Vị trí địa lý, đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù nên khoảng 60% lượng nước của cả nước tập trung ở Lưu vực sông Mê Kông, 16% tập trung ở LVS Hồng-Thái Bình, khoảng 4% ở LVS Đồng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA NÔNG –LÂM-NGƯ
GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)
“QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ
TÀI NGUYÊN NƯỚC”
(Dành cho Đại học Quản lý TN &MT)
Tác giả: Th.S Võ Thị Nho
Năm 2016
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN
NƯỚC 1
1.1 Tổng quan về tài nguyên nước 1
1.1.1 Vai trò tài nguyên nước 1
1.1.2 Vòng tuần hoàn nước 2
1.2 Đặc điểm tài nguyên nước Việt Nam 2
1.2.1 Tài nguyên nước mặt 2
1.2.2 Tài nguyên nước ngầm 4
1.2.3 Các vấn đề về môi trường nước hiện nay 4
1.3 Hiện trạng tài nguyên nước 7
1.3.1 Tài nguyên nước mặt 7
1.3.2 Tài nguyên nước ngầm 10
1.4 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước 11
1.4.1 Nước thải sinh hoạt 11
1.4.2 Nước thải công nghiệp 12
1.4.3 Nước thải nông nghiệp 13
1.4.4 Nước thải y tế 13
1.5 Tác hại của ô nhiễm nước 13
1.5.1 Sức khỏe con người 13
1.5.2 Tác động đến nền kinh tế 14
1.5.3 Ảnh hưởng đến nguồn nước cấp 15
1.6 Nhu cầu dùng nước 16
CHƯƠNG II: QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC 18
2.1 Khái niệm về hệ thống nguồn nước và đặc điểm của nó 18
2.1.1 Khái niệm về hệ thống nguồn nước 18
2.1.3 Đặc điểm của hệ thống nguồn nước 19
2.2 Nhiệm vụ quy hoạch và quản lý nguồn nước 20
2.3 Các bài toán cơ bản về quy hoạch và quản lý nguồn nước 21
2.3.1.Quy hoạch hệ thống (Thiết kế hệ thống) 21
2.3.2.Phát triển nguồn nước 21
2.3.3.Quản lý nguồn nước 22
2.4 Quy hoạch nguồn nước 22
2.4.1.Quy hoạch lưu vực về nguồn nước 22
2.4.2 Quy hoạch chuyên ngành hoặc các quy hoạch cấp tiểu vùng 24
2.4.3 Hai giai đoạn lập quy hoạch 24
Trang 32.5 Nội dung và các bước cơ bản lập quy hoạch nguồn nước 25
2.6 Khung pháp luật và thể chế trong quản lý tài nguyên nước 28
2.6.1 Luật Tài nguyên nước và những văn bản dưới luật 28
2.6.2.Khung thể chế quản lý tài nguyên nước 31
2.7 Yêu cầu phát triển bền vững tài nguyên nước 33
2.8 Phương pháp tiếp cận hệ thống trong quy hoạch và quản lý TNN 34
CHƯƠNG 3 QUY HOẠCH HỆ THỐNG HỒ CHỨA 38
3.1 Vai trò của hồ chứa trong cân bằng nước hệ thống và nhiệm vụ quy hoạch hệ thống hồ chứa 38
3.1.1 Vai trò của hồ chứa trong cân bằng nước hệ thống 38
3.1.2 Nhiệm vụ quy hoạch hệ thống hồ chứa 38
3.2 Hệ thống hồ chứa và phân loại 38
3.2.1 Hệ thống hồ chứa 38
3.2.2 Phân loại hệ thống hồ chứa 39
3.3 Đặc điểm của bài toán quy hoạch hệ thống hồ chứa và tần suất đảm bảo cấp nước 40
3.3.1 Đặc điểm của bài toán quy hoạch hệ thống hồ chứa (QHHTHC) 40
3.3.2.Tần suất đảm bảo cấp nước 42
3.4.Phương pháp quy hoạch hệ thống hồ chứa và nguyên lý điều tiết dòng chảy 44 3.4.1 Phương pháp QHHTHC 44
3.4.2 Nguyên lý điều tiết dòng chảy 45
3.5 Nguyên tắc chung và các bước QHHTHC 45
3.5.1 Nguyên tắc chung QHHTHC 45
3.5.2 Các bước QHHTHC 46
3.6 Tính toán điều tiết trong QHHTHC 48
3.6.1 Tính toán điều tiết đối với hồ chứa điều tiết năm 48
3.6.2 Tính toán điều tiết đối với hồ chửa điều tiết nhiều năm 51
CHƯƠNG 4 QUY HOẠCH TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 53
4.1 Đặc điểm lưu vực sông 53
4.2.Tính toán nước đến phục vụ quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông 55
4.3 Cân bằng nước lưu vực sông và vạch bản đồ quy hoạch lưu vực 57
4.3.1 Cân bằng nước lưu vực sông 57
4.3.2 Bản đồ quy hoạch lưu vực sông 57
4.4 Tính toán các tham số chủ yếu của công trình và tiến độ thực hiện bản quy hoạch 59
4.4.1 Tính toán các tham số chủ yếu của công trình khai thác TNN 59
Trang 44.4.2 Tiến độ thực hiện bản quy hoạch 63
Chương 5 PHÂN TÍCH KINH TẾ TRONG QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 65
5.1 Một số khái niệm cơ bản 65
5.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính và phân tích kinh tế 65
5.1.2 Khái niệm về chi phí và lợi ích 66
5.1.3.Giá trị và giá cả 68
5.1.4.Giá trị thời gian của dòng tiền 69
5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án 70
5.2.1 Giá trị thu nhập ròng tại thời điểm hiện tại NPV (Net Presnt Value) 70
5.2.2 Chỉ tiêu tỷ số lợi ích và chi phí B/C 72
5.2.3 Chỉ số thu hồi vốn bên trong IRR (Internal Rate of Return) 72
5.3 Ví dụ về phân tích kinh tế của dự án 74
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nước cần thiết cho đời sống con người và là một tài nguyên thiên nhiên không thể thiếu đối với sự hoạt động của mọi ngành kinh tế quốc dân Trong nông nghiệp, nước là biện pháp hàng đầu, trong công nghiệp ta khó hình dung được một nhà máy, một công trường nào mà lại không cần đến nước Nhu cầu nước trong mọi lĩnh vực ngày càng tăng và có thể nói là tăng không có giới hạn với tốc độ ngày càng cao, vì dân số ngày càng nhiều lên và sức sản xuất của xã hội cũng ngày càng lớn mạnh
Hiện nay, ở nhiều nước có nền kinh tế phát triển bắt đầu có hiện tượng thiếu nước và vấn đề sử dụng nước một cách có kế hoạch, hợp lý, tiết kiệm đã được đưa
ra nghiên cứu, giải quyết.Ở nước ta cho tới nay nói tới thuỷ lợi nhiều người chỉ nghĩ tới việc dùng nước để phục vụ nông nghiệp Công việc của ngành thuỷ lợi còn to lớn hơn nhiều Nó có nhiệm vụ bảo vệ và sử dụng các nguồn nước một cách hợp lý nhằm phục vụ một cách tốt nhất cho đời sống nhân dân và nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế quốc dân
Quy hoạch và quản lý nguồn nước là một môn học chuyên ngành trong chương trình đào tạo đại học ngành Quản lý tài nguyên và môi trường Giáo trình quy hoạch và quản lý nguồn nước sẽ đưa ra những kiến thức tổng thể và toàn diện
về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước một cách hợp lý
Giáo trình quy hoạch và quản lý tài nguyên nước bao gồm 4 phần chính
Phần 1: Tổng quan về tài nguyên nước: phần này sẽ giới thiệu cho sinh viên các đặc điểm tài nguyên nước Việt Nam và hiện trạng chất lượng tài nguyên nước mặt và nước ngầm
Phần 2: Quy hoạch và quản lý nguồn nước: phần này sẽ giới thiệu cho sinh viên khái niệm và đặc điểm của hệ thống nguồn nước, trình bày các bước lập quy hoạch hệ thống nguồn nước
Phần 3: Quy hoạch hệ thống hồ chứa và tài nguyên nước lưu vực sông: phần này sẽ trình bày nguyên tắc, các yếu tố cần xác định và phương pháp để lập quy hoạch hệ thống hồ chứa và tài nguyên nước lưu vực sông
Phần 4: Phân tích kinh tế trong quy hoạch và quản lý tài nguyên nước: trình bày các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của dự án quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Trang 6CHƯƠNG 1: TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG TÀI
NGUYÊN NƯỚC 1.1 Tổng quan về tài nguyên nước
1.1.1 Vai trò tài nguyên nước
Nước là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sự sống Nước là một loại tài nguyên thiên nhiên quý giá và có hạn, là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi, thuỷ sản v.v Bởi vậy, tài nguyên nước có giá trị kinh tế và được coi là một loại hàng hoá
Nước tham gia vào thành phần cấu trúc của sinh quyển Chu trình vận động nước trong khí quyển giữ vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu
Nước được coi là một tài nguyên đặc biệt, tàng trữ một năng lượng lớn cùng nhiều chất hòa tan có thể khai thác phục vụ cho cuộc sống con người
Nước là nguồn tài nguyên có thể tái sinh nên nếu biết sử dụng hợp lý thì tài nguyên nước có thể tồn tại mãi
Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới những dạng khác nhau: Nước trên trái đất, ngoài đại dương, ở các sông suối, hồ ao, nước ngầm, trong không khí, băng tuyết và các dạng liên kết khác
97% nước trên Trái Đất là nước mặn, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ khoảng 0.9% tồn tại ở dạng nước mặt và hơi nước trong không khí
Hình 1.1: Sự phân bố nước ở trên trái đất
Trang 71.1.2 Vòng tuần hoàn nước
Nước không ngừng vận động và chuyển trạng thái, tạo nên vòng tuần hoàn nước:
Hình 1.2 Chu trình tuần hoàn nước
Nước bốc hơi từ các đại dương và lục địa trở thành một bộ phận của khí quyển Hơi nước được vận chuyển vào bầu không khí, bốc lên cao cho đến khi chúng ngưng kết và rơi trở lại mặt đất hoặc mặt biển Lượng nước rơi xuống mặt đất một phần bị giữ lại bởi cây cối, chảy tràn trên mặt đất thành dòng chảy trên sườn dốc, thấm xuống đất, chảy trong đất thành dòng chảy sát mặt đất và chảy vào các dòng sông thành dòng chảy mặt Phần lớn lượng nước bị giữ lại bởi thảm phủ thực vật và dòng chảy mặt sẽ quay trở lại bầu khí quyển qua con đường bốc hơi Lượng nước ngấm trong đất có thể thấm sâu hơn xuống những lớp đất bên dưới để cấp nước cho các tầng nước ngầm và sau đó chảy dần vào sông ngòi thành dòng chảy mặt và cuối cùng đổ ra biển hoặc bốc hơi vào khí quyển
1.2 Đặc điểm tài nguyên nước Việt Nam
1.2.1 Tài nguyên nước mặt
+ Phân bố tài nguyên nước không đồng đều giữa các vùng
Nước ta có địa hình đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện tích còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa, chủ yếu là ở ĐBSH và ĐBSCL Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mặc dù lượng mưa trung bình nhiều năm trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của địa hình đồi núi, lượng mưa phân
bố không đều trên cả nước và biến đổi mạnh theo thời gian đã và đang tác động lớn đến trữ lượng và phân bố tài nguyên nước ở Việt Nam
Trang 8Việt Nam có hơn 2.360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có
109 sông chính Toàn quốc có 16 lưu vực sông(LVS) với diện tích lưu vực lớn hơn
2.500 km2, 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km2 Tổng diện tích các LVS trên
cả nước lên đến trên 1.167.000 km2, trong đó, phần lưu vực nằm ngoài diện tích
lãnh thổ chiếm đến 72%
Vị trí địa lý, đặc điểm điều kiện tự nhiên đặc thù nên khoảng 60% lượng nước
của cả nước tập trung ở Lưu vực sông Mê Kông, 16% tập trung ở LVS Hồng-Thái
Bình, khoảng 4% ở LVS Đồng Nai, các LVS lớn khác, tổng lượng nước chỉ chiếm
Nguồn: Hồ sơ tài nguyên nước Quốc gia, Bộ TN&MT, 2003; Báo cáo Tài nguyên
nước, những vân đề và giải pháp quản lý khai thác, sử dụng nước, Bộ TN&MT, 2009
Tổng lượng nước mặt của các LVS ở nước ta phân bố không đều giữa các mùa
một phần là do lượng mưa phân bố không đồng đều cả về thời gian và không gian,
gây nên lũ lụt thường xuyên và khô hạn trong thời gian dài Lượng mưa thay đổi
theo mùa và thời điểm mùa mưa, mùa khô ở các vùng là khác nhau Ở miền Bắc,
mùa khô bắt đầu vào tháng 11 và tháng 12, ở miền Trung và miền Nam mùa khô bắt
đầu muộn hơn, vào tháng 1 Mùa khô ở nước ta kéo dài từ 6 đến 9 tháng, lượng
nước trong thời gian này chỉ bằng khoảng 20 - 30% lượng nước của cả năm Vào
thời điểm này, khoảng một nửa trong số 15 LVS chính bị thiếu nước - bất thường
hoặc cục bộ
Trang 91.2.2 Tài nguyên nước ngầm
Nước ngầm là một hợp phần quan trọng của tài nguyên nước, là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp Hiện nay, trữ lượng nước ngầm cung cấp từ 35 - 50% tổng lượng nước cấp sinh hoạt đô thị toàn quốc
Đối vói các khu vực đô thị và các thị trấn, thị xã, hiện có hơn 300 nhà máy và đơn vị cấp nước nhỏ khai thác nước phục vụ cho dân sinh và hoạt động công nghiệp Các công trình khai thác nước hầu hết là các giếng khoan, với lưu lượng khai thác mạnh nhất tập trung ở hai thành phố là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh
Nguồn nước cấp cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp ở Hà Nội phần lớn lấy từ nguồn nước ngầm Hiện tại trên địa bàn Tp.Hà Nội có: 29 nhà máy và trạm cấp nước tập trung quy mô lớn, với tổng lượng nước khai thác khoảng 650.000m3/ngày Ngoài ra, còn có khoảng 650 giếng khai thác lẻ dạng công nghiệp của các nhà máy,
xí nghiệp với tổng lượng khai thác khoảng 150.000m3/ngày Như vậy, chỉ tính riêng các giếng khai thác quy mô công nghiệp, lượng nước khai thác trên 800.000m3/ngày (Nguồn : Báo cáo quy hoạch tổng thể nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn các tỉnh trong toàn quốc, 2008)
Hiện tại tổng trữ lượng khai thác nước ngầm toàn quốc đạt gần 20 triệu m3, tổng công suất của các nhà máy cấp nước đô thị trên toàn quốc khai thác nguồn nước ngầm khoảng 1,47 triệu m3/ngày Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các nhà máy mới chỉ khai thác được 60 -70% so với công suất thiết kế
Hiện nay, lượng nước ngầm phục vụ cấp nưóc sinh hoạt chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng lượng nước ngầm được khai thác hàng năm Ở miền Bắc, do hàm lượng sắt trong nước cao nên hầu hết các công trình khai thác nước ngầm đều được
xử lý sắt trước khi đưa vào sử dụng với tỉ lệ sử dụng đạt khoảng 60-70% Tại các nhà máy nước ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, nước ngầm được khai thác từ giếng và đưa thẳng vào đường ống, không qua xử lý, hoặc chỉ xử lý sơ bộ bằng các công nghệ truyền thống
1.2.3 Các vấn đề về môi trường nước hiện nay
a Nguy cơ thiếu nước
Tổng lượng nước mặt của các LVS trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 830 - 840
tỷ m3/năm, nhưng chỉ có khoảng 310 - 315 tỷ m3 (37%) là nước nội sinh, còn 520 -
525 tỷ m3 (63%) là nước chảy từ các nước láng giềng vào lãnh thổ Việt Nam Chẳng hạn, ở LVS Hồng nguồn nước ngoại lai chiếm 50% tổng khối lượng nước bề mặt Còn ở LVS Mê Công có đến 90% tổng khối lượng nước bề mặt có nguồn gốc
Trang 10ngoại lai
Nếu chỉ xem xét tổng lượng nước cả năm sẽ thấy tài nguyên nước của Việt Nam rất dồi dào Xét trên từng lưu vực, theo tiêu chuẩn quốc tế , trong mùa khô, chỉ
có 4 lưu vực có đủ nước (Mức trên 1.700m3/người/ năm) đó là: Mê Công, Sê San,
Vu Gia - Thu Bồn và Gianh; 2 lưu vực khác là LVS Hương và LVS Ba ở ngưỡng xấp xỉ mức đủ nước; LVS Đông Nam Bộ và Đồng Nai thì việc thiếu nước có thể thường xuyên hơn; LVS Ba gần tiến đến mức này; Các LVS còn lại có khả năng thiếu nước không thường xuyên hoặc cục bộ (Trong khoảng 1.700 - 1.000m3/ nguời/năm)
Với dân số gần 88 triệu người, Việt Nam có tổng lượng nước bình quân đầu
m3/người, thấp hơn chuẩn 10.000 m3/người/năm của quốc gia có tài nguyên nước ở mức trung bình theo quan điểm của Hiệp hội Nước quốc tế (IWRA) Tính theo lượng nước nội sinh thì Việt Nam hiện mới đạt khoảng 4.000 m3/người/năm, và đến năm 2025 có thể bị giảm xuống còn 3.100 m3 Đặc biệt, trong trường hợp các quốc gia thượng nguồn không có sự chia sẻ công bằng và sử dụng hợp lý nguồn nước trên các dòng sông liên quốc gia, thì Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với nguy
cơ khan hiếm nước, có khả năng sẽ xảy ra khủng hoảng nước, đe dọa đến sự phát triển ổn định về kinh tế, xã hội và an ninh lương thực
Những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân, ở hạ lưu hầu hết các LVS, tình trạng suy giảm nguồn nước dẫn tới thiếu nước, khan hiếm nước không đủ cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất đang diễn ra ngày một thường xuyên hơn, trên phạm vi rộng lớn hơn và ngày càng nghiêm trọng, gây tác động lớn đến môi trường sinh thái các dòng sông, gia tăng nguy cơ kém bền vững của tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội
Thêm vào đó, tài nguyên nước trên các LVS ở Việt Nam đang bị suy giảm và suy thoái nghiêm trọng do nhu cầu dùng nước tăng cao trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, thủy điện, làng nghề và do khả năng quản lý yếu kém Các hệ sinh thái rừng tự nhiên duy trì nguồn sinh thủy từ thượng nguồn các lưu vực cũng bị suy giảm trên diện rộng do nạn phá rừng, do canh tác nông, nông - nghiệp, khai khoáng và xây dựng cơ sở hạ tầng
b Biến đổi khí hậu và tác động đến tài nguyên nước
Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra và gây những biến động mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán và nước biển dâng Các biểu hiện của biến đổi khí hậu như tăng nhiệt độ, gia tăng mực nước biển, cường độ và số đợt không khí lạnh, bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng thường xuyên và trở nên phổ biến
Trang 11hơn
Suy giảm nguồn nước cũng chịu ảnh hưởng của xu thế suy thoái do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu Nhiệt độ không khí có xu thế ngày một tăng lên và kịch bản có thể chấp nhận là đến năm 2070, nhiệt độ ở các vùng ven biển có khả năng tăng thêm +1,50C, vùng nội địa tăng +2,00C Việc này kéo theo lượng hơi nước bốc lên tăng khoảng 7,7% - 8,4%, nhu cầu tưới tăng lên, lượng dòng chảy nước mặt sẽ giảm đi tương ứng khi lượng mưa không đổi và thậm chí giảm Còn hiện tượng El-Nino mỗi khi xuất hiện cũng gắn liền với việc gây hạn hán rất nặng
nề ở nước ta
Lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 - 2007) đã giảm khoảng 2% Tuy nhiên, biến đổi lượng mưa có xu hướng cực đoan: tăng trong mùa mưa và giảm trong mùa khô Thêm vào
đó, lượng mưa phân bố rất không đều theo thời gian: mùa khô và mùa mưa - mùa khô thì hạn hán, mùa mưa thì ngập úng, theo không gian - trong một thời điểm có vùng đang chịu lũ lụt lại có vùng đang thiếu nước trầm trọng thậm chí khô hạn
Số liệu thống kê cho thấy mực nước mặt ở hạ du các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi trên những LVS chính nước ta, như sông Hồng, Đồng Nai - Sài Gòn,
Ba, Vu Gia - Thu Bồn phổ biến thấp hơn trung bình hàng năm, có nơi thấp hơn khá nhiều Tại hạ lưu sông Đà, Thao, Lô và Hồng - Thái Bình, nguồn nước trong 5 năm 2003 - 2007 thấp hơn trung bình nhiều năm từ 9 - 20% (tại Hà Nội, thấp hơn tới 22%, có năm thấp hơn tới 30%); trong mùa kiệt, nguồn nước còn thấp hơn trung bình cùng kỳ đến 50 - 60% Trên các LVS khác, nguồn nước mặt phổ biến ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm từ 15 - 40%, riêng các sông ở Nam Trung bộ như ở tỉnh Bình Định, Bình Thuận, lượng dòng chảy thấp hơn trung bình nhiều năm tới 55
- 80%
c Phát sinh các vấn đề xã hội
Bên cạnh các vấn đề liên quốc gia, các mâu thuẫn môi trường giữa các cộng đồng sử dụng chung nguồn nước cũng đang trở thành vấn đề nổi cộm hiện nay
Công trình thủy điện Đắk Mi 4 phần thượng nguồn phía Phước Sơn - Quảng Nam không thực hiện xả nước theo quy định, khiến vùng hạ du sông Vu Gia - Đà Nẵng thiếu nước trầm trọng, nước nhiễm mặn rất nặng, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt cung cấp cho những người dân sống ở các vùng hạ du như Cẩm Lệ, Thanh Khê, Sơn Trà, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn (TP Đà Nẵng) và các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn (Quảng Nam), nguy cơ thiếu nước sinh hoạt trầm trọng
Thêm vào đó, một loạt các công trình thuỷ điện lần lượt được xây dựng trên
Trang 12sông Vu Gia, khiến tình hình thiếu nước ở cuối nguồn sông càng thêm nghiêm trọng Nước sông Đăk Mi được chuyển về sông Thu Bồn, mà không trả lại cho sông
Vu Gia Bởi vì, trên thực tế, tuy có một lượng nhỏ nước sông Thu Bồn chảy về sông Hàn qua sông Vĩnh Điện, nhưng đã không sử dụng được, do sông Vĩnh Điện bị nhiễm mặn quanh năm
Xung đột môi trường giữa cộng đồng làm nghề và cộng đồng không làm nghề trong bản thân làng nghề Đây là xung đột lợi ích điển hình khi quyền lợi và lợi ích kinh tếcủa cộng đồng không làm nghề bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường bởi hoạt động làng nghề gây nên Đây là loại xung đột phổ biến nhất Sự hình thành các cơ sở sản xuất nghề nằm trong các khu dân cư, đặc thù hơn là tổ chức sản xuất ngay tại trong nhà mình, do vậy, các loại chất thải phát sinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ xung quanh, gây ra những xung đột, khiếu kiện
1.3 Hiện trạng tài nguyên nước
1.3.1 Tài nguyên nước mặt
Đối với các LVS, ô nhiễm chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều đoạn sông, tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu Có nơi, ô nhiễm đã ở mức nghiêm trọng, điển hình như vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại khu vực hạ lưu các sông và hệ thống hồ ao, kênh mương và các sông nhỏ trong khu vực nội thành, nội thị
Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm còn phụ thuộc vào yếu tố thuỷ văn của dòng chảy Mức độ ô nhiễm cũng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ về các sông giảm Ngoài ra, mức độ ô nhiễm nước còn phụ thuộc mạnh vào hiệu quả kiểm soát các nguồn thải đổ vào nguồn nước Thực tế hiện nay, do các nguồn thải đổ vào LVS hầu như chưa được kiểm soát làm cho vấn đề ô nhiễm nước mặt đang ngày càng trở nên nghiêm trọng
a Nước sông
Nhìn chung, các đoạn sông chảy qua các khu đô thị, khu vực tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng, sau khi tiếp nhận các nguồn nưóc thải chưa qua xử lý của các đô thị và của các cơ sở sản xuất thì chất lượng nước thường giảm sút đáng kể Theo kết quả quan trắc các hệ thống sông chính trên cả nước, nhiều chất ô nhiễm trong nước có nồng độ vượt quá quy chuẩn cho phép, dao động từ 1,5 đến 3 lần Tình trọng ô nhiễm này đã kéo dài trong nhiều năm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt của dân cư và làm mất mỹ quan các khu vực
Trang 13Hình 1.3: Diễn biến hàm lượng BOD 5 trung bình năm trên các sông chính giai đoạn
2005-2009
Hình 1.4: Diễn biến hàm lượng Coliform trung bình năm trên các sông chính giai đoạn
2005 – 2009
b Nước ao, hồ khu vực nội thành, nội thị
Hình 1.5 : Diễn biến hàm lượng BOD 5 trung bình tại một số sông, hồ, kênh rạch nội thị
giai đoạn 2005 – 2009
Trang 14Hiện nay hầu hết các hồ, ao, kênh rạch và các sông trong khu vực nội thành các thành phố đều bị ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức quy chuẩn cho phép
c Nước biển ven bờ
+ Hàm lượng chất rắn lơ lửng
Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước biển chủ yếu do sông tải ra nên thường có giá trị cao ở vùng ven biển ĐBSH và ĐB- Sông Cửu Long đặc biệt ở các vùng cửa sông như Ba Lạt, Định An, Rạch Giá Khu vực miền Trung có hàm lượng tương đối nhỏ so với các khu vực khác và có xu thế giâm trong giai đoạn 2005-
2009
+ Nhu cầu oxy hoá học
Nhu cầu ôxy hoá học (COD) trung bình năm trong giai đoạn 2005-2009 trong nước biển ven bờ có xu hướng tăng cao dọc ven biển miền Nam Đối với dải ven biển miền Nam, hàm lượng COD trung bình năm biến đổi trong khoảng 11,23-20,50mg/l và 100% các giá trị quan trắc đều lớn hơn QCVN 10:2008/BTNMT (4mg/l) đặc biệt tăng vào các năm 2006 và 2008 so với các năm khác Khu vực biển ven bờ miền Bắc, hàm lượng COD trung bình năm tuy chưa vượt QCVN, nhưng những vùng chịu ảnh hưởng mạnh của nước sông như Cửa Lục, cửa Ba Lạt hoặc khu vực bãi tắm Đồ Sơn thưòng có hàm lượng COD cao hơn so với các khu vực biển ven bờ khác như Trà Cổ, Sầm Sơn
Hình 1.6 Diến biến hàm luọng COD trung bình trong nuớc biển ven bờ tại một số khu vực
ven biển giai đoạn 2005 - 2009 Nguồn: Trạm Quan trắc và phân tích môi trường vùng ven biền (1, 2, 3), 2010
+ Hàm lượng dầu
Thực tế ô nhiễm dầu, mỡ dọc dải ven biển đã và đang là vấn đề cần đặc biệt
Trang 15lưu tâm vì những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đối với môi trường vùng biển ven bờ và liên quan trực tiếp đến nuôi trồng thuỷ sản và du lịch ven biển
Tại tất cả các điểm đo, hàm lượng dầu trung bình trong nước biển ven bờ giai đoạn 2005-2009 không đạt QCVN đối với nước biển ven bờ cho vùng nuôi trồng thuỷ sản, bảo vệ thuỷ sinh Hầu hết các giá trị quan trắc đã vượt quy chuẩn cho mọi mục đích sử dụng
Tại khu vực miền Bắc, hàm lượng dầu trong nước biển ven bờ thể hiện rõ ảnh hưởng của hoạt động giao thông thuỷ đối với chất lượng nước Điểm đo Cửa Lục gần luồng Cửa Lục, sát phà Bãi Cháy có hàm lượng dầu trong nước cao hơn hẳn các điểm đo khác Tại khu vực miền Trung, hàm lượng dầu trong nước biển ven bờ tăng đột biến vào năm 2007, đặc biệt vào đợt quan trắc quý I năm 2007 Nguyên nhân do
vụ tràn dầu không rõ nguồn gốc rất lớn phát hiện vào tháng 2/2007, ảnh hưởng đến
20 tỉnh, thành phố ven biển, chủ yếu là các tỉnh miền Trung với tổng lượng dầu thu gom lên đến hơn 1,7 nghìn tấn Hàm lượng dầu trong nước biển khu vực miền Nam
có xu hưóng tăng đều qua các năm
Hình 1 7 Diến biến hàm lượng dầu trung bình trong nuớc biển ven bờ tại một
số khu vục ven biển giai đoạn 2005 - 2009 Nguồn: Trạm Quan trắc và phân tích môi trường vùng ven biển (1, 2, 3), 2010
1.3.2 Tài nguyên nước ngầm
Các nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm chất lượng nước ngầm bao gồm: đặc tính địa chất vùng chứa nước ngầm, thẩm thấu và rò rỉ nước bề mặt đã bị ô nhiễm, do thay đổi mục đích sử dụng đất và khai thác nước bất hợp lý; ngoài ra còn
do nước biển dâng dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn vào các tầng chứa nước ven biển
Trang 16Tùy theo vùng địa lý mà mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên là khác nhau
và chất lượng nước ngầm cũng có sự khác biệt Phần lớn nguồn nước ngầm ở nước
ta hiện chất lượng còn tương đối tốt, đáp ứng yêu cầu sử dụng nước: Nước có pH dao động từ 6,0 - 8,0, nước mềm (độ cứng <1,5 mgđl/l), hàm lượng các hợp chất hữu cơ và thành phần vi trùng nhỏ, hàm lượng các kim loại nặng vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép không đáng kể
Tuy nhiên, ở một số vùng ở Việt Nam, nước ngầm đang đối mặt với các vấn
đề xâm nhập mặn trên diện rộng, ô nhiễm vi sinh và ô nhiễm các kim loại nặng nghiêm trọng do khoan nước ngầm thiếu quy hoạch và không có kế hoạch bảo vệ nguồn nước
Bảng 1.2 Hàm lượng trung bình các thông số ô nhiễm nước dưới đất
Vùng đồng bằng Bắc bộ 0.68 0.024 0.001 0.0001 8.7 Vùng đồng bằng Nam bộ 0.59 0.004 0.008 0.0001 4.24
Nguồn: Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên nước- Bộ TNMT
1.4 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước
1.4.1 Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt chiếm trên 30% tổng lượng thải trực tiếp ra các sông hồ, hay kênh rạch dẫn ra sông Theo số liệu tính toán, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lượng nước thải sinh hoạt nhất cả nước
Lượng nước thải sinh hoạt đổ vào các song hàng năm đều tăng do tốc độ đô thị hóa cao Do đặc điểm điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển KT-XH thuận lợi, tổng số dân khu vực miền Bắc lên đến gần 31,3 triệu người (chiếm 35,6% dân số toàn quốc) Trong đó, dân số đô thị lên đến gần 8,1 triệu người (TCTK, 2012) Tỷ lệ tăng dân số hàng năm vào khoảng 1%, dân số đô thị tăng nhanh gấp 3 lần mức tăng dân số cả nước Mức đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh, năm 1990 cả nước có 550
đô thị, đến tháng 6 năm 2012 đã là 758 đô thị Bên cạnh đó, không chỉ ở thành thị,
mà ngay cả ở khu vực nông thôn, lượng nước thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất lớn và tăng nhanh qua các năm
Hầu hết nước thải sinh hoạt của các thành phố đều chưa được xử lý, trực tiếp
đổ vào các kênh mương và chảy thẳng ra sông gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt Phần lớn các đô thị đều chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung, hoặc đã xây
Trang 17dựng nhưng chưa đi vào hoạt động, hoặc hoạt động không có hiệu quả
1.4.2 Nước thải công nghiệp
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều
ngành công nghiệp được mở rộng quy mô sản xuất, cũng như phạm vi phân bố
Cùng với đó là sự gia tăng lượng nước thải lớn, nhưng mức đầu tư cho hệ thống xử
lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu Vùng Đông Nam bộ, với toàn bộ các tỉnh thuộc
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi tập trung các KCN lớn, là vùng có lượng
phát sinh nước thải công nghiệp lớn nhất cả nước Số lượng KCN có hệ thống xử lý
nước thải vẫn đang ở mức trung bình (50-60%), hơn nữa 50% trong số đó vẫn chưa
hoạt động hiệu quả
Bảng 1.3 Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước
thải từ các khu công nghiệp
Vùng Khu vực
Lượng nước thải (m3/ngày)
Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày) TSS BOD5 COD Tổng N Tổng P
Duyên
hải miền
Trung
Đà Nẵng 23.792 5.234 3.260 7.590 1.380 1.903 Thiên Thừa Huế 4.200 924 575 1.340 244 336 Quảng Nam 13.024 2.865 1.784 4.154 755 1.042
Bà Rịa-Vũng Tàu 93.550 20.581 12.816 29.842 5.426 7.484 Bình Dương 45.900 10.098 6.288 14.642 2.662 3.672
Trang 18Tây Ninh 11.700 2.574 1.603 3.732 679 936
Long An 25.384 5.585 3.478 8.098 1.472 2.031 Đồng
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2009- Môi trường Khu công nghiệp
Việt Nam, Bộ TN&MT, 2009
1.4.3 Nước thải nông nghiệp
Bên cạnh những nguồn thải nêu trên, nước thải nông nghiệp cũng là vấn đề
đáng quan tâm hiện nay Đó là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến nguồn nước tại những địa phương có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh như vùng đồng bằng sông Cửu Long Nước thải từ hoạt động nông nghiệp có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, hay thuốc trừ sâu, là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người Đặc biệt, các khu vực này, đời sống dân cư vẫn gắn với nguồn nước sông, dùng làm nước sinh hoạt hay sử dụng để nuôi trồng thủy sản
1.4.4 Nước thải y tế
Nước thải y tế được xem là nguồn thải độc hại nếu không được xử lý trước khi
thải ra môi trường Do thành phần nước thải y tế chứa nhiều hóa chất độc hại với nồng độ cao và chứa nhiều vi trùng, vi khuẩn lây lan bệnh truyền nhiễm Mức độ gia tăng lượng nước thải y tế năm 2011 so với năm 2000 là hơn 20% Hầu hết các bệnh viện do Bộ Y tế quản lý đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung Tuy nhiên, tại các bệnh viện thuộc Sở y tế địa phương quản lý hay các bệnh viện thuộc ngành khác quản lý, cũng như các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân nằm rải rác, phần lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải
Theo Cục Quản lý môi trường y tế thuộc Bộ Y tế, năm 2011, nước ta có hơn
13.640 cơ sở y tế, khám chữa bệnh Mỗi ngày, các đơn vị này thải ra khoảng 120.000 m3 nước thải Y tế, trong khi đó, chỉ có 53,4% trong tổng số bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải y tế Trong đó, một số lượng lớn các chất độc hại trong nước thải y tế không thể xử lý được bằng phương pháp xử lý nước thải thông thường
1.5 Tác hại của ô nhiễm nước
1.5.1 Sức khỏe con người
Bệnh tật có liên quan đến ô nhiễm nguồn nước đã từ lâu được xem là một mối
đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt các bệnh như: bệnh ung thư, bệnh thiếu máu, bệnh tả, bệnh đường tiêu hóa và các bệnh ngoài da Tác hại ô nhiễm
Trang 19môi trường nước đối với sức khỏe con người chủ yếu do môi trường nước bị ô nhiễm vi trùng, vi khuẩn và các chất ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm kim loại nặng (Asen, Cadimi, thủy ngân, ) và ô nhiễm các hóa chất độc hại Hiện nay, vẫn còn nhiều hộ dân sử dụng nước sông, ao hồ, kênh rạch để phục vụ sinh hoạt hàng ngày Do đó ảnh hưởng đến sức khỏe, nguy cơ nhiễm các bệnh về đường tiêu hóa là rất lớn Việc tắm nước sông, thậm chí cả nước ao hồ bị nhiễm nhiều loại mầm bệnh là nguyên nhân gây đau mắt, viêm da, viêm tai, ghẻ lở, nấm da và nhiều loại bệnh khác Theo báo cáo của Cục Quản lý Tài nguyên nước năm 2010, 80% trường hợp bệnh lỵ và tiêu chảy là do nguồn nước bị ô nhiễm gây ra, chủ yếu ở các địa phương nghèo Đã
có những trường hợp bị tử vong do sử dụng nước bẩn và ô nhiễm (chủ yếu là trẻ em)
Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khỏe con người có thể thông qua hai con đường: một là do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả và thủy hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm; hai là do tiếp xúc với môi trường nước
bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động Theo thống kê của Bộ Y tế, gần một nửa trong số 26 bệnh truyền nhiễm có nguyên nhân liên quan tới nguồn nước bị
ô nhiễm Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp Ngoài ra, có nhiều bệnh khác như tả, thương hàn, các bệnh về đường tiêu hoá, viêm gan A, viêm não, ung thư,
Các con sông là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho đô thị và nông thôn Đặc biệt người dân ở vùng nông thôn và những người có thu nhập thấp thường sử dụng trực tiếp nước sông Khi nguồn nước mặt bị ô nhiễm thì đây chính là yếu tố làm gia tăng bệnh tật của người dân tại các tỉnh thuộc LVS, đặc biệt là các tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn nước bị ô nhiễm
Năm 2007 cả nước có 992.137 người dân nông thôn bị bệnh tiêu chảy, 38.529 người mắc bệnh lỵ trực khuẩn, 3.021 người mắc bệnh thương hàn do sử dụng nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, trong đó 88% trường hợp mắc bệnh là do thiếu nước sạch (Hội thảo khoa học "Môi trường nông nghiệp - nông thôn và đa dạng sinh học ở miền Trung Việt Nam", 2008)
Bên cạnh các bệnh về đường tiêu hóa như: tiêu chảy, lỵ, ô nhiễm nguồn nước còn gây bệnh thiếu máu, ung thư, bệnh về da Nguyên nhân chủ yếu do nguồn nước bị nhiễm kim loại nặng như chì, cadimi, asen, Hậu quả chung của tình trạng
ô nhiễm nước là tỉ lệ người chết do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư ngày càng tăng lên Ngoài ra, tỷ lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước là rất cao
1.5.2 Tác động đến nền kinh tế
Môi trường nước mặt (sông hồ, kênh mương) là nguồn tưới tiêu chính trong
Trang 20hoạt động nông nghiệp Khi chất lượng nước của hệ thống này bị ô nhiễm dẫn tới những thiệt hại đáng kể tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản
Theo số liệu thống kê, sản lượng nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi cá bè trên sông) đã bị giảm sút nhiều do vấn đề ô nhiễm nước sông, đặc biệt khi xảy ra các sự cố về môi trường nước
Với đặc thù về điều kiện tự nhiên, đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh
về nuôi trồng thuỷ sản, vấn đề ô nhiễm nước mặt đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển kinh tế của toàn vùng
Nguồn nước sông Đồng Nai bị ô nhiễm bởi các chất xả thải của hàng chục nhà máy chế biến thủy sản, các KCN đã gây thiệt hại không nhỏ tới kinh tếcủa các
hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản
Ví dụ: Ngày 25/7/2009, sự cố vỡ bờ bao hồ chứa nước thải của Công ty San Miguel Pure Foods gây ra khiến 230.000 m3 nước thải đổ ra khu vực thượng nguồn sông Thị Tính thuộc xã Lai Hưng, huyện Bến Cát Nhà máy nước Tân Hiệp đã phải
mở tối đa công suất các máy châm clo - một loại hóa chất khử trùng - để đảm bảo chất lượng nước sau xử lý, cung cấp cho người dùng Lượng hóa chất loại này so với thời điểm bình thường tăng 80-180 kg/giờ Như vậy, mỗi ngày đêm Nhà máy nước Tân Hiệp phải tăng thêm 2.400 kg clo, tính ra tốn thêm hơn 26 triệu đồng/ ngày Việc tăng hóa chất clo xử lý nước liên tục trong một tuần nên số tiền mua hóa chất cũng tăng lên tương ứng, ở mức trên 184 triệu đồng
1.5.3 Ảnh hưởng đến nguồn nước cấp
Tỷ lệ nguồn cung cấp nguồn nước chính cho khu vực thành thị là 63,5% nước máy; 30,4% nước giếng khoan và nước giếng đào được bảo vệ; 2,4% nước mưa; 3,7% nước khe, nước giếng đào không được bảo vệ và các nguồn nước khác Tỷ lệ nguồn cung cấp nước chính cho khu vực nông thôn là 8,6% nước máy; 57,8% nước giếng khoan và nước giếng được bảo vệ; 16% nước mưa; 17,5% nước khe, nước giếng đào không được bảo vệ và các nguồn nước khác
Ví dụ, tại đồng bằng sông Hồng, chỉ có khoảng hơn 80% số dân nghèo được tiếp cận với nguồn nước sạch trong khi đó những người ở nhóm có thu nhập cao chiếm tỷ lệ 96% Tại khu vực đô thị, mặc dù tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch cao hơn, nhưng với những người dân nghèo, khả năng tiếp cận với nước sạch vẫn rất hạn chế
Việc đầu tư hệ thống xử lý nước sinh hoạt cho một hộ gia đình thường vượt quá mức thu nhập bình quân và mức sống của người dân nông thôn Do đó, phần lớn người dân nông thôn vẫn khai thác và sử dụng trực tiếp nước sông hoặc các
Trang 21thủy vực xung quanh phục vụ cho sinh hoạt Khi nguồn nước mặt bị ô nhiễm đây chính là yếu tố gia tăng bệnh tật của người dân tại các tỉnh thuộc LVS, đặc biệt là các tỉnh phía hạ lưu
Ô nhiễm nguồn nước mặt, khai thác quá mức, cộng thêm việc giữ nước của các công trình thủy điện dẫn đến nỗi lo thiếu nước của người dân, không những người dân nông thôn mà ngay cả những người dân sống ở thành thị
Do nguồn nước mặt ngày càng ít hơn, nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân ngày càng tăng, cùng với khung giá nước sinh hoạt cũng tăng Đây cũng là nỗi khổ của người dân nghèo
1.6 Nhu cầu dùng nước
Nhu cầu dùng nước của một khu dân cư bao gồm:
- Cấp nước cho ăn uống sinh hoạt của dân cư;
- Tưới và rửa đường phố, quảng trường, cây xanh, nước cấp cho các vòi phun;
- Cấp nước ăn uống, sinh hoạt trong các xí nghiệp;
- Cấp nước sản xuất cho các xí nghiệp
- Cấp nước chữa cháy;
- Cấp nước cho yêu cầu riêng của trạm xử lý nước;
- Cấp nước cho các nhu cầu khác, trong đó có việc sục rửa mạng lưới đường ống cấp, thoát nước và lượng nước thất thoát trong quá trình phân phối và dùng nước
Bảng 1.4 : Nhu cầu dùng nước của khu dân cư
STT Đối tượng dùng nước và thành phần cấp nước Giai đoạn
2010 2020
I
Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, khu du lịch, nghỉ mát
a) Nước sinh hoạt:
- Tiêu chuẩn cấp nước (l/người.ngày): + Nội đô
+ Ngoại vi
- Tỷ lệ dân số được cấp nước (%): + Nội đô
+ Ngoại vi
b) Nước phục vụ công cộng (tưới cây, rửa đường, cứu
hoả,.); Tính theo % của (a)
c) Nước cho công nghiệp dịch vụ trong đô thị; Tính
theo % của (a)
d) Nước khu công nghiệp (*)
e) Nước thất thoát; Tính theo % của (a+b+c+d)
f) Nước cho yêu cầu riêng của nhà máy xử lý nước;
Tính theo % của (a+b+c+d+e)
Trang 22a)Nước sinh hoạt:
- Tiêu chuẩn cấp nước (l/người.ngày): + Nội đô
+ Ngoại vi
- Tỷ lệ dân số được cấp nước (%): + Nội đô
+ Ngoại vi
b)Nước phục vụ công cộng (tưới cây, rửa đường, cứu
hoả,.); Tính theo % của (a)
c)Nước cho công nghiệp dịch vụ trong đô thị; Tính
theo % của (a)
d)Nước khu công nghiệp (*)
e)Nước thất thoát; Tính theo % của (a+b+c+d)
f)Nước cho yêu cầu riêng của nhà máy xử lý nước;
Tính theo % của (a+b+c+d+e)
Đô thị loại IV, đô thị loại V; Điểm dân cư nông thôn
a)Nước sinh hoạt:
- Tiêu chuẩn cấp nước (l/người.ngày):
- Tỷ lệ dân số được cấp nước (%): b)Nước dịch vụ Tính theo % của (a)
c)Nước thất thoát; Tính theo % của (a+b)
d)Nước cho yêu cầu riêng của nhà máy xử lý nước;
Tính theo % của (a+b+c)
Ghi chú: (*)Tiêu chuẩn dùng nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp phải xác
định trên cơ sở những tài liệu thiết kế đã có, hoặc so sánh với các điều kiện sản xuất tượng tự Khi không có số liệu cụ thể, có thể lấy trung bình:
- Đối với công nghiệp sản xuất rượu bia, sữa, đồ hộp, chế biến thực phẩm, giấy, dệt: 45 m3/ha/ngày
- Đối với các ngành công nghiệp khác: 22 m3/ha/ngày
Vậy: Tổng nhu cầu dùng nước của khu dân cư được tính như sau:
Q = ∑ 𝑞𝑖𝑓𝑖𝑁𝑖
1000 + 𝐷𝑉 + 𝐷𝑃 (m3/ngày) Trong đó:
- qi: Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt lấy theo bảng trên.(l/người/ngày)
- Ni: Số dân tính toán ứng với tiêu chuẩn cấp nước qi (người)
- fi: Tỷ lệ dân được cấp nước lấy theo bảng trên(%)
- DV: Lượng nước tưới cây, rửa đường, dịch vụ đô thị, khu công nghiệp, thất thoát, nước cho bản thân nhà máy xử lý nước được tính theo bảng 3.1
- DP: lượng nước dự phòng Lượng nước dự phòng cho phát triển công nghiệp, dân cư và các lượng nước khác chưa tính được cho phép lấy thêm 5-10% tổng lưu lượng nước cho ăn uống sinh hoạt của điểm dân cư
Trang 23CHƯƠNG II: QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC
2.1 Khái niệm về hệ thống nguồn nước và đặc điểm của nó
2.1.1 Khái niệm về hệ thống nguồn nước
Quá trình khai thác nguồn nước đã hình thành hệ thống các công trình thuỷ lợi Những công trình thuỷ lợi được xây dựng đã làm thay đổi đáng kể những đặc điểm tự nhiên của hệ thống nguồn nước Mức độ khai thác nguồn nước càng lớn thì sự thay đổi thuộc tính tài nguyên nước càng lớn và chính nó lại ảnh hưởng đến quá trình khai thác
sử dụng nước của con người Chính vì vậy, khi lập các quy hoạch khai thác nguồn nước cần xem xét sự tác động qua lại giữa tài nguyên nước, phương thức khai thác và các biện pháp công trình Bởi vậy, theo quan điểm hệ thống người ta định nghĩa hệ thống nguồn nước như sau:
“Hệ thống nguồn nước là một hệ thống phức tạp bao gồm tài nguyên nước, các biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn nước, các yêu cầu về nước cùng với mối quan hệ tương tác giữa chúng cùng với sự tác động của môi trường lên nó”
+ Nguồn nước được đánh giá bởi các đặc trưng sau: Lượng và phân bố của nó theo không gian và thời gian; Chất lượng nước;
+ Các biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn nước: Bao gồm các công trình thuỷ lợi, các biện pháp cải tạo và bảo vệ nguồn nước, bao gổm cả biện pháp công trình và phi công trình, được cấu trúc tuỳ thuộc vào mục đích khai thác và bảo vệ nguổn nước + Các yêu cầu về nước: Bao gồm các hộ dùng nước, các yêu cầu về mức bảo đảm phòng chống lũ lụt, úng hạn, các yêu cầu về bảo vệ hoặc cải tạo môi trường cùng các yêu cầu dùng nước khác
Yêu cầu về nước rất đa dạng và có thể chia thành các nhóm như sau
(1) Yêu cầu cấp nước
Bao gồm các dạng sau:
- Cấp nước tưới
- Cấp nước sinh hoạt
- Cấp nước phục vụ công nghiệp
Các hộ dùng nước loại này tiêu hao một lượng nước khá lớn và hầu như không hoàn lại hoặc hoàn lại rất ít nên thường gọi là các hộ tiêu hao nước
(2) Yêu cầu sử dụng nước
Bao gồm các dạng sau:
- Khai thác thuỷ năng
- Giao thông thuỷ
- Phát triển du lịch
Trang 24- Nuôi trổng thuỷ sản
Các hộ dùng nước loại này không tiêu hao hoặc tiêu hao rất ít lượng nước mà nó được sử dụng nên thường gọi là các hộ sử dụng nước
(3) Yêu cầu về cải tạo và bảo vệ môi trường
Bao gồm các dạng sau:
- Phòng chống lũ lụt và tiêu thoát nước
- Xử lý nước thải và chống ô nhiễm nguồn nước
- Cải tạo môi trường sinh thái
- Chỉnh trị sông và bảo vệ bờ
+ Tác động của môi trường là những tác động về hoạt động dân sinh kinh tế, hoạt động của con người (không kể các tác động về khai thác nguồn nước theo quy hoạch) Những tác động đó bao gồm ảnh hưởng của các biện pháp canh tác làm thay đổi mặt đệm và lòng dẫn, sự tác động không có ý thức vào hệ thống các công trình thủy lợi v.v
2.1.3 Đặc điểm của hệ thống nguồn nước
(1) Hệ thống nguồn nước là một hệ thống phức tạp, tồn tại một số lượng các tham
số và các mối quan hệ giữa chúng Hệ thống nguổn nước bị tác động mạnh mẽ bởi yếu
tố môi trường
(2) Hệ thống nguồn nước là hệ bất định, có nhiều yếu tố bất định, bao gồm:
Các biến vào, biến ra và biến trạng thái là những biến ngẫu nhiên Quy luật ngẫu nhiên của các biến đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của các thiết kế, quy hoạch và điều khiển hệ thống nguồn nước
Các thông tin về hệ thống là không đầy đủ, hoặc có thì cũng rất khó có thể phân tích được hết các thuộc tính của hệ thống khi lập các quy hoạch khai thác Các thông tin đó bao gổm:
- Các tài liệu đo đạc về khí tượng thủy văn
- Các tài liệu về yêu cầu nước trong tương lai
- Các thông tin về ảnh hưởng tác động của môi trường v.v
Sự hiểu biết không đầy đủ của con người nghiên cứu về hệ thống, bao gồm các quy luật vật lý của nguồn nước, các "tiềm năng" của hệ thống và các ảnh hưởng của các biện pháp công trình đến sự thay đổi trạng thái của hệ thống nguổn nước v.v Bất động về mục tiêu, thể hiện ở các mặt:
Mục tiêu khai thác có thể chưa được đặt ra một cách rõ ràng ngay từ đầu, và nó chỉ được hình thành trong quá trình tiếp cận hê thống
Đa mục tiêu trong khai thác và quản lý nguồn nước
(3) Hệ thống nguồn nước là hệ thống luôn luôn ở trạng thái cân bằng tạm thời
Trang 25Những biến đổi về khí hậu, mặt đệm và các tác động đột biến của con người làm hệ thống nguồn nước thay đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác
Do đó những thông tin hiện tại về hệ thống không phản ánh những quy luật của tương lai
(4) Hệ thống nguồn nước là hệ thống có cấu trúc yếu, bởi vì:
+ Các mối quan hệ trong hệ thống rất khó thể hiện bằng các biểu thức toán học, thậm chí không thể hiện được
+ Khó kiểm soát được các tác động của môi trường, đặc biệt là các tác động của con người
2.2 Nhiệm vụ quy hoạch và quản lý nguồn nước
Quy hoạch nguồn nước là sự hoạch định chiến lược sử dụng nước một cách hợp lý của một quốc gia, trên một vùng lãnh thổ hoặc một lưu vực sông, bao gồm chiến lược đầu tư phát triển nguồn nước và phương thức quản lý nguồn nước nhằm đáp ứng các yêu cầu về nước và đảm bảo sự phát triển bền vững
Quy hoạch và quản lý nguồn nước là lĩnh vực khoa học khá phức tạp Trong thời đại hiện nay, việc khai thác nguồn nước liên quan không những phải đảm bảo
sự đầu tư có hiệu quả mà còn phải đảm bảo sự phát triển bền vững Nguồn nước trên hành tinh càng ngày càng cạn kiệt so với sự phát triển dân số và mức độ yêu cầu về nước ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng Chính vì vậy trong các quy hoạch khai thác nguồn nước thường tồn tại các mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa các ngành dùng nước, mẫu thuẫn giữa khai thác và bảo vệ môi trường, mâu thuẫn giữa
sử dụng nước với sự đảm bảo phát triển bền vững Nếu trước đây, theo quan điểm truyền thống, khai thác nguồn nước phải đảm bảo tối ưu về mặt đầu tư, thì ngày này vấn đề phân tích kinh tế chỉ là một loại tiêu chuẩn đánh giá dự án quy hoạch Khi phải đảm bảo sự phát triển bền vững trong quá trình phát triển nguồn nước thì vấn
đề đặt ra không phải tìm phương án tối ưu mà cần phải tìm phương án hợp lý nhất -
là phương án tối ưu kinh tế và thỏa mãn các yêu cầu phát triển bền vững
Nhiệm vụ của các quy hoạch sử dụng nước là sự thiết lập một cân bằng hợp lý với hệ thống nguồn nước theo các tiêu chuẩn đã được quy định bởi các mục đích khai thác và quản lý nguồn nước
Một quy hoạch hệ thống nguồn nước được gọi là hợp lý nếu thoả mãn yêu cầu khai thác nguồn nước được đánh giá bởi “hệ thống chỉ tiêu đánh giá” với các tiêu chí sau:
- Sử dụng nguồn nước hiệu quả nhất và hợp lý nhất
- Hiệu quả đầu tư cao, các phương án quy hoạch tối ưu nhất
Trang 26- Đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững tài nguyên nước
2.3 Các bài toán cơ bản về quy hoạch và quản lý nguồn nước
2.3.1.Quy hoạch hệ thống (Thiết kế hệ thống)
Quy hoạch hệ thống nguồn nước (quy hoạch hệ thống hay là thiết kế hệ thống) là
sự thiết lập cấu trúc của hệ thống nguồn nước bao gồm hệ thống công trình và hệ thống các yêu cầu về nước
Mục tiêu: xác định một cấu trúc hợp lý nhất của hệ thống nguồn nước, thoả mãn các mục tiêu khai thác và bảo vệ nguồn nước
Khi lập các quy hoạch hệ thống, từ yêu cầu khai thác nguồn nước người làm quy hoạch phải xác định những loại công trình nào sẽ được xem xét xây dựng? quy mô xây dựng ra sao? yêu cầu cấp nước nào cần được xem xét và khả năng đáp ứng đến đâu? cấu trúc nào của hệ thống được coi là khả thi và tối ưu nhất Ngoài ra cần xem xét các phương án phi công trình (trồng rừng, hệ thống chính sách ) nhằm bảo vệ
và tái tạo nguồn nước
2.3.2.Phát triển nguồn nước
Phát triển nguồn nước là bài toán hoạch định chiến lược đầu tư phát triển bao gồm cả vấn đề đầu tư phát triển hệ thống công trình và vấn đề sử dụng nguồn nước một cách hợp lý nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai Luật tài nguyên nước của Việt Nam đã xác định chiến lược phát triển nguồn nước như sau:
“Phát triển tài nguyên nước là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của Tài nguyên nước”
Lập quy hoạch phát triển nguồn nước bao gồm những nội dung như sau:
- Dự báo yêu cầu về nước trong tương lai bao gồm yêu cầu sử dụng nước, phòng chống lũ và bảo vệ môi trường
- Đánh giá cân bằng nước trong tương lai bao gồm cân bằng tự nhiên và cân bằng với quy hoạch hệ thống công trình đã xác định trong tương lai
- Xây dựng quy hoạch về sử dụng nước và khai thác nguồn nước trong tương lai
- Dự báo sự thay đổi về môi trường, sự suy thoái nguồn nước do các hoạt động dân sinh kinh tế và tác động do các biện pháp khai thác nguồn nước gây nên Trên
cơ sở đó lập các quy hoạch cho các biện pháp nhằm tái tạo nguồn nước, chống suy thoái về nguồn nước
- Hoạch định các biện pháp cần thiết trong quản lý nguồn nước, hệ thôang chính sách và thể chế nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững
- Lập chiến lược tối ưu trong đầu tư phát triển nguồn nước
Trang 272.3.3.Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước: Là sự xác định phương thức quản lý nguồn nước trên một vùng, một lãnh thổ hoặc một hệ thống sông một cách hiệu quả và đảm bảo yêu cầu về sự phát triển bền vững cho vùng hoặc lưu vực sông nhằm kiểm soát các hoạt động khai thác nguồn nước và những hoạt động dân sinh kinh tế có tác động tích cực và tiêu cực đến cân bằng sinh thái và suy thoái nguồn nước trên một vùng lãnh thổ hoặc lưu vực sông
Để quản lý nguồn nước một cách có hiệu quả cần giải quyết các vấn đề chính như sau:
- Hoạch định hệ thống các chính sách, thể chế nhằm quản lý tốt nhất tài nguyên nước trên một lãnh thổ hoặc trên một lưu vực sông Hệ thống chính sách bao gồm luật nước và các quy định dưới luật do nhà nước ban hành, hệ thống các chính sách nhằm khuyến khích cộng đồng tham gia vào quá trình bảo vệ nguồn nước Các thể chế được xây dựng tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của vùng có nguồn nước cần bảo vệ Đối với các sông lớn chảy qua lãnh thổ của nhiều quốc gia cần thiết lập các tổ chức liên quốc gia để phối hợp hành động
-Thiết lập hệ thống kỹ thuật trợ giúp công tác quản lý nguồn nước bao gồm hệ thống quan trắc, hệ thống xử lý thông tin, các mô hình toán và các phần mềm quản
lý dữ liệu, các mô hình và phần mềm quản lý nguồn nước Đây được coi là công cụ quan trọng để kiểm soát những ảnh hưởng có lợi và có hại đến nguồn nước và sinh thái do các hoạt động dân sinh kinh tế gây ra, từ đó có cơ sở hoạch định các phương thức khai thác hợp lý tài nguyên nước và các biện pháp cần thiết để bảo vệ và nâng cao chất lượng của nguồn nước
2.4 Quy hoạch nguồn nước
2.4.1.Quy hoạch lưu vực về nguồn nước
Quy hoạch nguồn nước cấp lưu vực vạch ra chính sách và chương trình về nước trên một lưu vực sông nhằm khai thác hiệu quả và hợp lý tài nguyên nước trên lưu vực
Mục đích của quy hoạch lưu vực là đưa ra hướng dẫn để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn nước trên lưu vực nhằm đáp ứng tốt nhất các mục tiêu và mục đích quốc gia và vùng lãnh thổ Quy hoạch lưu vực vì thế phải bao gồm một tài liệu xác định, lựa chọn và kế hoạch thực hiện các dự án, quy chế và cam kết về nước Quy hoạch này tổng hợp tất cả các dữ liệu thích hợp hiện có lập thành văn bản tất cả các
dự án đang tồn tại, các quy định và cam kết về nước, đưa ra các phương án quản lý
tổ chức và vật chất các nguồn nước phù hợp với các mục tiêu và mục đích đã đề ra
Trang 28Các điều kiện sử dụng nước và các phương án được lập theo thời hạn hiện tại, l0 năm, 25 năm và 50 năm Do những dữ liệu thu thập được ngày càng tăng cùng với
sự thay đổi về mục tiêu nên Quy hoạch lưu vực phải được thay đổi và cập nhật thường kỳ Quy hoạch lưu vực sẽ là văn bản chính thức hướng dẫn mọi hoạt động quy hoạch của Chính phủ và khu vực tư nhân của tất cả các ngành có thể sử dụng hay tác động đến các nguồn nước của lưu vực
Phạm vi của quy hoạch lưu vực sẽ đề cập đến mọi nguồn nước trong lưu vực
và sử dụng các nguồn nước này trong cũng như ngoài phạm vi lưu vực Khi lập các quy hoạch lưu vực cần xem xét trong mối quan hê sự liên đới với các lưu vực khác Các mục tiêu và mục đích mà phát triển nguồn nước lưu vực thường hướng tới bao gồm:
+ Quản lý các nguồn nước theo cách nhằm đảm bảo tối đa hoá các lợi ích kinh
tế xã hội và môi trường trong sạch đã được nêu trong các mục tiêu quốc gia
+ Hoàn thành hoặc tiến hành các dự án và chương trình phù hợp với luật pháp
và quy định Quốc gia cũng như các lịch trình đặt ra nhằm đáp ứng các nhu cầu phụ thuộc vào nước
Hệ thống chính sách ảnh hưởng đến quy hoạch nước lưu vực sông có thể bao gồm:
• Các quy định pháp luật về nước, thiết kế công trình và quản lý nguồn nước;
• Quy định về thứ tự ưu tiên đối với các đối tượng dùng nước;
• Các chính sách đảm bảo bền vững về môi trường;
• Quy định các loại phí hay ưu đãi có liên quan đến các dịch vụ về nước: cấp nước, tưới, tiêu, phòng lũ , ở mức đủ để đáp ứng mọi chi phí hoạt động quản lý khai thác nguồn nước;
• Các quy định liên quan đến lựa chọn và vận hành các công trình phù hợp với các thoả thuận và cam kết pháp lý của lưu vực, Quốc gia và quốc tế;
• Quy định đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng sử dụng nước
Quy hoạch lưu vực và Chương trình về nước cấp quốc gia bổ sung cho nhau,
có sự phụ thuộc hai chiều lẫn nhau Những chi tiết về tài nguyên nước và tiềm năng phát triển của quy hoạch lưu vực sẽ cung cấp cho Chương trình về nước cấp quốc gia Trong khi đó, các quyết định điều chỉnh về chính sách, kinh tế và công trình xuất phát từ Chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nước phải được phản ánh trong quy hoạch lưu vực
Trang 292.4.2 Quy hoạch chuyên ngành hoặc các quy hoạch cấp tiểu vùng
Quy hoạch nguồn nước cấp tiểu vùng là các quy hoạch chi tiết cụ thể cho một vùng thuộc một lưu vực sông hoặc một phần lãnh thổ nằm trong quy hoạch liên lưu vực
Quy hoạch chuyên ngành là quy hoạch chi tiết cho một đối tượng khai thác nguồn nước nào đó: Quy hoạch phòng lũ, quy hoạch khai thác thuỷ năng, quy hoạch cấp nước cho nông nghiệp Trong thực tế một quy hoạch thường được lập theo nguyên tắc lợi dụng tổng hợp và được gọi là quy hoạch đa mục tiêu
Hai loại quy hoạch này thường được tiến hành riêng rẽ và chính nó sẽ là cơ sở cho việc lập quy hoạch lưu vực và xây dựng các chương trình phát triển nguồn nước cấp quốc gia Mặt khác, khi các quy hoạch lưu vực và chương trình phát triển nguồn nước cấp quốc gia đã được xác lập thì những quy hoạch vùng và quy hoạch chuyên ngành phải được thực hiện trong khuôn khổ của quy hoạch lưu vực và quy hoạch quốc gia
2.4.3 Hai giai đoạn lập quy hoạch
Quy hoạch lưu vực và chương trình quốc gia về phát triển nguồn nước được xây dựng theo nhiều giai đoạn khác nhau nhằm hoàn chỉnh các quy hoạch được lập Tuy nhiên, quy hoạch lưu vực và chương trình phát triển nguồn nước cấp quốc gia thường được thực hiện theo hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là quy hoạch khung; giai đoạn thứ hai là quy hoạch toàn bộ Việc thực hiện theo hai giai đoạn sẽ giảm được thời gian và kinh phí thực hiện quy hoạch chi tiết khi mà phương án quy hoạch tổng thể chưa được làm rõ
+ Giai đoạn 1: Quy hoạch khung về nguồn nước
a Quy hoach khung lưu vực
Quy hoạch khung về nguồn nước có thể coi là bước quy hoạch sơ bộ về nguồn nước trên lưu vực sông, bao gồm các nội dung chính như sau:
• Tài liệu về các mục tiêu cụ thể vùng lưu vực trong khuôn khổ quôc gia
• Tiến hành đánh giá nguồn nước
• Ước tính nhu cầu nước hiện nay và trong tương lai
• Chuẩn bị cân bằng nước và những nhu cầu nước trong tương lai
• Tóm tắt sự phát triển hiện tại, sự phát triển dự kiến trong tương lai, từ đó vạch ra các lựa chọn cho quy hoạch
b Chương trình khung phát triển nguồn nước cấp quốc gia
Chương trình khung phát triển nguồn nước cấp quôc gia bao gồm các nội dung chính như sau:
Trang 30• Kiểm tra và nâng cấp về mục đích và chính sách về nguồn nước quôc gia
• Tóm tắt và tổng hợp quy hoạch lưu vực để thấy nhu cầu trong tương lai và những khu vực có sự thiếu hụt tiềm năng Từ đó có phương hướng điều chỉnh đôi với các quy hoạch lưu vực
• Xác định ưu tiên hàng đầu phát triển trong tương lai và các yêu cầu trong quy hoạch
• Đánh giá Luật hiện hành, quy định, quy tắc hoạt động và thiết lập thể chế
• Xây dựng tài liệu về chương trình nước cấp quôc gia và đề ra các khuyến nghị
+ Giai đoạn 2: Hoàn tất quy hoạch về nguồn nước
Đây là giai đoạn nghiên cứu chi tiết các quy hoạch dựa trên những tài liệu nghiên cứu ở giai đoạn 1 Các nội dung chính trong giai đoạn này được liệt kê như sau
a Đối với quy hoach lưu vực
• Đánh giá chọn lọc về nguồn nước phục vụ cho quy hoạch chi tiết
• Nâng cấp ước tính nhu cầu nước (hiện nay và trong tương lai) đã thực hiện ở giai đoạn 1
• Tiến hành mô phỏng hệ thông nguồn nước, tính toán cân bằng nước và những nhu cầu nước trong tương lai
• Hình thành các phương án quy hoạch, chương trình lựa chọn phát triển, quản
lý và bảo vệ môi trường cho nguồn nước và những lựa chọn được khuyến nghị có lợi
b Đối với chương trình phát triển nguồn nước cấp quốc gia
• Kiểm tra và nâng cấp phạm vi, mục đích và chính sách quy hoạch nguồn nước quốc gia
• Tóm tắt và thống nhất quy hoạch lưu vực vào quy hoạch quốc gia, thể hiện những nhu cầu trong tương lai, xác định quyền, tiềm năng liên lưu vực và tiềm năng phát triển
• Chuẩn bị ưu tiên hàng đầu cho phát triển và vạch các phương án cụ thể
• Đánh giá lại Luật hiện hành, quy định, quy tắc hoạt động quyền sử dụng nước và thiết lập thể chế
• Tập hợp các tài liệu nói trên vào quy hoạch nguồn nước quốc gia và đề ra khuyến nghị
2.5 Nội dung và các bước cơ bản lập quy hoạch nguồn nước
Bước 1: Kiểm kê đánh giá tài nguyên nước
Mục đích: đánh giá được tiềm năng, tính chất của nguồn nước
Nội dung:
Trang 31+ Đánh giá trữ lượng nước mặt, nước ngầm, trong đó trữ lượng nước mặt được đánh giá theo các đặc trưng dòng chảy sông ngòi, đặc điểm nguồn nước và cân bằng nước
+ Đánh giá khả năng khai thác nước mặt và nước ngầm
+ Đánh giá chất lượng nước
+ Dự báo sự thay đổi nguồn nước mặt và nước ngầm trong tương lai
+ Tính toán cân bằng nước hệ thống và lưu vực
Bước 2: Xác định những yêu cầu về nước
Nhằm xác định được mục tiêu của quy hoạch nguồn nước
Bước 3: Hoạch định chiến lược và phương án khai thác nguồn nước
Quy hoạch nguồn nước được thiết lập theo các giai đoạn khác nhau, mỗi một giai đoạn tiếp theo các nghiên cứu sẽ chi tiết hơn giai đoạn trước Nội dung chính của một quy hoạch theo các giai đoạn bao gồm:
- Hoạch định chiến lược khai thác tài nguyên nước, và nghiên cứu các phương pháp khai thác khả thi và hợp lý Trên cơ sở đó hình thành các mục tiêu khai thác hệ thống và thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá hệ thống
- Thiết lập các phương án về biện pháp công trình cụ thể, phân tích tính khả thi của các phương án công trình, bao gồm các vấn đề kinh tế và kỹ thuật Trong giai đoạn này cần thiết phải sử dụng các mô hình mô phỏng đánh giá khả năng đạt được những chỉ tiêu đã đặt ra Trên cơ sở kết quả nghiên cứu có thể điều chỉnh các mục tiêu ban đầu cùng với hệ thống chỉ tiêu khai thác hệ thống Hai quá trình này được lặp lại nhiều lần cho đến khi xác định được một chiến lược và mục tiêu tương đối hợp lý
- Lựa chọn các phương án có thể về biện pháp công trình và thiết kế hệ thống theo các phương án quy hoạch
- Phân tích và xác định chiến lược phát triển hệ thống, bao gồm cả chiến lược phát triển hệ thống công trình và chiến lược sử dụng nguồn nước trong tương lai Trong giai đoạn này cần chú ý đến khả năng huy động vốn trong suốt thời kỳ quy hoạch Phân tích hiệu ích kinh tế của quá trình phát triển hệ thống để lựa chọn chiến lược tối ưu
- Phân tích một cách đầy đủ các mục tiêu khác: vấn đề xã hội chính trị, văn hoá v.v Từ đó, không loại trừ khả năng có thể phải điều chỉnh lại mục tiêu ban đầu
Bước 4: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá quy hoạch
Các chỉ tiêu bao gồm:
+ Phải đáp ứng tối đa các yêu cầu về nước trong vùng nghiên cứu;
+ Đảm bảo sự cân bằng phát triển bền vững của vùng hoặc lưu vực sông;
+ Phải đạt được tính hiệu quả cao của các biện pháp khai thác và tính khả thi của các dự án quy hoạch Nó phụ thuộc vào các điều kiện kỹ thuật và khả năng huy động
Trang 32vốn của nhà nước, tức là phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia;
+ Đạt được tính mềm dẻo của dự án, tức là sự thích ứng của quy hoạch đổi với những điều chỉnh về mục tiêu khai thác và sử dụng nước trong tương lai nếu có;
+ Có độ tin cậy cao, tức là xác suất của sự sai khác giữa những thay đổi trong tương lai so với quy hoạch ban đầu là nhỏ nhất
Bước 5: Mô hình hoá hệ thống nguồn nước
Mô hình toán là công cụ quan trọng trong quá trình phân tích hệ thống khi xây dựng các phương án quy hoạch và quản lý nguồn nước Bởi vậy, việc thiết lập các mô hình toán cho hệ thông nguồn nước là không thể thiếu được trong quy hoạch và quản lý nguồn nước Các mô hình toán cần được thiết lập bao gồm:
• Xây dựng các mô hình mô phỏng hệ thống tuỳ thuộc vào các mục tiêu khai thác
và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
• Xây dựng các mô hình cân bằng nước hệ thống, bao gồm các mô hình về lượng
và chất, nhằm trợ giúp cho công tác quản lý nguồn nước
• Các mô hình tôi ưu hoá được thiết lập được sử dụng trong đánh giá hiệu quả các phương án quy hoạch
Thiết lập và lựa chọn mô hình mô phỏng là khâu quyết định chất lượng của bài toán quy hoạch Mô hình mô phỏng bao gồm sự mô phỏng các quá trình vật lý của hệ thống và mô hình hoạt động của hệ thống Các mô hình mô phỏng quá trình vật lý của hệ thống nguồn nước rất đa dạng, các mô phỏng cần được thiết lập có thể bao gồm:
• Mô hình tính toán dòng chảy sông ngòi, bao gồm mô hình tất định và các mô hình ngẫu nhiên
• Mô hình tính toán nước ngầm
• Mô hình xác định các nhu cầu về nước, đặc biệt là tính toán nhu cầu nước cho nông nghiệp
• Mô hình chuyển tải nước trên hệ thống sông và kênh
• Mô hình tính toán điều tiết nước trong hệ thống hồ chứa
• Mô hình tính toán tiêu
• Mô hình tính toán nhiễm mặn và truyền chất
• Các mô hình tính toán chuyển tải phù sa và diễn biến lòng dẫn và cửa sông Những mô hình trên là những mô hình thành phần mô tả một quá trình riêng rẽ Khi phân tích hệ thông nguồn nước phải xây dựng các mô hình mô phỏng, là sự liên kết các mô hình trên theo mục tiêu của bài toán đặt ra đối với hệ thống được nghiên cứu
Bước 6: Phân tích đánh giá các phương án quy hoạch
+ Phân tích hiệu quả dự án thông qua các mô hình tôi ưu kết hợp với phương
Trang 33pháp mô phỏng
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế của các dự án quy hoạch
Khi thiết lập các dự án quy hoạch hệ thống nguồn nước có thể sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, phát triển dân sinh, các yêu cầu về chính trị xã hội Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của các phương án quy hoạch, phải xuất phát từ hai quan điểm khác nhau: quan điểm tài chính và quan điểm kinh tế Cùng với nó là sự phân tích kinh tế và phân tích tài chính của một dự án
+ Đánh giá tác động của dự án đến môi trường: Hiệu quả kinh tế của dự án là chỉ tiêu quan trọng, nhưng nó có thể không được thực thi nếu tác động xấu đến môi trường Đánh giá tác động đến môi trường của một dự án quy hoạch bao gồm:
• Sự tác động đến môi trường nước, sự thay đổi tiểu khí hậu nếu có
• Ảnh hưởng đến các hoạt động dân sinh kinh tế của vùng dự án hoặc cả các vùng lân cận khi dự án được thực hiện
• Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
• Tác động về mặt văn hoá xã hội, tập quán, ảnh hưởng về mặt an ninh quốc gia,
và cả các vấn đề chính trị
Bước 7: Quyết định
Quyết định phương án quy hoạch gồm những nội dung sau:
• Quyết định quy hoạch dài hạn và ngắn hạn
• Quyết định quá trình hoạt động của các dự án - Chiến lược và trình tự đầu tư phát triển
• Xây dựng hệ thống chính sách quản lý sử dụng nguồn nước đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng hoặc lưu vực
•Thiết lập các mô hình quản lý nguồn nước
2.6 Khung pháp luật và thể chế trong quản lý tài nguyên nước
2.6.1 Luật Tài nguyên nước và những văn bản dưới luật
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý và BVMT nước mặt luôn được Đảng
và Nhà nước quan tâm Nhiều chính sách, văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Luật BVMT 2005, Luật Tài nguyên nước năm 1998 (sửa đổi năm 2012), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 , Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Đặc biệt, năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020
Luật Bảo vệ môi trường đã đưa ra các điều khoản quy định việc quản lý chất lượng nước và bảo vệ môi trường nước sông bao gồm các vấn đề về nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông; quy định về kiểm soát, xử lý ô nhiễm, suy thoái môi
Trang 34trường nước LVS; trách nhiệm của UBND cấp tỉnh đối với BVMT LVS và quy định về tổ chức BVMT nước của LVS
Luật Tài nguyên nước từ năm 1998 đã có những quy định chi tiết về bảo vệ tài nguyên nước Luật Tài nguyên nước năm 2012 được sửa đổi bổ sung, thống nhất với quan điểm của Luật BVMT 2005 Luật đã cụ thể’ hóa các quy định về quản lý LVS; về tổ chức và điều phối hoạt động quản lý tài nguyên nước trong LVS; phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông; trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về LVS
Nghị định số 120/2008/NĐ-CP đã quy định cụ thể về các biện pháp BVMT nước; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên LVS; kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước trên lưu vực; kế hoạch phòng, chống ô nhiễm môi trường nước và phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm trên LVS Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 đặt mục tiêu tổng quát
là bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia trên cơ
sở quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chủ động phòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do nước gây ra; từng bước hình thành ngành kinh tếnước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tếthị trường; nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các nước có chung nguồn nước với Việt Nam
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030, đưa ra các mục tiêu và nội dung nhằm giải quyết cơ bản các vấn đề môi trường tại các LVS; nội dung và biện pháp hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị, khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất có hệ thông xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu; cải tạo, phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 - 2015 đã đặt mục tiêu khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đối với 47 làng nghề đang bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng; triển khai thực hiện các dự án thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên, xả trực tiếp
ra 3 LVS Nhuệ - Đáy, Cầu và hệ thống sông Đồng Nai với tổng vốn đầu tư của Chương trình là 5.863 tỷ đồng
Ngoài các chính sách, chiến lược nêu trên, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản khác có liên quan, như Nghị định số 179/1999/NĐ- CP về thi hành Luật TNN; Nghị định số 67/2003/ NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải; Nghị định số
Trang 35149/2004/NĐ-CP về cấp phép, thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước
Bộ TN&MT cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn, quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, định mức kinh tế- kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước, xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước ; ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường nước
Song song với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sông, hồ; quy chuẩn nước thải sinh hoạt, nước thải đối với các ngành công nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh công tác BVMT nước Đặc biệt, việc ban hành các quy chuẩn cụ thể đối với nước giúp cho việc đánh giá, so sánh được sát hơn với tình hình thực tế Trên cơ sở các Chiến lược, Kế hoạch quốc gia về BVMT nước, các địa phương cũng đã triển khai xây dựng và đưa vào thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, văn bản cũng như các chỉ thị ở cấp địa phương nhằm tăng cường công tác BVMT nước của địa phương Điển hình như Đồng Nai, Bình Phước đã ban hành quy định phân vùng môi trường tiếp nhận nước thải và khí thải trên địa bàn tỉnh; Đồng Nai đã phê duyệt và triển khai Quy hoạch TNN sông Đồng Nai
Những tồn tại và hạn chế
+ Các quy định chưa đầy đủ
Về BVMT nước và quản lý tài nguyên nước, theo chức năng nhiệm vụ được phân công, Bộ TN&MT đã xây dựng và trình Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Luật Tài nguyên nước 2012 Hai bộ Luật này đã góp phần tăng cường công tác quản lý tài nguyên nước cũng như đẩy mạnh công tác BVMT nói chung, môi trường nước nói riêng Tuy nhiên, giữa hai hệ thống Luật này vẫn còn tồn tại một số quy định chồng chéo
Hệ thống các văn bản dưới Luật cũng chưa đầy đủ và hoàn thiện Mặc dù Luật BVMT đã quy định khá đầy đủ cách tiếp cận kiểm soát ô nhiễm và hệ thống liên quan đến kiểm soát ô nhiễm nước, tuy nhiên, các văn bản dưới Luật phần lớn lại chỉ tập trung cách tiếp cận bằng ĐTM, thanh tra môi trường, xử phạt hành chính và một phần cách tiếp cận bằng công cụ kinh tế(thu phí nước thải) Trong khi đó, một biện pháp kiểm soát ô nhiễm quan trọng đó là việc điều tra, thống kê, đánh giá nguồn thải lại chưa có văn bản nào quy định, hướng dẫn cụ thể Mặt khác, cho đến nay, việc xây dựng quy hoạch BVMT cho các LVS vẫn chưa được ban hành
Trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BVMT nước còn thiếu các quy định về sự tham gia của cộng đồng, cung cấp và phổ biến thông tin trong
Trang 36quản lý và BVMT nước
+ Tính thực thi của một số văn bản còn thấp
Hiện nay, việc áp dụng triển khai một số văn bản pháp luật trong thực tế còn nhiều bất hợp lý dẫn tới hiệu quả thấp Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản
lý và BVMT nước chưa thực sự sát với tình hình thực tế, gây khó khăn khi triển khai thực hiện
Ở các địa phương, công tác triển khai thi hành pháp luật về quản lý và BVMT nước còn chậm, có nhiều quy định cụ thể chưa được triển khai Điển hình như những quy định về cấp phép, xử phạt vi phạm hành chính đối với môi trường nước đã được ban hành, hướng dẫn cụ thể từ nhiều năm trước đây, nhưng, do tổ chức bộ máy chưa hợp lý, nguồn lực hạn chế nên có một số địa phương gần đây mới bắt đầu triển khai thực hiện
2.6.2.Khung thể chế quản lý tài nguyên nước
Để quản lý nước một cách có hiệu quả cần thiết phải hình thành hệ thống thể chế quản lý tài nguyên nước Mỗi quốc gia có thể xây dựng khung thể chế cho phù hợp với tình hình của từng nước Tuy nhiên, khung thể chế thường là những quy định về mặt tổ chức trong quản lý nguồn nước và vấn đề xã hội hoá trong quy hoạch và quản lý nguồn nước Các quy định về mặt tổ chức bao gồm phương thức quản lý và
tổ chức hành chính tham gia vào quá trình quản lý nước
Hiện nay, có hai phương thức quản lý nước: quản lý nước theo địa phận hành chính và phương thức quản lý nước theo lưu vực sông Quản lý nước theo lưu vực sông là một phương thức tiến bộ và hiệu quả nhất Bởi vì lưu vực sông là một hệ thống nhất bao gồm không gian khép kín từ nguồn tới cửa sông, trên đó diễn ra tất
cả các hoạt động từ tạo nguồn đến khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước của lưu vực Khác với quản lý tài nguyên nước theo địa bàn hành chính, quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông là điều kiện cần thiết để khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Để thực hiện mô hình này cần thành lập tổ chức quản lý lưu vực sông, Uỷ ban sông Mê Kông là một ví dụ điển hình của loại tổ chức này
Mô hình quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông là một bước tiến mới, có nhiều ưu điểm hiện đang được áp dụng ngày càng phổ biến trên thế giới để thực hiện mục tiêu của phát triển bền vững
a Bước đầu xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường nước LVS và quy hoạch khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường nước của địa phương
Trang 37Theo Nghị định số 120/2008/NĐ-CP, trong đó quy định cụ thể việc lập, thẩm định, phê duyệt, công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước trên các lưu vực sông và phân công, phân cấp cụ thể việc quản lý LVS và thực hiện quy hoạch Đến nay, Bộ TN&MT đã xây dựng và đang hoàn tất thủ tục trình quy hoạch BVMT nước cho 3 LVS: Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai Ngoài ra, các quy hoạch khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường nước các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung, phía Nam, vùng cực Nam Trung Bộ, vùng bán đảo Cà Mau và đảo Phú Quốc cũng đang được triển khai xây dựng
Tại một số địa phương như: Bắc Giang, Quảng Bình, Long An, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang cũng đã xây dựng quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường nước để triển khai thực hiện trên địa bàn
b Việc triển khai các quy hoạch về LVS còn chậm, thiếu các quy hoạch phân vùng; quy hoạch của các ngành liên quan đến môi trường nước mặt còn nhiều chồng chéo
Luật BVMT, Luật Tài nguyên nước đã xác định vai trò của việc xây dựng và thực hiện quy tài nguyên nước, LVS; quy định mọi hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng môi trường nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải tuân thủ quy hoạch tài nguyên nước Tuy nhiên, công tác quy hoạch còn chậm,
do Luật chỉ quy định về nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể về nội dung, trình tự thủ tục lập, thẩm định, thẩm quyền phê duyệt Nhiều quy hoạch mặc dù đã được phê duyệt nhưng quá trình triển khai lại thiếu sự tuân thủ theo bản được duyệt, dẫn tới tình trạng sau nhiều năm triển khai, mục tiêu đặt ra của quy hoạch vẫn không đạt được
Bên cạnh đó, chưa có cơ chế, biện pháp cụ thể để bảo đảm quy hoạch khai thác, sử dụng nước của các ngành, lĩnh vực có liên quan đến sử dụng nguồn nước phù hợp với các quy hoạch về môi trường nước LVS, bảo đảm sử dụng hiệu quả và
đa mục tiêu các nguồn nước Việc thiếu quy hoạch, cùng với thiếu một tổ chức đủ mạnh để điều phối các hoạt động trên lưu vực đã phát sinh những vấn đề liên ngành, liên tỉnh cần giải quyết nhưng chưa được phối hợp xử lý kịp thời
Hiện nay, Việt Nam còn thiếu các quy hoạch phân vùng mục đích sử dụng nước, phân vùng nguồn nước cho các lưu vực sông, tính toán các ngưỡng chịu tải, khả năng tiếp nhận nguồn nước cho các đoạn sông dẫn đến việc đánh giá chất lượng của nguồn nước cũng như đưa ra các giải pháp cụ thể để quản lý và BVMT nước gặp nhiều khó khăn
Trang 38Một vấn đề nổi cộm trong quy hoạch liên quan đến môi trường nước mặt hiện nay là sự chồng chéo trong quy hoạch sử dụng nước giữa các ngành Chính từ sự phân công trách nhiệm liên quan đến quản lý môi trường nước mặt giữa các Bộ ngành còn nhiều chồng chéo đã dẫn đến việc, theo chức năng nhiệm vụ được phân công, các Bộ ngành đều xây dựng quy hoạch phát triển ngành theo yêu cầu đặt ra
Cụ thể, Bộ NN&PTNT xây dựng quy hoạch thủy lợi; Bộ Công thương xây dựng quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (trong đó bao gồm hệ thống thủy điện); Bộ Giao thông Vận tải xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống giao thông (trong đó bao gồm giao thông thủy) Chính sự chồng chéo trong quy hoạch của các ngành liên quan đến việc sử dụng môi trường nước mặt cho các mục đích khác nhau dẫn đến những xung đột trong khai thác sử dụng nước, làm gia tăng nguy cơ thiếu nước
và ô nhiễm môi trường nước mặt
2.7 Yêu cầu phát triển bền vững tài nguyên nước
Phát triển bền vững nguồn nước là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về nước của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu nước của các thế hệ tương lai
Phát triển bền vững tài nguyên nước được coi là một nguyên tắc trong khai thác sử dụng cũng như quản lý nguồn nước Để đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước, khi lập các quy hoạch phát triển nguồn nước phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
+ Nguồn nước phải được khai thác sử dụng một cách hợp lý, vừa phải đảm bảo tối đa các yêu cầu về nước đồng thời không được vượt quá một giới hạn nào đó được gọi là ngưỡng khai thác để nguồn nước có đủ khả năng hồi phục hay tái tạo theo chu trình thuỷ văn vốn có trong tự nhiên
+ Nguồn nước phải được bảo vệ, đảm bảo không bị cạn kiệt và chất lượng nước không bị suy thoái Cần có biện pháp kiểm soát và hạn chế ô nhiễm nước, không thể để cho tình trạng ô nhiễm nước trở thành trầm trọng làm giảm lượng nước sạch của con người
+ Cần có những biện pháp công trình hoặc phi công trình để phục hồi và tái tạo nguồn nước Các biện pháp bảo vệ rừng và tái tạo rừng là một trong những biện pháp tích cực để bảo vệ nguồn nước
+ Mỗi quốc gia cần thiết lập khung thể chế quản lý nguồn nước một cách hiệu quả nhất
+ Quản lý nguồn nước phải đảm bảo tính cộng đồng và tính công bằng Phải
có sự tham gia của cộng đồng và các thành phần có liên quan đến sử dụng nước
Trang 392.8 Phương pháp tiếp cận hệ thống trong quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Vấn đề quy hoạch và quản lý nguồn nước là một vấn đề phức tạp đặc biệt khi
sự khai thác và can thiệp của con người vào hệ thống nguồn nước tăng lên Trong hệ thống tồn tại nhiều mối quan hệ cần phải giải quyết, nhiều mục tiêu khai thác cần phải đề cập đến Trong trường hợp như vậy, những phương pháp truyền thống tỏ ra không còn có hiệu quả nữa Điều đó đòi hỏi phải có những phương pháp phân tích hiện đại, với sự xử lý thông tin nhanh giúp người làm quyết định có nhiều cơ hội lựa chọn các quyết định hợp lý Mô hình toán học cùng với sự phát triển của công
cụ tính toán nhanh đã giúp ích cho làm thay đổi về chất trong các nghiên cứu về hệ thống nguồn nước Đó là phương pháp phân tích hệ thống
Hiện nay, các tài liệu khoa học trên thế giới liên quan đến lĩnh vực quy hoạch
và khai thác nguồn nước thường được trình bày theo quan điểm hệ thống với sự ứng dụng lý thuyết phân tích hệ thống Bởi vậy, tiếp cận lý thuyết phân tích hệ thống không chỉ còn là vấn đề nhận thức mà là một yêu cầu cấp thiết đối với người làm công tác qui hoạch và điều khiển hệ thống nguồn nước
Các phương pháp tiếp cận với bài toán quy hoạch và quản lý nguồn nước với
sự ứng dụng lý thuyết phân tích hệ thống rất đa dạng, trong đó mô hình mô phỏng được coi là công cụ chính trong quá trình phân tích và tiếp cận hệ thống Đây là bước đi đầu tiên trong phân tích và thiết kế hệ thống nguồn nước Các mô hình tối
ưu hoá được ứng dụng rộng rãi và được coi là một công cụ phân tích hệ thống
a Hoạt động truyền thông
Trong những năm qua, hoạt động truyền thông BVMT LVS đã thu được nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường nước nói chung và môi trường các LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống sông Đồng Nai nói riêng Đến nay, đã
có khoảng 70 văn bản liên quan đến quản lý, BVMT LVS sau khi ban hành được đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử của các Bộ ngành, địa phương Cùng với đó, Bộ TN&MT đã ký 08 Nghị quyết liên tịch với các tổ chức chính trị -
xã hội và 5 Quy chế phối hợp với các cơ quan truyền thông để tăng cường các hoạt động truyền thông về BVMT nói chung và BVMT LVS nói riêng
Tuy nhiên, công tác truyền thông BVMT nước trong những năm qua còn gặp nhiều hạn chế Đó là các vấn đề như: nguồn nhân lực tham gia truyền thông còn yếu
và thiếu về chuyên môn; nội dung và phương thức truyền thông chậm đổi mới, chưa phù hợp với điều kiện phát triển mới, thiếu các chiến lược, kế hoạch hành động về
Trang 40thông tin môi trường Chính vì vậy, trong thời gian tới, hoạt động truyền thông BVMT nói chung và môi trường nước nói riêng cần được tăng cường và đổi mới
b Sự tham gia của cộng đồng
Quản lý môi trường nói chung, quản lý môi trường nước nói riêng dựa vào cộng đồng là một trong những cách tiếp cận hiện nay được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Ở Việt Nam, kinh nghiệm quản lý môi trường nước đã ghi nhận và đánh giá cao vai trò quan trọng của cộng đồng địa phương với tư cách là người trực tiếp sử dụng nước, đồng thời là người quản lý và bảo vệ môi trường nước
Trong một số văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cũng đã đề cập tới vấn đề sự tham gia của cộng đồng đối với công tác giám sát, bảo vệ môi trường nước Điển hình, trong Chiến lược quốc gia về TNN đến năm 2020 đã nêu rõ: huy động sự tham gia của nhân dân nhằm bảo vệ TNN, đặc biệt là ở các thành phố lớn, vùng đông dân cư và các vùng đang bị ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng; xây dựng các cơ chế phù hợp huy động khả năng của cộng đồng trở thành những người
hỗ trợ chính cho việc giám sát bảo vệ nguồn nước và ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm cho nguồn nước bị ô nhiễm và suy thoái; tăng cường sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong quá trình lập kế hoạch, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các
kế hoạch LVS và dự án về môi trường nước
Tuy nhiên, trong thực tế, sự tham gia của cộng đồng trong các mô hình quản
lý môi trường nước hiện nay mới chỉ phổ biến ở một số hình thức: được mời tham gia các buổi “họp tư vấn” khi bắt đầu triển khai mô hình; đóng góp ý kiến xây dựng
kế hoạch và thực hiện cấp nước của địa phương; chỉ định và bầu ra đại diện cho cộng đồng có trách nhiệm đối với các vấn đề liên quan đến cấp nước cho địa phương; đóng góp công lao động và các đóng góp tài chính để xây dựng, hoạt động, duy tu và bảo vệ các công trình nước ở địa phương; thanh toán chi phí nước theo mức tiêu thụ thực tế hoặc thỏa thuận của hộ gia đình
Về khía cạnh tổ chức, những mô hình phổ biến của quản lý môi trường nước
có sự tham gia của cộng đồng thường là hợp tác xã hoặc hội những người sử dụng nước được thành lập dưới hình thức các tổ chức cộng đồng hoặc tổ chức nông dân
có phối hợp với cơ quan nhà nước
Nước được xem là hàng hóa và người sử dụng thường phải trả phí sử dụng nước Tuy nhiên, các cộng đồng bản địa (miền núi) không tham gia quản lý môi trường nước dưới dạng các thể chế chính thức bởi vì đối với họ nước vẫn là tài sản chung, có giá trị về mặt tinh thần, được quản lý theo các tập tục, luật lệ truyền thống của họ Với mô hình đề cập ở trên, trách nhiệm của cộng đồng được xác định tương đối cụ thể, nhưng quyền sở hữu của họ lại chưa được làm rõ mặc dù họ có đóng góp