Hệ số phát thải khí CO2 đối với các loại nhiên liệu sử dụng trong sản xuất gạch nung và gốm sứ của Hà Lan.... Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, ngành sản xuất gạch nung đóng góp một l
Trang 1Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm Cao học biến đổi khí hậu K3
Cán bộ hướng dẫn: TS Ngô Thị Lan Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua luận văn này tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Các khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học vừa qua
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới giáo viên hướng dẫn TS Ngô Thị Lan Phương - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên là người đã trực tiếp tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cám ơn tới các cán bộ của Viện NCPT Kinh tế - Xã hội Hà Nội, Chi cục Bảo vệ Môi trường trường Hà Nội và các cán bộ của Phòng Đô thị, Phòng Kinh tế các quận, huyện của thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi về phương tiện đi lại trong quá trình khảo sát, đo đạc đồng thời cung cấp tài liệu, góp phần giúp tôi hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu không dài, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế, vì vậy luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy
cô đóng góp ý kiến, cho nhận xét và tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thiện tốt luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2017
Học viên
Nguyễn Mạnh Thao
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Ngô Thị Lan Phương Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những
số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra,ng luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Tổng quan khí nhà kính 3
1.1.1 Khái niệm khí nhà kính 3
1.1.2 Nguyên nhân gây khí nhà kính 3
1.1.3 Tác động của phát thải khí nhà kính đến môi trường và con người 6
1.2 Tổng quan về đặc điểm khu vực nghiên cứu 7
1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 7
1.2.2 Đặc điểm khí hậu đất đai 11
1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 14
1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất gạch nung 19
1.3.1 Thế giới 19
1.3.2 Việt Nam 21
1.4 Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất gạch nung 25
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 29
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Nội dung, phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 32
2.2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Thực trạng sản xuất gạch nung trên địa bàn Thành phố Hà Nội 36
Trang 53.1.2 Công nghệ sản xuất 37
3.1.3 Sản phẩm 43
3.2 Kết quả đo đạc thực nghiệm tại các nhà máy sản xuất gạch nung 46
3.2.1 Lựa chọn các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung phục vụ công tác đo đạc thực nghiệm 46
3.2.2 Kết quả đo đạc thực nghiệm tại các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung 47
3.3 Đánh giá thực trạng phát thải khí nhà kính từ hoạt động sản xuất gạch nung trên địa bàn Thành phố Hà Nội 49
3.3.1 Tính toán hệ số phát thải của các khí nhà kính 49
3.3.2 Đánh giá thực trạng phát thải khí nhà kính của các nhà máy đƣợc lựa chọn 53
3.3.3 Đánh giá thực trạng phát thải khí nhà kính từ hoạt động sản xuất gạch nung trên địa bàn Thành phố Hà Nội 55
3.4 Dự báo lƣợng phát thải khí nhà kính trong thời gian tới 59
3.4.1 Cơ sở xây dựng các kịch bản 59
3.4.2 Các kịch bản phát triển đối với các nhà máy sản xuất gạch nung 63
3.4.3 Dự báo lƣợng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung 65
3.5 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất gạch nung trên địa bàn thành phố Hà Nội 70
3.5.1 Nhóm các giải pháp về quản lý 70
3.5.2 Nhóm các giải pháp về kinh tế 71
3.5.3 Nhóm các giải pháp về kỹ thuật 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
IPCC : Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH IEA : Cơ quan Năng lượng Quốc tế
BĐKH : Biến đổi khí hậu
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
BVMT : Bảo vệ môi trường
CNC : Công nghệ cao
GĐ : Giai đoạn
GRDP : Tổng sản phẩm trên địa bàn
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
KCN : Khu công nghiệp
KCNC : Khu công nghệ cao
LPG : Khí dầu mỏ hóa lỏng
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
VLXKN : Vật liệu xây không nung
VLXD : Vật liệu xây dựng
VSBK : Lò gạch liên tục kiểu đứng
CFC : Clorofluorocacbon
HCFC : Hydro-Chloroflurocarbons
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội 13
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn trong GĐ 5 năm 14
Bảng 1.3 Tổng hợp hoạt động ngành du lịch Thành phố Hà Nội GĐ 5 năm 17
Bảng 1.4 Tổng sản lượng gạch nung của Việt Nam giai đoạn 2000-2007 21
Bảng 1.5 Dự báo sản lượng gạch nung của Việt Nam đến năm 2020 21
Bảng 1.6 Hệ số phát thải khí CO2 đối với các loại nhiên liệu sử dụngtrong công nghiệp sản xuất và xây dựng 25
Bảng 1.7 Hệ số phát thải khí CO2 đối với các loại nhiên liệu sử dụng trong sản xuất gạch nung và gốm sứ của Hà Lan 26
Bảng 1.8 Hệ số phát thải khí CO2 đối với các loại nhiên liệu khác nhau trong sản xuất gạch nung của Trung Quốc 27
Bảng 1.9 So sánh lượng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở Trung Quốc, Ấn Độ, và Srilanka 27
Bảng 3.1 Tổng hợp các cơ sở sản xuất gạch sét nung trên địa bàn Hà Nội 36
Bảng 3.2 Các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung tiến hành đo đạc thực nghiệm 46
Bảng 3.3 Kết quả đo nồng độ CO2 và vận tốc khí thải ống khói các nhà máy sản xuất gạch nung theo công nghệ lò nung Tuynel 47
Bảng 3.4 Kết quả đo nồng độ CO2 và vận tốc khí thải ống khói cơ sở sản xuất gạch nung theo công nghệ VSBK 47
Bảng 3.5 Kết quả đo nồng độ CO2 và vận tốc khí thải ống khói cơ sở sản xuất gạch nung theo công nghệ Hoffman 48
Bảng 3.6 Kết quả tính toán hệ số phát thải khí CO2 cho các công nghệ lò nung, lượng phát thải khí CO2 của các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung 50
Bảng 3.7 Kết quả tính toán hệ số phát thải khí CO2 và lượng phát thải khí CO2 của nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung 52
Bảng 3.8 Hệ số phát thải trung bình đối với các loại lò (kg CO2/tấn sản phẩm) 55
Bảng 3.9 Tổng lượng phát thải CO2 ước tính đối với các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn thành phố Hà Nội 56
Trang 8Bảng 3.10 Tổng hợp dự báo lƣợng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung đến năm 2020 theo các kịch bản KB1, KB2, KB3 66 Bảng 3.11 Tổng hợp dự báo lƣợng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở thời điểm hiện nay và năm 2020 theo các số liệu quy hoạch phát triển VLXD68 Bảng 3.12 So sánh lƣợng phát thải CO2 giữa các kịch bản KB1, KB2, KB3 69
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ Hành chính Thành phố Hà Nội 10 Hình 1.2 Biểu đồ diễn biến nhiệt độ không khí tại trạm Láng giai đoạn 2006-2014 12 Hình 3.1 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của lò nung Tuynel 39 Hình 3.2 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của lò nung VSBK 41 Hình 3.3 Sơ đồ nguyên lý hoạt động của lò nung Hoffmann 43 Hình 3.4 So sánh hệ số phát thải khí CO2 theo số liệu điều tra, khảo sát và đo đạc thực nghiệm của các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung 54 Hình 3.5 So sánh lượng phát thải khí CO2 theo số liệu điều tra, khảo sát và đo đạc thực nghiệm của các nhà máy, cơ sở sản xuất gạch nung 54 Hình 3.6 Lượng phát thải khí CO2 theo công nghệ lò Tuynel giữa các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 57 Hình 3.7 Lượng phát thải khí CO2 theo công nghệ lò Hoffman giữa các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 57 Hình 3.8 Lượng phát thải khí CO2 theo công nghệ lò VSBK giữa các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 58 Hình 3.9 Tổng lượng phát thải khí CO2 giữa các quận, huyện trên địa bàn thành phố
Hà Nội 58
Hình 3.10 Lượng phát thải khí CO2 của cả nước và Hà Nội theo kịch bản KB1, KB2, KB3 69
Trang 10MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn của loài người -
đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội và môi trường toàn cầu Theo dự báo của Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC) trong những năm tới tại nhiều nơi trên thế giới sẽ phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất, cường độ của các hiện tượng này sẽ khắc nghiệt
và khốc liệt hơn
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến BĐKH nhưng nguyên nhân chính của BĐKH
là do phát thải khí nhà kính sinh ra chủ yếu từ các ho ạt động sản xuất công nghiệp của con người Các khí nhà kính (hơi nước, CO2, N2O, SO2 , CH4, O3, các khí CFC ) trong bầu khí quyển Trái đất đã và đang đặt ra một thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC), phát thải khí CO2 chiếm tới 77% tổng phát thải của tất cả các khí nhà kính Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), lĩnh vực sản xuất công nghiệp là một trong những nguồn chính phát thải khí CO2 Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, ngành sản xuất gạch nung đóng góp một lượng đáng
kể phát thải khí nhà kính vào bầu khí quyển do các ngành này tiêu thụ một lượng lớn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, )
Việt Nam là một trong những quốc gia được dự báo là sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất do BĐKH Do vậy việc nghiên cứu các nguồn phát thải khí nhà kính, các giải pháp giảm nhẹ, ứng phó với BĐKH đươ ̣c xem là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam Đây cũng được coi là nhiệm vụ ưu tiên trong các chính sách, định hướng phát triển của nước ta
Hà Nội là Thủ đô, trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước nhưng đồng thời cũng tập trung nhiều các ngành nghề sản xuất công nghiệp đã và đang gây ra những ảnh hưởng lớn tới môi trường và con người Theo Báo cáo tổng thể hiện trạng môi trường giai đoạn 5 năm (2011 – 2015), Hà Nội có 99.782 cơ sở sản xuất công nghiệp, 19 KCN và 01 KCNC được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Với
Trang 11số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp nhiều như vậy bên cạnh số lượng lớn các phương tiện giao thông, hoạt động sản xuất nông nghiệp,…, môi trường của Hà Nội đang phải chịu áp lực rất lớn đặc biệt do ô nhiễm không khí Đây cũng là nguyên nhân đưa một lượng lớn khí nhà kính vào bầu khí quyển, một trong những nguyên nhân chính gây ra BĐKH
Các cơ sở sản xuất gạch nung tập trung chủ yếu tại khu vực ngoại thành, công nghệ sản xuất vẫn còn thô sơ, trong quá trình sản xuất đã sử dụng nhiều nguồn nhiên liệu hoá thạch, tạo ra các khí nhà kính Viê ̣c nghiên cứu đánh giá hiê ̣n tra ̣ng phát thải khí nhà kính từ hoạt động này vẫn chưa được tiến hành một cách đầy đủ ,
do đó viê ̣c đánh giá mức phát thải hàng năm khí nhà kính từ hoa ̣t đô ̣ng này vẫn còn nhiều sự chênh lê ̣c Vì vậy vấn đề đặt ra là cần tiến hành nghiên cứu mức độ phát thải hay mức độ đóng góp các khí nhà kính tương ứng với các công nghệ của loại hình sản xuất này để từ đó đưa ra các khuyến nghị về giải pháp giảm thiểu nhằm hạn chế mức độ phát thải và các tác động của việc phát thải đến môi trường, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô theo hướng phát triển bền vững
Mục tiêu nghiên cứu :
- Đánh giá và dự báo được lượng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất gạch nung của Thành phố Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất gạch nung của Thành phố Hà Nội
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan khí nhà kính
1.1.1 Khái niệm khí nhà kính [1,2,7]
Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính
Những chất khí nhà kính tự nhiên chủ yếu trong khí quyển Trái đất gồm hơi nước, điôxit các bon, mêtan, ôxit nitơ và ôzôn Mặc dù chiếm trên 99,9% khối lượng khí quyển và đóng góp nhiều vào quá trình lí – hóa quan trọng của khí quyển, các chất khí nitơ, ôxy và argon không phải là khí nhà kính
Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC
- Thành phần của các khí nhà kính trong khí quyển
Thành phần hoá học của khí quyển gồm 78% là khí Nitrogen (N2), 21% là Oxygen (O2), 1% còn lại là các khí khác mà chủ yếu là các Khí nhà kính như Carbon dioxide (CO2), hơi nước, Nitrious Oxide (N2O), Methane (CH4), Ozone (O3)
Khí nhà kính trong 1% Khí quyển có thành phần như sau:
1.1.2 Nguyên nhân gây khí nhà kính [1,2,7]
Trước hết, phải khẳng định rằng, chính do những hoạt động hàng ngày của con người là nguyên nhân chính làm cho trái đất nóng lên Cùng với quá trình đô thị hoá nhanh chóng và sự gia tăng dân số, kéo theo đó là sự gia tăng các loại phương tiện giao thông, các nhà máy sản xuất, các khu công nghiệp, các chất thải đã thải
ra một lượng rất lớn khí CO2 vào bầu khí quyển Bên cạnh đó, nhiều diện tích rừng
Trang 13là nơi hấp thu khí CO2 lại bị chặt phá đến trơ trọi, dẫn đến CO2 càng ngày đầy Đồng thời, từ những hoạt động đó, hàm lượng các khí nhà kính trong khí quyển được tăng lên
Để đánh giá nguyên nhân gây khí nhà kính, ta xét theo nguyên nhân gây từng khí nhà kính chủ yếu, cụ thể như sau:
Hơi nước (H 2 O) là chất khí có đóng góp lớn nhất vào hiệu ứng nhà kính của
khí quyển, nhưng nó không phải là chất khí nhà kính nguy hiểm, vì lượng hơi nước
tự nhiên trong khí quyển biến đổi liên tục do hơi nước có thể ngưng tụ tạo thành mây và có thể cho mưa Tuy nhiên, hoạt động của con người cũng có ảnh hưởng trực tiếp, dù không đáng kể, đến lượng hơi nước trong khí quyển Nhưng con người
có thể gây ảnh hưởng gián tiếp, tác động tiềm tàng đáng kể đến lượng hơi nước do làm biến đổi khí hậu Chẳng hạn, không khí ấm hơn chứa nhiều hơi nước hơn Hoạt động của con người cũng có thể làm gia tăng lượng hơi nước thông qua phát thải
CH4, vì CH4 bị phân hủy do phản ứng hóa học trong tầng bình lưu, tạo ra một lượng nhỏ hơi nước
Điôxit cacbon (CO 2 ) là chất khí nhà kính quan trọng sau hơi nước Các quá
trình tự nhiên chủ yếu sinh ra và tiêu hao điôxit cacbon trong khí quyển bao gồm:
hô hấp của động, thực vật, quang hợp của thực vật; các quá trình trao đổi khí quyển – đại dương; hoạt động của núi lửa Hoạt động của con người làm gia tăng lượng điôxit cacbon chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chế tạo các loại máy sưởi, máy làm lạnh, sản xuất xi măng, phá rừng, thay đổi sử dụng đất, v.v
Mêtan (CH 4 ) là một chất khí tự nhiên cơ bản và là một nguồn năng lượng
quan trọng Tuổi thọ của mêtan trong khí quyển vào khoảng 9-15 năm Nếu so sánh khả năng gây hiệu ứng nhà kính của một phân tử thì mêtan lớn gấp 8 lần so với điôxit cacbon Nhưng do hàm lượng của mêtan trong khí quyển nhỏ hơn nhiều so với điôxit cacbon nên đóng góp tổng cộng của nó nhỏ hơn Mêtan được sinh ra do các quá trình tự nhiên như ở các vùng đầm lầy, ở đại dương, hoặc do hoạt động của con người như sản xuất nông nghiệp, lấp đất và ủ các khí tự nhiên, khai thác than, v.v
Trang 14Ôzôn (O 3 ) là chất khí liên tục được tạo ra và phân ly do các phản ứng hóa
học Trong tầng bình lưu trên tồn tại một lớp có hàm lượng ôzôn khá lớn có tác dụng hấp thụ bức xạ cực tím của mặt trời và đóng vai trò rất quan trọng trong cân bằng bức xạ của hệ thống khí hậu Lớp này được biết đến dưới tên gọi là tầng ôzôn Còn ôzôn trong tầng đối lưu và tầng bình lưu dưới là chất khí hấp thụ bức xạ sóng dài rất hiệu quả Trên thực tế người ta ước tính được khả năng gây hiệu ứng nhà kính của ôzôn lớn gấp 3000 lần ôxit cacbon Do đó, mặc dù hàm lượng ôzôn rất nhỏ, vai trò của nó đối với hiệu ứng nhà kính của khí quyển vẫn rất đáng kể Hoạt động của con người làm tăng ôzôn trong tầng đối lưu thông qua giải phóng các chất khí như ôxit cacbon, hydrocacbon và ôxit nitơ Các chất khí này tác dụng hóa học với nhau và tạo ra ôzôn
Ôxit Nitơ (N 2 O) cũng là một chất khí nhà kính quan trọng khác Ôxit nitơ tự
nhiên sinh ra do hoạt động của vi khuẩn, sự phóng điện trong khí quyển, đốt sinh khối do cháy rừng, cháy đồng cỏ, các quá trình tự nhiên trong đất và trong đại dương, v.v Mặc dù lượng ôxit nitơ sinh ra do hoạt động của con người không nhiều nhưng nó có khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ sóng dài nhiều hơn điôxit cacbon khoảng gần 300 lần Ước tính ôxit nitơ đóng góp khoảng 7% vào sự gia tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển
Ngoài ra, một số chất khí thuộc nhóm halo-cacbon (CFC, HCFC) chủ yếu là
do hoạt động của con người sinh ra, như chlorofluorocarbons (CFC-11 và CFC-12), hydro chlorofluorocarbons (HCFC) Các chất khí này được sử dụng khi sản xuất các thiết bị làm lạnh và trong các quá trình công nghiệp khác Sự có mặt của chúng trong khí quyển là một trong những nguyên nhân gây nên sự suy giảm ôzôn tầng bình lưu trên Tuy nhiên, sau khi có công ước quốc tế về bảo vệ tầng ôzôn, sự tăng lên của các chất này đã được kiểm soát
Khác với các chất khí nhà kính trên đây, sự có mặt của xon khí (aerosol)
trong khí quyển chủ yếu ảnh hưởng đến sự truyền bức xạ mặt trời Xon khí là những phần tử nhỏ trong khí quyển có kích thước, hàm lượng và hợp phần hóa học biến thiên rất lớn Xon khí có thể tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự truyền bức xạ
Trang 15mặt trời trong khí quyển Tác động trực tiếp của xon khí đến bức xạ mặt trời là làm thay đổi các thuộc tính quang học của khí quyển qua đó làm giảm lượng bức xạ mặt trời hấp thụ được của hệ thống khí hậu Tác động gián tiếp của xon khí là làm thay đổi các tính chất quang học và vi vật lí mây: Xon khí làm tăng hạt nhân ngưng kết dẫn đến làm tăng lượng mây, xon khí cũng làm giảm kích thước các hạt nước trong mây dẫn đến làm tăng ―tuổi thọ‖ của mây, kết quả là làm tăng albedo của mây, tức làm giảm lượng bức xạ mặt trời nhận được Ngoài ra, xon khí có thể hấp thụ bức xạ mặt trời, làm ấm mây dẫn đến làm giảm khả năng sinh giáng thủy và kéo dài hơn
―tuổi thọ‖ của mây Hiệu ứng này được gọi là tác động bán trực tiếp của xon khí
1.1.3 Tác động của phát thải khí nhà kính đến môi trường và con người
1.1.3.1 Tác động tích cực
- Nếu không có hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trên Trái Đất sẽ chỉ là 15oC – một nhiệt độ mà không phải bất kì sinh vật nào trên hành tinh này cũng có thể thích nghi được, nhưng nhờ có hiệu ứng nhà kính, mà nhiệt độ trên Trái Đất được nâng lên, tạo điều kiện thích hợp cho các sinh vật phát triển
- Hiệu ứng nhà kính cũng được các nhà khoa học sử dụng như một nguồn cung cấp năng lượng, bằng cách đặt các hộp thu phẳng trong các nhà kính, để hấp thu nhiệt lượng trong đó, nhiệt độ có thể đạt được trên 150oC, ứng dụng để đun nước, thiết bị sấy, bếp Mặt Trời
- Người ta thường trồng các loại hoa, rau quả trong các nhà kính, để nhờ hơi
ấm trong đó mà cây cối cho thể nhanh chóng đâm chồi, nảy lộc
1.1.3.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, thì hiệu ứng nhà kính, hay nói chính xác hơn là những hoạt động làm tăng hàm lượng khí nhà kính trong khí quyển lên, đã tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực, mà cụ thể là làm cho Trái Đất nóng dần lên kéo theo những hệ quả khôn lường như:
- Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên
- Tăng lượng mây bao phủ quanh trái đất
- Tăng nhiệt độ của đại dương
Trang 16- Băng ở hai cực tan ra và mực nước biển dâng cao làm cho nhiều vùng sản xuất lương thực, các khu đông dân cư, các đồng bằng lớn, nhiều đảo thấp sẽ bị chìm dưới nước biển
- Làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các sinh vật trên trái đất, làm biến đổi nhịp sinh học
- Khí hậu trái đất sẽ bị biến đổi sâu sắc,các đới khí hậu có xu hướng thay đổi
- Nhiều vùng đất bị sa mạc hóa
- Hạn hán kéo dài, cháy rừng diễn ra thường xuyên hơn
- Nhiều bệnh tật mới xuất hiện, sức khỏe con người suy giảm
Từ đó, thấy rằng, hiệu ứng nhà kính nhân loại làm cho khí hậu nóng dần lên, gây mất cân bằng sinh thái, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và các hoạt động sống của toàn nhân loại
1.2 Tổng quan về đặc điểm khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hà Nội có tọa độ địa lý từ 20°53' đến 21°23' độ vĩ Bắc và 105°44' đến 106°02' độ kinh Đông, tại vị trí trung tâm Thành phố là 21°05’ vĩ độ Bắc và 105°87’ độ kinh Đông; trong vùng tam giác châu thổ sông Hồng (nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng)
Tổng diện tích đất tự nhiên của Thủ đô là 332.452,39 ha, nằm ở cả hai bên
bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn Hà Nội nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, tiếp giáp với 8 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc; Bắc Giang - phía Đông Bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên - phía Đông; Hà Nam ở phía Nam, Hòa Bình - Tây Nam, Phú Thọ - phía Tây; Vĩnh Phúc - phía Tây Bắc
Tính đến năm 2015, Thành phố Hà Nội được tổ chức thành 30 đơn vị hành chính cấp quận/huyện (gồm 12 quận, 01 thị xã và 17 huyện); tổng số xã/phường/thị trấn trên địa bàn Thành phố là: 584 (thêm 7 đơn vị hành chính so với cuối năm 2013) [6,8]
Trang 171.2.1.2 Địa hình
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển; địa hình đa dạng, bao gồm vùng núi cao, vùng đồi thấp và vùng đồng bằng thấp trũng
Vùng núi cao có cao độ thay đổi từ 300 m đến 1.000 m Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức Vùng đồi thấp tập trung chủ yếu ở khu vực phía Tây và Tây Nam Hà Nội với diện tích trên 53 nghìn ha, chủ yếu có cao độ từ 30 m đến 300 m Vùng đồng bằng của
Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là địa hình đồng bằng (chiếm đến ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội) [6,8]
1.2.1.3 Hệ thống thủy văn
- Mạng lưới sông
Thành phố Hà Nội gồm 10 con sông chính chảy qua và nhiều hệ thống sông nhỏ là phụ lưu Trong đó, Sông Hồng là con sông lớn nhất chảy qua Thủ đô Hà Nội
Sông Hồng bắt đầu chảy vào Hà Nội ở xã Phong Vân, huyện Ba Vì và ra
khỏi Thủ đô ở khu vực xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, tiếp giáp tỉnh Hưng Yên
Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km Ngoài ra, Hà Nội còn có đoạn sông
Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc,
tại huyện Ba Vì
Sông Đáy còn có tên Hát Giang, dài 237 km, bắt đầu từ cửa Hát Môn (huyện
Phúc Thọ) chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và đổ ra biển tại cửa Đáy (huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình); đoạn chảy qua thành phố Hà Nội có chiều dài 74km
Sông Đuống là phân lưu của sông Hồng, dài 65km, nối liền hai con sông lớn
của miền Bắc là sông Hồng và sông Thái Bình Đoạn chảy qua Hà Nội dài 17,5km
Sông Cà Lồ trước kia là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung Hà,
huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, cách sông Hồng tới 3km Sông Cà Lồ còn có tên là sông Phù Lỗ là ranh giới giữa huyện Sóc Sơn với các huyện Mê Linh, Đông Anh và Hiệp Hòa (Bắc Giang)
Trang 18Sông Tích bắt nguồn từ sườn phía Đông Bắc núi Ba Vì đổ xuống giữa hai xã
Cẩm Lĩnh và Thụy An Về đến Xuân Mai (Chương Mỹ), sông Tích gặp sông Bùi từ Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) đổ vào và đoạn này cũng gọi là sông Bùi
Sông Nhuệ: lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc, tổng chiều dài là
74km (đoạn chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội khoảng 62 Km từ Liên Mạc, Từ Liêm (nay là Quận Bắc Từ Liêm) đến xã Châu Can – Huyện Phú Xuyên Lưu vực sông Nhuệ có hướng dốc từ Bắc xuống Nam là nguồn cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và thoát nước của thành phố
Sông Tô Lịch: bắt nguồn từ cống Phan Đình Phùng, phường Nghĩa Đô, quận
Cầu Giấy; chảy cùng hướng với đường Bưởi, đường Láng và đường Kim Giang về phía Nam, Tây Nam rồi ngoặt sang phía Đông Nam, qua đập Thanh Liệt, huyện Thanh Trì và đổ vào sông Nhuệ Sông chỉ còn dài 14,6 km, là dòng thoát nước thải của Thủ đô, hiện sông đang bị ô nhiễm nặng
Trang 19Hình 0.1: Bản đồ Hành chính Thành phố Hà Nội
(Nguồn: Sở TNMT Hà Nội, 2015)
Trang 20Sông Kim Ngưu dài khoảng 12 km, bắt nguồn từ cống Lò Đúc (quận Hai Bà
Trưng), chảy song song với đường Kim Ngưu, đường Tam Trinh và nhập với sông Sét tại Giáp Nhị, nhập với sông Lừ trước khi chảy đến đập Thanh Liệt (huyện Thanh Trì)
Sông Lừ hay sông Nam Đồng, dài khoảng 5,8 km, vốn là một nhánh của
sông Tô Lịch từ phường Yên Lãng chảy theo đường La Thành qua cống Nam Đồng, Phương Liệt (quận Đống Đa) tới xã Thịnh Liệt đổ vào sông Tô Lịch tại cầu Sơn, một nhánh khác của sông chảy về Thường Tín (với một lưu lượng nhỏ)
Sông Sét dài khoảng 5,9 km, rộng 10 - 30 m, sâu 3 - 4 m, bắt nguồn từ cống
Bà Triệu, hồ Bảy Mẫu trong Công viên Thống Nhất (quận Hai Bà Trưng), chảy theo hướng Bắc-Nam và đổ vào hồ Yên Sở (quận Hoàng Mai) Khi đi qua Giáp Bát, sông Sét nhận nước từ một phân lưu của sông Lừ từ Phương Liên chảy sang rồi đổ vào sông Kim Ngưu ở Giáp Nhị
tạo (chiếm khoảng gần 2/3 trong tổng số 111 hồ/ao ở Hà Nội) [6,8]
1.2.2 Đặc điểm khí hậu đất đai
1.2.2.1 Đặc trưng khí hậu
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Đồng bằng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm biến tính, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa
- Nhiệt độ
Trang 21Mùa nóng từ tháng 5 tới
tháng 9, kèm theo mưa nhiều,
nhiệt độ trung bình 28,1°C Từ
tháng 11 tới tháng 3 năm sau là
khí hậu của mùa đông với nhiệt
độ trung bình 18,6°C Cùng với
hai thời kỳ chuyển tiếp vào
tháng 4 và tháng 10 đã tạo ra
đặc điểm khí hậu đặc trưng của
Thủ đô Hà Nội với 4 mùa:
Xuân, Hạ, Thu và Đông
Hình 0.2: Biểu đồ diễn biến nhiệt độ không khí tại trạm Láng giai đoạn 2006-2014
(Nguồn: Trung tâm KTTV Quốc gia, 2015)
- Độ ẩm và lượng mưa
Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 139 ngày mưa một năm Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó, lượng mưa trung bình lớn nhất là vào tháng 7 (lên đến 550,5 mm - năm 2009)
- Chế độ gió
Hà Nội có 2 hướng gió chủ đạo, đó là gió Đông Bắc (thổi vào mùa Đông) và gió Đông Nam (thổi vào mùa Hè)
- Chế độ nắng
Khu vực Hà Nội nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng bức
xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 105 - 120 Kcal/cm2 và có số giờ nắng thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1.000 – 1.650 giờ/năm, trong đó tháng 6 có số giờ nắng nhiều nhất đạt 200 - 220 giờ/tháng và tháng 1, 2 có số giờ nắng ít nhất khoảng 25 -
Trang 22- Nhóm đất phi nông nghiệp: 137.692,78 ha, chiếm: 41,42% so với diện tích
Bảng 0.1 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội
(ha)
Tỷ lệ (%)
Ghi chú
1 Nhóm đất nông nghiệp 187.151,60 56,29
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 150.683,30 80,51
So với đất nông nghiệp
26,53 So với đất phi nông
nghiệp 2.2 Đất chuyên dùng 70.519,55 51,22
Trang 231.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế [6,8]
Trong GĐ 5 năm vừa qua (từ năm 2010 – 2015), tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GRDP) tăng dần vào 2 năm cuối chu kỳ, từ 8,1% (2012) lên 8,8% (2014) và tăng 7,8% (6 tháng đầu năm 2015) - mức tăng cao nhất trong 4 năm gần đây Các ngành đều có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng
so với năm 2014 Trong 3 nhóm ngành kinh tế chủ đạo, ngành Dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành (10,04%), tiếp đến là nhóm ngành Công nghiệp – Xây dựng (9,11%) và cuối cùng là nhóm ngành Nông – lâm – thủy sản (3,29%)
Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm trên địa bàn trong GĐ 5 năm
năm, Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2015
1.2.3.2 Phát triển công nghiệp [6,8]
Khái quát về diễn biến các hoạt động ngành công nghiệp- xây dựng
Tốc độ phát triển Nhóm ngành công nghiệp – xây dựng giảm dần vào đầu chu kỳ và tăng dần vào các năm cuối chu kỳ Tốc độ tăng trưởng đạt 11,6% (2010) giảm xuống còn 7,57% (2013) và tăng dần lên 8,5% (2014) Mức đóng góp của Ngành vào mức tăng trưởng chung của tổng sản phẩm trên địa bàn Th ành phố (GRDP) trong giai đoạn 2010-2015 dao động từ 3,21%- 5,0%;
Khái quát tác động của phát triển công nghiệp đối với môi trường
- Tác động của phát triển các KCN, CCN
Hiện nay trên địa bàn Thành phố đã có 7/8 KCN đã đi vào hoạt động có trạm
xử lý nước thải tập trung được vận hành, nước thải đầu ra đã đáp ứng theo các QCVN trước khi thải vào môi trường; còn KCN Sài Đồng B trạm xử lý nước thải
Trang 24vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm Các KCN, các điểm sản xuất công nghiệp tập trung được xây dựng trong giai đoạn trước (Mai Động, Diễn, Thượng Đình, ) hiện đang là những nguồn gây ô nhiễm cho môi trường không khí, môi trường nước của Thành phố, do nằm trong khu vực dân cư tập trung, quy hoạch hạ tầng không đồng bộ , việc kiểm soát ô nhiễm trong các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ bên ngoài KCN, CCN chưa triệt để là những nguyên nhân dẫn đến việc ô nhiễm môi trường của các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung
- Tác động của phát triển các làng nghề
Hiện nay, cả nước có 52 nghề thủ công truyền thống thì thành phố Hà Nội có
47 nghề, chiếm 90% số nghề truyền thống của cả nước, các nghề được phân bố khắp các quận, huyện, thị xã của thành phố Tổng số làng nghề và làng có nghề lên tới 1.350 làng, trong đó có 286 làng nghề được công nhận
Tuy nhiên, nhiều làng nghề chưa quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho BVMT Cạnh tranh trong một số loại hình sản xuất đã thúc đẩy một số làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất mà không đầu tư cho kỹ thuật BVMT Vì vậy, nhiều cơ sở sản xuất trong làng nghề không có hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Nhiều làng nghề không có đủ cơ sở hạ tầng
kỹ thuật để thu gom và xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường Đây là một thách thức lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tại các làng nghề mà vẫn đảm bảo
an toàn môi trường
1.2.3.3 Phát triển giao thông vận tải [6,8]
Khái quát về diễn biến các hoạt động và áp lực của ngành
Trong GĐ 5 năm: tỷ lệ đất dành cho giao thông tăng thêm từ 0,3% – 0,5% mỗi năm, dự kiến đến hết năm 2015 tỷ lệ đất dành cho giao thông đạt 8,5 – 9% đất xây dựng đô thị; trong đó tỷ lệ đất dành cho giao thông tĩnh chiếm 5% quỹ đất Phát triển thêm 12 tuyến xe buýt (từ 65 tuyến lên 77 tuyến) So với đầu chu kỳ (2011), khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng gấp 4,2 lần, khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng gấp 4,47 lần; doanh thu vận chuyển hàng hoá tăng gấp 2,52 lần; khối lượng
hành khách vận chuyển tăng gấp 1,15 lần
Trang 25Trong giai đoạn này, cũng đã hoàn thành nhiều tuyến đường cao tốc, quốc lộ, trục hướng tâm quan trọng như: QL32 (đoạn Diễn – Nhổn); đường Nhật Tân – Nội Bài; đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên; đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai; QL1A
cũ (đoạn Cầu Chui – Cầu Đuống); QL5 kéo dài và một số tuyến đường chính kết nối trong nội đô
Khái quát tác động của phát triển giao thông vận tải tới môi trường
Quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông (đường, cầu, cống, ) sẽ kéo theo các nguy cơ về ô nhiễm bụi, ô nhiễm môi trường không khí do khí thải của các phương tiện thi công, phát sinh các chất thải xây dựng và ô nhiễm cảnh quan do quá trình xây dựng
Sự gia tăng của các phương tiện giao thông trong điều kiện cơ sở hạ tầng có hạn sẽ gây ra hiện tượng ùn tắc giao thông trên các tuyến đường trọng yếu và tại các giao lộ, làm phát sinh tiếng ồn, bụi và các chất khí độc hại, tác động tới sức khỏe cộng đồng và làm giảm sự trong lành của khí quyển Theo thống kê, ở Hà Nội hiện nay có khoàng 40 điểm thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông trong giờ cao điểm Khi ùn tắc, mức độ ô nhiễm hơi xăng dầu có thể tăng gấp 4-5 lần so với lúc bình thường
1.2.3.4 Phát triển nông nghiệp [6,8]
Khái quát về diễn biến các hoạt động và áp lực của ngành
Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố đang có xu hướng tăng dần Tốc độ phát triển Nhóm ngành nông – lâm - thủy sản tăng dần vào các năm cuối chu kỳ, đạt 2,0% (2014), tăng lên 2,8% (6 tháng đầu năm 2015) Mức đóng góp vào mức tăng trưởng chung của tổng sản phẩm trên địa bàn Thành phố (GRDP) của Nhóm Ngành nông – lâm - thủy sản trong GĐ 5 năm vừa qua dao động từ 0,1% - 0,5%
Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Trong GĐ 5 năm, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng bình quân 2,1%/năm, trong đó ngành trồng trọt tăng bình quân 0,36%/năm, ngành chăn nuôi tăng 3,38%/năm, thủy sản tăng 4,21%/năm, dịch vụ nông nghiệp tăng 1,4%
Trang 26Khái quát tác động của phát triển nông nghiệp đối với môi trường
Việc sử dụng không đúng quy trình, liều lượng hoá chất bảo vệ thực vật và lạm dụng phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến sự tồn lưu một lượng rất lớn hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường, đặc biệt là môi trường đất và trong các sản phẩm nông nghiệp; gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất đặc biệt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người tiêu dùng
1.2.3.5 Phát triển du lịch [6,8]
Khái quát về diễn biến các hoạt động và áp lực của ngành
Khái quát diễn biến hoạt động ngành du lịch GĐ 5 năm được thống kê trong Bảng sau:
Bảng 1.3: Tổng hợp hoạt động ngành du lịch Thành phố Hà Nội GĐ 5 năm
(Nguồn: Cục thống kê Thành phố Hà Nội)
Khái quát tác động của phát triển du lịch đối với môi trường
Việc xây dựng cơ sở lưu trú du lịch sẽ kéo theo những tác hại như: ảnh hưởng nguồn nước, gây tiếng ồn, phá vỡ cảnh quan, tạo rác thải, nước thải
Lượng khách du lịch trung bình tăng, tỉ lệ thuận với một số tác động của kinh doanh lưu trú du lịch đến môi trường như: tiêu thụ tài nguyên, tạo chất thải, phát sinh tiếng ồn, phát thải nhiệt
Trang 271.2.3.6 Phát triển xây dựng [6,8]
Khái quát về áp lực của ngành
Theo Quyết định 1081/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với quan điểm xây dựng và phát triển Thủ đô thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước
- Xây mới và mở rộng 15 khu công nghiệp
- Mở rộng, kết hợp xây mới các trục chính đô thị
- Phát triển nhanh các đô thị vệ tinh
- Khu vực ngoại thành hình thành các vành đai cây xanh
Kết quả hoạt động của ngành
Tốc độ đô thị hoá trung bình của Hà Nội trong GĐ 5 năm trung bình là 3,8%/năm Đến hết năm 2015, dự kiến tỷ lệ đô thị hoá của Hà Nội 38,01%
Khái quát tác động của phát triển xây dựng lên môi trường
1 Ô nhiễm tiếng ồn trong xây dựng là vấn đề bị người dân phản ánh nhiều nhất và thường xảy ra Nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn tại công trường thi công, bao gồm: máy xúc, máy ủi, máy ép cọc, máy cắt…
2 Bụi xây dựng chủ yếu được tạo ra bởi một số hoạt động: đào xới đất tại công trường thi công, xử lý và vận chuyển, chôn lấp, đào đất làm đường; vật liệu xây dựng (vôi, xi măng, cát, sỏi, gạch…); bụi từ rác thải thi công; bụi tạo ra trong quá trình xe qua lại công trường
3 Rác thải xây dựng chủ yếu là những nguyên vật liệu thải bỏ, bao bì nguyên liệu xây dựng và bán thành phẩm xây dựng Rác thải xây dựng được thải ra với số lượng lớn, trên diện tích rộng, có mức độ ảnh hưởng lớn, nếu không được xử lý; đồng thời gây ảnh hưởng xấu tới cảnh quan thành phố
4 Khí thải trong xây dựng chủ yếu được thải ra từ vật liệu trang trí xây dựng như: sơn phủ, sơn trang trí… do các khí thải này mang theo nhiều loại chất gây ô nhiễm, có độc tính cao, thường được sản sinh ra tại những khu vực có lượng dân cư
Trang 28đông đúc, khả năng thông gió kém, nên gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe con người
5 Nước thải trong xây dựng được thải ra chủ yếu từ các giếng nước ngầm nhân tạo, nước bùn thải khi thi công móng cọc, nước thải trong quá trình bảo dưỡng
bê tông, nước thải từ thiết bị thí nghiệm thủy lực và nước thải sinh hoạt từ các công nhân thi công… Các chất thải này lắng xuống đáy cống, lâu ngày sẽ làm cho hệ thống thoát nước bị tắc nghẽn, gây ô nhiễm môi trường nước
1.3 Tổng quan về hoạt động sản xuất gạch nung
là ở Bỉ (0,29 m3/người), tiếp đó là Tây Ban Nha (0,28 m3/người), Italia (0,26
m3/người), Áo (0,24 m3/người), Đức (0,17 m3/người), Thụy Sỹ (0,08 m3/người) Ở các nước khác, sản lượng sản xuất gạch thấp hơn
Các loại gạch lỗ là dạng sản phẩm chính ở các nước Áo (chiếm 97%), Đức (chiếm 87%); trong khi đó các loại gạch đặc là dạng sản phẩm chính ở các nước Hà Lan (chiếm 94%), Anh (chiếm 82%), và Đan Mạch (chiếm 85%) Các loại gach rỗng được sản xuất nhiều ở các nước Pháp (chiếm 63%) và Italia (chiếm 62%) [18]
Ngành công nghiệp sản xuất gạch cũng là một trong những ngành tiêu thụ một lượng năng lượng lớn, chủ yếu là bởi các công đoạn sấy khô và nung ở nhiệt độ
800 – 2000oC Các loại nhiên liệu sử dụng để cung cấp năng lượng cho các quá trình sấy khô và nung là khí tự nhiên, khí hóa lỏng (LPG), dầu, sinh khối, than, điện Khí tự nhiên, dầu, và than hiện nay được sử dụng phổ biến nhất như là loại nhiên liệu cho lò nung Ngoài ra, các loại thiết bị, máy móc hòa trộn, chế biến nguyên vật liệu, tạo hình sản phẩm cũng tiêu tốn năng lượng điện Các loại nhiên
Trang 29liệu như dầu diesel, LPG được sử dụng cho các thiết bị, máy móc vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm tại khu vực nhà máy sản xuất Tùy thuộc vào đặc tính của nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, loại hình sản phẩm, và loại công nghệ lò sấy, lò nung mà chi phí năng lượng có thể chiếm 17-30% tổng chi phí sản xuất Mỗi loại hình sản phẩm tiêu thụ lượng năng lượng khác nhau do yêu cầu quá trình nung với các thông số kỹ thuật khác nhau Ví dụ, ở một số nước châu Âu như Áo, Đức, Italia, năng lượng tiêu thụ cho sản xuất gạch nhẹ tương đối thấp, khoảng 1,1 – 1,9 GJ/tấn sản phẩm; trong khi đó năng lượng tiêu thụ cho sản xuất gạch ốp ngoài là 2,5 – 2,7 GJ/tấn sản phẩm do loại gạch này có mật độ cao hơn và yêu cầu nhiệt độ nung cũng cao hơn
Các loại hình công nghệ lò nung sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất gạch rất đa dạng, phụ thuộc chủ yếu vào yêu cầu cụ thể của các loại sản phẩm và đặc tính của vật liệu thô được sử dụng Ví dụ các loại lò nung liên tục và các loại lò nung gián đoạn có thể được sử dụng để nung cùng hoặc các loại sản phẩm gạch khác nhau Có rất nhiều kiểu lò nung khác nhau được sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm gạch nung tùy thuộc vào mức độ phát triển của mỗi quốc gia Ở các nước đang phát triển, các dạng lò nung gián đoạn như lò vòng, lò hình khuyên, lò Hoffman với nhiên liệu chính là than, gỗ, phụ phẩm nông nghiệp được
sử dụng phổ biến; các lò nung thường có quy mô nhỏ, với phương thức sản suất thủ công Còn tại các nước phát triển, công nghệ sử dụng tiên tiến hơn, lò nung Tuynel được dùng phổ biến nhất, với nhiên liệu chính là khí tự nhiên và dầu Đối với lò nung gián đoạn, gạch mộc sau khi phơi khô được xếp vào lò, nhiên liệu được đưa trực tiếp vào buồng đốt hoặc đưa vào qua cửa đốt ở phía bên hông của lò Buồng đốt sau đó được gia nhiệt để sấy khô, đốt và nung gạch Gạch sau khi nung được để trong buồng đốt cho nguội dần Các lò nung gián đoạn tiêu thụ một lượng năng lượng lớn, khoảng 3,4-10,4 GJ/tấn sản phẩm Đối với lò nung Tuynel, gạch mộc sau khi phơi khô được chất trên các xe goòng và lần lượt di chuyển qua lò sấy (nhiệt khí thải lò nung được tái sử dụng cho lò sấy) rồi đi vào lò nung Xe goòng di chuyển với tốc độ xác định qua các vùng có nhiệt độ khác nhau của lò nung: vùng sấy và
Trang 30vùng đốt, vùng nung, vùng làm nguội Các lò nung Tuynel tiêu thụ ít năng lượng hơn so với lò nung gián đoạn, khoảng 2,1 – 4,4 GJ/tấn sản phẩm Hiệu quả sử dụng năng lượng của lò nung Tuynel có quy mô lớn cao hơn so với lò nung Tuynel có quy mô nhỏ Hiện nay, quá trình vận hành của lò nung Tuynel đã được tự động hóa cao và lò nung Tuynel được đánh giá thích hợp cho điều kiện sản xuất công nghiệp
và quy mô lớn Các lò nung Tuynel hiện đại tiêu thụ một lượng năng lượng thấp hơn 20% so với các lò nung Tuynel cũ trước đây
1.3.2 Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực xây dựng bao gồm cả xây dựng công nghiệp và xây dựng dân dụng, ngành công nghiệp sản xuất gạch nung cũng có sự phát triển không ngừng Bên cạnh những lò gạch nung thủ công cũ và mới xây dựng, thêm nhiều doanh nghiệp lớn cũng được thành lập trong lĩnh vực này
Theo số liệu báo cáo của Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam, sản lượng gạch nung trong giai đoạn 2000 – 2007 của Việt Nam đã liên tục gia tăng và được dự báo
là sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới
Bảng 1.4 Tổng sản lượng gạch nung của Việt Nam giai đoạn 2000-2007
Bảng 1.5 Dự báo sản lượng gạch nung của Việt Nam đến năm 2020
Trang 31các cơ sở sản xuất trên 110 triệu viên gạch nung các loại, tiêu biểu là các tỉnh miền Đông Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh Tây Bắc…Tuy nhiên, thực trạng đang diễn ra thường xuyên, đó là gạch nung sản xuất theo quy trình công nghệ
cũ, lạc hậu Đa số các lò gạch được sử dụng đều là lò thủ công, chỉ dùng than đá và củi để đốt Sản xuất gạch nung thủ công và ô nhiễm môi trường là 2 vấn đề luôn song hành với nhau Vấn đề ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch nung thủ công là vấn đề bức xúc đối với nhân dân nhiều địa phương như Khoái Châu, Kim Động (Hưng Yên); Hưng Hà (Thái Bình); Duy Tiên (Hà Nam) và nhiều địa phương khác Tuy nhiên do nhu cầu về công ăn việc làm, trên hết là lợi nhuận nên các lò gạch thủ công vẫn tồn tại Được biết, trung bình chi phí xây mỗi vỏ lò thường mất
từ 300 – 500 triệu đồng, tuỳ thuộc quy mô lò to hay nhỏ Riêng tiền tu sửa vỏ lò hàng năm cũng mất tới 50 – 70 triệu đồng, thậm chí cả trăm triệu đồng Do mức chi phí đầu tư lớn như vậy nên bất chấp quy định của địa phương, hàng năm, vào thời điểm cấm, các chủ lò vẫn tự ý đốt 1 hoặc 2 khói Nếu bị phát hiện vi phạm, theo mức xử phạt hành chính, các chủ lò sẽ bị phạt nặng nhất là từ 20 – 30 triệu đồng/lần đốt Số tiền phạt này vẫn còn thấp so với lợi nhuận họ thu được từ hàng chục vạn gạch ra lò Nhiều chủ lò cho biết: Do lợi nhuận của việc đốt gạch rất cao nên chấp nhận nộp phạt để được đốt còn hơn để lò thành phế phẩm Nếu không đốt, vỏ lò hỏng, chi phí xây lại hoặc sửa lò sẽ ngốn tới cả trăm triệu đồng Rõ ràng, vì lợi ích kinh tế, họ sẵn sàng chịu nộp phạt
Nhận thấy sự tác động không nhỏ của việc đốt lò gạch thủ công dẫn tới ô nhiễm môi trường, gây hại cho sức khỏe con người, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, hoa màu, thậm chí việc khai thác nguyên liệu làm gạch dẫn đến vi phạm qui định bảo vệ đê điều… Chính phủ đã có chủ trương quyết định xóa bỏ lò gạch thủ công vào năm 2010 Thực hiện Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2010 cả nước chấm dứt hoàn toàn hoạt động của các lò gạch thủ công Những năm qua, các địa phương đã dần xoá bỏ lò gạch thủ công, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn vào thời điểm 31/12/2009 Thực hiện chủ trương của Chính phủ các địa phương cũng đã có những qui định cụ thể và kiên quyết trong vấn đề này
Trang 32như cấm đốt gạch trong thời gian sản xuất nông nghiệp; cấm đốt gạch, khai thác đất
ở những khu vực gần dân cư, hành lang bảo vệ đê điều… Tuy nhiên, để xóa bỏ hoàn toàn hoạt động của các lò thủ công là vấn đề không đơn giản Ví dụ, ở tỉnh Bắc Giang cho đến thời điểm năm 2009 vẫn còn có hơn 2.500 lò gạch thủ công các loại, tập trung phần lớn ở các huyện Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa, Tân Yên, Lục Nam, Lạng Giang Tại Hà Nội, cuối năm 2012 trên địa bàn toàn thành phố vẫn còn tồn tại khoảng hơn 1.000 lò gạch thủ công Sau khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, công tác quản lý nhà nước về đầu tư, sản xuất gạch nung nung trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn, thiếu sự thống nhất phối hợp giữa các sở, ngành, quận huyện, thị xã Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Thế Hùng cho biết, qua thực tế kiểm tra, rà soát từ năm 2009 đến 2012 cho thấy tình trạng sản xuất gạch, ngói, đất sét nung trên địa bàn thành phố còn rất nhiều bất cập, đặc biệt việc xóa bỏ sản xuất gạch nung nung bằng lò thủ công gây ô nhiễm môi trường chưa được các địa phương nghiêm túc thực hiện; vật liệu nung "sạch" chưa phát triển, chưa đủ để thay thế toàn bộ vật liệu nung truyền thống… Có thể nói, hoạt động sản xuất gạch, ngói thủ công trong những năm qua đã góp phần bình ổn giá VLXD trên thị trường, qua
đó, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động tại các địa phương Theo khảo sát, trung bình mỗi lò gạch thủ công cần từ 30 -
40 lao động thường xuyên, những lao động này là lao động có thu nhập chính cho gia đình Xoá bỏ các lò gạch thủ công là chủ trương đúng nhưng bài toán hậu dỡ bỏ phải được các địa phương tính đến, đó là kế hoạch ổn định kinh tế, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân các vùng quê thuần nông vốn chủ yếu sống nhờ lò gạch Đây vẫn đang là điều nan giải đối với nhiều địa phương Do đó Nhà nước cần tiếp tục có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các cơ sở sản xuất hợp tác, đầu tư công nghệ, chuyển đổi sang phương thức lò đứng, lò nung tuy nel, khai thác hợp lý và có kế hoạch nguồn nguyên liệu, góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ nhân dân Việc kiên quyết giải toả, tháo dỡ và dừng hẳn các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, thất thoát tài nguyên đất đai là chủ trương đúng, tạo tiền đề để thực hiện có hiệu quả chiến lược quy hoạch và phát triển ngành sản xuất VLXD
Trang 33theo hướng bền vững và hiện đại Hiện nay đã có 8 tỉnh đã xây dựng lộ trình xóa bỏ
lò gạch thủ công, lò thủ công cải tiến, lò vòng sử dụng nhiên liệu hóa thạch trình Bộ Xây dựng thẩm định và ban hành là các tỉnh: Kon Tum, Quảng Ngãi, Bến Tre, Bắc Ninh, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Dak Nông và Lào Cai
Trong 1-2 năm gần đây, xu hướng phát triển lò Tuynel ở các địa phương tăng; ở các tỉnh đồng bằng và thành phố các lò thủ công có xu hướng giảm, có một
số tỉnh tới thời điểm này lượng lò đứng thủ công còn rất ít Nhiều tỉnh đã xây dựng phương án dừng sản xuất gạch bằng lò thủ công, tăng sản lượng sản xuất gạch nung bằng lò Tuynel như: Đồng Nai, Thái Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh
Ngay sau khi Quyết định 567 ngày 28/4/2010 phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 được ban hành, Bộ Xây dựng tổ chức phổ biến Chương trình trên phạm vi cả nước, nhiều địa phương đã ban hành văn bản triển khai Chương trình; có 2 tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai chương trình là tỉnh Thái Bình và Hải Dương Một số địa phương đã tiến hành xây dựng Quy hoạch phát triển vật liệu xây không nung (VLXKN), hoặc điều chỉnh Quy hoạch phát triển VLXD của địa phương trong đó đã xây dựng kế hoạch phát triển VLXKN, hạn chế đầu tư sản xuất gạch đất sét nung
Tiếp đó, Chỉ thị số 10 ngày 16/4/2012 tăng cường sử dụng VLXKN, hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, nhiều địa phương có văn bản triển khai, trong đó có 09 địa phương có văn bản triển khai và báo cáo Bộ Xây dựng, 03 địa phương tổ chức triển khai với hình thức hội nghị là: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Tháp và Bình Thuận
Để triển khai Chương trình 567 và Chỉ thị 10 một cách hiệu quả, nhiều địa phương đã ban hành Chỉ thị, xây dựng cơ chế chính sách riêng, mạnh hơn, cụ thể hơn phù hợp với điều kiện của địa phương để khuyến khích sản xuất và sử dụng VLXKN như: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bắc Ninh, Đồng Tháp, Phú Yên, Bình Thuận và Nghệ An
Trang 34Về tình hình đầu tư sản xuất vật liệu xây nung: Sản lượng gạch đất sét nung năm 2011 của cả nước vào khoảng 20,9 tỷ viên, chiếm 83,7% vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công vẫn chiếm khoảng 30 – 35% Năm 2012 sản lượng sản xuất khoảng 16,5 tỷ viên chiếm khoảng 82% so với tổng số vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công khoảng 25 – 30%
Đến hết năm 2012, trên phạm vi toàn quốc đã đầu tư các dây chuyền sản xuất VLXKN với tổng công suất khoảng 5,4 tỷ viên quy tiêu chuẩn, so với sản lượng vật liệu xây sản xuất năm 2012 chiếm 27% Trong đó gạch xi măng cốt liệu là 4 tỷ viên
và gạch bê tông nhẹ là 1,4 tỷ viên
Như vậy sau gần ba năm thực hiện Chương trình việc đầu tư sản xuất VLXKN của các doanh nghiệp là rất khả quan đạt mục tiêu Chương trình 567 đề ra (mục tiêu Chương trình năm 2015 là 20 – 25%)
1.4 Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực sản xuất gạch nung
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong những năm qua, ở các nước trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành với mục đích xây dựng các hệ số phát thải khí CO2 và đánh giá lượng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung Số liệu tham khảo các
hệ số phát thải khí CO2 đối với các loại nhiên liệu, công nghệ lò sấy-lò nung sử dụng trong sản xuất gạch nung ở các nước trên thế giới như sau:
- Các hệ số phát thải khí CO2 đối với quá trình đốt các loại nhiên liệu trong công nghiệp sản xuất và xây dựng do IPCC đề xuất:
Bảng 1.6 Hệ số phát thải khí CO 2 đối với các loại nhiên liệu sử dụngtrong công
nghiệp sản xuất và xây dựng
Loại nhiên liệu
Hàm lượng các bon (kg/GJ)
Khoảng giá trị của
Trang 35Loại nhiên liệu
Hàm lƣợng các bon (kg/GJ)
Khoảng giá trị của
―Kiểm kê phát thải khí ở châu Âu – CORINAIR, EEA, năm 2003‖:
Bảng 1.7 Hệ số phát thải khí CO 2 đối với các loại nhiên liệu sử dụng trong sản
xuất gạch nung và gốm sứ của Hà Lan
Loại nhiên liệu Hệ số phát thải khí CO 2
Trang 36Loại nhiên liệu Hệ số phát thải khí CO 2
Bảng 1.8 Hệ số phát thải khí CO 2 đối với các loại nhiên liệu khác nhau trong
sản xuất gạch nung của Trung Quốc Loại nhiên liệu Hệ số phát thải khí CO 2
Bảng 1.9 So sánh lƣợng phát thải khí CO 2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở
Trung Quốc, Ấn Độ, và Srilanka
ST
Lƣợng phát thải (kg CO 2 /tấn sản phẩm)
1 Trung
Quốc
Lò nung vòng
Sấy cƣỡng bức – gạch đặc 27,6 Sấy cƣỡng bức – gạch rỗng 21,1 Sấy tự nhiên – gạch đặc 28,0
Lò Tuynel Sấy cƣỡng bức – gạch đặc 35,6
Sấy cƣỡng bức – gạch rỗng 21,3
Trang 372 Ấn Độ
Lò chất đống
Lò kiểu mương
3 Srilanka Lò nung đốt củi (sản xuất ngói) 183,77
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đánh giá lượng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung, các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu phát thải khí CO2
trong lĩnh vực này đã được đề xuất Các giải pháp được nghiên cứu có thể áp dụng nhằm giảm thiểu phát thải khí CO2 và tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng trong tất cả các công đoạn sản xuất như giảm độ ẩm của đất sét (sẽ giúp tiết kiệm năng lượng trong công đoạn sấy khô và nung), lựa chọn kiểu lò nung phù hợp (phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như phong tục địa phương, điều kiện khí hậu, chi phí nhân công, vốn đầu tư, sự sẵn có của các loại nhiên liệu, vật liệu thô), kiểm soát quá trình sấy và nung, chuyển đổi nhiên liệu sử dụng (từ than sang dầu, khí tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp), hồi nhiệt, thay thế một phần đất sét bằng nguyên liệu thô khác như tro bay… trong đó lựa chọn kiểu lò nung là yếu tố quan trọng nhất do lò nung tiêu thụ phần lớn năng lượng
Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, có sự khác nhau về tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp sản xuất gạch nung giữa các nước, vấn đề này phụ thuộc chính vào loại hình sản phẩm và kiểu lò nung được sử dụng IEA đã đánh
Trang 38giá rằng các nước sử dụng các kiểu lò nung hiện đại có thể tiết kiệm được 10% và các nước sử dụng phần lớn các kiểu lò nung gián đoạn có thể tiết kiệm được hơn 30% lượng năng lượng sử dụng so với hiện tại Tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp sản xuất gạch nung cũng đồng nghĩa với việc giảm thiểu được lượng phát thải khí CO2 sinh ra trong lĩnh vực sản suất này So với các nước phát triển, tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong ngành công nghiệp sản xuất gạch nung ở Trung Quốc vào khoảng 40% và lượng cắt giảm phát thải khí CO2 tương ứng là 36 triệu
tấn
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam [4,12]
Sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp sản xuất gạch nung trong những năm qua có thể đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể lượng phát thải khí CO2 do việc sử dụng các loại nhiên liệu như than, dầu Tuy nhiên, hiện nay số liệu cụ thể về lượng phát thải khí CO2 từ công nghiệp sản xuất gạch nung ở Việt Nam chưa sẵn có do chưa có nghiều nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này được thực hiện Một số dự
án, nghiên cứu trong nước có liên quan đến lĩnh vực sản xuất gạch nung đã được thực hiện bao gồm:
Dự án "Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) ở Việt Nam" do Bộ KH&CN chủ trì với sự tham gia của các ngành, đoàn thể, tổ chức liên quan được tiến hành trong 5 năm (2006 - 2010) nhằm thúc đẩy việc thực hiện sử dụng hiệu quả năng lượng trong các DNNVV, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp và giảm ô nhiễm môi trường Đối tượng quan trọng của Dự án là các DNNVV thuộc 5 ngành nghề là sản xuất gạch, gốm sứ, dệt, giấy và bột giấy, và chế biến thực phẩm Qua 5 năm thực hiện, Dự án
đã đạt được những kết quả ấn tượng, vượt xa so với mục tiêu đề ra.Tổng mức năng lượng tiết kiệm đạt được qua việc thực hiện dự án là 232.000 tấn dầu tương đương (TOE) và giảm được tổng lượng phát thải khí CO2 là 944.000 tấn Về mặt công nghệ, trong quá trình thực hiện Dự án, một số công nghệ và giải pháp kỹ thuật sử dụng năng lượng hiệu quả đã được đưa vào áp dụng phù hợp với đặc điểm và điều
Trang 39kiện thực tế của từng doanh nghiệp, bao gồm: thay thế lò thủ công truyền thống bằng lò liên tục kiểu đứng trong sản xuất gạch; thay thế lò than truyền thống bằng lò bông gốm dùng LPG trong sản xuất gốm sứ…Tuy nhiên, dự án này chưa thực hiện việc đánh giá một cách cụ thể lượng phát thải khí CO2 cho từng loại hình công nghệ
và nhiên liệu sử dụng trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở Việt Nam
Dự án ―Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp để giảm lượng phát thải từ các lò gạch thủ công truyền thống – Nghiên cứu điển hình cho xã Song
Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh‖ được thực hiện vào năm 2006 bởi nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Khoa học tự nhiện, Đại học Quốc gia Hà Nội [21] Dự án đã thực hiện việc đo đạc đánh giá lượng phát thải của các chất ô nhiễm bao gồm bụi, khí CO, SO2 trong khí thải ống khói của lò gạch và đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu lượng phát thải của các chất ô nhiễm như áp dụng các thiết bị kiểm soát phát thải, áp dụng phí phát thải Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tiến hành đánh giá lượng phát thải các chất ô nhiễm cho một loại hình công nghệ là lò gạch thủ công truyền thống và địa bàn nghiên cứu chỉ tập trung ở một xã của tỉnh Bắc Ninh Mặt khác, dự án này cũng không thực hiện việc đánh giá lượng phát thải của khí CO2 từ hoạt động sản xuất gạch và các vấn đề liên quan đến biến đối khí hậu
Dự án ―Xây dựng mô hình lò nung gạch, gốm liên tục bốn buồng sử dụng công nghệ khí hóa trấu‖ do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về tiết kiệm năng lượng (Enerteam) thực hiện từ đầu năm 2009 tại lò nung gạch gốm của Công ty TNHH Gốm Tân Mai, tỉnh Đồng Tháp Đây là mô hình lò nung gạch, gốm bốn buồng liên tục kết hợp thiết bị hóa khí từ trấu trình diễn đầu tiên tại Việt Nam Hệ thống lò liên hoàn này có thể chia thành hai phần là lò đốt trấu bán liên tục hoặc kết nối với lò có sử dụng hệ thống khí hóa từ trấu hoặc củi, mạt cưa Với lò đốt bán liên tục, lượng khí thải ra môi trường sẽ được giảm thiểu Ngoài ra, còn giảm đến 35% lượng trấu sử dụng so với lò gạch thủ công do hiệu quả năng lượng của hóa khí từ trấu tốt hơn đốt trấu trực tiếp Đặc biệt, chất lượng sản phẩm được nâng cao hơn, tỉ
lệ phế phẩm dưới 2% Tuy nhiên, dự án này cũng chưa thực hiện việc đánh giá
Trang 40Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy hiện nay việc đánh giá lƣợng phát thải khí CO2 đối với các loại hình công nghệ lò nung và nhiên liệu sử dụng trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở Việt Nam vẫn chƣa đƣợc thực hiện một cách toàn diện
Vì vậy việc đo đạc, tính toán xác định lƣợng phát thải khí CO2 trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở thời điểm hiện tại là vấn đề cần thiết, góp phần xây dựng bộ cơ sở
dữ liệu về lƣợng phát thải khí CO2 và các hệ số phát thải khí CO2 cho các loại hình công nghệ lò nung và nhiên liệu sử dụng trong lĩnh vực sản xuất gạch nung ở Việt
Nam