1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH

75 245 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 2 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 4. Mục tiêu nghiên cứu 3 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 6. Phương pháp nghiên cứu. 4 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5 8. Bố cục của khóa luận 5 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 6 1.1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về tôn giáo 6 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 6 1.1.2. Vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội 10 1.1.3. Một số tôn giáo lớn hiện nay ở Việt Nam 11 1.1.4. Một số nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về tôn giáo 12 1.2. Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo 26 1.3. Cơ sở pháp lý 29 Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY 34 2.1. Đặc điểm tình hình tôn giáo ở Thành phố Đồng Hới 34 2.2. Tình hình quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đồng Hới 38 2.2.1. Những thành tựu cơ bản và nguyên nhân 38 2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân 50 2.3. Những vấn đề đang đặt ra hiện nay 52 Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI 54 3.1. Phương hướng chủ yếu 54 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đồng Hới 55 3.2.1. Giải pháp chung 55 3.2.2. Giải pháp cụ thể 56 3.3. Kiến nghị, đề xuất 60 3.3.1. Về phía Đảng, Nhà nước 60 3.3.2. Về phía Thành ủy và chính quyền Thành phố Đồng Hới 62 3.3.4. Về phía nhân dân và các đoàn thể quần chúng trên địa bàn Thành phố 63 KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC

Trang 1

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA HÀNH CHÍNH HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI - TỈNH QUẢNG BÌNH

Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Người hướng dẫn : TS NGUYỄN NGHỊ THANHSinh viên thực hiện : NGUYỄN HOÀNG YẾN

Mã số sinh viên : 1305QLNA072

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy

cô của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, các Thầy cô Khoa Hành chính học củatrường, đặc biệt là Thầy Nguyễn Nghị Thanh đã tạo điều kiện và nhiệt tìnhhướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa luận này

Bên cạnh đó, sự cho phép và tạo điều kiện thuận lợi của lãnh đạo vàcác chuyên viên Phòng Nội vụ - UBND Thành phố Đồng Hới, Tỉnh QuảngBình cũng góp một phần không nhỏ giúp tôi có thêm nhiều kinh nghiệm quýbáu và tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chếnên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sựđóng góp ý kiến Thầy cô

Cuối cùng, kính chúc Quý Thầy cô cùng Quý cơ quan luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc Tôi xin chân thành cám ơn !

Sinh viên

Nguyễn Hoàng Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các

số liệu, kết quả được đưa ra trong khóa luận này đều chính xác, trung thực vàchưa được công bố trong các đề tài nghiên cứu khác Các thông tin được tríchdẫn trong bài đều có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình Sinh viên

Nguyễn Hoàng Yến

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục tiêu nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

8 Bố cục của khóa luận 5

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 6

1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về tôn giáo 6

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.1.2 Vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội 10

1.1.3 Một số tôn giáo lớn hiện nay ở Việt Nam 11

1.1.4 Một số nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về tôn giáo 12

1.2 Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo 26

1.3 Cơ sở pháp lý 29

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY 34

2.1 Đặc điểm tình hình tôn giáo ở Thành phố Đồng Hới 34

Trang 6

2.2 Tình hình quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đồng

Hới 38

2.2.1 Những thành tựu cơ bản và nguyên nhân 38

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 50

2.3 Những vấn đề đang đặt ra hiện nay 52

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI 54

3.1 Phương hướng chủ yếu 54

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đồng Hới 55

3.2.1 Giải pháp chung 55

3.2.2 Giải pháp cụ thể 56

3.3 Kiến nghị, đề xuất 60

3.3.1 Về phía Đảng, Nhà nước 60

3.3.2 Về phía Thành ủy và chính quyền Thành phố Đồng Hới 62

3.3.4 Về phía nhân dân và các đoàn thể quần chúng trên địa bàn Thành phố 63

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đã và đangtồn tại cùng quá trình xây dựng và phát triển đất nước, là nhu cầu sinh hoạtvăn hoá tinh thần, tâm linh của nhiều người và là quyền công dân được phápluật thừa nhận

Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đangtồn tại; hiện tại có khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau, chiếmkhoảng 27% dân số; có 41 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận hoặccho đăng ký hoạt động Một số tôn giáo đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống,nếp nghĩ và văn hóa của cả cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức dân tộc,nhưng cũng có tôn giáo trong quá trình du nhập, hình thành và tồn tại đã bịcác thế lực chính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo Đó cũng là vấn đềđặt ra cho Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chủ trương, chính sáchđối với tôn giáo nói chung, đồng thời giải quyết mối quan hệ với từng tôngiáo cụ thể

Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đưa ra và thựchiện được chính sách đúng đắn về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân,thể hiện những bước tiến rất quan trọng trong việc đổi mới chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước về hoạt động tôn giáo; thể hiện sự tôn trọng tự dotín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và đáp ứng yêu cầu của công tác QLNN vềhoạt động tôn giáo ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn

TP Đồng Hới là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học củaTỉnh Quảng Bình Trong quá trình hình thành và phát triển, TP Đồng Hới đã

và đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - văn hoá

- xã hội của tỉnh Hoạt động tôn giáo của Thành phố mang nét chung của tôngiáo cả nước, hiện nay bên cạnh 2 tôn giáo chính là Công giáo và Phật giáo,

TP Đồng Hới còn có một số người theo đạo Tin Lành Trong thời gian qua,

Trang 8

tình hình tôn giáo và các hoạt động tôn giáo diễn ra ổn định Đa số bà congiáo dân đều tuân thủ chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, đã góp phần giữ gìn được những giá trị truyền thống về bản sắc văn hoátốt đẹp của quê hương, từ đó củng cố được khối đại đoàn kết toàn dân thúcđẩy kinh tế - xã hội phát triển cũng như giữ vững sự ổn định chính trị và antoàn xã hội trên địa bàn Thành phố.

Tuy nhiên, hiện nay cũng còn nhiều bất cập liên quan đến công tácQLNN, như giải quyết những hoạt động truyền đạo trái phép đã và đang diễn

ra ở một số nơi, tình hình xây dựng và sửa chữa cơ sở thờ tự của tôn giáo có

xu hướng gia tăng,… Chính vì vậy, bên cạnh những lĩnh vực cần phải đầu tư

về kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - kỹ thuật, an ninh - quốc phòng, côngtác QLNN về tôn giáo - nhu cầu tín ngưỡng và tinh thần của một bộ phận lớnnhân dân Thành phố cũng cần được quan tâm một cách thiết thực và cụ thểhơn

Với ý nghĩa đó, sinh viên chọn đề tài: " Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đồng Hới – Tỉnh Quảng Bình "

làm chủ đề nghiên cứu cho bài khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Hiện nay có nhiều công trình, nhiều bài viết về tôn giáo và ảnh hưởngcủa tôn giáo đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Có thể nêu

một số luận văn, luận án với những đề tài như: "Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam" (Lê Hữu Tuấn, năm 1999), "Ảnh hưởng của thế giới quan Công giáo đối với đời sống tinh thần tín đồ công giáo Việt Nam - Những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh hiện nay" (Mai Quang Hiện, năm 2000)

Ở góc độ quản lý nhà nước về tôn giáo, có một số luận văn cao học

như: "Vấn đề quản lý nhà nước hoạt động đạo Công giáo ở Đồng Nai hiện nay" (Võ Mộng Thu, 2001), "Quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng

Trang 9

hiện nay - vấn đề và giải pháp" (Lê Minh Quang, năm 2001)…

Ngoài ra, còn có một số luận văn tốt nghiệp Đại học chính trị, như:

"Thực trạng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Cà Mau" của Vũ Bình Lương (năm 2003); "Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng và giải pháp" của Lê Văn Nhuần (năm 2004); "Nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" của Nguyễn Thị Kim Như (năm 2004) “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn Huyện kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình- Thực trạng và giải pháp” của Vũ Văn Kiểm (năm 2005)…

Các công trình trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của tôn giáo,đặt vấn đề QLNN về hoạt động tôn giáo ở từng lĩnh vực, từng địa phươngkhác nhau và có nhiều ý kiến phong phú có thể tham khảo, học tập

Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội địa phương cónhiều biến động như hiện nay và vì nhiều lý do khác nhau, nên hiện nay vấn

đề nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địabàn TP Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu cụthể, vấn đề mới chỉ được đề cập trong các báo cáo tổng kết của các cơ quanquản lý về tôn giáo qua các năm

Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận sẽ được tiếp thu, kế thừa cóchọn lọc thành quả nghiên cứu của các công trình đã có và các tài liệu liênquan đến lĩnh vực tôn giáo

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác QLNN về tôn giáo

- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu thực tế QLNN

về hoạt động tôn giáo ở TP Đồng Hới từ đầu năm 2015 cho đến nay

4 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng công tác QLNN về hoạt động tôngiáo ở TP Đồng Hới, những thành tựu và hạn chế trên vấn đề này, khóa luận

Trang 10

đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả QLNN về hoạtđộng tôn giáo ở TP Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận chung của công tác QLNN về tôn giáo

- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác QLNN về tôngiáo trên địa bàn TP Đồng Hới – Tỉnh Quảng Bình

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy mặt thành tựu, hạn chếmặt thiếu sót cũng như nâng cao hiệu quả QLNN về tôn giáo địa bàn TP.Đồng Hới – Tỉnh Quảng Bình

6 Phương pháp nghiên cứu.

Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:

- Phương pháp phân tích lý thuyết: là phương pháp phân tích lý thuyếtthành những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian

để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ

đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp lý thuyết: là phương pháp liên kết nhữngmặt,những bộ phận, những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thậpđược thành một chỉnh thể để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâusắc về chủ đề nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạchmột sự kiện, hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trongnhững hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụthể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó

- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin: phương pháp khảo sát mộtnhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố,trình độ phát triển, những đặc điểm của các đối tượng cần nghiên cứu và làcăn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực

Trang 11

tiễn Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.

- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: là phương pháp xemxét lại những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra nhữngkết luận bổ ích cho khoa học và thực tiễn bằng cách kết hợp lý luận và thựctiễn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đề tài góp phần làm rõ thêm nhận thức của chúng ta về nội dung, hìnhthức thực hiện QLNN về hoạt động tôn giáo trên địa bàn TP Đồng Hới

- Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác QLNN

về hoạt động tôn giáo trên địa bàn TP Đồng Hới và một số tỉnh, thành có tìnhhình tôn giáo phù hợp; làm tài liệu tham khảo cho các đề tài tương tự

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,khóa luận được chia ra làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận đối với quản lý nhà nước về tôn giáoChương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địabàn Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lýnhà nước về tôn giáo trên địa bàn Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO 1.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về tôn giáo

QLNN đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của côngtác tôn giáo Các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác tôn giáo qua cácthời kỳ lịch sử đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lĩnh vực này

Để nhận thức tốt công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo, về mặt lýluận cần phải nhận thức rõ một số vấn đề cơ bản sau đây

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Quản lý

Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” chođến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Tùy từng mục tiêu và dưới cácgóc độ nghiên cứu, người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về

quản lý Có quan điểm coi quản lý là quá trình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt được mục

tiêu đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động địnhhướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó pháttriển phù hợp với những qui luật nhất định

Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ “quản lý” được thống nhất

ở hai nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của

chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý

Thứ hai, mục tiêu của quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt

động phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước

Theo cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan QLNN, đơn vị sựnghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể xem như một hệ thống gồm hai phân hệ:

Trang 13

chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt độngtrong môi trường nhất định (khách thể quản lý) Từ đó, có thể đưa ra kháiniệm như sau : Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổchức vận hành và đạt mục đích của tổ chức [30, tr.16]

1.1.1.2 Quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và bao gồm nhiều loại, trong đóquản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội được đặt ra từ khilao động của con người bắt đầu được xã hội hóa Quản lý xã hội là sự tácđộng có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý và qui luậtkhách quan Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành Khi Nhà nước xuấthiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảmnhiệm QLNN hiện nay được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động của tất cả cá cơ quan nhà nước

trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chứcnăng đối nội và đối ngoại của nhà nước

Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi

quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực củađời sống xã hội theo quy định của pháp luật

1.1.1.3 Tôn giáo

Theo tiếng La-tinh, Tôn giáo (Religion) có nghĩa là sự sùng đạo, mộđạo, đối tượng được sung bái Trong các từ điển thông dụng, tôn giáo là sựsùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan

hệ của con người đối với thần linh

Tôn giáo là đối tượng xem xét của nhiều ngành khoa học trong suốtlịch sử phát triển của tôn giáo Việc nghiên cứu tôn giáo đã có từ lâu nhưngviệc xem xét tôn giáo như một môn khoa học nhân văn mang tính giao thoa

Trang 14

hoặc tính tổng hợp, mới xuất hiện chưa lâu Do đó, có nhiều quan điểm khácnhau về tôn giáo như quan điểm thần học, quan điểm tâm lý học, quan điểm

xã hội học, quan điểm dân tộc học, quan điểm triết học,…

Theo định nghĩa của giáo hội (thần học) thì tôn giáo là mối liên hệ củacon người với Thượng đế, với Thần linh, với cái tuyệt đối, với một lực lượngnào đó, với sự siêu việt hóa,… Nhà thần học và triết học Tin Lành giáo, R.Otto (1869-1937) cho rằng tôn giáo là “sự thể nghiệm cái thần thánh”[37,tr.25]

Theo định nghĩa sinh học và tâm lý học, một trong những người sánglập ra tâm lý học tôn giáo là nhà triết học theo chủ nghĩa thực dụng người Mỹ,

V Jemes (1842-1910) giải thích tôn giáo nhờ xuất phát từ tâm lý cá thể:

“Chúng ta thỏa thuận gọi tôn giáo là tổng thể những tình cảm, hành vi và kinhnghiệm của cá nhân riêng biệt vì nội dung của chúng quy định quan hệ với cái

mà tôn giáo tôn sùng - Thượng đế”[41, tr.26-27]

Quan niệm của C Mác (1818-1883) và Ph Ăngghen (1820-1895) chorằng tôn giáo là rất đa dạng, được phân biệt tùy thuộc vào các nguyên tắc vàcác phương pháp xuất phát điểm C Mác viết: “…tôn giáo là sự tự ý thức và

sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã để mấtbản thân mình một lần nữa Nhưng con người không phải là một sinh vật trừutượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người,

là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thếgiới quan lộn ngược” [29, tr.569]

Ph Ăngghen viết: “…tất cả tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư

ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chiphối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lựclượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [30,tr.329]

Trên quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen về tôn giáo, có thể nóirằng, tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra nhằm đáp

Trang 15

ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội, tôn giáo tạo cho conngười có niềm tin vào thế giới vô hình nơi hư vô, nhưng con người vẫn sốngtrong cuộc sống hữu hình nơi trần thế, đồng thời tôn giáo quy định những luật

lệ, nghi thức mang tính thiêng liêng để con người thực hành, tuân theo

Theo Khoản 3, Điều 3 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004 (sauđây gọi là Pháp lệnh) quy định: Tổ chức tôn giáo là tập hợp những ngườicùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơcấu nhất định được Nhà nước công nhận Và khoản 5, Điều 3 của Pháp lệnhquy định: Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễnghi, quản lý tổ chức của tôn giáo

1.1.1.4 Quản lý nhà nước về tôn giáo

QLNN về hoạt động tôn giáo là một dạng QLNN, tổ chức và điều chỉnhquá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân tôn giáo và các thể nhân tôngiáo bằng quyền lực nhà nước Pháp nhân tôn giáo là những tổ chức giáo hội

từ cơ sở trở lên đã được nhà nước cho phép hoạt động, có tư cách pháp nhân,được nhà nước bảo hộ Thể nhân tôn giáo là các tín đồ, chức sắc, nhà tu hànhcủa các tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận và cho phép hoạt độngbình thường (không thuộc diện đó thì không phải là pháp nhân tôn giáo)

Từ đó, ta có thể đưa ra khái niệm về QLNN về tôn giáo theo hai nghĩanhư sau:

Theo nghĩa rộng, là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền Lập

pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của phápluật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạtđộng tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạtđược mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý

Theo nghĩa hẹp, là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước,

chức năng nhiệm vụ của nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổchức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống Hành pháp (cơ quan

Trang 16

hành chính Nhà nước) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vihoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo qui định củapháp luật.

1.1.2 Vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội

Khi nói tới tác động của tôn giáo đối với xã hội con người, C.Mác đã

nhận xét như sau: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [29,

tr.570]

Tôn giáo không chỉ chuyên về các vấn đề tinh thần, đạo đức mà còntrực tiếp can dự vào các hoạt động kinh tế của con người Dùng uy tín, ảnhhưởng của mình để quyết định các quan hệ sở hữu, ủng hộ dạng hoạt độngkinh tế này, phủ nhận dạng hoạt động kinh tế khác

Tôn giáo không thể tồn tại nếu chỉ đáp ứng một cách hư ảo khát vọngcủa con người Bởi vậy, cần thấy tôn giáo ở khía cạnh văn hóa, đạo đức của

nó Con người luôn muốn được sống trong một xã hội công bằng, nhân ái.Tôn giáo đã tìm thấy ở đó những chất liệu thật gần với con người nhất, để tạodựng nên hệ thống luân lý đạo đức của mình Điều dễ nhận thấy là, những hệthống đạo đức của tôn giáo rất khác nhau về niềm tin, rất xa nhau về địa lývẫn có một mẫu số chung là nội dung khuyến thiện Điểm mạnh trong truyềnthụ đạo đức tôn giáo là, ngoài những điều phù hợp với tình cảm đạo đức củanhân dân, nó được thực hiện thông qua tình cảm tín ngưỡng, niềm tin vàogiáo lý Do đó, tình cảm đạo đức tôn giáo được tín đồ tiếp thu, tạo thành đứctin thiêng liêng bên trong và chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệcộng đồng Hoạt động hướng thiện của con người được tôn giáo hoá sẽ trởnên mạnh mẽ hơn, nhiệt thành hơn

Trong quá trình phát triển, lan truyền trên bình diện thế giới, tôn giáokhông chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người, mà còn có vai trò

Trang 17

chuyển tải, hoà nhập văn hoá và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hộinơi trần thế Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người.Với tư cách một bộ phận của ý thức hệ, tôn giáo đã đem lại cho cộng đồng xãhội, cho mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc những biểu hiện độc đáo thểhiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán, trong các yếu tố vănhoá vật chất cũng như tinh thần.

1.1.3 Một số tôn giáo lớn hiện nay ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, hiện tại có khoảng 25 triệungười theo các tôn giáo khác nhau, chiếm 27% dân số; có 41 tổ chức tôn giáo(thuộc 14 tôn giáo) được Nhà nước công nhận tổ chức hoặc cho đăng ký hoạtđộng Ở Việt Nam hiện có 06 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành,Hồi giáo, Cao Đài, Hoà Hảo Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáođược truyền vào Việt Nam sớm nhất, từ những năm đầu Công nguyên và có

số tín đồ đông đảo nhất

Theo số liệu của Ban tôn giáo Chính phủ năm 2012 ở Việt Nam cókhoảng hơn 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng

24 triệu tín đồ của 13 tôn giáo, chiếm 27% dân số Cụ thể:

- Phật giáo: Hơn 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặthầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, gần 17.000 cơ sở thờ tự, khoảng40.000 tăng ni và 36 trường đào tạo các chức sắc tôn giáo của Phật Giáo

- Công giáo: Hơn 6,2 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, 26 giáophận, 6.270 cơ sở thờ tự, 19.000 chức sắc, 06 Đại chủng viện và 02 cơ sở IIđào tạo các chức sắc tôn giáo

- Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam,31.700 chức sắc, hơn 100 cơ sở thờ tự

- Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, hơn 1.700 chức sắc, 1.200 cơ

sở thờ tự và tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ

- Đạo Tin Lành: khoảng 1 triệu tín đồ, 500 chức sắc, 300 cơ sở thờ tự,

Trang 18

01 Viện Thánh kinh thần học và tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam,

TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, ĐắkNông, Bình Phước và một số tỉnh phía Bắc

- Hồi Giáo: có khoảng 72.000 tín đồ, 79 cơ sở thờ tự, 700 vị chức sắc

60 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh: An Giang, TP Hồ Chí Minh, BìnhThuận, Ninh Thuận… và chủ yếu là người Chăm

Ngoài các tôn giáo trên, còn có một số nhóm tôn giáo địa phương, hoặcmới xuất hiện Đặc điểm và tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay là cơ sởquan trọng để hoạch định các chính sách tôn giáo và thực hiện công tác tôn

giáo nhằm thực hiện mục tiêu “Tôn giáo đồng hành cùng dân tộc” trong quá

trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Một số tôn giáo đã có ảnh hưởng lớn đến đờisống, nếp nghĩ và văn hóa của cả cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức dântộc nhưng cũng có những tôn giáo trong quá trình du nhập, hình thành và tồntại đã bị những thế lực chính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo Đó cũng

là những vấn đề đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chủtrương, đường lối, chính sách đối với tôn giáo nói chung, đồng thời phai giảiquyết mối quan hệ đối với từng tôn giáo cụ thể

1.1.4 Một số nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về tôn giáo 1.1.4.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước về tôn giáo

Mục tiêu tổng quát: góp phần tích cực vào xây dựng những giá trị vănhóa và chuẩn mực xã hội tốt đẹp, tạo nên những quan hệ lành mạnh giữa conngười với con người (tôn giáo là thành tố của văn hóa) Thang giá trị mà tôngiáo để lại rất lớn, QLNN là phát huy thêm những giá trị chuẩn mực tốt đẹp,nổi trội - nhất là giá trị đạo đức

Mục tiêu cụ thể gồm 6 bình diện sau đây (Mỗi một mục tiêu là mộtbình diện xã hội):

- Bảo đảm nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo thuần túy của quần chúng đượcgiải quyết một cách hợp lý

Trang 19

- Bảo đảm cho mọi chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhànước được thực hiện một cách nghiêm minh.

- Phát huy nhân lực, khắc phục các tệ nạn xã hội và bảo đảm ổn định vềmặt xã hội, góp phần cho ổn định chính trị

- Góp phần vào phát triển văn hóa, khoa học, nghệ thuật và phục vụ chocuộc sống tốt đẹp của con người

- Góp phần tạo lập và hình thành lối sống mới, xây dựng giá trị mớiphù hợp bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại

- Nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng tín ngưỡng, tôn giáo đi ngược lợi íchdân tộc và phát triển xã hội nói chung

1.1.4.2 Đối tượng của quản lý nhà nước về tôn giáo

Đối tượng QLNN về tôn giáo bao gồm hoạt động của các tín đồ, chứcsắc, nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất và xã hội của tôn giáo và địađiểm sinh hoạt,

- Tín đồ, chức sắc tôn giáo

Ở mỗi người theo tôn giáo đều có hai mặt thống nhất với nhau: mặtcông dân và mặt tín đồ (thống nhất chứ không đồng nhất) Đã là tín đồ trướchết phải là công dân, bình đẳng trước pháp luật, có quyền và nghĩa vụ côngdân, còn mặt tín đồ thì có đặc điểm sau: là người có tín ngưỡng, tôn giáo, cóniềm tin, tình cảm, đời sống tâm linh ở nhiều mức độ khác nhau (Việt Nam95% dân số có đời sống tâm linh, 27% có tôn giáo), có nghĩa vụ và quyền lợi

do Giáo hội quy định (trong giáo luật, trong lễ nghi - đó là cái riêng của họ).Trong quản lý phải lưu ý hai điểm này

Ở mỗi chức sắc tôn giáo có sự thống nhất giữa các mặt sau đây, nhưng

Trang 20

+ Mặt tín đồ, họ được giáo hội bổ nhiệm các phẩm chất khác nhau, cóquyền uy khác nhau tùy theo phẩm chất, đạo hạnh, năng lực hành đạo.

+ Mặt hành đạo, tùy thuộc vào giáo hội bổ nhiệm, các phẩm chất khácnhau, họ có quyền uy khác nhau trong hành đạo

+ Mặt đại diện, họ đại diện ở những mức độ khác nhau trong sứ mệnhcủa mình ở từng tôn giáo khác nhau (thay mặt cho Đấng tối cao, Giáo hoàng,Giáo xứ )

+ Mặt quản lý, họ có đặc điểm: quản lý tín đồ thông qua quá trình làmục vụ, họ quản lý hành chính đạo theo thẩm quyền (giáo phận, giáo xứ ).Như vậy, chức sắc tôn giáo có sự thống nhất giữa 5 mặt nhưng không đồngnhất

- Nơi thờ tự tôn giáo

Nơi thờ tự tôn giáo phải thống nhất giữa bốn mặt sau:

+ Mặt vật chất: kiểu kiến trúc được xây dựng

+ Mặt tôn nghiêm: Nơi thờ tự của các tôn giáo phải tôn nghiêm vì đây

là nơi hiện diện của thần, vọng…, là nơi diễn ra hoạt động các nghi lễ Do đócần phải bảo đảm vệ sinh, văn minh Khi các tôn giáo đề nghị cho tu bổ chínhquyền tạo điều kiện dựa trên những nguyên tắc nhất định

+ Mặt trụ sở: nơi diễn ra các hoạt động hành chính đạo

+Mặt sinh hoạt cộng đồng: khác với trụ sở là nơi diễn ra các lễ hội,nghi lễ, hoạt động chung, nơi sinh hoạt hội đoàn

- Sinh hoạt tôn giáo

Có hai đặc điểm thống nhất sau: có thể do thể nhân tôn giáo thực hiệnđơn giản hoặc do pháp nhân tôn giáo thực hiện; diễn biến trong hoạt động tôngiáo theo lề luật và tùy theo lễ nghi nhất định nào đó (lễ thường khác lễ trọng,các phép bí tích, các việc bồi linh khác nhau )

- Đồ dùng việc đạo

Đồ dùng việc đạo có sự thống nhất hai mặt: Mặt vật chất (gồm kinh

Trang 21

sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, trống kèn, chuông mõ được làm bằng các chấtliệu vật chất) và mặt biểu đạt (tức là biểu đạt một nội dung nào đó gắn vớisinh hoạt tôn giáo).

1.1.4.3 Nội dung quản lý

- Nội dung thứ nhất: Xét duyệt và công nhận các pháp nhân tôn giáo

Đây là quá trình nhà nước xem xét đối với trường hợp cụ thể và tùythuộc vào tôn chỉ, mục đích, đường hướng hoạt động của tổ chức pháp nhântôn giáo đó.Nhà nước phân cấp và xem xét công nhận pháp nhân tôn giáođó.Các pháp nhân tôn giáo - từ tổ chức giáo hội cơ sở trở lên - nhà nước chophép mới được hoạt động; các thể nhân tôn giáo do các giáo hội, tổ chức tôngiáo công nhận

Nội dung này được quy định tại Điều 5 đến Điều 8 của Nghị định số92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và biệnpháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (sau đây được gọi là Nghị định92)

- Nội dung thứ hai: Xét duyệt quá trình xây dựng và sửa chữa cơ sở thờ

tự

Cơ sở thờ tự của tổ chức tôn giáo là sở hữu chung của cộng đồng tín đồđược Nhà nước bảo hộ Quá trình xây sửa nơi thờ tự phải tuân thủ quy địnhhiện hành trong pháp luật về đất đai, quy định xây dựng cơ bản Trường hợpcác cơ sở tôn giáo hoạt động hợp pháp được cơ quan có thẩm quyền cho phépxây dựng mới thì UBND tỉnh xem xét và quyết định Do đó:

Xây mới, thùy theo quy mô công trình sẽ do TƯ hoặc UBND cấp tỉnhquyết định Việc tu bổ, sữa chữa nhỏ được phép miễn giấy phép xây dựng, tuynhiên phải thông báo cho UBND cấp xã sở tại biết

Điều 34 và Điều 35 Nghị định 92 quy định chi tiết về việc thực hiện nộidung này

- Nội dung thứ ba: Xét duyệt chương trình mục vụ thường xuyên và

Trang 22

- Nội dung thứ tư: Xét duyệt quá trình đào tạo chức sắc

Quy định chung: đào tạo chức sắc phải tuân thủ theo khuôn khổ phápluật, Chính phủ, Bộ Giáo dục - Đào tạo và UBND các địa phương theo tinhthần của Điều 14 đến Điều 18 Nghị định 92

- Nội dung thứ năm: Xét duyệt quá trình sản xuất, lưu thông các đồ

dùng việc đạo, có quy định rất cụ thể như in, xuất nhập khẩu, các quy định về

vi phạm Nguyên tắc chung là phải chấp hành quy định chung về các sảnphẩm xuất nhập khẩu văn hóa Vi phạm thì bị xử lý tùy mức độ: phạt tiền(Điều 13, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính), tước quyền sử dụng giấyphép (Điều 14), tịch thu tang vật (Điều 15), cảnh cáo (Điều 22), truy cứu tráchnhiệm hình sự (Điều 215, Bộ Luật Hình sự)

- Nội dung thứ sáu: Xét duyệt một số việc hành chính đạo,

Có những quy định cụ thể từ Điều 19 đến Điều 23 Nghị định 92 vềviệc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, cách chức, bãinhiệm chức sắc trong tôn giá và thuyên chuyển nơi hoạt động của chức sắc,nhà tu hành; đăng ký mẫu con dấu và làm con dấu công an tỉnh, thành xemxét và thành lập Hội đoàn phải tuân thủ theo pháp luật

Trang 23

- Nội dung thứ bảy: Xét duyệt các hoạt động xã hội từ thiện của tôn

giáo

Theo quy định chung, khuyến khích hoạt động của các tổ chức tôn giáotheo hướng xã hội từ thiện Đây là nội dung quan trọng và đặc biệt của hầuhết các tôn giáo, là lãnh vực nhạy cảm đòi hỏi phải hết sức tế nhị, thận trọng.Chủ trương chung là khuyến khích giáo sĩ, tín đồ tích cực tham gia

- Nội dung thứ tám: Xử lý các khiếu nại, khiếu tố liên quan tôn giáo và

vi phạm chính sách tôn giáo

Ở các địa phương phải dựa vào Luật khiếu nại tố cáo và Pháp lệnh tínngưỡng, tôn giáo để giải quyết; cần hết sức thận trọng, có lý có tình, chú ýngăn chặn khả năng dẫn đến điểm nóng tôn giáo (điểm nóng thông thường cóhai yếu tố chính: một là cơ quan quản lý làm sai, hai là có phần tử chủ mưuđứng sau kích động)

Nội dung thứ chín: Xét duyệt các hoạt động quốc tế và đối ngoại của

Nội dung thứ 4 và nội dung thứ 5 không thuộc thẩm quyền quản lý của

cơ quan quản lý về tôn giáo cấp huyện, nên khoá luận không đề cập đến nộidung này trong các chương sau

1.1.4.4 Phương pháp quản lý

Phải tuân thủ các phương pháp của quản lý hành chính nhà nước và

Trang 24

phải chú ý đến 4 yêu cầu quan trọng:

- Có lý

Các hoạt động quản lý về tôn giáo của Nhà nước phải đúng với lẽ phải,phù hợp với logic của sự việc, hiện tượng tôn giáo; đảm bảo các yêu cầu vềtính hợp lí như đảm bảo lợi ích của Nhà nước cũng như nguyện vọng củanhân dân, phù hợp thực tế khách quan và đảm bảo tính khả thi

- Được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ

Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm của mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới

Do đó, các cá nhân và tổ chức quản lý tôn giáo cần có những hướng đi vàquyết định đúng đắn, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi côngdân, phù hợp với nguyện vọng nhân dân và tranh thủ được sự thống nhất,đồng tình ủng hộ của toàn thể nhân dân

- Thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng – Nhà nước – UBMTTQ

và các tổ chức đoàn thể vận động quần chúng) và ba biện pháp (giáo dục,thuyết phục, hành chính – kinh tế)

Các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xãhội đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong QLNN về tôn giáo Do

đó, các cơ quan này cần thống nhất trong quản lý, phối hợp chặt chẽ với nhau,tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình Đồng thờilinh hoạt sử dụng các biện pháp quản lý như giáo dục, thuyết phục, hànhchính – kinh tế tùy theo từng thời điểm và điều kiện kinh tế- xã hội từng địaphương

Các phương pháp quản lý:

Trang 25

- Quản lý bằng chính sách và pháp luật

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chính sách tôn giáo củaNhà nước ta đã có nhiều tiến bộ Chính sách tôn giáo ở Việt Nam được thểhiện qua các văn kiện chính trị của Đảng và các văn bản pháp luật do Nhànước ban hành, có tác động to lớn đến đời sống tôn giáo của đất nước, phùhợp thực tế và đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, củng cố khốiđại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước Chính sách vàpháp luật về tôn giáo được cụ thể hóa bằng những nội dung sau:

+ Mọi công dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặckhông theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhànước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai đượcxâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để viphạm pháp luật

+ Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo và được phép hoạtđộng khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp

+ Các tôn giáo ở Việt Nam được Nhà nước khuyến khích tham giacác hoạt động tham gia các hoạt động giáo dục, từ thiện, nhân đạo theo sựhướng dẫn của các cơ quan chuyên môn

+ Các tôn giáo được mở trường đào tạo, chức sắc, nhà tu hành, cửngười đi đào tạo nước ngoài và được tạo điều kiện thuận lợi giao lưu quốc têtheo quy định pháp luật

Các chính sách tôn giáo được đề cập đến trong Nghị quyết Hội nghịBan chấp hành TƯ Đảng lần thứ bảy, khoá IX về công tác tôn giáo (Nghịquyết 25/NQ-TW ngày 12/3/2003); trong Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Báo cáo chính trị của Ban Chấphành TƯ Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản lý các hoạt động tôn giáo

Trang 26

như: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH/QH11 ngày18/6/2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về hoạt động tín ngưỡngtôn giáo; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quyđịnh chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo….

Ngày 18/11/2016, Quốc hội đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và

sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2018

- Quản lý bằng tổ chức bộ máy và cán bộ

Tổ chức bộ máy QLNN về tôn giáo hiện nay căn cứ vào các Nghịquyết, Chỉ thị của Đảng; Hiến pháp, các bộ luật có liên quan và các Nghịđịnh, Thông tư hướng dẫn của Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ…

Chính phủ là cơ quan thống nhất QLNN về tôn giáo trong phạm vi cảnước Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ, có chức năng tham mưugiúp Bộ trưởng Nội vụ QLNN về lĩnh vực tôn giáo trong phạm vi cả nước vàthực hiện các dịch vụ công thuộc lĩnh vực tôn giáo theo quy định của phápluật, đồng thời vừa là đầu mối phối hợp với các ngành về công tác tôn giáo vàliên hệ với các tổ chức tôn giáo

Ban tôn giáo cấp tỉnh là cơ quan trực thuộc Sở Nội vụ thuộc UBND,chịu trách nhiệm trước UBND thực hiện chức năng QLNN về tôn giáo theopháp luật của Nhà nước trong phạm vi địa phương

- Quản lý bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng

Công tác tôn giáo là hệ thống công tác bao gồm nhiều nội dung như: Xâydựng chính sách; vận động quần chúng; QLNN; an ninh trong tôn giáo; xâydựng tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo…trong đó công tác vận động quần chúng là cốt lõi, đặc biệt là công tác vậnđộng, tranh thủ chức sắc tôn giáo Bởi đây là đối tượng công tác có tính đặcthù, nhạy cảm, vì vậy đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các ngành,các cấp phải có kinh nghiệm, kỹ năng, nghiệp vụ riêng biệt về vận động quầnchúng tôn giáo mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ

Trang 27

Nghị quyết số 25-NQ/TW đã khẳng định “Công tác tôn giáo thực chất

là công tác vận động quần chúng Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chỉ thành công nếu làm tốt công tac vận động quần chúng”

Bởi vậy, trong QLNN về tôn giáo không chỉ có lỹ, đúng luật mà cònphải được sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân Muốn tránh bị địch lợi dụng,tránh việc hình thành các điểm nóng tôn giáo thì phương pháp giáo dục,thuyết phục, vận động quần chúng là rất quan trọng trong QLNN về tôn giáo.Nội dung cơ bản của phương pháp này là tuyên truyền, phổ biến, quán triệtchủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước để mọi người hiểu vàthực hiện đúng

Ngoài các phương pháp trên, các cơ quan quản lý còn sử dụng cácphương pháp khác như: quản lý bằng đầu tư tài chính, quản lý bằng phươngpháp thanh tra, kiểm tra; quản lý bằng phương pháp tổng kết và đánh giá…

Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theomột tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ

tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâmphạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làmtrái pháp luật và chính sách của nhà nước

Trang 28

Chỉ thị 37- CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới của Bộchính trị ngày 02/7/1998 cũng đã khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.Mọi công dân đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, khôngphân biệt người theo đạo và người không theo đạo, cũng như giữa các tôngiáo khác nhau”

Vì vậy, không phân biệt nghĩa vụ và quyền lợi của công dân vì lý do tínngưỡng, tôn giáo, công dân theo tôn giáo và không theo tôn giáo đều bìnhđẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền lợi công dân, đồng thời có tráchnhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Đây là nguyên tắc đồng thời cũng là nộidung quan trọng của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Nguyên tắc 2: Bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của con người đã xuất hiện từ

xa xưa trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người Tínngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinhnhững người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần thánh, biểutượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêubiểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội Tuy nhiênmức độ của niềm tin, sự tôn thờ ấy ở mỗi con người, mỗi cộng đồng người,mỗi giai đoạn lịch sử là khác nhau Niềm tin tôn giáo khó áp đặt cũng không

dễ tước đoạt, nó tồn tại như nhu cầu khách quan của đời sống hiện thực Vìvậy tự do tín ngưỡng cũng có nghĩa là con người được tự nguyện hướng tớimột lực lượng siêu nhiên, đồng thời cũng có quyền khước từ hoặc loại bỏniềm tin đã có Tự do tín ngưỡng cũng có nghĩa là không chấp nhận sự độctôn hoặc tham vọng thôn tính của tôn giáo này đối với tôn giáo khác, càngkhông thể áp đặt hoặc gạt bỏ thông qua quyền lực chính trị

Tuy nhiên quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là vô giới hạn,

vì quyền của người này, cộng đồng này khi vượt qua giới hạn nào đó có thể vi

Trang 29

phạm vào quyền chính đáng của những người khác Tự do theo nghĩa chânchính của nó là tự do của người này, cộng đồng này không vi phạm đến tự do

của người khác và cộng đồng khác Điều 8 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo

đã khẳng định:

Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòabình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiếntranh, tuyên truyền trái pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân,chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đếntính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trởviệc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thựchiện các hành vi vi phạm pháp luật khác

Chính vì những lý do trên nhà nước có trách nhiệm quản lý và điềuchỉnh các hoạt động của cá nhân và tổ chức tôn giáo sao cho những hoạt động

ấy diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật, không ảnh hưởng đến xã hội

Nguyên tắc 3: Thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn các giá trị

văn hóa

Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bao giờ cũng thể hiện qua sinh hoạt vậtchất của con người Tín ngưỡng, lòng tin tôn giáo được vật chất hóa trong đờisống xã hội thể hiện qua kinh sách, luật lệ, lễ nghi… Các cơ sở thờ tự của tôngiáo thường là nơi thờ phụng của tín đồ các tôn giáo, đồng thời cũng là nơigiữ gìn văn hóa vật thể và phi vật thể Những công trình kiến trúc, những tácphẩm hội họa, điêu khắc, những bản nhạc, bài ca, y phục đến trang trí, bàybiện… thực hiện các nghi thức tôn giáo đều thể hiện nét văn hóa đặc trưngcủa từng tôn giáo cụ thể Vì vậy, sự tồn tại của tôn giáo cũng có nghĩa là sựbảo lưu văn hóa Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không thểkhông quan tâm đến sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và tôn giáo truyền thống

mà nhân dân ta lưu giữ qua nhiều đời nay

Trang 30

Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa đích thực không thiếu nhữnghiện tượng phản văn hóa có trong tôn giáo, những hủ tục cũ trỗi dậy, mê tín dịđoan gia tăng, thương mại hóa trong tôn giáo phát triển… những hiện tượng

ấy trà trộn, thẩm thấu vào sinh hoạt tôn giáo làm vẩn đục bầu không khí sinhhoạt tôn giáo lành mạnh Nhà nước quản lý hoạt động tôn giáo làm sao vừagiữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời loại bỏ dần những hiện tượngphản văn hóa trong sinh hoạt tôn giáo

Nguyên tắc 4: Bảo đảm sự thống nhất và hài hòa lợi ích cá nhân, cộng

đồng, quốc gia, xã hội

Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáothường có nhiều nhu cầu xuất hiện trong đời sống xã hội Đối với tín đồ cáctôn giáo, nhu cầu tâm linh của họ được nhà nước coi trọng và tạo mọi điềukiện để họ đáp ứng nhu cầu ấy Nhưng ở vào một thời điểm nào đó đứngtrước nhiều nhu cầu thì ở đây đòi hỏi tín đồ phải giải quyết hài hòa, thỏa đánggiữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích chung của xã hội Thực hiệnnguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết tốt các xung đột, mâu thuẫn xuất hiệngiữa các chủ thể nói trên

Nguyên tắc 5: Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích hợp pháp của tín đồ phải được đảm bảo; những hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,

những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo nhằm chống lại nhà nước, ngăncản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân,làm phương hại đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín

dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật

1.1.4.6 Hệ thống cơ quan quản lý

Hệ thống cơ quan quản lý về lĩnh vực tôn giáo được quy định tại:

- Quyết định số 134/2009/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2009 của

Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ

Trang 31

- Thông tư số 04/2010/TT-BNV ngày 20 tháng 5 năm 2010 Bộ Nội vụ

hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Tôngiáo trực thuộc Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trựcthuộc TƯ

Bảng 1: Hệ thống tổ chức quản lý công tác tôn giáo

Nguồn: [35, tr.67]

TT Cấp

Đảng Nhà nước UBMTTQ và các đoàn thể

Chỉ đạo Tham mưu Quản lý Giúpviệc Chỉ đạo Thammưu

1 Trungương

Thườngtrực BộChính trị

Ban Dânvận TW

Thủtướng

BanTôngiáo CP

Đảng, đoànUBMTTQ

Tổchuyênviên

2 Cấptỉnh

Thường

vụ Tỉnhủy

Ban Dânvận Tỉnhủy

UBNDcấp tỉnh

BanTôngiáo SởNội vụ

Đảng, đoànUBMTTQ

Tổchuyênviên

3 huyệnCấp

ThườngvụHuyệnủy

Ban Dânvận Huyệnủy

UBNDcấphuyện

CB, CCphụtrách(PhòngNội vụ)

Thừơngtrực

Cán bộchuyêntrách

UBNDcấp xã

CB, CCphụtrách

UBMTTQ

và Banchấp hành

CB,CCphụtrách

Trang 32

Bảng 2: Hệ thống các cơ quan QLHCNN về hoạt động tôn giáo

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn có

Ban Tôn giáo Chính phủ

Ban Tôn giáo cấp tỉnh (thuộc Sở Nội vụ)

Cán bộ, công chức phụ trách tôn giáo cấp huyện (thuộc phòng Nội vụ)

Cán bộ, công chức phụ trách tôn giáo cấp xã (thuộc UBND

cấp xã)

Chính phủ

Trang 33

quan điểm, thái độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo theo lịch sử phát triển củadân tộc Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảngnăm 1991 đã khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một

bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng vàkhông tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo vàgiữa các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối

xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độclập dân tộc và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồlàm nghĩa vụ công dân” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội cũng ghi rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thầncủa một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảmbảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làmtổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”

Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tínngưỡng, tôn giáo rất đúng đắn, minh bạch và từng bước được hoàn thiện Đếnđầu thập kỷ 90, trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Bộ Chínhtrị ra Nghị quyết số 24/NQ-TW Về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đãghi dấu son về sự đổi mới đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo Nghịquyết 24/NQ-TW xác định:…Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần củamột bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộcxây dựng xã hội mới Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW,Đảng ta đã tổng kết, đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm,đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37/CT-TW ngày 02/7/1998 Về công tác tôngiáo trong tình hình mới Cho đến Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯĐảng lần thứ bảy, khoá IX về công tác tôn giáo (Nghị quyết 25/NQ-TW ngày12/3/2003) thì quan điểm chính sách của Đảng ta đối với tín ngưỡng, tôn giáotiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một bước mới phù hợp với sựnghiệp đổi mới đất nước Đó là: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần

Trang 34

của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng vàbảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”.

Sau đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu lên một số

quan điểm cơ bản sau:

Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và

không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật

Hai là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi

lợi dụng tín ngữơng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dântộc

Ba là, tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của

các tôn giáo

Bốn là, động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời,

đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho cho công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc

Năm là, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh

hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã đựơc Nhà nướccông nhận, đúng quy định của pháp luật

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước

Tại Đại hội XII của Đảng, một lần nữa, vấn đề này được khẳng định:

“Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huynhững giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Quan tâm và tạo điềukiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chứctôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp

Trang 35

tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đồng thời, chủ độngphòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tínngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”

Những quan điểm của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay chứng minhrằng Đảng coi quyền tự do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của conngười, là một trong những quyền công dân, quyền chính đáng của con người

Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng đức tin của đồng bào theotín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; tôn trọng quyền được theo bất cứ tôn giáonào, mong muốn cho người dân theo tôn giáo được “phần hồn thong dong,phần xác ấm no

1.3 Cơ sở pháp lý

Nhà nước ta chỉ một ngày sau lễ Tuyên ngôn độc lập khai sinh nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên vào ngày 03/9/1945,

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời tuyên bố “Tín ngưỡng

tự do và lương giáo đoàn kết”, coi đó là một trong sáu nhiệm vụ của Nhà

nước còn non trẻ Sau đó, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Võ Nguyên Giáp đã ký văn bản ngày 20/9/1945, trong đó Điều I ghi rõ: “Đềnchùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả những nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôngiáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng, không được xâm phạm” Nhưng vănbản có tính pháp luật tiêu biểu và hoàn chỉnh nhất trên chặng đường đầu tiênxây dựng luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng là Sắc lệnh số 234-SL ngày14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Điều 15 trong Sắc lệnh ghi rõ: “Việc

tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân Chính quyền dânchủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thựchiện”

Ngay trong năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc do đếquốc Mỹ gây ra, mặc dù phải lo đối phó với cuộc chiến tranh ác liệt nhưng

Trang 36

Chính phủ vẫn quan tâm đến nhu cầu tâm linh của quần chúng tín đồ Bằngchứng là, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Thông tư 60-TTg, ngày11/6/1964 bổ sung Thông tư 593-TTg (năm 1957) yêu cầu thi hành chínhsách tôn giáo theo sắc lệnh 234-SL Sau ngày giải phóng miền Nam, thốngnhất Tổ quốc, ngày 11/11/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 297-

CP về “Một số chính sách đối với tôn giáo” trong đó nêu năm nguyên tắc về

tự do tôn giáo Để đáp ứng với yêu cầu của quá trình đổi mới, ngày21/3/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 69-HĐBT “Quy định

về các hoạt động tôn giáo” Nghị định 69 là văn bản mang tính pháp quy, là

sự kế thừa thực tiễn của quá trình thực hiện Nghị định 297- CP và cụ thể hoáchính sách của Đảng ta đối với tôn giáo trong quá trình thực hiện công cuộcđổi mới Sự nghiệp cách mạng là của toàn dân, đổi mới về nhận thức và thựchiện tốt công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo là nhằm đảm bảo nhucầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân Qua đó phát huy năng lực, sức sángtạo của hàng chục triệu đồng bào theo tôn giáo, góp phần dân chủ hoá đờisống xã hội trên cơ sở ổn định chính trị

Từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, nước ta đã có 5 Hiếnpháp Trong đó

- Hiến pháp đầu tiên, năm 1946 đã khẳng định: Mọi công dân Việt có quyền tự do tín ngưỡng (Chương II, mục B)

- Nhận thức được Điều đó, Điều 80 Hiến pháp 1980 ghi rõ: Công dân

có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Không aiđược lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước

- Điều 70 của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 1992 được bổ sung rõ hơn: Công dân Việt Nam có quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào Các tôn giáo đều bìnhđẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo đượcpháp luật bảo hộ Không ai được tự do xâm phạm tín ngưỡng, tôn giáo hoặc

Trang 37

lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhànước.

- Căn cứ Điều 70 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992 Để đảmbảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tạo Điều kiện cho các tổchức tôn giáo hoạt động theo pháp luật, theo đề nghị của Trưởng ban Tôngiáo của Chính phủNghị định số 26/1999/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 19tháng 4 năm 1999 về các hoạt động tôn giáo

- Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 1999 của Chínhphủ về các hoạt động tôn giáo

- Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH/QH11 ngày18/6/2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về hoạt động tín ngưỡngtôn giáo

- Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ

về việc hướng dẫn thi hành một số Điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

số 21/2004/PL-UBTVQH/QH11(đã hết hiệu lực)

- Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/2/2005 của Thủ tướng Chínhphủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành

- Chỉ thị số1940/2008/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 về nhà, đấtliên quan đến tôn giáo của Thủ tướng Chính phủ

- Điều 24 của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 2013 Bản Hiến pháp này có rất nhiều nội dung được sửa đổi, trong đó

có các quy định mang tính nguyên tắc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:

1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc khôngtheo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật

2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụngtín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật

Ngày đăng: 03/11/2017, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w