LỜI GIỚI THIỆU Giáo dục bậc Tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất. Nó là nền móng đầu tiên để giúp con người tồn tại và phát triển, đặc biệt là môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt( nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Giúp học sinh có cơ sở tiếp thu kiến thức ở các lớp trên. Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có một nhiệm vụ đó là cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu( nói – viết), kĩ năng đọc cho học sinh, cụ thể là: 1. Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơ bản và từ và câu. 2. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu. 3. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp. Bên cạnh đó, Trường Tiểu học Bình Dương 2 nhiều năm qua đã có bề dày thành tích trong công tác giảng dạy. Các dồng chí giáo viên luôn có những cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Vì vậy, nhận thức rõ được yêu cầu thiết thực của nhà trường cũng như tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu nên tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm này để góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 2
I TÊN SÁNG KIẾN: 3
II TÁC GIẢ SÁNG KIẾN: 3
III LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: 3
IV NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU: 3
V MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN: 4
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 6
1 NỘI DUNG LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Max-Lênin 6
1.2 Cơ sở ngôn ngữ học: 7
1.3 Cơ sở giáo dục học: 7
1.4 Cơ sở tâm lý học 7
1.5 Cơ sở khoa học 9
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
2.1 Về chương trình dạy Luyện từ và câu 9
2.2 Về việc dạy học Luyện từ và câu 10
3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢI PHÁP SÁNG TẠO 12
3.1 Nội dung 12
3.2 Phương pháp 18
3.3.Giải pháp sáng tạo: 19
VI CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: 22
VII LỢI ÍCH THU ĐƯỢC TỪ SÁNG KIẾN: 22
1 Những đánh giá về lợi ích qua ý kiến của bản thân: 23
2 Những đánh giá về lợi ích qua ý kiến của bản thân: 24
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
Giáo dục bậc Tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất Nó là nền móngđầu tiên để giúp con người tồn tại và phát triển, đặc biệt là môn Tiếng Việt MônTiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học sinhcác kĩ năng sử dụng Tiếng Việt( nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trongcác môi trường hoạt động của lứa tuổi Giúp học sinh có cơ sở tiếp thu kiến thức ởcác lớp trên Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có mộtnhiệm vụ đó là cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kỹnăng dùng từ đặt câu( nói – viết), kĩ năng đọc cho học sinh, cụ thể là:
1 Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơ bản
và từ và câu
2 Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu
3 Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có ýthức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp
Bên cạnh đó, Trường Tiểu học Bình Dương 2 nhiều năm qua đã có bề dàythành tích trong công tác giảng dạy Các dồng chí giáo viên luôn có những cải tiến,đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh
Vì vậy, nhận thức rõ được yêu cầu thiết thực của nhà trường cũng như tầm quantrọng của phân môn Luyện từ và câu nên tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh
nghiệm này để góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh
Trang 3I TÊN SÁNG KIẾN:
Một số kinh nghiệm trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
II TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:
- Họ và tên: Lê Thị Kim Ngân
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường TH Bình Dương 2 – Vĩnh Tường
- Số điện thoại: 01658 724 392 - E_mail: lenganvd@gmail.com
III LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:
Ở sáng kiến này tôi chỉ đi sâu nghiên cứu “ Một số kinh nghiệm trong dạy
học phân môn luyện từ và câu lớp 4”, chủ yếu trình bày kiến thức và một số
biện pháp khi dạy phân môn Luyện từ và câu nhằm thực hiện cho học sinh khốilớp 4 Và sáng kiến giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4
- Điều chỉnh một số nội dung, phương pháp dạy Luyện từ và câu lớp 4
- Thực hiện dạy học thực nghiệm theo phương pháp đã điều chỉnh
IV NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU:
Sáng kiến này tôi nghiên cứu trong 1 năm học, bắt đầu từ ngày 1 tháng 9năm 2014 đến tháng 4 năm 2015 thì kết thúc
Trang 4V MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN:
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Mỗi người trong chúng ta ngay từ khi sinh ra việc đầu tiên là phải học đó làhọc ăn học nói Ngoài việc học ăn để đảm bảo sự sinh tồn thì học nói là việc hếtsức cần thiết có ý nghĩa.Nói thế nào cho hay, cho đúng không phải dễ, chúng taphải nắm được nghĩa, hiểu được từ và từ đó ở trong hoàn cảnh nào Trẻ con khimới tập nói việc đầu tiên những người xung quanh, người thân như bà, mẹ dạy tậpnói gọi tiếng “ mẹ ”, “ bà” mở đầu, tiếp đó đến các từ khó Quả đúng vậy cần phảihọc nói theo quy luật từ dễ đến khó Khi trẻ em mới cắp sách đến trường cũng vậyhọc từ ngữ từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan đến trừu tượng, học từ, học câuđến học giao tiếp hàng ngày Bởi vậy mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có nhữngngôn ngữ, tiếng nói riêng, điều đó thể hiện nét văn minh trong đời sống Chính vìvây việc học tiếng từ, câu phải được bắt đầu ngay ở gia đình phổ biến ở trườnghọc Các em hiểu được được được nghĩa của từ và biết cách vận dụng vào đời sốnghằng ngày
Thực tế ở mỗi nhà trường nói chung, trường tôi nói riêng vốn từ của các emhết sức hạn hẹp, không phong phú, viết không rõ ngữ dẫn đến khi các em vận dụngvào viết văn rất lúng túng Các em không chỉ sai chính tả khi viết văn trong giaotiếp mà còn sai nặng nề, trầm trọng hơn về nghĩa của từ kiến cả câu văn sai hẳn đi.Chính vì vậy, để giúp các em hiểu được nghĩa, tiếng của từ, của câu tôi rất bănkhoăn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giúp học sinh viết tốt để học môn tiếng việtđược tốt hơn Học môn tiếng việt tốt là phải học tốt phân môn luyện từ và câu Từthực tế giảng dạy phân môn luyện từ và câu trong một số năm gần đây đã đemđược kết quả tốt tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm dạy cho riêng mình nên tôimạnh dạn đưa ra đề tài nghiên cứu “ Một số kinh nghiệm trong dạy học phân
môn luyện từ và câu lớp 4” để các đồng nghiệp cùng tham khảo.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Trang 5Giúp học sinh nắm vững các tiếng từ, câu trong giao tiếp, học tập hàng ngày
để giúp các em đạt hiệu quả cao trong học tập cũng như trong giao tiếp
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thuyết trình giảng giải
- Phương pháp điều tra
Trang 6PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 NỘI DUNG LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đề tài này của tôi dựa trên cơ sở khoa học của phương pháp dạy học củatiếng Việt nói chung và cơ sở khoa học của phương pháp dạy Luyện từ và câu lớp
4 nói riêng
1.1 Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Max-Lênin.
Triết học Max –Lênin là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy họctiếng Việt.Nó giúp chúng ta hiểu được đối tượng của khoa học ngôn ngữ một cáchsâu sắc, trang bị cho chúng ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn
Luận điểm của chủ nghĩa Max- Lênin cho rằng “ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của loàì người, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là phương tiện đặc trưng của loài người Không có ngôn ngữ xã hội không thể tồn tại Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trao đổi tư tưởng tình cảm thì nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trư ờng là phát triển ngôn ngữ cho học sinh Tất cả các giờ dạy tiếng Việt phải đi theo khuynh hướng toàn diện đó là nói, đọc, viết, nghe và đặc biệt với phân môn ngữ pháp phải đi nghiên cứu về ngữ pháp từ ngữ ……Học sinh cần phải hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình và cho người khác Cho nên ngôn ngữ cần sắc, rõ ràng, đúng đắn, rễ hiểu và chuẩn về ngữ pháp Các Max cho rằng “ngôn ngữ là hiện thực của tư duy”.
Thật vậy, ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, ngôn ngữ là phươngtiện diễn đạt tư duy của loài người Tư duy của loài người không thể phát triển nếuthiếu ngôn ngữ Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề phát triển tưduy trong quá trình dạy học (Việc giải nghĩa từ) cũng có thể đi từ tư duy đến ngôn
Trang 7ngữ Từ một ý ta có thể viết thành những câu khác nhau Nếu tách ngôn ngữ rakhỏi tư duy sẽ là phương pháp sai lầm về triết học của mọi quan hệ ngôn ngữ và tưduy.
Nhận thức lý luận của chủ nghĩa Max-Lênin đã dạy rằng con đường biệnchứng của nhận thức tâm lý đi qua hai giai đoạn : Nhận thức cảm tính và nhận thức
lý tính Đây là cơ sở nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng Việt Đứa trẻ nhận thứcthế giới xung quanh một cách cảm tính bằng mắt và với màu sắc âm thanh cụ thể
Do đó, nhiệm vụ đều tiên của nhà trường trong dạy tiếng Việt là phát triển khảnăng nhận thức cảm tính dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói để dầnhình thành cho các em đến nhận thức lý tính
1.3 Cơ sở giáo dục học:
Giáo dục học nói chung và lý luận dạy học đại cương nói riêng cung cấpphương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung cũng như dạy ngữ pháp nói riêng,những biểu hiện về quy luật chung của việc dạy học các môn học
Mục đích của phương pháp dạy học tiếng Việt cũng như phân môn ngữ pháp
là tổ chức sự phát triển hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vàocuộc sống thực tiễn hoặc tiếp tục học tập Do đó, mục tiêu của giáo dục đề ra làphát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo chohọc sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ giáo dục tổng hợp vàgiáo dục lao động
Dạy học hình thành khái niệm vững chắc cho học sinh Tiểu học đó lànguyên tắc dạy học cơ bản để học sinh tích cực hoá trong quá trình nhận thức,nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc vừa sức,nguyên tắc khoa học, nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học …, do đó học
Trang 8sinh vận dụng những từ ngữ chuẩn mực để đặt đúng câu, hiểu rõ thực tế của từ,câu để áp dụng vào đặt câu, áp dụng tốt hơn các môn học khác.
1.4 Cơ sở tâm lý học.
1.4.1 Bản chất tâm lý quá trình hình thành khái niệm
Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học về tri giác mang tính đơn giản, đạikhái, ít đi vào chi tiết cụ thể, không chủ động
Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các em rất khó khăn phân biệt chính xác sựkhác nhau và giống nhau giữa các sự vật Trong khi đó các khái niệm ngữ pháphoàn toàn mang tính chất lý thuyết trìu tượng, cụ thể bằng các ngôn liệu trực quan
Ở cuối bậc tiểu học, tuy ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnhnhưng ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng, ở giai đoạn này các emphải ghi nhớ một cách máy móc, mà các khái niệm ngữ pháp được xây dựng trên
cơ sở ngữ liệu tiếng Việt, trong khi Tiếng Việt là một ngôn ngữ hết sức phức tạpkhiến cho việc nắm các khái niệm ngữ pháp là rất khó khăn
Trong quá trình dạy hình thành về khái niệm trong phân môn Luyện từ vàcâu ở lớp 4, học sinh sẽ lĩnh hội được ở nhiều mức độ khác nhau, có học sinh chỉnắm được những dấu hiệu thuộc tính bề ngoài ứng với một vài khái niệm phânmôn Luyện từ và câu của bản thân, có học sinh do không hiểu bản chất khái niệmLuyện từ và câu nên không thể dùng lời nói để diễn đạt nội dung khái niệm
Trình độ lĩnh hội khái niệm trong phân môn Luyện từ và câu có thể ở cácmức độ khác nhau:
+ Mức độ mô tả, tái hiện
+ Mức độ giải thích vận dụng
+ Mức độ chỉ dẫn biến hoá
1.4.2 Dạy cho học sinh nắm chắc phân môn Luyện từ và câu một cách vững chắc
Lựa chọn hiện tượng sự vật, các ví dụ điển hình để hình thành khái niệm khidạy Luyện từ và câu bởi vì đối với phân môn Luyện từ và câu, trong giờ dạy, chủyếu hướng dẫn cho các em thực hành nhiều nên giáo viên cần lựa chọn những dữliệu tiêu biểu, có ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp rõ ràng, tiêu biểu để học sinh rễ
Trang 9tiếp thu Khi học sinh đã nắm được phân môn Luyện từ và câu rồi thì mới mở rộng
sự nhận biết về đối tượng đó
Phải tổ chức cho các em quan sát, phân tích sự vật để tìm ra những đặc điểmchủ yếu bản chất so sánh với những nét không bản chất
Cần chú ý đến trình độ nắm vững phân môn Luyện từ và câu của học sinh.Tuy nhiên đối với học sinh Tiểu học không phải bao giờ cũng hiểu được dễ dàngcác khái niệm trong phân môn Luyện từ và câu do vốn kiến thức của các em còn cóhạn nên việc nắm bắt của các em còn gặp nhiều khó khăn
Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạyLuyện từ và câu cho học sinh tiểu học
1.5 Cơ sở khoa học.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay việc giữ gìn bản sắc văn hoá của mỗinước, mỗi quốc gia không thể xem nhẹ Việt Nam ta giữ gìn tiếng nói của mỗi dântộc là một việt làm thường xuyên tiếng phổ thông được hết sức coi trọng đặt nênhàng đầu
Trong mỗi gia đình mỗi cộng đồng đều được thực hiện nếp sống văn hoá:dùng từ, câu đúng, chuẩn, chính xác Các tiếng dùng để giao tiếp phải mang tínhkhoa học cao, rõ lời chuẩn nghĩa, sử dụng đúng lúc, đúng mục đích giao tiếp
Mục tiêu của môn tiếng việt ở tiểu học là hình thành và phat triển các kĩ năng đọc,nghe, nói cho học sinh nhằm giúp các em sử dụng tiếng việt có hiệu quả trong họctập và giao tiếp ở gia đình, trường học và xã hội góp phần cùng các môn học khácphát triển năng lực tư duy cho học sinh
Trong mỗi nhà trường dạy các em hiểu từ hiểu nghĩa hiểu câu là việc cầnthiết Các em phải được thực hành nhiều để đạt đến mức thành thạo Bởi vậy,người giáo viên phải nắm vững đặc điểm của từng đối tượng để lựa chọn phươngpháp với cách tiến hành phù hợp cho mình nhằm đem lại lợi ích cao Lựa chọnnhững biện pháp và vận dụng tối ưu những biện pháp sư phạm để các em có đượcvốn từ phong phú, vận dụng tốt vào cuộc sống hàng ngày
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Trang 102.1 Về chương trình dạy Luyện từ và câu
Chương trình Luyện từ và câu ở Tiểu học có hai nội dung cơ bản đó là phần
từ ngữ và phần ngữ pháp Ở lớp 4, lớp 5 Luyện từ và câu dạy gồm: mở rộng vốn từtheo chủ điểm, danh từ, động từ, tính từ, từ đơn, từ ghép, từ láy, câu từ, tiết ôn tập,chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, các câu có từ nối hoặc không có từ nối
Chương trình Luyện từ và câu ở bậc Tiều học chủ yếu mang tính thực hành,mang tính đồng âm, lấy câu làm trung tâm, học sinh bắt đầu học câu và kết thúcchương trình ở cuối bậc Tiểu học cũng bằng câu
2.2 Về việc dạy học Luyện từ và câu.
Do ở các trường khi dạy học, giáo viên chỉ thường trung thành với sách giáokhoa, ít có sự sáng tạo, chưa mạnh dạn có ý kiến đề xuất điều chỉnh nội dung bàidạy, phương pháp giảng dạy chưa phù hợp Giáo viên còn chưa quan tâm đến mức
độ tiếp thu bài của học sinh để có biện pháp điều chỉnh hình thức tổ chức dạy học
Về kiến thức Luyện từ và câu đây là một vấn đề khá nan giải đối với những nhàbiên soạn giáo trình để đào tạo giáo viên dẫn đến giáo viên còn nắm lơ mơ chưa rõràng về kiến thức Vậy nên khi dạy cho học sinh không thể có được những sáng tạo
về hình thức tổ chức dạy học, không mạnh dạn tự tin trong dạy học dẫn đến họcsinh không nắm vững kiến thức về phân môn Luyện từ và câu, vận dụng vào thựchành còn lúng túng, làm bài lâu không chính xác
Việc học, tự học bồi dưỡng thường xuyên, giáo viên còn xem nhẹ, chưaquan tâm đúng mức
Học sinh nắm bắt kiến thức lơ mơ thụ động
Tâm lí hiện nay, việc học Luyện từ và câu đối với các em rất ngại hay nóiđúng là sợ do còn yếu và ít thực hành, thời gian tập trung cho việc học Luyện từ vàcâu còn ít( Tuần 2 tiết) Mặt khác, giáo viên chạy theo sự ràng buộc của phân phốichương trình, thường dạy kiến thức cơ bản là chính không khắc sâu và mở rộngvốn từ cho học sinh Từ đó học sinh ít phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sángtạo trong khi học Luyện từ và câu, không hình thành được kĩ năng khái quát hóatrừu tượng hóa của trí lực học sinh
Trang 11Ngay sau khi nhận lớp Tôi bắt tay vào điều tra tìm hiểu trình độ kiến thức
về phân môn Luyện từ vàc câu Qua khảo sát lần đầu năm học với nội dung câu hỏibài tập tôi đưa ra và thu được kết quả như sau( kết quả không công bố cho họcsinh, bài kiểm tra này chỉ dùng để phục vụ cho sáng kiến):
Điểm trung bình: 18 HS = 62.1%
Điểm yếu : 1 HS = 3.4%
Từ kết quả trên tôi thấy rằng với kết quả này không lấy gì làm khả quan, nêntôi đã lập riêng kế hoạch riêng cho mình: bồi dưỡng ngay cho học sinh để học cóđược kết quả cao như mong muốn của những người trực tiếp làm công tác trồngngười
Trong năm học 2014 - 2015 tôi đã áp dụng kinh nghiệm dạy luyện từ và câuvào thực tế việc giảng dạy của mình như sau:
- Vào đầu năm học tôi hệ thống cho học sinh toàn bộ kiến thức lớp dưới có liênquan đến từ, câu để tiện cho học sinh có được kiến thức liền mạch Chẳng hạn, tôicho học sinh làm các bài tập tổng hợp vừ phân loại từ đơn, từ phức, từ láy kiếnthức mới về từ tượng thanh, tượng hình, từ đồng âm khác nghĩa
Trang 12mưa, bút, sách, học, , núi, thơm ngoan ngoãn, lễ phép, nhà cửa, hoa
quả
Ví dụ 2 :
“ Mưa mùa xuân xôn xao phơi phới… Những hạt mưa bé nhỏ, mền mại rơi mà như nhảy nhót”
Xác định từ đơn, từ láy, từ ghép trong câu văn trên?
- Từ đơn: mưa, những, rơi, mà, như.
- Từ ghép: mùa xuân, hạt mưa, bé nhỏ
- Từ láy : xôn xao, phơi phớ, mền mại, nhảy nhót.
Đoạn văn trên có những từ nào là từ tượng hình?
- Có 2 từ tượng hình: mền mại, nhảy nhót.
+ Đến giữa kỳ, cuối kỳ tôi tiếp tục hệ thống kiến thức cho học sinh từ đầu năm,giữa kỳ bằng các bài kiểm tra cụ thể
+ Cuối năm tôi tôi lại cho học sinh ôn tập lại toàn bộ các nội dung về luyện từ
và câu ở cả bậc học để học sinh năm chắc kiến thức giúp học sinh học tốt môntiếng việt ở lớp học trên
Từ những thực tiễn trên của học sinh lớp tôi, sau khi tìm ra nguyên nhân, tôicần giải quyết các vấn đề sau :
- Giúp học sinh hiểu đầy đủ về phân môn Luyện từ và câu
- Giúp học sinh phân biệt được chính xác giữa từ láy và từ ghép
- Giúp học sinh hiểu được rõ nghĩa của từ trong chủ điểm và nghĩa của cácthành ngữ trong chủ điểm
- Giúp học sinh có kĩ năng nhận biết và sử dụng từ và câu
3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢI PHÁP SÁNG TẠO
3.1 Nội dung