 15

Bảng 1.2 Sản lượng khai thác và NTTS giai đoạn 2000-2016 18

Bảng 1.3 Nhiệt độ trung bình các nửa thập kỷ tháng I, VII, năm 28

Bảng 1.4 Xu thế biến đổi đặc trưng nhiệt độ tại một số trạm điển hình tại tỉnh Quảng Nam 28

Bảng 1.5 Xu thế biến đổi đặc trưng nhiệt độ mùa tại một số trạm điển hình

tại tỉnh Quảng Nam 28

Bảng 1.6 Chênh lệch nhiệt độ (oC) giữa thời kỳ (2000-2014)

và thời kỳ (1980-1999) 29

Bảng 1.7 Lượng mưa trung bình các nửa thập kỷ mùa khô, mùa mưa, mưa năm 29

Bảng 1.8 Xu thế biến đổi đặc trưng lượng mưa tại một số trạm điển hình

tại tỉnh Quảng Nam 30

Bảng 1.9 Mực nước biển dâng theo các kịch bản khác nhau (cm) 31

Bảng 2.1 Danh sách các xã thuộc khu vực nghiên cứu 34

Bảng 2.2 Ma trận đánh ảnh hưởng của BĐKH hoạt động khai thác và sử dụng

nguồn lợi thủy sản khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận 38

Bảng 3.1 Điều kiện kinh tế tại khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận 40

Bảng 3.2 Dân số và mật độ các xã vùng phụ cận sông Trường Giang,

giai đoạn 2011-2015 45

Bảng 3.3 Tổng số hộ dân phân theo các ngành nghề vùng phụ cận

sông Trường Giang 47

Bảng 3.4 Cấu trúc thành phần loài động, thực vật tại khu vực sông Trường Giang

và vùng phụ cận 49

Bảng 3.5 Cấu trúc thành phần loài TVN tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 50

Bảng 3.6 Cấu trúc thành phần loài TVBC có mạch tại khu vực sông Trường Giang

và vùng phụ cận 51

Bảng 3.7 Cấu trúc thành phần loài ĐVN tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 53

Bảng 3.8 Cấu trúc thành phần loài ĐVĐ tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 54

Bảng 3.9 Cấu trúc thành phần loài cá tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 55

Bảng 3.10 Hiện trạng khai thác thủy sản trên sông Trường Giang năm 2016 59

Bảng 3.11 Diện tích mặt nước NTTS khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận giai đoạn 2010-2016 61

Bảng 3.12 Diện tích NTTS ven sông Trường Giang phân theo phương thức nuôi

và loại thủy sản năm 2016 64

Trang 9

Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả thảo luận và chấm điểm của cộng đồng về mức độ

ảnh hưởng của nhiệt độ đến nguồn lợi thủy sản 68

Bảng 3.14 Tổng hợp kết quả thảo luận và chấm điểm của cộng đồng về mức độ

ảnh hưởng của thay đổi lượng mưa đến nguồn lợi thủy sản 70

Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả thảo luận và chấm điểm của cộng đồng về mức độ

ảnh hưởng của nước biển dâng đến nguồn lợi thủy sản 72

Bảng 3.16 Tổng hợp kết quả thảo luận và chấm điểm của cộng đồng về thay đổi

tần suất bão lũ đến nguồn lợi thủy sản 74

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sản lượng khai thác và NTTS của Việt Nam giai đoạn 2000-2016 19

Hình 1.2 Sản lượng khai thác thủy sản nội địa giai đoạn 2000-2016 21

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu tại khu vực nghiên cứu 33

Hình 3.1 Lần chiếm lòng sông nuôi tôm trên sông Trường Giang 42

Hình 3.2 Các công cụ khai thác thủy sản trên sông Trường Giang 43

Hình 3.3 Dân số các huyện trong giai đoạn 2011-2015 44

Hình 3.4 Cơ cấu ngành nghề phân theo các hộ vùng phụ cận sông Trường Giang 48

Hình 3.5 Phân bố của các bậc phân loại trong 5 ngành TVN tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 50

Hình 3.6 Tương quan các bậc phân loại giữa hai ngành TVBC tại khu vực

sông Trường Giang và vùng phụ cận 51

Hình 3.7 Tương quan các bậc phân loại giữa hai ngành ĐVN tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 53

Hình 3.8 Tương quan các bậc phân loại giữa các ngành ĐVĐ tại sông Trường Giang và vùng phụ cận 54

Hình 3.9 Tương quan của các loài theo bộ khu hệ cá tại sông Trường Giang

và vùng phụ cận 56

Hình 3.10 Sản lượng khai thác thủy sản sông Trường Giang và vùng phụ cận

giai đoạn 2011-2016 60

Hình 3.11 Diễn biến diện tích NTTS giai đoạn 2011-2016 62

Hình 3.12 Cơ cấu diện tích theo hình thức nuôi 65

Hình 3.13 Cơ cấu diện tích theo đối tượng nuôi 66

Hình 3.14 Sản lượng NTTS sông Trường Giang và vùng phụ cận

giai đoạn 2011-2016 67

Hình 3.15 Mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ đến nguồn lợi thủy sản

trên sông Trường Giang 69

Hình 3.16 Mức độ ảnh hưởng của thay đổi lượng mưa đến nguồn lợi thủy sản

trên sông Trường Giang 71

Hình 3.17 Mức độ ảnh hưởng của nước biển dâng đến nguồn lợi thủy sản

trên sông Trường Giang 73

Hình 3.18 Mức độ ảnh hưởng của thay đổi tần suất bão lũ đến nguồn lợi thủy sản

trên sông Trường Giang 75

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khai thác và NTTS đóng vai trò quan trọng trong sinh kế, kinh tế và cung cấp chất dinh dưỡng cho con người Trên thế giới, sinh kế của 520 triệu người phụ thuộc vào nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản (FAO, 2009a) [60]

và có 98% người sống ở các nước đang phát triển (WB, 2005) [88] Theo FAO (2005) [57], số lượng ngư dân trên thế giới đã tăng 400% kể từ năm 1950, so với mức tăng 35% số lao động nông nghiệp trong cùng thời kỳ Phần lớn sự tăng trưởng nghề khai thác thủy sản quy mô nhỏ là ở các nước đang phát triển

Có thể nhiều người nghèo sẽ chuyển sang đánh bắt và các nguồn tài nguyên khác trong tương lai do những tác động tiêu cực của BĐKH đối với nông nghiệp và các ngành khác

Các loài thủy sản là loại thực phẩm được buôn bán rộng rãi nhất trên thế giới: 37% thủy sản được sản xuất (tương đương với trọng lượng tươi) được buôn bán quốc tế (FAO, 2009a) [60] Trong năm 2006, xuất khẩu thủy sản đạt 85,9 tỷ USD (FAO, 2009a) [60], hơn một nửa trong số đó có nguồn gốc từ các nước đang phát triển (Paquotte và Lem, 2008) [78] Năm 2002, xuất khẩu thủy sản tạo

ra thu nhập ngoại hối cao hơn cho các nước đang phát triển so với gạo, cà phê, đường và chè kết hợp (WB, 2005) [88]

Nguồn cung cấp protein cho 1/3 dân số thế giới dựa vào cá và các sản phẩm thủy sản khác, chiếm 20% nhu cầu protein (Dulvy và Allison, 2009) [52]

Cá cung cấp hơn 50% lượng protein cho 400 triệu người nghèo trên thế giới (MAB, 2009) [71] và cũng là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng khác như vitamin A, B và D, canxi, sắt và iốt (FAO, 2005) [57] Cá chiếm 30% protein động vật được tiêu thụ ở Châu Á, 20% ở Châu Phi và 10% ở Châu Mỹ

La Tinh và Caribe (Prein và Ahmed, 2000) [80] Do đó, các loài thủy sản là trung tâm của an ninh lương thực của nhiều người nghèo trên thế giới, đặc biệt

là ở các vùng ven biển và các quốc đảo nhỏ đang phát triển

Việt Nam có hơn 2.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có

109 sông chính Việt Nam có 16 lưu vực sông với diện tích lưu vực lớn hơn 2.500 km2, 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km2 Dọc bờ biển, trung bình

Trang 12

cứ 23 km lại có một cửa sông, có 112 cửa sông, lạch đổ ra biển (Tổng cục Môi trường, 2012) [31]

Miền Trung Việt Nam có mật độ sông suối dày đặc, phân cắt thành nhiều

hệ thống sông nhỏ như hệ thống sông Cả, hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, hệ thống sông Ba Các sông trong hệ thống sông này thường có lòng sông hẹp, độ dốc lớn, diện tích lưu vực nhỏ Trong các hệ thống sông quan trọng ở tỉnh Quảng Nam, phải kể đến sông Trường Giang Đây là con sông có vai trò quan trọng trong tiêu thoát lũ, giao thông thủy, đặc biệt là khai thác và NTTS Đây cũng là nơi di cư của nhiều loài thủy hải sản có giá trị vì là nơi giao thoa giữa nước mặn và nước ngọt của các cửa sông; là nơi sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sản quý hiếm như rong biển, sá sùng, hàu, Tuy nhiên, do sức ép gia tăng dân số, ô nhiễm môi trường và BĐKH mà nguồn lợi thủy sản trên các con sông đang có nguy cơ bị suy giảm

BĐKH không chỉ đơn giản là mối đe dọa tiềm ẩn mà còn là điều khó tránh khỏi Hậu quả của 200 năm phát thải khí nhà kính quá mức, từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất, vận chuyển và công nghiệp năng lượng đến phá rừng và phát triển nông nghiệp thâm canh (IPCC, 2007a) [66] Theo IFAD (2007) [65] và WB (2010) [89], BĐKH là một trong những mối đe dọa lớn nhất

mà nhân loại đang phải đối mặt và cho rằng người nghèo nhất là những người dễ

bị tổn thương nhất sẽ chịu các tác động bất lợi của nó Nghề khai thác thủy sản

là một trong những ngành chịu ảnh hưởng của BĐKH, một số hậu quả do BĐKH gây ra được dự đoán bao gồm sản lượng giảm, sự di cư và sự tuyệt chủng của các loài thủy sinh vật Tuy nhiên, các tác động và những địa phương chịu tác động của BĐKH đối với nghề cá vẫn còn chưa được hiểu rõ (FAO, 2008a, World Fish Center, 2007a, Stern, 2007) [59],[90],[85] Do tính không thể đoán trước của BĐKH và sự phát triển các ngành kinh tế làm cho các tác động khí hậu trở nên phức tạp (WorldFish Center, 2007b) [91] Hơn nữa, nghề cá nhiệt đới đóng vai trò quan trọng nhất đối với người đánh bắt cá quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển được nghiên cứu ít hơn so với các nước đang phát triển (Roessig và cộng sự, 2004) [82] Việc dự đoán không chính xác nên việc sự thích nghi với BĐKH rất khó khăn Do đó phải tập trung vào việc nâng cao khả năng thích ứng và khả năng thích ứng với BĐKH bằng cách cải thiện sức sống

Trang 13

cho các loài cá, cho các HST nước ngọt, biển, ven biển và các cộng đồng phụ thuộc vào chúng

Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm ở nước ta đã tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển đã dâng khoản 20cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ BĐKH đã làm cho thiên tai, đặc biệt là bão,

lũ, hạn hán ngày càng khốc liệt Theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ TN&MT công bố tháng 3 năm 2016, nếu mực nước biển dâng khoảng 1m thì có khoảng 40.000km2 đồng bằng ven biển nước ta sẽ bị ngập hàng năm, làm suy thoái đất ngập nước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt BĐKH ở khu vực hệ thống Vu Gia - Thu Bồn nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng, có những biểu hiện như nhiệt độ tăng cao trong mùa hè, mưa lớn bất thường vào mùa mưa bão sẽ trở thành những rủi ro tiềm tàng khiến biến động mực nước và lưu lượng trên các đoạn sông phía hạ lưu trở nên lớn cả về tần số và cường độ gây suy thoái nguồn lợi thủy sản trên

sông Xuất phát từ thực tiễn nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản của sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam thích ứng với biến đổi khí hậu”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được hiện trạng ĐDSH, tình hình khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản trên sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam;

- Đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH đến nguồn lợi thủy sản trên sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam;

- Đề xuất được các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản của sông Trường Giang thích ứng với BĐKH

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên, KT-XH khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận liên quan đến khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản;

- Nghiên cứu hiện trạng ĐDSH khu vực nghiên cứu;

- Nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi thủy sản khu vực nghiên cứu;

- Nghiên cứu hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản khu vực nghiên cứu;

Trang 14

- Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến nguồn lợi thủy sản khu vực nghiên cứu;

- Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản của sông Trường Giang thích ứng với BĐKH

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Một số nhóm sinh vật bao gồm: TVN, TVBC có mạch, ĐVN, ĐVĐ và cá

- Cộng đồng người dân liên quan đến khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản

- Một số yếu tố của BĐKH: Nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng, bão lũ,

5 Nguồn số liệu sử dụng cho luận văn

- Số liệu khí hậu, thủy văn do Đài khí tượng thủy văn của tỉnh Quảng Nam cung cấp;

- Số liệu về điều kiện tự nhiên, KT-XH, ĐDSH, tình hình khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản được thu thập trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa

và định loại vật mẫu của đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Nam” mà học viên là thành viên tham gia đề tài;

- Số liệu niên giám thống kê các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành và thành phố Tam Kỳ năm 2016;

- Số liệu điều tra phỏng vấn lấy ý kiến thảo luận của 90 hộ gia đình đại diện tại khu vực nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của BĐKH (tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa, nước biển dâng và sự thay đổi tần suất bão lũ)

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm các phần chính như sau:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu các sông trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, việc nghiên cứu các con sông chủ yếu tập trung vào đa dạng sinh học, chất lượng môi trường, nghiên cứu quản lý tổng hợp… Trong khi đó các nghiên cứu về khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản trong bối cảnh BĐKH còn nhiều hạn chế

Trong thời gian gần đây, hướng nghiên cứu về sông trên thế giới tập trung vào việc khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, phục

vụ phát triển bền vững KT-XH Có thể kể đến các công trình nghiên cứu là:

Năm 1998, các nhà khoa học đã nghiên cứu về lựa chọn các chỉ tiêu phát triển bền vững KT-XH ở khu vực sông Fraser ở British Columbia, Canada Đây

là sông có chiều dài 1.375 km, diện tích lưu vực 230.000 km2, dân số thuộc lưu vực vào khoảng 2 triệu người Cùng với sự phát triển của các hoạt động KT-XH

đã dẫn đến nhiều tác động tiêu cực đến lưu vực sông và phụ cận Cụ thể như sự suy thoái môi trường đất do sử dụng đất nông nghiệp thiếu quy hoạch, khai thác khoáng sản; ô nhiễm môi trường nước từ quá trình sản xuất nông nghiệp, nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; sự suy giảm mực nước ngầm; ô nhiễm không khí do các ngành công nghiệp và giao thông vận tải; giảm mạnh đa dạng sinh học từ sự khai thác bừa bãi Vì vậy, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, trước hết phải xác định các chỉ tiêu phát triển bền vững Các chỉ tiêu phát triển KT-XH bền vững của khu vực sông Fraser bao gồm 5 chỉ tiêu (Kent R Gustavsona và cộng sự, 1999) [70]:

(1) Duy trì tính toàn vẹn và tính đa dạng của HST;

(2) Đáp ứng cơ bản nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế và xã hội; (3) Duy trì sự phân bố và quyền lựa chọn giữa các thế hệ;

(4) Cải thiện sự phân bố và quyền lợi giữa các thế hệ;

(5) Cải thiện quyền quyết định của địa phương

Sông Seine là một con sông nổi tiếng ở Pháp Kết quả nghiên cứu năm

2015 đã tổng hợp, phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Seine trong giai đoạn 1990-2013 Kết quả cho thấy, trước đây, trong một thời gian dài, việc đánh giá chất lượng nguồn nước chỉ dựa vào thành phần vật lý và hóa học của nước

Trang 16

Tuy nhiên, dựa trên Khung quản lý môi trường nước ở Châu Âu được ban hành năm 2006, bên cạnh các yếu tố vô cơ, các thành phần sinh học của HST thủy vực rất cần được đánh giá cụ thể để có thể đánh giá hiện trạng môi trường nước (O'Farrell và cộng sự, 2002; Hering và cộng sự, 2003; Hering và cộng sự, 2010) [77],[68],[69] Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong số các nhóm sinh vật làm sinh vật chỉ thị thì cá là nhóm sinh vật chỉ thị cho môi trường NTTS vì chúng là sinh vật tiêu thụ bậc 2, 3 trong chuỗi thức ăn Nhóm này cũng nhạy cảm với chất lượng môi trường nước và sinh cảnh sống (Sanchez và cộng sự., 2012; Polard, 2010; Couillard, 2009) [84],[79],[50] Từ các kết quả nghiên cứu, nhiều HST tự nhiên của sông Seine được phục hồi, chất lượng nước đã được cải thiện một cách đáng kể

Hà Lan là đất nước có mật độ dân số cao, nhưng 2/3 lãnh thổ nằm trong khu vực dễ ngập lụt Hà Lan có nhiều thành tựu khoa học trong việc nghiên cứu hạn chế thiên tai, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững KT-XH Từ lâu, người Hà Lan đã sử dụng các cồn cát tự nhiên, đê nhân tạo, đập và các cửa xả lũ để chống lại các cơn bão từ biển Nhiều hệ thống đê ngăn mặn đã được quan tâm đầu tư xây dựng Các chuyên gia đánh giá hiếm có nước nào khai thác hiệu quả tài nguyên môi trường và phát triển bền vững như Hà Lan (Rijkswaterstaat, 2009) [81]

Năm 2001, Trung Quốc đã triển khai dự án hướng tới sự phát triển bền vững hệ thống sông Tarim Sông Tarim nằm ở khu tự trị Tân Cương, có tổng chiều dài khoảng 1.060 km, lưu vực rộng 557.000 km2 Đây là con sông nội địa dài nhất Trung Quốc (Feng và cộng sự, 1999) [62] Các nghiên cứu đánh giá việc sử dụng nguồn nước từ năm 1970-2000 cho thấy việc phát triển mạnh hệ thống kênh rạch đã làm gia tăng việc sử dụng nước, nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng nước lại rất thấp, chỉ đạt 35-40% Theo kết quả nghiên cứu của Feng và cộng sự (2001) [63], chỉ trong vòng 30 năm, sự suy giảm chất lượng nước sông đã dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học nơi đây Các loài cây thân thảo giảm từ 200 xuống chỉ còn 20 loài, động vật hoang dã giảm từ 24 xuống 5 loài, trong đó 9 loài đã tuyệt chủng, còn 10 loài phải di cư đến khu vực khác do mất nơi cư trú; nhiều vùng bị hoang mạc hóa, tăng lượng carbon trong không khí (Feng và cộng sự, 2001) [63]

Trang 17

Đứng trước hiện trạng suy thoái nguồn nước, đa dạng sinh học, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện và trên cơ sở đó đã tiến hành một số giải pháp để cải thiện sự phát triển KT-XH từ sông Tarim (Agnew và Anderson, 1992; Feng và cộng sự, 2001) [44],[63] Các giải pháp triển khai mang lại hiệu quả cho việc phát triển bền vững lưu vực sông Tarim như:

(1) Ở vùng thượng lưu, phát triển trồng rừng, phục hồi rừng đầu nguồn, điều đó đã bảo vệ và làm ổn định nguồn nước, giảm thiểu thiên tai cho toàn bộ lưu vực;

(2) Ở vùng trung lưu, các dự án phát triển nông nghiệp bền vững, chương trình phục hồi các thảm thực vật ven bờ đã được thực hiện Kết quả của các chương trình này đã giảm thiểu tối đa sự hoang mạc hóa Đồng thời, chính sách tiết kiệm nước đã được áp dụng nhằm điều hòa việc cung cấp nước hợp lý cho vùng hạ lưu;

(3) Ở vùng hạ lưu, đa phần những vùng đất bị suy thoái đã được phục hồi, kéo theo sự phục hồi ĐDSH, hỗ trợ việc tăng cường tái sử dụng nước, tuần hoàn nước trong vùng;

(4) Hệ thống quản lí tài nguyên nước của toàn bộ lưu vực sông Tarim đã được thống nhất và các thông tin về thủy văn đã được chia sẻ giữa các cấp quản

lí, từ địa phương cho đến trung ương Thông tin cần được cập nhật ngay khi có các nghiên cứu mới, tránh làm lãng phí thời gian và chi phí nghiên cứu

Đối với sông Mê Kông, là một trong những con sông lớn trên thế giới, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra biển Đông ở Việt Nam Sông Mê Kông không thuộc về một quốc gia nào, vì vậy đã có một cơ quan liên chính phủ là Ủy hội sông Mê Kông (MRC) (gồm 4 nước thành viên: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia) để quản lý và phát triển MRC đã đưa ra chiến lược phát triển lưu vực sông Mê Kông vào phiên họp Hội đồng lần thứ 17, năm 2011 (MRC, 2015) [74] Việc quản lý và khai thác sông Mê Kông không chỉ là nhiệm

vụ của một quốc gia mà là sự quan tâm của nhiều quốc gia có liên quan

Các nghiên cứu về BĐKH ở lưu vực sông Mê Kông cho thấy, đến năm

2050, nhiệt độ tăng trung bình 4oC, mùa mưa tăng trung bình 1,7-5,3 o

C, vào mùa khô nhiệt độ tăng từ 1,5-3,5 oC Lượng mưa hàng năm tăng 3-18% (tương

Trang 18

đương 35-365mm) Cường độ và tần suất của các hiện tượng cực đoan gia tăng như bão, lũ lụt và hạn hán Các biểu hiện của BĐKH ảnh hưởng trực tiếp đến HST chủ yếu là sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, lũ lụt và nước biển dâng Tất

cả các yếu tố này sẽ làm giảm năng suất và sản lượng của nhiều loài có giá trị kinh tế trên sông Mê Kông (ICEM, 2013a) [64]

Theo MRC (2015) [74], để nghề cá ở lưu vực sông Mê Kông thích nghi với BĐKH thì cần phải phục hồi độ che phủ rừng rừng đầu nguồn và RNM, duy trì và cải thiện khả năng kết nối của môi trường sống cho các loài thủy sản, thành lập các khu bảo tồn đất ngập nước cho các loài thủy sinh ẩn náu vào mùa không và phục hồi vào mùa mưa

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sông trên thế giới dựa trên các tiêu chí phát triển bền vững Kết quả của nhiều công trình đã phần nào giải quyết được các mâu thuẫn trong việc phát triển KT-XH, bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH Trong khi đó các nghiên cứu về các biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản còn chưa nhiều

1.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên

có lượng mưa nhiều trong năm Đồng thời với địa hình chủ yếu là đồi núi (chiếm ¾ diện tích) bị cắt xẻ mạnh, sườn dốc lớn đã tạo nên mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với khoảng hơn 2.360 con sông, trong đó có 109 sông chính và

9 lưu vực sông lớn Tuy nhiên, hệ thống sông phân bố không đồng đều giữa các vùng, mật độ trung bình 0,6km/km2 Ở những vùng mưa nhiều, địa hình thuận lợi cho sinh dòng chảy mặt như Móng Cái, Hoàng Liên Sơn, Hải Vân,… có mật

độ sông, suối lớn khoảng 1,5 - 2 km/km2 Vùng mưa vừa, độ cao trung bình như Quảng Ninh, Ngân Sơn, Thu Bồn,… có mật độ sông suối trung bình 1 - 1,5 km/km2 Vùng mưa nhỏ, bốc hơi lớn, thấm tốt như Trùng Khánh, Mộc Châu, Ninh Thuận, Bình Thuận,… có hệ thống sông ngòi kém phát triển hơn, mật độ đạt dưới 0,3 - 0,5 km/km2

(Hoàng Ngọc Quang, 2008) [17]

Ở nước ta, tiêu chí phân loại hệ thống sông thường dựa trên quy mô, lưu lượng chảy của dòng sông Có thể chia thành hệ thống sông có lưu vực nhỏ, trung bình, lớn Với nguồn tài nguyên nước dồi dào, đặc biệt là nguồn nước

Trang 19

sông đã đem lại những giá trị lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư Việt Nam như: cung cấp nước chính cho sinh hoạt, các hoạt động sản xuất; bồi đắp phù sa cho đồng bằng; nhiều nguồn lợi khác về giao thông, thủy điện, đánh bắt NTTS, du lịch sinh thái (Nguyễn Viết Thành và cộng sự, 2014) [32]

1.1.2.1 Một số lưu vực sông lớn ở miền Bắc

Lưu vực sông Lô - Chảy thuộc khu vực miền núi Bắc Bộ đã được nghiên cứu tổng hợp và các nhà khoa học đã đưa ra giải pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai Cùng với sông Thao và sông Đà, hệ thống này là hệ thống sông thượng nguồn tạo thành hệ thống sông Hồng Hệ thống sông Lô - Chảy được hình thành từ bốn sông chính: dòng chính sông Lô, sông Chảy, sông Gâm và sông Phó Đáy Nghiên cứu đã xác định hiện trạng và diễn biến khai khác sử dụng tài nguyên ở đây, đó là: tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản Từ

đó xác định các nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên môi trường và đề ra các giải pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai (Lã Thanh Hà, Nguyễn Đình Kỳ, 2012) [11]

Sông Nhuệ - sông Đáy có nhiều phụ lưu lớn nhỏ chảy qua thành phố, thị

xã, thị trấn, thị tứ, tụ điểm dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, dịch vụ, làng nghề,… Đây là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh Liên quan đến khía cạnh về ĐDSH, nguồn lợi thủy sản của sông Nhuệ - sông Đáy đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng ĐDSH và đề xuất các biện pháp bảo vệ ĐDSH sông Nhuệ - sông Đáy” Kết quả của đề tài đã xác định được mức độ ĐDSH của lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, bao gồm 786 loài động thực vật, trong đó có 119 loài TVN (Phytoplankton), 311 loài thực vật lớn (Macrophyta), 97 loài động vật không xương sống ở nước, 132 loài côn trùng, 40 loài cá (Pisces), 26 loài lưỡng cư (Amphibia), bò sát (Reptilia), 43 loài chim (Aves) và 18 loài động vật có vú (Mammalia) Trong số này, có 2 loài cá,

4 loài bò sát và 2 loài thú được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2000 Kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định mức độ ĐDSH tại hai thủy vực này đã bắt đầu suy giảm Những loài động thực vật có giá trị kinh tế, có giá trị khai thác, có giá

Trang 20

trị sử dụng (như các loài cá, tôm, cua, trai, ốc ) đang khan hiếm dần Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ các hoạt động kinh tế,

do ô nhiễm và khai thác quá mức hoặc sử dụng phương thức khai thác tận diệt (kích điện) Các loài ít hoặc không có giá trị khai thác, ưa sống trong điều kiện ô nhiễm lại đang có chiều hướng tăng lên Ngoài ra, tình trạng xây dựng và phát triển thiếu quy hoạch, không đồng bộ, không dựa trên cơ sở khoa học theo định hướng phát triển bền vững là mối nguy cơ đe dọa đến sự mất cân bằng sinh thái trong tương lai Trên cơ sở về kết quả điều tra ĐDSH, nhóm thực hiện đề tài đã

đề xuất những biện pháp bảo tồn ĐDSH có tính khả thi (Nguyễn Xuân Quýnh

và cộng sự, 2004) [20]

Sông Hồng được biết đến là con sông lớn của khu vực miền Bắc Việt Nam với tổng chiều dài là 1.126km Lưu vực sông Hồng - Thái Bình là nơi sinh sống của 1/3 dân số cả nước Lượng nước chảy dồi dào cùng với sự bồi đắp phù

sa của sông Hồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sinh sống - sản xuất của người dân, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo (chiếm khoảng 1/5 lượng gạo của cả nước) Nhận thức được những giá trị đa dạng và tầm quan trọng của con sông mà nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia, tổ chức, đã quan tâm thực hiện các

đề tài, dự án về nhiều lĩnh vực khác nhau Có thế kể đến dự án “Nghiên cứu dự báo tác động của BĐKH đối với lưu vực sông Hồng và hỗ trợ thể chế cho nâng cao hiệu quả tưới tại một khu vực thí điểm Gia Bình của hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải” Dự án đã phân tích, đánh giá các kịch bản tác động của BĐKH ở lưu vực sông Hồng; đánh giá những tác động BĐKH đối với kinh tế xã hội và môi trường, từ đó đề xuất những phương án, kế hoạch nhằm giảm thiểu những tác động của BĐKH đối với vùng Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu về mức độ suy thoái tài nguyên, môi trường tại lưu vực sông Hồng nhưng tập trung chủ yếu vào

sự suy giảm tài nguyên nước [35]

Sông Đà là chi lưu lớn nhất của sông Hồng nằm trong vùng núi Tây Bắc hữu ngạn sông Hồng Đoạn sông ở Việt Nam dài 527 km Các hoạt động khai thác tài nguyên trên sông mang lại nhiều lợi ích cho khu vực, tuy nhiên, kéo theo đó là các tác động tiêu cực đến tài nguyên, chất lượng môi trường cũng như đời sống của cư dân HST bị đe dọa do mất diện tích rừng, các hiện tượng xói

Trang 21

lở, tích tụ bùn cát, chất dinh dưỡng gia tăng,… Từ những bất cập và khó khăn trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên trong lưu vực sông, nghiên cứu của Giang Thanh Bình (2007) [1] đã tiếp cận hướng quản lý tổng hợp lưu vực sông một cách toàn diện Các giải pháp được đề xuất thực hiện nhằm đáp ứng nhiều mục tiêu trong đó có mục tiêu thúc đẩy phát triển bền vững KT-XH lưu vực Giải pháp đã được xây dựng theo các nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa về 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường

Sông Bạch Đằng đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh và chiếm vị trí quan trọng về sinh thái, môi trường đối với

hệ thống ven bờ phía Bắc HST cửa sông Bạch Đằng đa dạng gồm có: Nhóm các HST lục địa (HST đồi núi; HST đồng bằng; HST các thủy vực nước ngọt và HST đảo) và HST vùng triều cửa sông (HST RNM; HST bãi triều; HST bãi cát biển; HST bãi triều rạn đá; HST đáy mềm) Môi trường và các HST sông, đặc biệt ở vùng cửa sông như RNM, thảm cỏ biển, và các rạn san hô gần đó rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do các hoạt động tiêu cực của con người Mỗi năm, hệ thống sông tiếp nhận tương đối nhiều các chất ô nhiễm từ các nguồn công nghiệp (hoạt động cảng, giao thông thủy, đóng và sửa chữa tàu, phá dỡ tàu cũ và các khu công nghiệp ven biển), nguồn nông nghiệp và nguồn sinh hoạt gây nên những tác động nghiêm trọng đến HST lưu vực cũng như môi trường nơi đây Trước thực trạng đó, Viện TN&MT biển Việt Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển - IRD (Pháp) thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng nhân sinh

và thủy động lực tới các quần xã thực vật phù du và vi khuẩn nổi ở vùng cửa sông Bạch Đằng” Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nước sông, ĐDSH

đã giảm sút nhiều Kết quả này là cơ sở cho việc đề ra các giải pháp bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn TN&MT các sông trong cả nước nói chung và khu vực sông Bạch Đằng nói riêng [40]

1.1.2.2 Một số lưu vực sông lớn ở miền Trung

Đối với khu vực miền Trung, đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu

về quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai, có thể kể đến công trình nghiên cứu về sông Mã Đây là con sông lớn nhất miền Trung, chiều dài 512 km, phần chảy qua Thanh Hóa có

Trang 22

chiều dài 242 km Sông Mã có vị thế quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu và phát triển kinh tế tỉnh Thanh Hóa Sông Mã có nguồn nước dồi dào, tài nguyên nước phong phú, mang lại hải sản có giá trị kinh tế cao, không chỉ nuôi sống cư dân bằng nghề chài lưới, sông Mã còn là nguồn tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp,

là tuyến giao thông thuận lợi cho buôn bán nông sản, thủy sản, lâm sản, đồ thủ công Tuy nhiên, do áp lực của các hoạt động kinh tế, nên đã có các tác động tiêu cực đến tính toàn vẹn của sông Mã Do vậy, Ngô Xuân Nam và cộng sự,

2014 đã tiến hành nghiên cứu lập quy hoạch khu bảo tồn vùng nước nội địa sông

Mã dựa trên các tiêu chí phát triển bền vững Đồng thời, kết quả nghiên cứu đã xây dựng được 7 giải pháp thực hiện quy hoạch, bao gồm: Giải pháp về vốn; giải pháp về khoa học công nghệ; giải pháp về bảo vệ môi trường; giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực; tổ chức hoạt động giám sát về diễn biến HST, ĐDSH và phục hồi sinh thái; giải pháp về cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện quy hoạch (Ngô Xuân Nam và cộng sự, 2014) [16] Bên cạnh đó còn có nghiên cứu của Hoàng Ngọc Quang và cộng sự (2008) [17] về quản lý tổng hợp TN&MT lưu vực sông Mã đã đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ,hiện trạng, nguyên nhân suy thoái và ước báo TN&MT, tính toán nhu cầu nước và cân bằng nước hệ thống trên lưu vực, sử dụng mô hình SWAT để tính toán lượng nước,

dự báo nước lũ trên sông bằng mô hình NAM-MIKE, đề xuất các biện pháp quản lý tổng hợp

Đặc biệt là nghiên cứu của Hoàng Văn Đại và Trần Hồng Thái (2014) [9] về hiện tượng xâm nhập mặn ở các khu vực cửa sông ven biển Thanh Hóa Kết quả nghiên cứu áp dụng mô hình thủy động lực 1-2 chiều mô phỏng, dự báo xâm nhập mặn có ý nghĩa thiết thực nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống xâm nhập mặn cho vùng hạ lưu sông Mã Kết quả đã xây dựng

mô hình mô phỏng, dự báo xâm nhập mặn cho vùng hạ lưu sông Mã, đã được hiệu chỉnh, kiểm nghiệm mô hình với chỉ số Nash-Sutcliffe đối với độ mặn đạt

từ 0,75 - 0,98

Đối với dải đất hẹp của khu vực miền Trung có thể kể đến sông Nhật Lệ với chiều dài 85 km Sông Nhật Lệ có ý nghĩa đối với phát triển KT-XH của tỉnh Quảng Bình Là tuyến giao thông cho tàu thuyền ra vào thuận lợi, khai thác cát

Trang 23

xuất khẩu, phát triển thủy sản, du lịch Cửa sông Nhật Lệ là nơi hội tụ, xảy ra tương tác của các yếu tố động lực bùn cát mang đặc trưng của sông và biển Tại đây tập trung các cơ sở kinh tế, các khu đô thị lớn và là các thủ phủ của tỉnh Quảng Bình Do đó những biến động của vùng cửa sông này có tầm ảnh hưởng đặc biệt quan trọng về kinh tế chính trị xã hội và an ninh quốc phòng Dự án điều tra cơ bản năm 2009: “Điều tra đánh giá hiện trạng cửa sông Nhật Lệ - Quảng Bình và kiến nghị các giải pháp bảo vệ, khai thác hoàn thiện” (Trương

Văn Bốn, 2012) [3] Liên quan đến vấn đề phòng chống xói lở, bồi lấp lòng

sông, Đỗ Quang Thiên và cộng sự (2014) [26] có nghiên cứu: “Nghiên cứu, dự báo, đề xuất giải pháp phòng chống hiện tượng xói lở, bồi lấp vùng trung - hạ lưu sông Gianh và Nhật Lệ phục vụ phát triển bền vững lãnh thổ nghiên cứu

1.1.2.3 Một số lưu vực sông lớn ở miền Nam

Hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn là một trong hai hệ thống sông lớn nhất khu vực phía Nam với lưu vực rộng khoảng 44.612 km2, liên quan đến 11 tỉnh/thành phố trên lưu vực với dân số hiện tại khoảng 15 triệu người (Lê Quốc Tuấn và cộng sự, 2012) [36] Sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa đã được khai thác để phát triển KT-XH của vùng Tuy nhiên đi kèm với đó

là một số hậu quả tiêu cực như hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải gây bồi lắng, sạt lở Sử dụng hóa chất bừa bãi trong bón phân và thuốc trừ sâu làm hệ thống kênh mương tưới tiêu trong khu vực bị ô nhiễm Việc khai thác cát trái phép gây ra tác động xấu cho môi trường nước Hoạt động khai thác quá mức làm giảm ĐDSH

Để khắc phục hậu quả trên và khai thác sông Đồng Nai một cách hợp lí, phục vụ phát triển KT-XH thành phố Biên Hòa cũng như tỉnh Đồng Nai, năm

2006, nghiên cứu của Hoàng Văn Huân và cộng sự, (2006) [13] đã thực hiện chỉnh trị sông, ngăn chặn sạt lở bờ, giữ ổn định thế sông, lòng dẫn, đường bờ, lưu lượng các nhánh qua cù lao; đáp ứng nhu cầu thoát lũ, phát triển giao thông

và du lịch Một số biện pháp được tiến hành: thường xuyên nạo vét, khơi thông dòng chảy; luân canh các cây trồng để tận dụng tối đa nguồn nước tưới; tăng cường công tác tuần tra để phát hiện các điểm khai thác lậu, cấm khai thác cát

Trang 24

bừa bãi; kiểm tra, giám sát và xử lý các nhà máy sản xuất xả thải ra sông Đồng Nai, đồng thời sớm triển khai xây dựng hệ thống xử lí nước thải sinh hoạt của thành phố; giảm thất thoát và giảm thất thu cơ sở hạ tầng cấp nước sinh hoạt

Hệ thống sông Cửu Long là hệ thống sông tạo ra đồng bằng lớn nhất Việt Nam, gồm 2 nhánh sông chính là sông Tiền và sông Hậu mang lại nguồn nước ngọt sự phát triển trù phú của hơn 17 triệu dân ở đây Tài nguyên nước vùng đồng bằng sông Cửu Long bị đe dọa do các ảnh hưởng từ các công trình khai thác nguồn nước ở các quốc gia thượng nguồn sông Mê Kông Hàng loạt đập nước - nhà máy thủy điện trên các sông nhánh và cả dòng sông chính ở Trung Quốc, Lào và Cambodia khiến chế độ dòng chảy sẽ thay đổi Ngoài ra, việc phát triển sản xuất ven sông ở các nước thượng nguồn cũng sẽ làm chất lượng nước

ở hạ lưu xấu hơn Vùng đồng bằng sông Cửu Long đang và sẽ bị các tác động

“kép” do cả yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đồng thời ảnh hưởng lên tài nguyên nước khu vực (FAO, 2007) [58]

Như vậy, các nghiên cứu về sông ở Việt Nam đã được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau như tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản, khai thác thủy sản, ô nhiễm môi trường, phòng tránh thiên tai, Các nghiên cứu về tác động của BĐKH, các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản trên sông còn tản mạn Trên thực tế, còn rất nhiều sông ở các vùng hoặc địa phương ở Việt Nam cũng đang rất cần có những nghiên cứu về khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản trong bối cảnh BĐKH phục vụ phát triển bền vững KT-XH

1.2 Tình hình khai thác và sử dụng nguồn lợi thủy sản trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Theo FAO (2016) [61], ngành thủy sản trên thế giới đang tăng trưởng cả

về quy mô sản lượng và khả năng tiêu thụ Sản lượng thủy sản của thế giới tăng đều qua từng năm với mức tăng trung bình giai đoạn 2009-2014 là 2,3%, trong

đó, tăng trưởng NTTS là 6,1%, khai thác thủy sản có xu hướng chậm lại với 0,1% Nguyên nhân do chính phủ các nước khuyến khích hoạt động NTTS nhằm hướng tới sự phát triển bền vững bảo vệ môi trường trong bối cảnh trữ lượng thủy sản tự nhiên của thế giới có hạn và đang bị suy giảm (Bảng 1.1)

Trang 25

Bảng 1.1 Sản lượng thủy sản trên thế giới từ năm 2009 đến năm 2014

ĐVT: Triệu tấn

Nội địa 10,5 11,3 11,1 11,6 11,7 11,9 Biển 79,7 77,9 92,6 79,7 81 81,5

Nội địa 34,3 36,9 38,6 42 44,8 47,1 Biển 21,4 22,1 23,2 24,4 25,5 26,7

(Nguồn: FAO, 2016)

Trong các đối tượng thủy sản khai thác được, cá chiếm 83% tổng số, sau là giáp xác gần 5,0 % (tôm, cua), thân mềm trên 7,0 % (chủ yếu là Hai vỏ và Chân đầu), rong tảo trên 4,0 % (chủ yếu là tảo Nâu), số còn lại là giun biển, cầu gai và thú biển

Cá thường tập trung chính ở nhóm cá Trích (Clupeiformes) 21-23 %, cá Gadus (Gadiformes) gần 16,0 %, cá Thu (Scombridae) khoảng 6,5 %, cá Sòng (Carangidae) 6,0%, cá Gai (Gasterosteidae) trên 5,0%, cá Ngừ (Thunnidae) gần 3,5%, cá Merlucidae 2,6% và cá Bơn (Pleuronectiformes) khoảng 2% trong tổng sản lượng cá

Những ngư trường truyền thống của nghề cá thế giới hiện nay có xu hướng cạn kiệt dần Do vậy, hướng phát triển của nghề cá đại dương có chiều hướng thay đổi:

- Đưa việc khai thác từ Bắc Bán cầu xuống Nam Bán cầu, tại trung tâm phía nam của các đại dương

- Đưa nghề cá từ bờ ra khơi, từ tầng nước mặt đến các tầng sâu của đại dương

- Tìm kiếm những đối tượng khai thác mới

Theo FAO (1987) [56], đại dương cũng chỉ có khả năng cung cấp cho con người mỗi năm trên dưới 100 triệu tấn hải sản, còn vượt quá, nguồn lợi đó

sẽ rơi vào tình trạng suy giảm

Thực chất, sản lượng hải sản thế giới ngay trong giai đoạn 1990-1995 trung bình hàng năm đạt 84 triệu tấn, chưa kể 27 triệu tấn bị loại bỏ, từ những

Trang 26

loài mà nghề cá không mong muốn, cũng như những đối tượng bị giắt lưới và chết, không còn giá trị thương phẩm Với sản lượng chung như thế thì nghề cá biển thế giới đã vượt quá giới hạn chịu đựng của đại dương và đến năm 1994 có khoảng 60% nguồn lợi cá đại dương hoặc đã được khai thác đến giới hạn cho phép hoặc đã rơi vào tình trạng suy giảm (WWF, 1998) [92] Theo WWF (1998) [92], trên cơ sở phân tích tình trạng của 116 loài cá chính, trong thời kì từ năm

1970 đến nay có tới 40% các quần thể cá khai thác đã bị suy kiệt, 25% duy trì được sản lượng của mình, số còn lại (35%) đang có chiều hướng tăng lên, tuy nhiên, tình trạng chung của biển thể hiện qua chỉ số tổng hợp (chỉ số “sức khoẻ” của hành tinh LPI) đang trong trạng thái suy giảm

Để bù đắp lượng đạm động vật thiếu hụt mà ngành chăn nuôi trên cạn và khai thác đại dương không đủ cung cấp, con người phải đẩy mạnh việc NTTS (Aquaculture) nói chung hay nuôi thả biển (Mariculture) nói riêng, theo hướng biến các thuỷ vực thành trang trại, tương tự như nghề chăn nuôi trên cạn

Nuôi thủy sản trên quy mô lớn lần đầu ra đời ở các nước Bắc Mỹ từ giữa

thế kỉ thứ XV và đó là hệ quả của những thành tựu đạt được trong nghề nuôi cá nước ngọt Ở đây, người ta đã xây dựng các đầm nuôi cá Đối, giữ được cả cá thành thục để cho đẻ ngay trong đầm, tiến hành thả cá cho một số vùng biển như

ở Hawaii

Cuối thế kỉ thứ XIX, bằng cách nuôi thả nhân tạo, nhiều đàn cá ở bờ đông

và tây Bắc Mỹ có nguy cơ mất khả năng khai thác lại được phục hồi Người ta còn sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo để tăng nguồn giống cho các đàn cá Bơn, cá Tuyết ở vùng bờ Đại Tây Dương Những năm đầu của thế kỉ XX được mệnh danh là “Kỉ nguyên vàng” của sự phát triển nghề nuôi cá biển Các nhà máy sản xuất cá giống, các cơ sở sản xuất thức ăn nhân tạo, các phòng thực nghiệm và các trạm nghiên cứu sinh học để phục vụ cho nuôi thả biển ra đời ở hàng loạt nước thuộc châu Mỹ, châu Âu Nhiều công trình tạo giống, ương nuôi

cá con trong điều kiện nhân tạo được công bố

Đối tượng nuôi trồng rất đa dạng, nhưng mỗi vùng có một tập đoàn nuôi đặc trưng, gồm các loài rong tảo, thân mềm, giáp xác, cá, bò sát và cả thú biển

Những loài tảo có giá trị trồng trên thế giới là Bắp cải biển (Porphira), Hẹ biển

Trang 27

(Laminaria), Rong Hồng vân (Eucheuma), Rong đông (Hypnea), Rong Câu (Gracillaria), Rong Mơ (Sargassum)… Trong nhóm thân mềm, những loài thường được nuôi là Hàu, nhất là Hàu Thái Bình dương (Crossostreo gigas), Vẹm châu Âu (Mytilus edulis), Sò (Arca), thậm chí cả Chân đầu (Cephalopoda)

Sản lượng nuôi Hàu Thái Bình dương của thế giới đến năm 2000 đạt con số trên

2 triệu tấn (trong đó Mỹ chiếm 42%, Nhật Bản 29% tổng sản lượng) và năm

2003 lên 4,2 triệu tấn Ở những vùng biển nhận được dòng nước ấm từ các thành phố, sản lượng Hàu rất cao, như ở Tây Ban Nha, trong những vùng như thế năng suất lên đến 130 tấn/ha

Các loài vẹm (Mytilus) do ăn thực vật nổi nên nuôi có hiệu quả hơn Hàu

và cho sản lượng cao Ví dụ, ở Thái Lan, năng suất vẹm nuôi có thể cho 180 tấn/ha

Tôm, cua thuộc lớp Giáp xác rất đa dạng với hàng trăm loài, nhất là các

loài thuộc họ tôm He (Penaeidae) ở biển hay tôm Càng xanh (Macrobrachium

rosenbergi) trong nước ngọt, chúng đều là những đối tượng nuôi có giá trị Nghề

nuôi tôm rất phát triển ở các nước Đông Nam châu Á, Đông Bắc Á, các nước thuộc Ấn Độ Dương

Cá nuôi thuộc hàng chục loài như cá Tầm, cá Hồi ở các vùng nước lạnh

và các loài cá Đối, cá Song, cá Vược, cá Măng sữa, cá Bống ở các vùng nước

ấm nhiệt đới

Do vậy, trong vài ba thập niên qua NTTS đã có những bước phát triển đột phá Từ năm 1984 tới nay, tốc độ NTTS trung bình tăng trên 11% so với 3,1% mức tăng trưởng của chăn nuôi gia súc và 0,8% so với mức tăng của khai thác thuỷ sản (Tacon và Obaldo, 2001) [86]

Sản lượng NTTS ở các khu vực khác nhau trên thế giới không giống nhau, theo thứ tự: Châu Úc (0%), châu Phi (1%), Nam Mỹ (2%), Bắc Mỹ (2%), châu Âu (6%) và châu Á cao nhất, đạt đến 89%

Cho đến nay, sự gia tăng sản lượng, đa dạng hoá đối tượng nuôi và các loại hình nuôi là những nét đặc trưng cho các nước châu Á Trong 10 quốc gia xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất có tới 7 nước thuộc châu Á với những mặt hàng chính: tôm (cao nhất), mực, một số cá biển, rô phi và thân mềm

Trang 28

1.2.2 Ở Việt Nam

Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc và đường bờ biển dài hơn 3.260km nên rất thuận lợi để phát triển hoạt động khai thác và NTTS Theo kết quả thống kê số liệu, sản lượng khai thác và NTTS của nước ta liên tục tăng từ năm 2000 đến năm 2016 Cơ cấu sản lượng NTTS có xu hướng tăng, ngược lại

cơ cấu sản lượng khai thác thủy sản có xu hướng giảm (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Sản lượng khai thác và NTTS giai đoạn 2000-2016

lượng

Nuôi trồng thủy sản

Khai thác thủy sản

Nuôi trồng thủy sản

Khai thác thủy sản

(Nguồn: Số liệu của Vasep, 2016)

Sản lượng thủy sản năm 2000 là 2.003 nghìn tấn, trong đó sản lượng NTTS là 7.22 nghìn tấn (chiếm 36,5%) và sản lượng khai thác thủy sản là 1.281 nghìn tấn (chiếm 63,93%) Trong năm 2016, sản lượng thủy sản là 6.729 nghìn tấn, trong đó sản lượng NTTS là 3.604 nghìn tấn (chiếm 53,57%) và sản lượng khai thác thủy sản là 3.124 tấn (chiếm 46,43%) (Hình 1.1)

Trang 29

Hình 1.1 Sản lượng khai thác và NTTS của Việt Nam

giai đoạn 2000-2016

(Nguồn: Số liệu của Vasep, 2016)

Theo Nguyễn Văn Tư (2012) [38], căn cứ vào đặc điểm nguồn lợi mà khai thác thủy sản Việt Nam được phân chia thành 2 nhóm khai thác hải sản và khai thác thủy sản nội địa, cụ thể như sau:

* Nguồn lợi hải sản

Nguồn lợi hải sản Việt Nam có 5 nhóm chính là cá biển, giáp xác, nhuyễn thể, rong biển và các nhóm loài đặc sản khác (đồi mồi, bào ngư, ngọc trai )

- Cá biển có 2.038 loài với 4 nhóm sinh thái chủ yếu, trong đó có 260 loài

cá nổi, 930 loài cá gần tầng đáy, 502 loài cá đáy và 304 loài nhóm cá ở rạn san

hô Hiện có 130 loài có giá trị thương mại, 30 loài thường xuyên được đánh bắt, trữ lượng 4,2 triệu tấn, sản lượng khai thác tối đa bền vững 1,7 triệu tấn/năm

Trữ lượng tại vịnh Bắc bộ là 581.000 tấn, khả năng cho phép khai thác 272.500 tấn/năm Vùng biển miền Trung có trữ lượng 606.400 tấn, khả năng cho phép khai thác 242.600 tấn/năm Vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng 2.075.900 tấn, khả năng cho phép khai thác 830.400 tấn/năm Vùng biển Tây Nam bộ có trữ lượng 506.700 tấn, khả năng cho phép khai thác 202.300 tấn/năm

- Giáp xác: hiện có trên 2.500 loài, quan trọng nhất là các loài thuộc họ

tôm he ( Penaeidae), tôm hùm (Nephropidae), cua biển (Portunidae), khả năng

khai thác từ 50.000-60.000 tấn/năm

Trang 30

- Nhuyễn thể: có trên 2.500 loài, nhóm loài có giá trị kinh tế cao là sò, điệp, ngao, vẹm Khả năng khai thác của mỗi nhóm loài trên 100.000 tấn/năm

- Rong biển: có trên 650 loài, có 90 loài có giá trị kinh tế, trong đó rau câu, rong mơ có ý nghĩa kinh tế lớn Trữ lượng rau câu, rong mơ khoảng 45.000-50.000 tấn tươi/năm

Nghề khai thác ở nước ta rất đa dạng với trên 20 loại nghề khai thác thuộc 6 học nghề: nghề lưới kéo, nghề lưới vây, nghề lưới rê, nghề mành vó, nghề câu và các nghề khác

* Nguồn lợi thủy sản nội địa

Việt Nam có 1,7 triệu thủy vực nội địa Trong đó có khoảng 230 hồ tự nhiên và đầm phá với diện tích 34.600 ha, năng suất đạt 250kg/ha/năm; khoảng 2.500 hồ chứa nhân tạo với diện tích trên 400.000 ha, năng suất của hồ các tỉnh phía bắc 17kg/ha/năm, ở các tỉnh phía Nam từ 30-65kg/ha/năm; khoảng 2.360 con sông với 100 sông lớn, năng suất từ 8-10kg/ha/năm ở các tỉnh phía Bắc, từ 135-150kg/ha/năm ở các tỉnh phía Nam Ngoài ra, nước ta còn có 580.000 ha ruộng lúa ngập nước, là nơi có nguồn lợi thủy sản phong phú

Nguồn lợi thủy sản nội địa bao gồm các loài cá nước ngọt, cá nước lợ mặn, các loài giáp xác và thân mềm Cụ thể:

- Cá nước ngọt: có khoảng 544 loài cá nước ngọt với khoảng 70 loài có giá trị kinh tế

- Các nước lợ mặn: có khoảng 186 loài cá nước lợ mặn với nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cá song, cá mú, cá hồng, cá vược, cá cam, cá bống, cá bớp, cá đối, cá dìa

- Giáp xác: 55 loài

- Nhuyễn thể: 125 loài

Phần lớn các ngư cụ khai thác là ngư cụ tĩnh Một số ngư cụ động như lưới cào, lưới bén, lưới kéo được sử dụng ở các sông lớn Khai thác nội địa được thực hiện bởi số lượng lớn ngư dân bán chuyên nghiệp

Theo các số liệu thống kê, sản lượng khai thác thủy sản nội địa thay đổi tùy theo từng năm, có xu hướng giảm từ 241,3 nghìn tấn vào năm 2000 xuống còn 200 nghìn tấn vào năm 2016 Nguyên nhân của sự suy giảm do áp lực của gia tăng dân số, vấn đề ô nhiễm môi trường và một phần của BĐKH (Hình 1.2)

Trang 31

Hình 1.2 Sản lượng khai thác thủy sản nội địa giai đoạn 2000-2016

(Nguồn: Số liệu của Vasep, 2016)

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận

1.3.1 Vị trí địa lý

Sông Trường Giang có tổng chiều dài 67 km, có tọa độ từ 15°29'45.76" đến 15°50'22.28" vĩ độ Bắc, từ 108°21'5.15" đến 108°39'34.97" kinh độ Đông Sông chạy dài từ Bắc xuống Nam, lần lượt đi qua các huyện Duy Xuyên, huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, song song với đường bờ biển Đoạn phía Nam chạy cạnh bờ biển cách bờ biển khoảng 2km, đoạn phía Bắc khoảng cách rộng hơn, đoạn lớn nhất cách bờ biển khoảng 7km (Lê Văn Việt, 2012) [41]

1.3.2 Điều kiện địa hình

Địa hình khu vực sông Trường Giang có 2 dạng:

- Vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven sông, đây là vùng hạ lưu của các sông lớn nên thường bị lũ lụt

- Địa hình vùng cồn cát, bãi cát ven biển, có hầu hết các huyện ven biển tỉnh Quảng Nam

Với tổng chiều dài 67 km, trong đó có 15km thuộc sông cấp V và 51km thuộc sông cấp VI Sông có độ rộng khoảng 20m đến 50m, cao độ lòng sông phổ biến từ (-2,20) đến (-3,00)m, cá biệt có nhiều đoạn dòng sông thu hẹp do các công trình vượt sông, do người dân lấn dòng để NTTS và bị bồi rất nhiều nên dòng chảy rất nhỏ, đặc biệt trong mùa cạn kéo dài tới 8 tháng Các bãi cạn đa số kéo dài 2 - 3 km, chỗ cạn nhất mực nước chỉ đạt 0,4 - 0,6 m, nhiều đoạn sông hẹp (Lê Văn Việt, 2012) [41]

Trang 32

1.3.3 Điều kiện khí hậu

a Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình có xu hướng tăng dần qua các năm Năm

2011 nhiệt độ trung bình năm là 25,1oC, năm 2016 nhiệt độ trung bình là 26,4o

C Nhiệt độ trong tháng 5 đến tháng 9 cao hơn so với các tháng khác trong năm, trung bình từ 26,5 - 30,5oC Nhiệt độ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau thường thấp hơn, trung bình từ 19,0oC - 23,3oC

b Số giờ nắng

Tổng số giờ nắng trung bình có xu hướng tăng dần từ năm 2011 đến năm

2016, tăng từ 143 đến 191 giờ/năm

Trong năm, tổng số giờ nắng cao ở các tháng 5,6,7 và tháng 8, trung bình

từ 138 - 264 giờ/tháng; tổng số giờ nắng thấp ở tháng 1 và tháng 12, trung bình

từ 13 đến 128 giờ/tháng Từ năm 2013 đến 2016, số giờ nắng trung bình của tháng 1 và tháng 12 có xu hướng cao hơn cao hơn so với các năm trước

Lượng mưa trung bình các tháng thay đổi theo từng năm, thường cao vào các tháng 9, 10,11, 12 với giá trị từ 100,9-879mm; lượng mưa thấp từ tháng 1 đến tháng 8 với giá trị trung bình từ 5-313,3mm, đặc biệt vào tháng 6, lượng mưa trung bình qua các năm chỉ 28,78mm

e Chế độ gió

Vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của các hướng gió thổi tới: từ tháng V đến tháng IX hướng Đông Nam và Tây Nam, từ tháng X đến tháng IV hướng Đông và Đông Bắc, tốc độ gió đạt 1,3  1,6 m/s

Trang 33

f Bão, áp thấp nhiệt đới

Miền trung là nơi chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất Việt Nam (hơn 65%

số cơn bão vào Việt Nam)

Theo số liệu thống kê của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Nam (2016), trung bình hàng năm trên biển Đông có khoảng 10 cơn bão, 3 đến 4 áp thấp nhiệt đới hoạt động Bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông tập trung nhiều nhất trong các tháng 8, 9, 10 Khu vực Quảng Nam chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới trong các tháng 4, 5, 6 và tập trung nhiều nhất vào tháng 8 đến tháng 12 (trừ tháng 1, 2, 3 chưa quan sát thấy)

Khi bão hay áp thấp nhiệt đới đi vào vùng biển hoặc đổ bộ vào đất liền Quảng Nam, Đà Nẵng gây nên mưa lớn kèm theo gió mạnh, hiện tượng nước dâng trong bão, lũ lụt và sạt lở đất

1.3.4 Chế độ thủy văn

Do đặc điểm của sông Trường Giang hầu như không có tài liệu thủy văn

và không có trạm đo lưu lượng hay mực nước; chỉ có duy nhất một trạm đo mực nước ở Hội An - gần cửa vào sông Trường Giang Theo số liệu thống kê của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Nam (2016), chế độ thủy văn của sông Trường Giang như sau:

- Về mực nước: sông Trường Giang chịu ảnh hưởng thủy triều từ 2 cửa

sông (cửa sông Thu Bồn (Cửa Đại) và cửa Kỳ Hà Ở hai đầu sông mực nước thấp, dưới tác dụng đẩy của thủy triều từ 2 phía cửa nên càng vào giữa sông mực nước càng tăng dần Như vậy mực nước trên sông Trường Giang vào mùa kiệt biến đổi tăng dần từ đầu sông và đạt lớn nhất ở khoảng Km 27, sau đó mực nước lại giảm dần ra tới cửa Kỳ Hà

- Về lưu lượng: do ảnh hưởng của thủy triều từ hai cửa nên lưu lượng

trong sông thay đổi, lúc âm (chảy ngược - dòng chảy chảy từ cửa Kỳ Hà về phía cửa Đại), lúc dương (chảy xuôi - dòng chảy chảy từ cửa Đại về phía cửa Kỳ Hà)

Ở khoảng 30 km đầu sông dòng chảy chảy ngược, còn sau đó dòng chảy chảy xuôi Lưu lượng dòng chảy trong sông rất nhỏ, chỉ vài chục m3/s

- Về vận tốc dòng chảy: Dòng chảy mùa kiệt vào sông Trường Giang là

dòng chảy từ 2 phía, nên sẽ xuất hiện điểm “0” lưu tốc dòng chảy ở giữa đoạn sông Điểm này thay đổi tùy theo biến trình triều tại Hội An và Kỳ Hà

Trang 34

1.4 Biến đổi khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu

1.4.1 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Theo Bộ TN&MT (2016), kịch bản BĐKH cho Việt Nam trong thế kỷ 21

có thể được tóm tắt như sau:

Về nhiệt độ:

- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 1,6-2,2oC trên phần lớn diện tích phía Bắc lãnh thổ và dưới 1,6oC ở đại

bộ phận diện tích phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào)

- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng từ 2 - 3o

C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 - 3oC, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng 2,0 - 3,2oC Số ngày nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước

- Theo kịch bản phát thải cao: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng phổ biến từ 2,5 - 3,7o

C trên hầu hết diện tích nước ta

Về lượng mưa:

- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng phổ biến khoảng trên 6%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, chỉ khoảng dưới 2%

- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng hầu hết trên khắp lãnh thổ Mức tăng phổ biến từ 2-7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm

và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng so với thời kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay

- Theo kịch bản phát thải cao: Lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng trên hầu khắp lãnh thổ nước ta với mức tăng phổ biến khoảng 2-10%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, khoảng 1-4%

Trang 35

Về mực nước biển dâng:

- Theo kịch bản phát thải thấp: Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng 54-72cm, thấp nhất

ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng 42-57cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng 49-64cm

- Theo kịch bản phát thải trung bình: Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng 62-82cm, thấp nhất

ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng 42-57cm Trung bình toàn Việt Nam mực nước biển dâng từ 57-73cm

- Theo kịch bản phát thải cao: Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng 85-105cm, thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng 66-85cm Trung bình toàn Việt Nam mực nước biển dâng từ 78-95cm

Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân

số thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp, trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng

Các hiện tượng khí hậu cực đoan

- Bão và áp thấp nhiệt đới: cường độ bão có thể tăng khoảng 2 tới 11%, mưa trong khu vực bán kính 100km từ tâm bão có khả năng tăng khoảng 20% trong thế kỷ 21 Số lượng bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông có

xu thế giảm trong các tháng đầu mùa bão (tháng 6, 7, 8) ở cả 2 kịch bản (khí nhà kính trung bình thấp và kịch bản khí nhà kính cao) và có xu thế dịch chuyển về cuối mùa bão, thời kỳ mà bão hoạt động chủ yếu ở phía Nam Nếu phân chia theo cấp độ, số lượng bão yếu và trung bình có xu thế giảm trong khi số lượng bão mạnh đến rất mạnh lại có xu thế tăng rõ rệt

Trang 36

- Rét đậm, rét hại: Theo kịch bản phát thải thấp, vào giữa thế kỷ số ngày rét đậm (nhiệt độ thấp nhất Tn≤15o

C), số ngày rét hại (nhiệt độ thấp nhất Tn≤13o

C) có xu thế giảm ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, phổ biến 5-10 ngày so với thời kỳ cơ sở, giảm nhiều nhất trên 15 ngày ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc,

ít nhất 5 ngày ở Bắc Trung Bộ Đến cuối thế kỷ, số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm phổ biến từ 10-20 ngày, giảm nhiều nhất ở một số trạm thuộc Tây Bắc, Đông Bắc (trên 20 ngày), ít nhất dưới 10 ngày ở một số trạm thuộc Bắc Trung Bộ

- Nắng nóng: Theo kịch bản phát thải thấp, vào giữa thế kỷ số ngày nắng nóng (số ngày có nhiệt độ cao nhất Tx≥35oC) có xu thế tăng trên phần lớn cả nước, phổ biến 25-35 ngày so với thời kỳ cơ sở

Theo kịch bản phát thải cao, vào giữa thế kỷ, số ngày nắng nóng tăng trên phạm vi cả nước với mức tăng 35-45 ngày so với thời kỳ cơ sở Đến cuối thế kỷ,

số ngày nắng nóng tăng nhiều hơn so với giữa thế kỷ trên phạm vi cả nước

- Hạn hán: Đối với Việt Nam, hạn hán ở một số vùng có thể khắc nghiệt hơn do xu thế giảm lượng mưa trong mùa khô (ví dụ ở Nam Trung bộ trong mùa xuân và mùa hè, Nam bộ trong mùa xuân và Bắc bộ trong mùa đông)

Hệ quả của BĐKH mang nhiều tính chất tiêu cực tác động đến đời sống KT-XH của con người BĐKH đang làm tăng các hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm Tần suất và cường độ các hiện tượng bão, mưa lớn, nhiệt độ cao, hạn hán tăng nhiều hơn trong các thập niên vừa qua Đặc biệt, hệ quả nặng nề và sâu rộng nhất là hiện tượng nước biển dâng Nước biển dâng gây ra hiện tượng xâm thực bờ biển, nhiều đoạn bờ biển bị xói lở, làm mất dải rừng phòng hộ ven biển, thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp ở các vùng ven biển

1.4.2 Biến đổi khí hậu của tỉnh Quảng Nam

1.4.2.1 Biến đổi khí hậu tại tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây

Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Minh Tâm (2016) cho thấy:

a Thay đổi nhiệt độ

Để đánh giá sự thay đổi của các yếu tố nhiệt độ và lượng mưa, đề tài sử dụng số liệu của 2 trạm khí tượng là trạm Tam Kỳ và Trà My từ năm 1979 đến nay

Trang 37

Mức độ biến đổi theo nửa thập kỷ

 Nhiệt độ trung bình tháng 1

Trong tháng 1, tháng tiêu biểu cho mùa đông, diễn biến của nhiệt độ trung bình các nửa thập kỷ như sau: nhiệt độ cao nhất trong 3 nửa thập kỷ 1985-1990, 1996-2000 và 2001-2005 và đến thập kỷ 1991-1995 và 2006-2010 nhiệt độ có xu thế giảm nhẹ Nhiệt độ trung bình tháng 1 thấp nhất trong nửa thập kỷ 2010 - 2014

 Nhiệt độ trung bình tháng 7

Trong tháng 7, tháng tiêu biểu cho mùa hè, nhiệt độ trung bình các nửa thập kỷ không có sự khác biệt rõ rệt như trong mùa đông do nhiệt độ mùa hè ít biến đổi hơn Nhiệt độ thấp nhất đều rơi vào một trong ba nửa thập kỷ: 1979-

1984, 1985-1990, 1991-1995 Nhiệt độ vào thập kỷ 1996-2000 và 2001-2005 có

xu thế tăng lên, tuy nhiên nhiệt độ trung bình tháng 7 có xu thế giảm nhẹ trong nửa thập kỷ 2006-2010 Đến nửa thập kỷ 2010-2014, nhiệt độ trung bình tháng 7

có xu thế tăng lên

 Nhiệt độ trung bình năm

Nhiệt độ trung bình năm có sự khác biệt như sau Nhiệt độ trung bình nửa thập kỷ thấp nhất rơi vào 3 nửa thập kỷ: 1979-1984, 1985-1990, 1991-1995 và cao nhất thuộc một trong ba nửa thập kỷ gần đây: 2001-2005, 2006-2010 và 2010-2014 (Bảng 1.3)

Diễn biến của nhiệt độ trung bình các nửa thập kỷ có những đặc điểm sau đây:

- Nhiệt độ mùa đông, cũng như mùa hè và nhiệt độ năm của các nửa thập

kỷ gần đây cao hơn các nửa thập kỷ trước

- Nửa thập kỷ 2001 - 2005 được coi là có nhiệt độ cao nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trang 38

Bảng 1.3 Nhiệt độ trung bình các nửa thập kỷ tháng I, VII, năm

Nguồn: Vũ Minh Tâm, 2016

Xu thế biến đổi của nhiệt độ

Theo Bảng 1.4 và bảng 1.5, nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ nhỏ nhất và

nhiệt độ lớn nhất tại hai trạm đƣợc khảo sát Tam Kỳ và Trà My có xu thế tăng

Nhìn chung, nhiệt độ trung bình các mùa ở hai trạm đều có xu thế tăng nhẹ

Bảng 1.4 Xu thế biến đổi đặc trƣng nhiệt độ tại một số trạm điển hình

tại tỉnh Quảng Nam Trạm

Nguồn: Vũ Minh Tâm, 2016

Bảng 1.5 Xu thế biến đổi đặc trƣng nhiệt độ mùa tại một số trạm điển hình

tại tỉnh Quảng Nam

Tam Kỳ Tăng Tăng Tăng Tăng

Trà My Tăng Tăng Tăng Tăng

Nguồn: Vũ Minh Tâm, 2016

Trang 39

So sánh nhiệt độ trung bình các thời kỳ

Nhiệt độ trung bình các tháng 1, 4, 7, 10 và trung bình năm thời kỳ gần đây (2000-2014) đều tăng so với thời kỳ (1980 - 1999), nhiệt độ trạm Trà My tăng ít hơn từ (0 - 0,18o

C), nhiệt độ trạm Tam Kỳ tăng mạnh hơn từ (0,65 - 1,03oC) (Bảng 1.6)

và thời kỳ (1980-1999)

Tam Kỳ 0,71 1,03 0,91 0,65 0,27

Trà My 0,00 0,14 0,18 0,15 0,19

Nguồn: Vũ Minh Tâm, 2016

b Thay đổi lượng mưa

Sử dụng chuỗi số liệu lượng mưa thực đo: Trạm Tam Kỳ từ năm 1979 -

2014, trạm Trà My từ năm 1978 - 2014

Mức độ biến đổi theo nửa thập kỷ

Do ảnh hưởng của dãy Trường Sơn, tỉnh Quảng Nam có mùa mưa bắt đầu

từ cuối tháng 8 và kết thúc vào tháng 1, trong đó có 3 tháng mưa nhiều nhất vào tháng 10, 11, 12; trung bình mỗi tháng có lượng mưa 500-600mm, chiếm 65-80% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, với lượng mưa chỉ chiếm có 3-5% tổng lượng mưa cả năm, trong đó có 02 tháng hạn

là tháng 3 và 4 (trung bình mỗi tháng có lượng mưa 20-30mm) Nhìn chung lượng mưa mùa khô, mùa mưa, lượng mưa năm qua các nửa thập kỷ tại hai trạm Tam Kỳ và Trà My có xu thế tăng, giảm đồng đều Tuy nhiên qua các nửa thập

kỷ thấy rằng thập kỷ 1996 - 2000 có lượng mưa tăng lớn nhất (Bảng 1.7)

Bảng 1.7 Lượng mưa trung bình các nửa thập kỷ mùa khô, mùa mưa, mưa năm

Trang 40

Lƣợng mƣa năm Tam Kỳ 2.404,8 2.281,4 2.655,6 3.415,7 2.662,1 2.948,4 2.702,2 Trà My 3.896,7 3.766,9 3.838,6 5.282,7 4.009,7 4.258,0 3.904,7

Nguồn: Vũ Minh Tâm, 2016

Xu thế biến đổi của lượng mưa

Theo bảng 1.8 cho thấy lƣợng mƣa năm, lƣợng mƣa mùa mƣa và lƣợng mƣa mùa khô tại 2 trạm đều có xu thế trái ngƣợc nhau Lƣợng mƣa năm, lƣợng mƣa mùa mƣa tại 2 trạm đều có xu thế tăng, tuy nhiên lƣợng mƣa mùa khô tại trạm Trà My có xu thế giảm (-0,9mm/năm)

Bảng 1.8 Xu thế biến đổi đặc trƣng lƣợng mƣa tại một số trạm điển hình

tại tỉnh Quảng Nam

Tam Kỳ Tăng nhẹ Tăng Tăng

Nguồn: Vũ Minh Tâm, 2016 1.4.2.2 Kịch bản BĐKH của tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam có vị trí địa lý nằm trong vùng khí hậu Nam Trung Bộ nên kịch bản BĐKH của tỉnh Quảng Nam cũng giống nhƣ của vùng khí hậu Nam Trung Bộ Theo kịch bản BĐKH của Bộ TN&MT (2016) [2] cho vùng Nam Trung Bộ cụ thể nhƣ sau:

Ngày đăng: 03/11/2017, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giang Thanh Bình (2007). Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý tổng hợp lưu vực sông Đà. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý tổng hợp lưu vực sông Đà
Tác giả: Giang Thanh Bình
Năm: 2007
3. Trương Văn Bốn (2012). “Một số kết quả điều tra nghiên cứu đánh giá biến động hình thái cửa sông Nhật Lệ - Quảng Bình phục vụ công tác quy hoạch và khai thác bền vững”. Tạp chí Địa Kỹ thuật, số 2, tr. 23-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả điều tra nghiên cứu đánh giá biến động hình thái cửa sông Nhật Lệ - Quảng Bình phục vụ công tác quy hoạch và khai thác bền vững"”. Tạp chí Địa Kỹ thuật
Tác giả: Trương Văn Bốn
Năm: 2012
9. Hoàng Văn Đại, Trần Hồng Thái (2014). “Nghiên cứu mô hình thủy động lực 1-2 chiều để dự báo xâm nhập mặn hạ lưu sông Mã”. Tạp chí Khí tượng Thủy văn, số 645, tr. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình thủy động lực 1-2 chiều để dự báo xâm nhập mặn hạ lưu sông Mã"”. Tạp chí Khí tượng Thủy văn
Tác giả: Hoàng Văn Đại, Trần Hồng Thái
Năm: 2014
10. Lã Thanh Hà (2002). Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai lưu vực sông Lô, sông Chảy. Mã số KC08-27, Đề tài NCKH cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai lưu vực sông Lô, sông Chảy
Tác giả: Lã Thanh Hà
Năm: 2002
11. Lã Thanh Hà, Nguyễn Đình Kỳ (2012). Giải pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai lưu vực sông Lô - Chảy thuộc khu vực miền núi Bắc Bộ. NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai lưu vực sông Lô - Chảy thuộc khu vực miền núi Bắc Bộ
Tác giả: Lã Thanh Hà, Nguyễn Đình Kỳ
Nhà XB: NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam
Năm: 2012
12. Phạm Quang Hà, Bùi Thị Phương Loan, Mai Văn Trịnh và Vũ Thị Hằng (2012). Đánh giá tác động, xác định các giải pháp ứng phó và phát triển khai thác kế hoạch hành động trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Viện Môi trường Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động, xác định các giải pháp ứng phó và phát triển khai thác kế hoạch hành động trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản
Tác giả: Phạm Quang Hà, Bùi Thị Phương Loan, Mai Văn Trịnh và Vũ Thị Hằng
Năm: 2012
13. Hoàng Văn Huân và cộng sự (2006). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ. Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Đề tài cấp nhà nước KC-08.29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Hoàng Văn Huân và cộng sự
Năm: 2006
14. IMHEN (2011). Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động BĐKH và xác định giải pháp thích ứng. Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Biến đổi khí hậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động BĐKH và xác định giải pháp thích ứng
Tác giả: IMHEN
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Phương Loan (2005). Giáo trình Tài nguyên nước. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài nguyên nước
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Loan
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
16. Ngô Xuân Nam, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Anh Đức và cộng sự (2015). Báo cáo tổng hợp “Quy hoạch bảo tồn vùng nước nội địa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025”. Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp “Quy hoạch bảo tồn vùng nước nội địa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025”
Tác giả: Ngô Xuân Nam, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Anh Đức và cộng sự
Năm: 2015
17. Hoàng Ngọc Quang (2008). Nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên và Môi trường lưu vực sông Mã. Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ.Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên và Môi trường lưu vực sông Mã
Tác giả: Hoàng Ngọc Quang
Năm: 2008
18. Cao Lệ Quyên (2016). Nghiên cứu tác động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của BĐKH đến nuôi tôm nước lợ
Tác giả: Cao Lệ Quyên
Năm: 2016
19. Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder và Steve Tilling (2001). Định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder và Steve Tilling
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Nguyễn Xuân Quýnh, Ngô Xuân Nam, Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Anh Đức và cộng sự (2004). Điều tra đánh giá hiện trạng ĐDSH và đề xuất các biện pháp bảo vệ ĐDSH sông Nhuệ - sông Đáy. Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá hiện trạng ĐDSH và đề xuất các biện pháp bảo vệ ĐDSH sông Nhuệ - sông Đáy
Tác giả: Nguyễn Xuân Quýnh, Ngô Xuân Nam, Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Anh Đức và cộng sự
Năm: 2004
21. Vũ Trung Tạng (2006). Khai thác và sử dụng bền vững ĐDSH thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và sử dụng bền vững ĐDSH thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
22. Vũ Minh Tâm (2017). Đánh giá mức độ căng thẳng tài nguyên nước dưới tác động của BĐKH cho tỉnh Quảng Nam. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ căng thẳng tài nguyên nước dưới tác động của BĐKH cho tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Vũ Minh Tâm
Năm: 2017
23. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980). Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1980
24. Đặng Ngọc Thanh (1980). Khu hệ động vật không xương sống nươc ngọt Bắc Việt Nam. NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ động vật không xương sống nươc ngọt Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1980
25. Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2001). Động vật chí Việt Nam, tập 5. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
26. Đỗ Quang Thiên và cộng sự (2014). Nghiên cứu, dự báo, đề xuất giải pháp phòng chống hiện tượng xói lở, bồi lấp vùng trung - hạ lưu sông Gianh và Nhật Lệ phục vụ phát triển bền vững lãnh thổ nghiên cứu. Trường Đại học Khoa học Huế, Đề tài cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, dự báo, đề xuất giải pháp phòng chống hiện tượng xói lở, bồi lấp vùng trung - hạ lưu sông Gianh và Nhật Lệ phục vụ phát triển bền vững lãnh thổ nghiên cứu
Tác giả: Đỗ Quang Thiên và cộng sự
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm