1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc

139 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC ..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NGA

SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NGA

SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện

Mã số: 60.32.02.03

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Thảo

Hà Nội – 2017

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NGA

SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN

Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện

Mã số:60.32.02.03

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Thảo

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch Hội đồng chấm Luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời biết ơn chân thành của mình tới TS Nguyễn Thu Thảo, PGS.TS Nguyễn Đăng Hòa, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, ThS

Võ Thị Thu Thủy - những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Thông tin – Thư viện - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã chỉ dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại Trường và đặc biệt cảm ơn sâu sắc PGS.TS Trần Thị Quý nguyên chủ nhiệm Khoa đã động viên, cho tôi niềm tin sẽ hoàn thành được luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn tới Ban Giám đốc, các anh chị em đang công tác tại Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc đã nhiệt tình động viên và giúp đỡ tôi về thời gian, thu thập thông tin và cung cấp số liệu

để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi đặc biệt xin cảm ơn tới gia đình hai bên nội, ngoại, chồng, em gái và hai con tôi, những người đã động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập Tôi cũng xin cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, các bạn sinh viên Trường Đại học Dược Hà Nội đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Trong quá trình làm luận văn với sự cố gắng của bản thân, nhưng do chưa có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học cũng như hạn chế về trình độ hiểu biết nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự cảm thông và góp ý của Quý thầy, cô và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Nga

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 0

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

DANH MỤC CÁC HÌNH 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SẢN PHẨM, DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC 17

1.1 Những vấn đề lý luận chung 17

1.1.1 Sản phẩm 17

1.1.2 Sản phẩm thông tin – thư viện 18

1.1.4 Dịch vụ thông tin - thư viện 20

1.1.5 Thông tin thuốc và những vấn đề liên quan 21

1.2 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 22

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm thông tin - thư viện 24

1.3.1 Yếu tố chủ quan 24

1.3.2 Yếu tố khách quan 24

1.4 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 27

1.4.1 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thông tin – thư viện 27

1.4.2 Tiêu chí đánh giá dịch vụ thông tin – thư viện 29

1.5 Khái quát về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc 30

1.5.1 Chức năng và nhiệm vụ 31

1.5.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 33

1.5.3 Nguồn lực thông tin 33

1.6 Đặc điểm nhu cầu tin và người dùng tin 40

Trang 6

1.6.1 Đặc điểm người dùng tin 40

1.6.2 Đặc điểm nhu cầu tin 46

1.7 Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện với người dùng tên y tế 51

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC 53

2.1 Các sản phẩm thông tin – thư viện 53

2.1.1 Cơ sở dữ liệu báo cáo phản ứng có hại của thuốc 54

2.1.2 Trang chủ 58

2.1.3 Bản tin Cảnh giác Dược 66

2.1.4 Ấn phẩm thông tin khác: 67

2.2 Các dịch vụ thông tin – thư viện 69

2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc 70

2.2.2 Dịch vụ tra cứu và giải đáp thông tin 74

2.2.3 Dịch vụ cung cấp thông tin chọn lọc 76

2.2.4 Dịch vụ trao đổi thông tin 78

2.2.5 Dịch vụ tư vấn 78

2.3 Các yếu tố tác động đến việc tổ chức các sản phẩm và dịch vụ 79

2.3.1 Nguồn nhân lực 79

2.3.2 Nguồn tin 80

2.3.3 Công nghệ 81

2.3.4 Kinh phí 81

2.3.5 Chuẩn nghiệp vụ 83

2.3.6 Phầm mềm quản lý 85

2.3.7 Qui trình tổ chức, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tại Trung tâm 85

2.4 Đánh giá các sản phẩm, dịch vụ thông tin thư viện 97

2.4.1 Đánh giá về sản phẩm thông tin thư viện 97

2.4.2 Đánh giá về dịch vụ thông tin thư viện 99

2.4.3 Nhận xét chung: 102

Trang 7

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HỆ

THỐNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI TRUNG

TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ

HẠI CỦA THUỐC 108

3.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 108

3.1.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện có 108

3.1.2 Nâng cao chất lượng các dịch vụ hiện có 115

3.2 Đa dạng hoá các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 118

3.2.1 Xây dựng các sản phẩm thông tin - thư viện mới 118

3.2.2 Phát triển dịch vụ thông tin - thư viện mới 118

3.3 Các giải pháp hỗ trợ phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin 123

3.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin và tăng cường cơ sở vật chất 123

3.3.2 Phát huy nguồn lực con người 126

3.3.3 Xây dựng kế hoạch marketing các sản phẩm và dịch vụ 127

KẾT LUẬN 129

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

I Chữ viết tắt Tiếng Anh và tên đầy đủ bằng tiếng Anh và tiếng Việt: Chữ viết tắt Chữ viết Tiếng Anh đầy đủ Chữ viết Tiếng Việt đầy đủ

ADR Adverse Drug Reactions Phản ứng có hại của thuốc

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới

II Chữ viết tắt tiếng Việt

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nguồn tư liệu của Trung tâm DI&ADR Quốc gia 34

Bảng 1.2 Địa chỉ truy cập của một số cơ quan quản lý dược phẩm 36

Bảng 1.3 Địa chỉ truy cập của một số bản tin/tạp chí trong lĩnh vực cảnh giác dược 37

Bảng 1.4 Một số tài liệu chuyên khảo về phản ứng có hại trên thế giới 37

Bảng 1.5 Địa chỉ truy cập một số CSDL về phản ứng có hại trên thế giới 39

Bảng 1.6 Địa chỉ truy cập một số CSDL về Y Dược học 40

Bảng 2.1 Kinh phí Trung tâm DI&ADR Quốc gia 83

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 NDT được khảo sát tại Trung tâm DI&ADR Quốc gia 45

Hình 1.2 Nhu cầu tin theo ngôn ngữ 47

Hình 1.3 Nhu cầu tin theo loại hình tài liệu của NDT 50

Hình 1.4 Nhu cầu tin theo lĩnh vực chuyên môn của NDT 51

Hình 2.1 Trang chủ báo cáo ADR 55

Hình 2.2 Giao diện tìm kiếm báo cáo 57

Hình 2.3 Giao diện từ điển thuốc 58

Hình 2.4 Giao diện Trang chủ 59

Hình 2.5 Giao diện trang văn bản pháp quy 60

Hình 2.6 Giao diện trang tin trong nước 61

Hình 2.7 Giao diện trang tra cứu thông tin theo chủ đề 61

Hình 2.8 Giao diện trang hướng dẫn điều trị 62

Hình 2.9 Giao diện trang nghiên cứu khoa học 65

Hình 2.10 Giao diện trang thông tin tài liệu 66

Hình 2.11 Hướng dẫn báo cáo phản ứng có hại của thuốc 67

Hình 2.12 Áp phích tuyên truyền về an toàn thuốc 68

Hình 2.13 Tần suất sử dụng sản phẩm 98

Trang 10

Hình 2.14 Đánh giá của NDT về chất lượng thông tin trong sản phẩm 98

Hình 2.15 Đánh giá về mức độ đáp ứng thông tin trong sản phẩm 99

Hình 2.16 Tần suất sử dụng dịch vụ 100

Hình 2.17 Chất lượng dịch vụ cung cấp 100

Hình 2.18 Địa điểm NDT tìm kiếm thông tin ngoài trung tâm 104

Hình 2.19 Phương thức tiếp cận sản phẩm và dịch vụ của NDT 105

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Quy trình tiếp nhận và quản lý báo cáo ADR 86

Sơ đồ 2.2 Quy trình xây dựng nội dung và thiết kế bản tin cảnh giác dược 92

Sơ đồ 2.3 Quy trình phát hành bản tin cảnh giác dược trực tuyến 93

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới ngày nay đang chứng kiến những thay đổi lớn lao và nhiều điều kỳ diệu do công nghệ thông tin và truyền thông mang lại Thông tin và truyền thông đã thực sự trở thành nguồn động lực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và ngày càng tỏ rõ là nhân tố quyết định khả năng vươn tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn ở mỗi quốc gia Trong bối cảnh đó, tri thức vượt qua các nhân tố sản xuất truyền thống và trở thành nhân tố quan trọng, quyết định sự phát triển Đặc biệt, kho tàng tri thức của nhân loại ngày càng đa dạng, phong phú, tăng theo cấp số nhân và dễ dàng được tiếp cận

Thư viện và các Trung tâm thông tin không chỉ là nơi lưu giữ, bảo tồn mà còn là nơi phổ biến và truyền tải, quảng bá thông tin, tri thức của nhân loại Sự bùng

nổ thông tin cùng với tiến trình hội nhập và phát triển đòi hỏi ngành thông tin - thư viện thực hiện hiệu quả hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của mình, nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xu thế toàn cầu hóa, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Trước thực tế đó, hoạt động của các cơ quan thông tin và thư viện đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu thông tin và tri thức ngày càng cao của xã hội Trong hoạt động thông tin – thư viện, hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đóng vai trò quan trọng, là cầu nối giữa giá trị nguồn lực thông tin và người dùng tin Thông qua hệ thống các sản phẩm và dịch

vụ thông tin - thư viện, các cơ quan thông tin, thư viện có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động, khẳng định được vai trò cũng như vị trí của mình trong xã hội

Công nghệ luôn gắn liền với thông tin, vì thông tin hỗ trợ quyết định hành động, còn công nghệ là phương tiện để chuyển tải thông tin Do đó, thông tin ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình Bên cạnh nhu cầu giao lưu, hội nhập và hợp tác giữa các thư viện, trung tâm thông tin ở trong và ngoài nước nhằm đa dạng hóa nguồn lực thông tin, cung cấp thông tin đến người dùng tin ngày càng hiệu quả

và đa dạng Nhu cầu được cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác, có chọn lọc

Trang 12

của người dùng tin cũng đòi hỏi các cơ quan thông tin, thư viện cần cung cấp những sản phẩm và dịch vụ với chất lượng ngày càng cao, chính xác, kịp thời tới người dùng tin Mặt khác, trong xu thế xây dựng, phát triển các Trung tâm thông tin và Thư viện hiện đại, sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đặc biệt được coi trọng Phương pháp tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện có nhiều đổi mới, nhất là các yếu tố phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của người dùng tin Để đảm bảo sự đồng bộ trong hoạt động thông tin – thư viện, các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện cần phải được xây dựng, hoàn thiện và phát triển, nhằm khai thác tối

đa giá trị của nguồn lực thông tin

Hệ thống thông tin y tế Việt Nam đã được xây dựng bao gồm các thư viện và trung tâm thông tin tại các trường đại học, các viện nghiên cứu, bệnh viện các tuyến

và một số cơ quan, tổ chức bệnh viện có giường bệnh Hệ thống thông tin y tế Việt Nam đã tiến hành khai thác, thu thập, xử lý và cung cấp thông tin y tế trong và ngoài nước, phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh, phòng bệnh, y tế cộng đồng và

y tế cơ sở, các chương trình y tế mục tiêu quốc gia [2], trong đó Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc được thành lập cũng không nằm ngoài nhiệm vụ đó Tuy nhiên, trong thời gian qua, trước sự phát triển nhanh chóng và biến đổi không ngừng của xã hội thông tin, việc đảm bảo thông tin phục vụ người dùng tin của Trung tâm đã và đang được chú trọng, việc tạo dựng các sản phẩm và dịch vụ thông tin đã và đang được quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông thì các sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm còn có thể được phát triển hơn nữa,

cả về hình thức và nội dung Các sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm, tuy đã đáp ứng được một phần thông tin của cán bộ, người dùng tin trong ngành y tế nhưng chưa thể hiện hết vai trò của một Trung tâm thông tin đầu ngành về thông tin thuốc và cảnh giác dược trong việc thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng tin trong và ngoài ngành y tế Thông tin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhân loại, trong đó, thông tin thuốc giữ vài trò đặc biệt quan trọng và cấp thiết, bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến yếu tố kinh tế mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, tính

Trang 13

mạng của người dân Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thông tin thuốc

và cảnh giác dược, để thực hiện tốt công tác này, không chỉ giúp tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh mà còn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân, đảm bảo thực hiện đúng phương châm mà ngành y tế đề ra: “Sử dụng thuốc an toàn – hợp lý – hiệu quả - kinh tế” Để phát huy được vai trò của một trung tâm thông tin đầu ngành về thông tin thuốc và cảnh giác dược, cần có sự nhìn nhận khách quan về thực trạng các sản phẩm và dịch vụ, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu tin của người dùng tin, đặc biệt là nhu cầu trao đổi của các bác sỹ, nhân viên y tế về thông tin thuốc và cảnh giác dược, cũng như nhu cầu tìm hiểu thông tin thuốc của đại bộ phận nhân dân

Vì những lý do đó, tôi lựa chọn vấn đề “Sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc” làm đề tài

luận văn thạc sĩ khoa học thông tin - thư viện của mình, với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học để tìm hiểu, nghiên cứu, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu thông tin của người dùng tin trong ngành y tế nói chung và trong lĩnh vực thông tin thuốc và cảnh giác dược nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, nghiên cứu về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đã được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu trên cả bình diện lý thuyết cũng như tại các cơ quan, đơn vị Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có nhiều giáo trình, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, tạp chí, hội thảo, tài liệu tập huấn trình bày về vấn đề này

Trên thế giới, nghiên cứu về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trên cơ

sở sách tham khảo và bài viết trên tạp chí như:

+ Sách tham khảo “Giới thiệu dịch vụ thư viện công cộng” (Introduction to library public services) của G Edward Evans, Thomas L Carter; “Marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin mở đầu cho cán bộ thư viện và chuyên gia thông

Trang 14

tin”(Marketing Information products and services a primer for Librarians and Information professionals) của Jain, Abhinandan K Hai cuốn sách này mới chỉ đề cập đến sản phẩm và dịch vụ dưới góc độ Marketing và dịch vụ tại các thư viện công cộng mà chưa đề cập đến sản phẩm và dịch vụ được xây dựng và tổ chức như thế nào [41, 40]

+ Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện được nghiên cứu đăng trên các

tạp chí như: “Hiểu biết giá trị của chúng tôi: đánh giá bản chất tác động của các

dịch vụ thư viện” (Understanding our valua: assessing the nature of the inpact of

library services) của David Bawden, …; “Dịch vụ thư viện cung cấp hiệu quả cho

các nghiên cứu ở London” (Providing effective library service for research London)

của Karen M Albert; “Sự phát triển của mô hình kiểu mẫu để đánh giá mức độ tác

động của dịch vụ thông tin và thư viện” (The development of a model for assessing

the level of impact of information and library service) của Peter Brophy; “Chiến lược tiếp thị các dịch vụ thư viện và các sản phẩm thông tin ở Nigeria” (Strategies for marketing library services and information products in Nigeria) của Adekunmisi, Sowemimo Ronke Các tài liệu này cũng đã đề cập đến sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện, nhưng trong các tài liệu các tác giả chưa đi sâu vào việc phân tích các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện với từng loại hình Trung tâm thông tin – thư viện cụ thể [39, 37, 38, 35]

Ở Việt Nam, vấn đề sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong cơ quan

thông tin và thư viện đã được nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết ở cuốn giáo trình “Sản

phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn xuất bản năm

1998; và cuốn giáo trình dành cho sinh viên ngành thông tin - thư viện và Quản trị

thông tin “Thông tin học” của tác giả Đoàn Phan Tân xuất bản năm 2001 Các tài

liệu này đã cung cấp một cách cơ bản các vấn đề lý luận về loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Tuy nhiên trong các tài liệu này, các tác giả chưa đi sâu vào việc phân tích các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện cho từng loại hình cơ quan thông tin – thư viện cụ thể.[27, 19]

Trang 15

Bên cạnh đó, vấn đề sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện cũng đã được

nhiều luận văn nghiên cứu, như: “Nghiên cứu phát triển hệ thống sản phẩm và dịch

vụ thông tin khoa học và công nghệ tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội” của tác

giả Vũ Thị Mỹ Nguyên (2008); “Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch vụ thông

tin - thư viện tại Trung tâm thông tin - thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”

của tác giả Vũ Huy Thắng (2009)”; “Hoàn thiện và phát triển sản phẩm, dịch vụ

thông tin - thư viện tại Thư viện Quân đội” của tác giả Trần Nữ Quế Phương

(2009); “Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường

Đại học Bách Khoa Hà Nội” của tác giả Đào Linh Chi (2010); “Hệ thống sản phẩm

và dịch vụ thông tin - thư viện tại thư viện các trường đại học khối Văn hóa nghệ thuật ở Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền (2010); “Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Thư viện Hà Nội” của

tác giả Trần Nhật Linh (2010); “Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ Thông

tin - Thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn Thông” của tác giả Trần Thị

Ngọc Diệp (2011); “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Trường

Đại học Ngoại Thương Hà Nội” của tác giả Thạch Lương Giang (2012), “Sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa” của tác giả Nguyễn Thị Nhung (2013), “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Đại học FPT” của tác giả Giáp Thị Quỳnh

Nga (2014), “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Học viện Quân

Y” của tác giả Ngô Thị Minh Nguyệt (2015) [11, 20, 9, 3, 6, 15, 10]

Những đề tài trên đã nghiên cứu làm rõ các khái niệm về SP&DV TT - TV, mối quan hệ giữa chúng, khảo sát các sản phẩm và dịch vụ, đánh giá các SP&DV

TT – TV hiện có, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện, phát triển các sản phẩm

và dịch vụ tại thư viện nơi tác giả nghiên cứu Những đề tài trên góp phần làm

phong phú thêm cơ sở lý luận của việc nghiên cứu SP&DV TT - TV

Ngoài ra, một số bài viết đăng trên các tạp chí Thư viện Việt Nam, Thông tin

và Tư liệu; tạp chí Khoa học xã hội viết về SP&DV TT-TV như: bài viết “Quản lý

chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện trong thư viện trường đại học”

Trang 16

của tác giả Bạch Thị Thu Nhi; “Thị trường sản phẩm và dịch vụ thông tin: kinh

nghiệm thế giới và việc áp dụng vào Việt Nam” của GS.TS Rodionov.I, Lê Trọng

Hiển; “Dịch vụ các thư viện chuyên ngành trên địa bàn Hà Nội: hiện trạng và vấn

đề” của Nguyễn Thị Hạnh “Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam” của Nguyễn Hữu Hùng; “Định giá dịch vụ thông tin thư viện” của Ngô Thanh Thảo; “Sản phẩm thông tin từ góc độ Marketing” của

Trần Mạnh Tuấn; “Một số vấn đề về phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin” của Trần Mạnh Tuấn; “Sản phẩm thông tin khoa học và công nghệ nhìn từ góc độ kinh

tế học thông tin” của PGS.TS Vũ Văn Nhật (2012); “Xác định chính sách giá đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện” của tác giả Nguyễn Thị Đông (2013);

[14, 17, 18, 7, 8, 21, 29, 28, 13, 4]

Các bài viết trên đã phần nào đề cập đến các góc độ khác nhau của loại hình SP&DV TT-TV phổ biến hiện nay, từ đó giúp cho việc liệt kê, nhận dạng các nhóm SP&DV TT-TV, sơ bộ xác định các mối quan hệ giữa chúng trên cơ sở phân nhóm theo những mục đích, khía cạnh khác nhau Đồng thời đề cập đến những phương pháp đánh giá cũng như phân tích các quan điểm tiếp cận về tính hiệu quả của các SP&DV TT-TV

Tại Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (sau đây gọi tắt là Trung tâm DI&ADR Quốc gia), đã có một số nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của học viên Nguyễn Thị Thu Thủy (2009) với đề tài “Khảo sát thực trạng một số hoạt động thông tin thuốc ở khu vực phía Bắc hiện nay” và trong một số khóa luận Dược sỹ, như của tác giả Lê Thị Hường (2011) với đề tài

“Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu tra cứu thông tin thuốc bằng tiếng Việt tại

Trung tâm DI&ADR quốc gia”; tác giả Nguyễn Thu Vân (2012) với đề tài “Đánh giá một số cơ sở dữ liệu thường dùng trong thực hành tra cứu tương tác thuốc tại Việt Nam”; tác giả Lại Quang Phương (2014) với đề tài “Khảo sát tình hình báo cáo ADR trên bệnh nhi trong cơ sở dữ liệu Quốc gia và tìm hiểu nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động cảnh giác dược tại một số bệnh viện chuyên khoa nhi”; tác giả Trịnh Thị Hồng Nhung (2014) với đề tài “Đánh giá chất lượng báo

Trang 17

cáo ADR trong cơ sở dữ liệu báo cáo tự nguyện của Việt Nam giai đoạn

2011-2013”; tác giả Đoàn Thị Phương Thảo (2015) với đề tài “Bước đầu khảo sát các sai

sót trong sử dụng thuốc và mối liên quan với biến cố bất lợi từ cơ sở dữ liệu báo cáo ADR ở Việt Nam”; tác giả Lê Thị Thủy Linh (2015) với đề tài “Đánh giá sự hình thành tín hiệu và cách xử trí các trường hợp phản vệ từ dữ liệu báo cáo ADR

tự nguyện tại Việt Nam… Đây là các nghiên cứu chi tiết được khai thác trong cơ sở

dữ liệu ADR của Trung tâm Tuy nhiên, những đề tài này cũng chỉ giải quyết được một số khía cạnh chuyên môn hoạt động của nghiệp vụ dược tại Trung tâm Vì vậy,

có thể nói rằng, cho đến nay tại Trung tâm DI&ADR Quốc gia chưa có một công trình

cụ thể nào nghiên cứu và đề cập trực tiếp đến hoạt động thông tin – thư viện nói chung

và SP&DV TT- TV nói riêng Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của tôi là đề tài hoàn toàn mới so với các công trình nghiên cứu trước đây Để giải quyết vấn đề này, tác giả luận văn sẽ kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, cùng những kinh nghiệm của bản thân để làm rõ việc phải nâng cao chất lượng và hiệu quả SP&DV TT-TV thông qua việc quan sát, khảo sát thực trạng các SP&DV tại Trung tâm, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các SP&DV mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của Trung tâm trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng các SP&DV hiện có tại Trung tâm DI&ADR Quốc gia trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay, từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và hoàn thiện thêm các SP&DV tại Trung tâm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định giải quyết một

số nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin, nhu cầu tin đối với các SP&DV tại Trung tâm

- Nghiên cứu thực trạng chất lượng các SP&DV tại Trung tâm

Trang 18

- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các SP&DV tại Trung tâm

4 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết: Các SP&DV của Trung tâm đã được xây dựng nhưng chưa đa dạng và phong phú, còn khả năng phát triển mạnh hơn nữa Đặc biệt là việc đa dạng hóa và xây dựng các các sản phẩm và dịch vụ hiện đại kết hợp với truyền thống Thông qua việc đề xuất các giải pháp nhằm đa dạng hóa các SP&DV hiện có tại Trung tâm, đáp ứng ngày càng cao NCT của NDT trong ngành y tế nói chung và trong lĩnh vực thông tin thuốc và cảnh giác dược nói riêng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các sản phẩm và dịch vụ của Trung tâm

từ năm 2013 đến nay

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các sản phẩm và dịch vụ TT-TV của Trung tâm DI&ADR Quốc gia:

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 đến nay

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu lý luận chung về SP&DV TT-TV, thực trạng, giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm trong giai đoạn hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các quan điểm chỉ đạo về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, giáo dục, đào tạo và các vấn đề trong lĩnh vực Thông tin - Thư viện

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu;

Phương pháp quan sát, khảo sát trực tiếp;

Phương pháp phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia;

Trang 19

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;

Phương pháp thống kê, xử lý số liệu thu thập từ phiếu điều tra;

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

7.1 Về mặt khoa học

Cho đến nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này tại Trung tâm

Do vậy, nghiên cứu này góp phần vào việc đánh giá vai trò của SP&DV trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Đưa ra cách thức xây dựng và tổ chức các loại hình SP&DV TT-TV trên cơ sở phù hợp với quy mô và chức năng, nhiệm

vụ của Trung tâm trong thời gian tới

Đề tài cũng góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về sản phẩm và dịch

vụ tại các cơ quan thông tin - thư viện nói chung và tại một cơ quan thông tin chuyên ngành nói riêng

7.2 Về mặt ứng dụng

Luận văn đóng góp cái nhìn mới về sản phẩm và dịch vụ trong cơ quan

TT-TV chuyên ngành thông qua sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm

Các giải pháp đề xuất trong luận văn nhằm hoàn thiện và phát triển các SP&DV tại Trung tâm, góp phần vào công tác phục vụ NDT và chăm sóc sức khỏe người dân

8 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Trang 21

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SẢN PHẨM, DỊCH VỤ TẠI TRUNG TÂM QUỐC GIA VỀ THÔNG TIN THUỐC VÀ THEO DÕI PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC

1.1 Những vấn đề lý luận chung

1.1.1 Sản phẩm

Sản phẩm là khái niệm được sử dụng trước tiên và chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động thực tiễn của nền sản xuất [15, tr.20] Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sản phẩm:

Theo Từ điển tiếng Việt: Sản phẩm là cái do lao động của con người tạo ra

[32, tr.1083]

Theo ISO 9000:2000 trong phần thuật ngữ thì sản phẩm được định nghĩa là

“kết quả của các hoạt động hay quá trình”

Theo định nghĩa của Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Sản phẩm là kết quả của

sản xuất Tổng hợp các thuộc tính về cơ học, lý học, hóa học và các thuộc tính có ích khác làm cho sản phẩm có công dụng nhất định và có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người [31, tr.39]

Theo quan điểm của Marketing: Sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu

cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng Theo

đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố có bản sau đây:

- Yếu tố vật chất

- Yếu tố phi vật chất

Theo quan niệm này, sản phẩm phải vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu [6]

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “Sản phẩm là kết quả của

các hoạt động hoặc các quá trình” Sản phẩm có thể là vật chất hoặc phi vật chất

Sản phẩm có thể được làm ra có chủ định hoặc không có chủ định

Khi sản phẩm là vật chất, là hữu hình thì chúng ta có thể nhìn thấy, cân, đo, đong, đếm và kiểm tra chất lượng bằng các phương tiện hóa, lý Sản phẩm phi vật

Trang 22

chất là các sản phẩm không mang hình thái vật chất hữu hình và không thể chuyển nhượng được với các loại sản phẩm vật chất hữu hình Quá trình tạo ta các sản phẩm này diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùng chúng

1.1.2 Sản phẩm thông tin – thư viện

Trong hoạt động TT-TV, quá trình lao động để tạo ra sản phẩm là quá trình

xử lý thông tin, quá trình phân tích - tổng hợp thông tin Sản phẩm thông tin có nhiều hình thức khác nhau, gồm cả những sản phẩm mang tính truyền thống và những sản phẩm mang tính hiện đại Những sản phẩm của cơ quan thông tin - thư viện truyền thống có thể là hệ thống mục lục, các thư mục, tổng quan, tổng luận… Các sản phẩm hiện đại tuy ra đời sau nhưng cũng rất đa dạng, phong phú, có thể là những sản phẩm cũ nhưng xuất bản dưới dạng điện tử hoặc trên trang web hoặc có những sản phẩm mới như: cơ sở dữ liệu, các bản tin điện tử, tạp chí điện tử,…

Sản phẩm TT-TV được hình thành nhằm thỏa mãn những nhu cầu thông tin/tài liệu bao gồm nhu cầu tra cứu thông tin/tài liệu, nhu cầu về chính bản thân thông tin/tài liệu đó Như vậy, sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng như sự biến đổi của nhu cầu Sản phẩm của cơ quan TT-TV cũng như mọi loại sản phẩm khác đó là trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần không ngừng được hoàn thiện để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới, nhưng cũng có điểm khác biệt giữa sản phẩm thông thường và sản phẩm của cơ quan TT-TV, sản phẩm của cơ quan TT-TV chỉ được hiểu như một loại hàng hóa đặc biệt Sản phẩm của cơ quan TT-TV trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần không ngừng được hoàn thiện, để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới chính là nội dung và hình thức của sản phẩm

Sản phẩm TT-TV có những điểm khác biệt với những sản phẩm thông thường và cũng được hiểu như một loại hàng hóa đặc biệt: Giá cả của sản phẩm TT-

TV = giá của vật mang tin + giá trị của thông tin

Một thực tế khách quan hiện nay, các cơ quan TT-TV đang phải đương đầu với điều kiện phục vụ ngày càng trở lên khắt khe hơn:

Trang 23

- Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh nhu cầu mới

- Sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của NDT với các loại sản phẩm thông tin được chuyển tải qua các phương thức khác nhau

- Khả năng thay thế nhau của các sản phẩm

Như vậy, một thư viện hay cơ quan thông tin tồn tại cần phải đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng NDT hướng tới thông qua sản phẩm của nó [6, tr.8]

Như vậy, sản phẩm thông tin - thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông

tin do cá nhân/tập thể thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin (NDT)

Theo Từ điển tiếng Việt: “Dịch vụ là những công việc phục vụ trực tiếp cho

những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và có thể được trả công”

[32,tr337]

Trang 24

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Dịch vụ là những hoạt động thoả mãn

nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”

Theo ISO 8402: “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa

người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”

1.1.4 Dịch vụ thông tin - thư viện

Trong lĩnh vực TT-TV, dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu đọc nói riêng, nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng nói chung Nhu cầu thông tin và nhu cầu trao đổi thông tin thuộc nhóm nhu cầu tinh thần Có nhu cầu chỉ cần ở mức giúp người sử dụng trao đổi được thông tin, trong khi đó, có nhu cầu, ngoài việc trao đổi thông tin, người sử dụng dịch vụ còn được cung cấp những thông tin cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của họ Mục tiêu quan trọng nhất của dịch vụ trong các cơ quan TT-TV là giúp cơ quan TT-TV nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin và giúp NDT tiếp cận, sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin mà cơ quan TT-TV hướng tới thông qua các hoạt động của mình

Dịch vụ nói chung là loại hình hoạt động gắn chặt với người cung cấp dịch

vụ và người hưởng thụ nó Điểm khác biệt giữa các dịch vụ thông thường và dịch

vụ trong cơ quan TT-TV là các dịch vụ nói chung thường mang ý nghĩa xã hội và kinh tế sâu sắc, toàn diện còn các dịch vụ TT-TV thuộc nhóm dịch vụ phi lợi nhuận Dịch vụ TT-TV có điểm tương đồng với các loại hình dịch vụ khác, là trong các dịch vụ TT-TV bao gồm những công việc có tính chuyên môn hóa và khi thực hiện cần thiết phải sử dụng một số tài sản lâu bền nào đó, hoặc sử dụng một số sản phẩm nào đó

Tóm lại, dịch vụ TT-TV được hiểu là những hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT - TV nói chung [27]

Các loại dịch vụ TT-TV tương ứng sau:

 Dịch vụ tra cứu và cung cấp tài liệu

 Dịch vụ cung cấp tài liệu tại chỗ

Trang 25

 Dịch vụ cho mượn tài liệu về nhà

 Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu gốc

 Dịch vụ tra cứu thông tin tại cơ quan TT-TV

 Dịch vụ hỏi đáp thông tin

 Dịch vụ tìm tin online

 Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện

 Nhóm dịch vụ trao đổi thông tin

 Hội nghị, hội thảo, serminar

1.1.5 Thông tin thuốc và những vấn đề liên quan

Thông tin thuốc = Thông tin + Thuốc

Thông tin thuốc là việc thu thập và/hoặc cung cấp các thông tin có liên quan

đế thuốc như chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng, phản ứng có hại của thuốc, thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng (trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người cao tuổi và các đối tượng khác) của đơn vị, cá nhân có trách nhiệm thông tin thuốc nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin của các đơn vị, cá nhân đang trực tiếp hành nghề y, dược hoặc của người sử dụng thuốc

Vai trò của Thông tin thuốc:

Có một định nghĩa về thuốc theo công thức: D = S + I (D: Drugs; S:

Subtances; I: Information) tức là: Thuốc = Dược chất + Thông tin, điều đó cho thấy tầm quan trọng của thông tin thuốc

Trang 26

Thông tin thuốc có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn lựa chọn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả

Thông tin thuốc bao gồm:

- Thông tin liên quan đến chất lượng sản phẩm (thuốc kém chất lượng, thuốc giả)

- Thông tin về độ an toàn và/hoặc hiệu quả sản phẩm (tác dụng đã biết, các tác dụng chưa biết)

- Thông tin về các hành vi của nhà cung cấp và bệnh nhân (kê đơn, diễn giải đơn thuốc, cấp phát, sử dụng, giám sát, tuân thủ)

Thông tin được thừa nhận là một loại hàng hóa đặc biệt và vấn đề thực hiện marketing SP&DV TT-TV là hết sức nhạy cảm vì cơ quan TT-TV vốn được xem là

tổ chức phi lợi nhuận Tuy nhiên, xét góc độ mở rộng phạm vi, tầm ảnh hưởng của

cơ quan TT-TV trong cộng đồng NDT khoa học, hướng đến đóng góp củng cố thương hiệu thì không thể thiếu hoạt động markerting

Theo Philip Kotler và Sidney Levy thì “Marketing được hiểu là chức năng của một tổ chức có thể giữ mối quan hệ thường xuyên với khách hàng của tổ chức

đó, hiểu được nhu cầu của họ, phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, và thiết lập các chương trình quảng bá thông tin nhằm thể hiện mục đích của tổ chức đó” [6]

1.2 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện

Sản phẩm và dịch vụ TT-TV được tạo ra nhằm khai thác, tìm kiếm thông tin

để thỏa mãn nhu cầu của NDT Sản phẩm TT-TV và dịch vụ TT-TV có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Sản phẩm TT-TV là một trong những yếu tố không thể thiếu để cơ quan TT-TV triển khai và phát triển các dịch vụ TT-TV khác nhau Khi cơ quan TT-TV thực hiện một dịch vụ nào đó, cần phải sử dụng một hay một số sản phẩm Do vậy có thể đánh giá được chất lượng của sản phẩm thông qua việc sử dụng chúng và trong quá trình tổ chức dịch vụ TT-TV Trong hoạt động TT-TV, muốn sản phẩm được mở rộng, phát triển cần phải đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Ngược lại, muốn sử dụng hiệu quả dịch

Trang 27

vụ cần phải không ngừng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng của sản phẩm Mặt khác, khi có hệ thống sản phẩm TT-TV đa dạng, phong phú mà thiếu đi hệ thống dịch vụ TT-TV thì NDT khó có thể tiếp cận và khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực thông tin của cơ quan TT-TV Ngược lại, khi có một hệ thống dịch vụ đầy đủ, hiện đại nhưng thiếu đi một hệ thống sản phẩm TT-TV thì dịch vụ đó cũng không phát huy được tác dụng và không mang lại hiệu quả như mong muốn

Để đáp ứng NCT của NDT, thông thường các cán bộ TT-TV phải tiến hành đồng thời việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TT-TV tương ứng Với mỗi sản phẩm đều có một hoặc một số dịch vụ tương ứng, mục đích là nhằm giúp cho sản phẩm được sử dụng, khai thác tối đa Ngược lại, ứng với mỗi dịch vụ đều có một hoặc một số sản phẩm phù hợp để dịch vụ đó được triển khai tốt nhất, hiệu quả nhất Vì vậy, vấn đề hoàn thiện sản phẩm thông tin phải luôn đi đôi với việc tổ chức, kiện toàn dịch vụ thông tin phù hợp với từng loại sản phẩm

Tổ chức tốt các dịch vụ TT-TV sẽ đưa các sản phẩm TT-TV đến với người dùng một cách nhanh chóng và thuận tiện Từ đó, mức độ khai thác sản phẩm TT-

TV của NDT sẽ tăng lên và tốt hơn, góp phần phát huy hiệu quả và nâng cao giá trị của sản phẩm TT-TV Mặt khác, các sản phẩm TT-TV được NDT sử dụng và đánh giá thông qua việc phân tích các tiêu chí cơ bản phản ánh chất lượng mỗi sản phẩm Thông qua việc thực hiện các dịch vụ tại cơ quan TT-TV có thể giới thiệu đến đông đảo NDT những sản phẩm TT-TV mà cơ quan đã xây dựng Đồng thời, dịch vụ TT-

TV còn là kênh thông tin phản hồi từ phía NDT, giúp cho cơ quan TT-TV có cơ sở đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống sản phẩm, dịch vụ TT-TV để đáp ứng tốt hơn NCT ngày càng đa dạng và phong phú của NDT

Mối liên hệ giữa các loại sản phẩm và dịch vụ TT - TV là hết sức chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động, hỗ trợ nhau không thể tách rời để hướng tới mục đích cao nhất

là thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của NDT Có thể nói, mỗi sản phẩm TT-TV được ra đời cần thiết có một hoặc một số dịch vụ TT-TV cụ thể để giúp NDT tiếp cận và sử dụng sản phẩm đó hiệu quả nhất Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ TT-TV có tính liên kết chặt chẽ và tương tác

Trang 28

cao như vậy nên vấn đề hoàn thiện, phát triển sản phẩm TT-TV phải luôn đi liền với việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ dịch vụ TT-TV phù hợp Đây

là vấn đề cần được quan tâm, nhận định và triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan TT-TV

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm thông tin - thư viện

1.3.1 Yếu tố chủ quan

Năng lực chuyên môn (năng lực của cán bộ thực hiện dịch vụ và tạo ra các sản phẩm thông tin) có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của sản phẩm và hiệu quả của dịch vụ Do đó, người tham gia vào xây dựng sản phẩm và tạo dịch vụ cần có các kỹ năng chủ yếu sau:

- Có sự am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ

- Có kỹ năng giao tiếp với NDT (Khả năng phân tích, hiểu đầy đủ, chính xác nhu cầu của NDT, sự thân thiện và lịch sự với NDT)

- Có khả năng ngoại ngữ (để tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu, giúp NDT tiếp cận được với thông tin mà không bị rào cản về ngôn ngữ)

- Có khả năng sử dụng các nguồn thông tin khác nhau (nguồn tin trên giấy và phi giấy)

- Có khả năng sử dụng các trang thiết bị hiện đại để khai thác, thu thập thông tin và khả năng tư vấn, hướng dẫn NDT

- Có khả năng phân tích và tổng hợp thông tin

1.3.2 Yếu tố khách quan

- Đối tượng xử lý thông tin

Đối tượng xử lý thông tin là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới các sản phẩm và dịch vụ TT-TV Trước đây, các cơ quan TT-TV chỉ chủ yếu giới hạn việc cung cấp thông tin về nguồn tài liệu như: tài liệu công bố (sách, tài liệu chuyên khảo, báo, tạp chí,…), các tài liệu xám (luận án, luận văn, báo cáo khoa học,…) Sau này, đối tượng xử lý thông tin còn được mở rộng ra các loại phi văn bản (tranh ảnh, bản đồ, video, tài liêu điện tử,…) Tương ứng với mỗi nhóm

Trang 29

đối tượng trên, đã hình thành các tiêu chuẩn xử lý thông tin riêng, hình thành các sản phẩm và dịch vụ đa dạng hơn Nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, các cơ quan TT-TV có thể tạo ra các sản phẩm mà trong đó thông tin được xử lý phong phú, đa dạng, thích hợp cho việc thoả mãn nhu cầu thông tin ngày càng cao của NDT

Mặt khác, với mỗi loại hình cơ quan TT-TV sẽ có đối tượng xử lý thông tin,

sự đa dạng hay chuyên sâu của mỗi nguồn tin khác nhau đã tác động đến sự phát triển, hiệu quả của mỗi sản phẩm TT-TV

- Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin và các thiết bị phụ

trợ

Hiện nay, các cơ quan TT-TV đã sử dụng rất nhiều các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để thực hiện trong công tác nghiệp vụ cũng như tạo ra được nhiều dịch vụ mới phù hợp với yêu cầu của NDT

Các trang thiết bị như: máy đọc mã vạch, máy in mã vạch, các thiết bị khử

từ, máy scan, camera, máy photo, máy chiếu projector…các trang thiết bị trên đã cho phép thực hiện được rất nhiều loại dịch vụ đối với NDT (có vai trò cả cho việc tạo lập và quản lý các sản phẩm) Tuy vậy, cần quan tâm chú ý đến sự đồng bộ của các thiết bị: Các trang thiết bị cần có sự tương thích lẫn nhau, đồng thời chúng tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh Các yêu cầu đó cho phép triển khai được các dịch vụ một cách ổn định, mỗi thiết bị sẽ được phát huy đầy đủ mọi khả năng của mình trong việc thực hiện các sản phẩm và dịch vụ

Trong lĩnh vực hoạt động của các cơ quan TT-TV, cụ thể là trong quá trình

tổ chức hoạt động, vai trò của CNTT được thể hiện hết sức rõ ràng, nó tác động tới tất cả các quá trình nhằm tạo ra sản phẩm và thực hiện các dịch vụ thông tin, giúp NDT rút ngắn được chi phí về mặt thời gian và cho phép NDT khai thác trực tiếp tới nguồn tài liệu Trong các quá trình xử lý thông tin thì vai trò của CNTT thể hiện: một mặt phát triển và hoàn thiện các quá trình xử lý thông tin; mặt khác hình thành nên các công nghệ mới cho quá trình này, nhằm mục đích tạo ra được tính đa dạng, phong phú và năng động trong việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TT-TV CNTT

Trang 30

còn thâm nhập cả vào quá trình tạo lập nội dung thông tin, quá trình phân phối thông tin, quá trình trao đổi và chia sẻ thông tin để hình thành nên các sản phẩm tương ứng, đặc biệt là việc khai thác, chia sẻ, sử dụng sản phẩm và dịch vụ TT-TV của nhiều cơ quan khác nhau

- Nhu cầu của người dùng tin

Nhu cầu của NDT luôn là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động TT-TV nói chung và sự phát triển của các SP & DV nói riêng Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, nhu cầu về SP &DV TT-TV rất đa dạng, phong phú Nhu cầu này được hình thành trên cơ sở nhiều nguyên nhân khác nhau, trong

đó những nguyên nhân từ bản thân sự phát triển của xã hội, sự phát triển của nền kinh tế, có những nguyên nhân từ nhu cầu phát triển của con người với tư cách là thành viên của xã hội

Để tạo lập được thông tin thì cần được cung cấp thông tin Các cơ quan

TT-TV có chức năng bảo đảm thông tin, thoả mãn nhu cầu thông tin trên cơ sở các sản phẩm, dịch vụ do mình tạo ra Qua khai thác hệ thống SP & DV TT-TV, NDT lại tạo ra được những thông tin mới Cứ như thế chu trình này diễn ra liên tục, không ngừng phát triển và vì thế, nhu cầu về hệ thống SP & DV TT-TV ngày càng gia tăng

Sự tác động của NDT đến các SP & DV TT-TV thể hiện ở những khía cạnh:

Nội dung thông tin được cung cấp: Đối với những nhóm NDT khác nhau thì

nhu cầu thông tin cũng khác nhau, do đó, thông tin đặc trưng cho đối tượng - thuộc tính, thông tin cần được xử lý cũng khác biệt nhau Bởi điều đó phụ thuộc vào

những nhu cầu cụ thể của NDT

Hình thức thông tin được cung cấp: Để thoả mãn nhu cầu thông tin với chất

lượng tốt, các SP & DV TT-TV cần dựa trên các yếu tố có liên quan tới tâm lý, thói quen của NDT Những yếu tố này sẽ góp phần chi phối tới hình thức thông tin được cung cấp Do đó, thông tin được cung cấp cho họ cũng cần khác biệt nhau về hình thức

Trang 31

Mục tiêu của các dịch vụ TT-TV chính là cung cấp thông tin phù hợp đối với NDT cụ thể Việc cung cấp thông tin cũng phụ thuộc cả vào những điều kiện thu nhận thông tin hay rộng hơn là điều kiện sử dụng dịch vụ thông tin của NDT (địa điểm sử dụng, các điều kiện về thời gian…)

- Các công cụ xử lý thông tin

Thông tin ngày càng gia tăng với cấp số nhân, nhu cầu thông tin của NDT cũng ngày càng nhiều hơn về số lượng và yêu cầu cao về chất lượng do vậy, chỉ có các trang thiết bị hiện đại mới có thể thực hiện việc truyền tải thông tin, không những thế các trang thiết bị này còn cần phải đảm bảo tính đồng bộ

Sản phẩm TT-TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin Để xử lý được thông tin một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của NDT thì bên cạnh các trang thiết bị hiện đại, các công cụ hỗ trợ để cung cấp thông tin cho NDT cũng cần phải quan tâm đến các phần mềm chuyên dụng, các chuẩn biên mục, chuẩn về

xử lý và trao đổi thông tin,… cho hệ thống cơ quan TT-TV

1.4 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện

1.4.1 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thông tin - thư viện

- Mức độ bao quát nguồn tin

Mức độ bao quát nguồn tin là yêu cầu trước tiên thể hiện mức độ hoàn thiện của sản phẩm thông tin Xác định được nguồn thông tin cần bao quát ở các sản phẩm thông tin nhằm giúp NDT khai thác được thông tin Mức độ bao quát nguồn tin đối với các sản phẩm thông tin thể hiện ở độ đầy đủ, đa dạng, phong phú các lĩnh vực thông tin trong hoạt động thông tin để tạo ra các sản phẩm thông tin tương ứng của mỗi cơ quan TT-TV

Mức độ bao quát nguồn tin không chỉ đòi hỏi phản ánh đầy đủ nguồn tư liệu gốc có trong cơ quan TT-TV mà còn đòi hỏi các sản phẩm phản ánh nguồn tin ở những nơi khác ngoài cơ quan TT-TV khi giữa các cơ quan TT-TV thực hiện chính sách chia sẻ nguồn thông tin

Mức độ bao quát nguồn tin của sản phẩm TT-TV đòi hỏi phải có sự phát triển đồng đều giữa các sản phẩm Cho đến nay trong nhiều cơ quan TT-TV các sản

Trang 32

phẩm thông tin còn nghèo nàn, lượng thông tin chưa nhiều, chưa phát huy hết vai trò của nó đối với NDT trong việc tìm kiếm thông tin Để đáp ứng yêu cầu, cần phải

bổ sung thông tin từ nhiều nguồn tin khác nhau, áp dụng công nghệ thông tin để tạo

ra các sản phẩm thông tin có chất lượng, đáp ứng tốt NCT cho NDT

- Chất lượng của sản phẩm thông tin - thư viện

Sản phẩm thông tin là kết quả của quá trình xử lý thông tin, quá trình này là một dạng lao động hết sức đa dạng, có nhiều mức độ khác nhau, là loại hình lao động đặc trưng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ Do vậy, chất lượng của sản phẩm thông tin phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của cá nhân hay tập thể thực hiện quá trình xử lý, các kỹ năng và trình độ xử lý thông tin của cán bộ thông tin Có nghĩa là các sản phẩm phải hoàn thiện về mặt nội dung, đồng thời đảm bảo tính nguyên tắc trong việc sử dụng và xử lý thông tin để đưa ra những sản phẩm thông tin chính xác, phù hợp với nhu cầu, trình độ của NDT và khả năng khai thác thông tin qua những sản phẩm đó

- Tính kinh tế

Chi phí hợp lý để đưa ra những sản phẩm thông tin có chất lượng và giá trị gia tăng cao không những có ý nghĩa cho sự phát triển, thành công của mỗi cơ quan TT-TV mà nó còn giúp cho NDT tiết kiệm thời gian công sức, tiền bạc

- Khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin

Việc cập nhật thông tin phải được bổ sung thường xuyên, đảm bảo tính liên tục và phải có cơ chế xử lý kịp thời thông tin mới được bổ sung để tạo ra các sản phẩm phù hợp với trình độ phát triển và nhu cầu tin của NDT Các phương tiện tra cứu tin phải giúp NDT dễ sử dụng, khai thác Tốc độ tìm tin linh hoạt, nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng tối đa cho NDT Sản phẩm thông tin có tính mở, khả năng mở rộng, phát triển và chia sẻ thông tin tạo ra tính bình đẳng trong truy cập và sử dụng thông tin giúp NDT khai thác thông tin dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn

- Mức độ thân thiện

Trang 33

Mức độ thân thiện chính là hoàn thiện về mặt hình thức, trình bày của sản phẩm thông tin Hình thức của sản phẩm thông tin phải gây được sự chú ý của NDT, tạo sự thân thiện đối với NDT

1.4.2 Tiêu chí đánh giá dịch vụ thông tin - thư viện

Các tiêu chí về nội dung

Tính hiện đại: Có các dịch vụ mới nhất theo sự phát triển của khoa học, công

nghệ và tin học; Hệ thống quản lý hiện đại; Trang thiết bị hiện đại; Phát triển ứng dụng những chuẩn thông tin hiện đại

Tính toàn diện: Có đầy đủ các dạng dịch vụ thông tin theo yêu cầu; Có đầy

đủ các nguồn thông tin; Có cơ cấu cân đối giữa thông tin khoa học - công nghệ và thông tin kinh tế xã hội

Tính linh hoạt: Có khả năng đầu tư và triển khai theo giai đoạn; Có khả năng

chuyển đổi khi có yêu cầu thay đổi cơ cấu dịch vụ

Các tiêu chí về hiệu quả

Hiệu quả về vận hành hệ thống: Cơ cấu nhân viên gọn nhẹ, nghiệp vụ cao;

thời gian đáp ứng thông tin nhanh, giảm thời gian thực hiện dịch vụ, giúp NDT sử dụng dịch vụ dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện; Tạo lập uy tín và thương hiệu cho

cơ quan TT-TV; Đáp ứng tối đa nhu cầu và yêu cầu của NDT, hỗ trợ họ trong việc làm rõ nhu cầu và yêu cầu cụ thể về thông tin

Hiệu quả kinh tế: Khi thực hiện dịch vụ có hai loại chi phí:

- Chi phí hiện là những chi phí có thể xác định và dễ nhận thấy như: chi phí cho in ấn, sao chụp tài liệu, thuê dịch tài liệu, cước vận chuyển,…

- Chi phí ẩn là những khoản chi phí khó có thể xác định như chi phí cho việc xây dựng và bảo trì các nguồn thông tin, trình độ, kinh nghiệm tìm tin của các chuyên gia thông tin, chi phí cho việc thực hiện được dịch vụ tư vấn, hỏi đáp thông tin

Tiết kiệm kinh phí đầu tư ban đầu; Hệ thống vận hành tiết kiệm năng lượng

và nhân lực; Tiết kiệm nguyên liệu cho dịch vụ; Tạo lập nguồn thu ổn định, có tăng trưởng; Giảm chi phí thực hiện dịch vụ

Trang 34

Hiệu quả xã hội:

- Hiệu quả xã hội biểu hiện trong việc nâng cao nghề nghiệp, mở rộng tầm

hiểu biết của NDT; giúp NDT nắm vững các tri thức khoa học, góp phần đẩy nhanh

tiến bộ về khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất

- Hiệu quả xã hội được đánh giá thông qua mức độ ứng dụng các tri thức khoa học vào thực tiễn lao động sản xuất và hiệu quả ứng dụng của nó đối với sự tăng năng suất lao động, hạn chế các chi phí phát sinh khi nghiên cứu lặp lại một vấn đề đã được nghiên cứu trước đó

Cơ quan TT-TV thực hiện các chức năng giải trí, văn hoá, thông tin, giáo dục Song mỗi cơ quan TT-TV phục vụ những đối tượng NDT khác nhau thì việc thực hiện các chức năng trên cũng khác nhau Mỗi cơ quan TT-TV cần xác định phát triển các SP & DV thông tin gì để giúp cơ quan TT-TV thực hiện chức năng, nhiệm vụ đề ra Mỗi SP & DV TT-TV ra đời nhằm cho mục đích thiết thực nào đó

và sẽ mang lại hiệu quả nhất định

1.5 Khái quát về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc

Hoạt động liên quan đến cảnh giác dược và giám sát tính an toàn của thuốc

đã được triển khai tại Việt Nam từ năm 1994 trong khuôn khổ dự án SIDA: “Hỗ trợ

hệ thống quản lý Dược” do Chính phủ Thụy Điển tài trợ, với sự ra đời của Trung tâm theo dõi ADR đặt tại Trường Đại học Dược Hà Nội Năm 1998, thành lập Trung tâm giám sát, theo dõi phản ứng có hại của thuốc phía Nam, đặt ở Phân viện Kiểm nghiệm thuốc, Tp.Hồ Chí Minh

Năm 1999, Việt Nam được WHO công nhận là thành viên của Tổ chức Giám sát thuốc toàn cầu (Trung tâm WHO-UMC)

Từ những năm 2000 đến 2009, hoạt động theo dõi phản ứng có hại của thuốc được tập trung dưới sự quản lý của Cục Quản lý Dược Việt Nam

Theo Quyết định số 991/QĐ-BYT ngày 24/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Trung tâm DI&ADR Quốc gia được thành lập và chính thức khai trương, đi vào hoạt động từ ngày 09/6/2009 Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc

Trang 35

Trường Đại học Dược Hà Nội, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo qui định của pháp luật

1.5.1 Chức năng và nhiệm vụ

Chức năng:

Trung tâm là đơn vị đầu ngành về thông tin thuốc và cảnh giác dược ở tuyến Trung ương, có chức năng giúp Bộ Y tế xây dựng và cung cấp cơ sở dữ liệu thông tin về thuốc, bao gồm cả thông tin về cảnh giác dược, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế, tư vấn dịch vụ về thông tin thuốc và cảnh giác dược

Nhiệm vụ:

a) Xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu về thông tin thuốc và cảnh giác dược:

- Xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu thông tin về thuốc và cảnh giác dược cập nhật phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam;

- Thu thập, phân tích, thẩm định, tổng hợp báo cáo cho các cơ quan quản lý

và phản hồi tới các cơ sở điều trị về cảnh giác dược, thuốc kém chất lượng, sử dụng thuốc không đúng cách gây sự cố bất lợi của thuốc đối với người bệnh;

- Cung cấp thông tin thuốc và cảnh giác dược cho các cơ quan quản lý phục

vụ cho công tác thẩm định, đăng ký, hướng dẫn sử dụng thuốc, xây dựng và sửa đổi hướng dẫn điều trị bệnh, danh mục thuốc thiết yếu và dược thư quốc gia;

- Cung cấp thông tin về thuốc và cảnh giác dược cho các tổ chức, cá nhân có liên quan thông qua các hình thức: trang web, trực tuyến, xuất bản các ấn phẩm (tạp chí, tờ rơi, thư tín)

b) Thực hiện đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế theo quy định hiện hành

c) Tư vấn thông tin thuốc cho các cơ sở y tế, cán bộ y tế, doanh nghiệp và cộng đồng Tổ chức các hoạt động dịch vụ về thông tin thuốc và cảnh giác dược

theo yêu cầu và đơn đặt hàng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Các công việc cụ thể như sau:

Trang 36

 Thực hiện các thủ tục hành chính, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong Trung tâm, phối hợp thực hiện công tác đối ngoại và thực hiện thanh quyết toán liên quan đến hoạt động chuyên môn

 Tiếp nhận và xử lý các thông tin đi và đến (báo cáo, công văn giấy tờ… chuyển đến ban giám đốc và các phòng chức năng)

 Nhập, quản lý và lưu trữ các tài liệu, cơ sở dữ liệu, sách, báo, tạp chí, tài liệu hội nghị…

 Phối hợp tổ chức đào tạo, hội thảo, hội nghị và công tác nghiên cứu khoa học

 Tiếp nhận, tìm kiếm, xử lý thông tin và phản hồi các yêu cầu về thông tin thuốc cho các Trung tâm khu vực và tuyến cơ sở, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc

 Tiếp nhận và tiến hành tổ chức thẩm định các báo cáo về cảnh giác dược nói chung và phản ứng phụ của thuốc từ các Trung tâm khu vực, tuyến cơ sở, từ các cơ quan đơn vị, tổ chức có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và

sử dụng thuốc

 Phản hồi thông tin đã thẩm định, cập nhật, chia sẻ thông tin từ các thông tin về phản ứng phụ của thuốc và những tai biến liên quan đến sử dụng thuốc cho Trung tâm khu vực, cho các đơn vị tuyến cơ sở, từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức

có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc

 Xây dựng và cập nhật bộ cơ sở dữ liệu bao gồm cả thông tin thuốc, tương tác thuốc, phản ứng có hại của thuốc, tính an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc và xây dựng, cập nhật bộ cơ sở dữ liệu về cảnh giác dược của Việt Nam

 Xây dựng, duy trì trao đổi và chia sẻ thông tin với mạng lưới thông tin thuốc, cảnh giác dược ở trong nước và quốc tế Tổ chức, tham gia các dự án trong nước và ngoài nước về thông tin thuốc và cảnh giác dược

 Tư vấn thông tin về Thông tin thuốc và Cảnh giác dược theo yêu cầu của cán

bộ y tế, doanh nghiệp và người tiêu dùng hay theo đơn đặt hàng của các tổ chức, cá nhân khác

Trang 37

 Thực hiện công tác chỉ đạo tuyến: hỗ trợ hoạt động chuyên môn, giám sát và kiểm tra hoạt động thông tin thuốc và cảnh giác dược của Trung tâm khu vực

và các tuyến y tế cơ sở

 Tham gia biên soạn, phát hành các tài liệu chuyên môn liên quan đến thông tin thuốc và cảnh giác dược

 Tham gia hỗ trợ công tác đào tạo trong đại học, sau đại học và đào tạo liên tục

về thông tin thuốc và cảnh giác dược

 Tổ chức và tham gia các nghiên cứu khoa học, các cuộc hội thảo, hội nghị, các khóa tập huấn trong nước và nước ngoài về thông tin thuốc và cảnh giác dược

 Phối hợp xây dựng, biên soạn, phát hành và cập nhật cơ sở dữ liệu về thông tin thuốc và cảnh giác dược

 Tiếp nhận tin bài; tiến hành phản biện và bình chọn bài đăng, biên tập tin, tổ chức xuất bản tạp chí, bản tin của Trung tâm Phối hợp biên soạn và phát hành các ấn phẩm khác (sách, CD ROM, tờ rơi…)

 Quản lý marketing, quảng cáo, bảo trì và cập nhật thông tin cho Website thông tin thuốc và cảnh giác dược

1.5.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

Biên chế của Trung tâm nằm trong biên chế của Trường Đại học Dược Hà Nội, được điều chỉnh hàng năm theo nhu cầu công tác và theo đề xuất của Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội

Cơ cấu của Trung tâm chưa hoạt động theo phòng ban rõ ràng, biên chế gồm

13 người gồm Ban giám đốc: 3 người và các chức năng liên quan đến thông tin và

tư liệu được thực hiện bởi 10 cán bộ trong biên chế

1.5.3 Nguồn lực thông tin

1.5.3.1 Theo loại hình tài liệu

Kể từ khi được thành lập cho đến nay, Trung tâm đã luôn được quan tâm và đầu tư cho công tác bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin, nhằm đáp ứng nhu cầu

đa dạng và phong phú của NDT Hiện nay, Trung tâm đang trong giai đoạn triển khai nhiều hoạt động, có sự hỗ trợ về kinh phí của dự án The Global Fund cho phù

Trang 38

hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình nên nguồn lực thông tin của Trung tâm tương đối đa dạng và phong phú, phù hợp chuyên ngành thông tin thuốc và cảnh giác dược Được sự đầu tư về kinh phí, khai thác nhiều nguồn tài liệu khác nhau nên

cơ cấu nguồn lực thông tin đa dạng, nhiều tài liệu chuyên ngành y dược mới được cập nhật thường xuyên Bên cạnh đó, nhằm cung cấp thông tin một cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu của NDT, Trung tâm luôn đầu tư cho công tác bổ sung các nguồn thông tin chuyên ngành gần là dược lý – dược lâm sàng, các tài liệu về y học mới, những hướng dẫn điều trị được cập nhật liên tục, những tài liệu về thông tin thuốc mới nhất, những bộ tài liệu tra cứu về thông tin thuốc và cảnh giác dược cũng được cập nhật thường xuyên và liên tục

Bảng 1.1 Nguồn tư liệu của Trung tâm DI&ADR Quốc gia

(tính đến tháng 9/2016)

Loại hình tài

liệu Số tài liệu lượng

Thông tin thuốc Cảnh giác dược

Y học Dược lý –

Dược lâm sàng

Báo – Tạp chí 1547 Gồm 08 tạp chí chuyên ngành về y dược học Tài liệu tra cứu 11 bộ bản

giấy + cơ

sở dữ liệu online

08 bộ = 01

bộ tiếng việt + 07 bộ bản giấy + tài liệu tra cứu online

03 bộ bản giấy + tài liệu tra cứu online

Luận văn 110 Thuộc chuyên ngành Dược lý – Dược lâm sàng và

được thực hiện tại Trung tâm

Tài liệu hội

thảo, hội nghị,

tập huấn

183 Gồm tài liệu hội nghị, hội thảo do các bệnh viện,

công ty tổ chức, tài liệu của Trung tâm tổ chức và tài liệu các chuyến hội nghị hội thảo, tập huấn nước ngoài

Báo cáo ADR 47.243 Báo cáo tự nguyện từ các đơn vị y tế trên cả nước

1.5.3.2 Theo nội dung[25]

Nguồn tài liệu cập nhật thông tin thuốc

Trang web của các cơ quan quản lý dược phẩm trên thế giới và tại Việt Nam liên tục được cập nhật các thông tin về an toàn thuốc Đây là nguồn dữ liệu quan

Trang 39

trọng trong thực hành lâm sàng Địa chỉ và cách thức truy cập các trang web của một số cơ quan quản lý dược phẩm trên thế giới và tại Việt Nam được trình bày

trong Bảng 1.2

Tờ thông tin sản phẩm cũng là một nguồn cung cấp thông tin thuốc quan trọng và hữu ích được cơ quan quản lý dược phẩm của nhiều Quốc gia trên thế giới cấp phép Một số nước cho phép truy cập miễn phí cơ sở dữ liệu tờ thông tin sản phẩm như Châu Âu, Anh

Bản tin/tạp chí trong lĩnh vực cảnh giác dược

Bản tin/ tạp chí trong lĩnh vực cảnh giác dược kém cập nhật hơn so với các trang web của các cơ quan quản lý dược phẩm trên thế giới và tại Việt Nam Tuy nhiên, nguồn thông tin này giúp cán bộ y tế định kỳ tổng hợp và nắm bắt được dễ dàng các thông tin mới về an toàn thuốc Địa chỉ và cách thức truy cập của một số

bản tin/tạp chí trong lĩnh vực cảnh giác dược được trình bày trong Bảng 1.3

Các nguồn tài liệu cung cấp thông tin về phản ứng có hại của thuốc

Nguồn tra cứu thông tin chung và tài liệu chuyên khảo là nguồn tài liệu quan

trọng tra cứu thông tin về phản ứng có hại của thuốc Bảng 1.4

Trong trường hợp các phản ứng có hại chưa được liệt kê trong các sách/phần mềm tra cứu thông tin chung hoặc chuyên khảo về phản ứng có hại, việc tra cứu thêm thông tin từ các cơ sở dữ liệu về phản ứng có hại của Việt Nam và trên thế

giới có thể đem lại những thông tin hữu ích Bảng 1.5 cung cấp thêm địa chỉ để tra

cứu các nguồn thông tin về phản ứng có hại của thuốc

Cơ sở dữ liệu cung cấp kết quả các nghiên cứu khoa học

Kết quả của các nghiên cứu khoa học là nguồn tài liệu tài liệu phong phú và hữu ích, giúp cán bộ y tế tìm hiểu sâu hơn về cơ chế, yếu tố nguy cơ, tần suất, đặc điểm… của các phản ứng có hại của thuốc Địa chỉ truy cập của một số cơ sở dữ

liệu cung cấp kết quả các nghiên cứu khoa học được trình bày trong Bảng 1.6

Trang 40

Bảng 1.2 Địa chỉ truy cập của một số cơ quan quản lý dược phẩm

T

T

Tên Cơ quan Quản

lý Dược phẩm

Địa chỉ trang web Cách thức truy cập

1 Cục Quản lý Dược http://www.dav.gov.vn/ Vào mục Văn bản quản lý

Vào mục Tin trong nước

và Tin nước ngoài

4 Cơ quan quản lý Dược

Châu Âu (EMA)

http://www.ema.europa.eu Vào mục Latest news

5 Cơ quan quản lý Dược

agency

products-regulatory-Vào mục Drug and device alerts

7 Cơ quan quản lý Dược

communications → Alerts

→ Current year alerts

9 Cơ quan quản lý Dược

10 Cơ quan quản lý Dược

phẩm và Sản phẩm y

tế Singapore (HSA)

http://www.hsa.gov.sg/ Vào mục Health Products

Regulation → Safety Information and Product recalls

11 Cơ quan quản lý Dược

Ngày đăng: 03/11/2017, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w