Nguồn trả nợ của Việt Nam được lấy từ nguồn thu ngân sách nhà nước (chủ yếu là từ thuế) và nguồn thu xuất khẩu ( rất quan trọng, đem ngoại tệ về để trả nợ). Qua phân tích ở trên ta thấy mỗi năm Chính phủ thường dành trung bình 5% thu ngân sách để trả nợ nước ngoài, tăng qua các năm đến năm 2010 là 7%, con số này là không hề nhỏ khi Chính phủ còn phải chi tiêu cho nhiều mục tiêu khác như đầu tư xây dựng cơ bản, chi cho giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng… và trả nợ nội địa như trái phiếu đến hạn.
Trang 1Đề tài nhóm 7: Nợ công và nguy cơ khủng hoảng nợ công đang là mối đe dọa
hệ thống tài chính quốc tế Phân tích thực trạng và các giải pháp quản lý, sử dụng
và hoàn trả nợ nước ngoài của Việt Nam.
Phần 1: Lý thuyết
1 Nợ công: Nợ chính phủ, hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà
chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay
Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cáchkhác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó Để dễ hìnhdung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêuphần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.1.Nợ chính phủ thường được phân loại như sau:
Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nướcngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước)
Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm)
Tại VN: Theo luật quản lý nợ công của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5, số29/2009/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2009 quy định tại điều 2:
Điều 2 Nợ công được quy định trong Luật này bao gồm:
a) Nợ chính phủ;
b) Nợ được Chính phủ bảo lãnh;
c) Nợ chính quyền địa phương
* Nợ công so với GDP:
a) Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế
và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
b) Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ công tại thời điểm 31/12
Tỷ lệ nợ công so với GDP = x 100%
GDP luỹ kế đến 31/12
2 Mục đích vay của Chính phủ
1 Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương
2 Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay ngắn hạn
3 Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh
4 Cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lạitheo quy định của pháp luật
5 Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
2.Các hình thức vay nợ của Chính Phủ
Trang 22.1 Chính phủ vay thông qua phát hành công cụ nợ và ký kết thỏa thuận vaytrong phạm vi tổng mức, cơ cấu vay, trả nợ hàng năm của Chính phủ đã được Quốc hộiquyết định
2.2 Chính phủ vay bằng nội tệ, ngoại tệ, vàng hoặc hàng hoá quy đổi sang nội tệhoặc ngoại tệ
3 Ngưỡng an toàn của nợ công:
Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra quy định ngưỡng an toàn nợ công là 50%GDP Tuy nhiên, việc xác định “ngưỡng an toàn” chỉ là khái niệm tương đối, còn trênthực tế nợ công của các quốc gia có thực sự an toàn hay không còn xét trên nhiều khíacạnh như tốc độ tăng trưởng, tính bền vững trong phát triển, khả năng chống đỡ rủi ro…
4.Tác động của nợ chính phủ
4.1 Tích cực:
- Đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết của Chính Phủ Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển, nguồn thu của NSNN rất hạn hẹp và nhỏ bé Đặc biệt, thiếu hụt về ngoại tệ lớn Trong khi đó như cầu chi tiêu của NSNN rất lớn để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, để giái quyết các vấn đề xã hội, cải thiện cán cân thanh toán….
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, phát huy được các tiềm năng sẵn có trong nước.
để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế Tiêu dùng giảm thì tăngtrưởng chậm lại
+ Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cườngxuất khẩu để trả nợ nước ngoài Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiệnchính sách "thắt lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng
để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế Tiêu dùng giảm thì tăngtrưởng chậm lại
+ Một khoản nợ công lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu
cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ) Điềunày làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủdẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư
Trang 3+ Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là mộttổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nướclớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay Thuế làm méo mó nền kinh tế,gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
- Nợ Chính Phủ để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai Các khoản vay nước ngoài thường có thời hạn tương đối dài và có thể có các ưu đãi Nhưng nếu sử dụng không có hiệu quả sẽ không tạo ra tăng trưởng kinh tế, không tạo ra thu nhập ròng để trả nợ, tạo gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai.
- Có thể dẫn tới vợ nợ Chính Phủ Với các khoản nợ trong nước, Chính phủ
có thể tuyên bố là luôn có khả năng trả hết nợ vì Chính Phủ có thể in tiền vô hạn độ
để trả nợ Còn các khoản nợ nước ngoài, do phải trả bằng vàng hoặc ngoại tệ, nên
đã có nhiều trường hợp Chính phủ phải tuyên bố vỡ nợ Khi CP tuyên bố vỡ nợ, CP được lợi là thoái thác trách nhiệm trả nợ Nhưng CP sẽ chịu nhiều bất lợi từ cộng đồng tài chính quốc tế như:
+ Bị ngăn cấm không được tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế, đặc biệt
là thương mại quốc tế.
+Bị tịch biên tài sản ở nước ngoài, kể cả tài sản của Chính Phủ và tài sản của công dân quốc gia đó.
+ Hầu như bị cắt hết các khoản tài trợ quốc tế, kể cả vay nợ, viện trợ, đầu tư nước ngoài.
PHẦN 2: Nguy cơ khủng hoảng nợ công đang là mối đe dọa hệ thống tài chính quốc tế
I Tình trạng nợ công của các nước trên thế giới.
1 Đánh giá chung:
Các học giả kinh tế trên thế giới quan niệm, khủng hoảng tài chính thường xuấtphát từ ba khu vực: khủng hoảng tiền tệ (tỷ giá hối đoái) như từng xảy ra ở Thái Lan năm
1997, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ công Nhiều năm trở lại đây, nợ công
đã trở thành vấn đề nóng bỏng của nền tài chính ở các quốc gia phát triển và mới nổi
Nợ công tích tụ ngày càng lớn và tập trung chủ yếu ở Mỹ, Tây Âu, Bắc Âu, NhậtBản ở ngưỡng trên 100% GDP, thậm chí ở Nhật còn trên 200% GDP
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 được châm ngòi từ tín dụng bấtđộng sản dưới chuẩn ở Mỹ, hoành hành thế giới suốt 3 năm qua tưởng đã tạm yên thìbước sang năm 2011, lại được châm thêm mồi lửa từ khủng hoảng nợ công Từ đó, bộc
lộ những ảnh hưởng mang tầm vóc sâu rộng và nguy hiểm đối với nền tài chính toàn cầu,đến nỗi, nhiều ý kiến cho rằng, thế giới sắp phải đón một “siêu bão” tài chính mới
Những cuộc cứu trợ khổng lồ mà châu Âu đang áp dụng cho Hy Lạp, Ireland, BồĐào Nha và sắp tới là Tây Ban Nha, Italia cho thấy, khủng hoảng nợ công gây tốn kém
Trang 4chi phí không kém số tiền mà Mỹ phải bỏ ra để xử lý hệ thống tài chính nước này saucuộc khủng hoảng tài chính vừa qua
Hầu hết các nhà phân tích đều cảnh báo: không nên xem thường khủng hoảng nợcông Bởi nếu không được phòng ngừa và cứu trợ kịp thời, sẽ nổ ra hiệu ứng sụp đổ dâychuyền và lan truyền nguy hiểm tới chất lượng tài sản hệ thống ngân hàng thương mại dophần lớn trái phiếu chính phủ phát hành đều được ngân hàng nắm giữ
Trên thực tế, không chỉ có ngân hàng của Ireland mua trái phiếu Chính phủ nướcnày mà nhiều ngân hàng của châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… đều mua Hoặc với trái phiếu HyLạp, Tây Ban Nha, Italia cũng vậy Hơn nữa, do tính chất hoạt động của ngân hàngthương mại là toàn cầu hóa nên khi ngân hàng bị tổn thương, uy tín bị giảm sút, sẽ tácđộng xấu đến dòng tiền gửi của người dân
Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công, nợ chính phủ:
Đó là việc các tổ chức tài chính quốc tế cho vay đối với một quốc gia quá mức, kếhoạch vay giãn nợ hoặc đảo nợ đã làm tăng quy mô nợ; Những cú sốc về giá dầu đối vớinhững nước vay nợ, Chính sách tài trợ thâm hụt và các chính sách khác của các nước vay
nợ, các nguyên nhân khác do khủng hoảng tài chính
Biểu đồ 1: Nợ công ở các quốc gia giàu nhất thế giới
2 Tình trạng nợ công tại Châu Âu trong năm 2011.
Trong tháng 7 vừa qua, thị trường tài chính quốc tế trở nên nhạy cảm với nhữngthông tin liên quan đến vấn đề nợ nần của các nước châu Âu và Mỹ Phải chăng kinh tếthế giới đang bắt đầu đi vào khủng hoảng nợ công toàn cầu? Theo phân tích, do lo ngại
Trang 5về nợ khu vực đồng Euro và việc bế tắc trong thoả thuận giữa Đảng Dân chủ và ĐảngCộng hoà về nâng trần nợ công trước thời hạn 2/8 khiến vàng thế giới liên tục tăng mạnh
và lập kỷ lục mới 1.638USD/1ounce vàng vào 29/7 vừa qua
Từ khi bắt đầu nổ ra cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu, các nhà hoạch địnhchính sách Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã lo ngại rằng cơn hỗn loạntài chính bắt đầu từ Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha rồi sẽ nhấn chìm những nền kinh tếlớn khác trong khu vực
Như chúng ta đã biết, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Anh, Ngânhàng quốc gia Thụy Sĩ, và Ngân hàng Nhật Bản đã quyết định thiết lập lại các cơ sở traođổi USD với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Theo đó, họ có thể cung cấp không giới hạnUSD cho các ngân hàng quốc gia mình Trong khi đó, các ngân hàng Pháp và Đức lạinắm giữ khoảng 900 nghìn tỷ euro các khoản nợ ngoại biên của EU- gần bằng với khoảnvốn tự có của họ Đối phó với những dấu hiệu căng thẳng tương tự đang gia tăng tại châu
Âu, ECB và các ngân hàng trung ương của Anh, Nhật và Thụy Sĩ đã chấp nhận tái cungcấp hoạt động thanh khoản đồng đôla ba tháng trong quý IV này
Rõ ràng là, vấn đề nợ công và nguy cơ lan rộng của chúng có thể sẽ để lại nhữnghậu quả khó lường lên cả hệ thống tài chính châu Âu cũng như số phận của đồng euro
Với tình hình hiện nay, lòng tin của các đối tác dành cho Ngân hàng châu Âu đãgiảm đi rất nhiều Họ không đủ khả năng để đáp ứng các khách hành quốc tế- nhữngngười mà đang rất cần đến đồng USD
Thống đốc Ngân hàng Pháp, ông Christian Noyer, cho biết tất cả các ngân hàngchâu Âu (không riêng gì Pháp) cần phải điều chỉnh mô hình kinh doanh cũng như thunhỏ bảng cân đối của mình, bởi vì các quỹ tiền tệ của Mỹ đang "rút lui khỏi châu Âu"
Sự cần thiết phải tái cơ cấu vốn tại các ngân hàng châu Âu đã được chính I.M.F khẳngđịnh Điều này đã khiến chúng ta gợi nhớ về Chương trình Tài trợ Bảo chứng định kỳ (Term Asset-Backed Securities Loan Facility) mà chính phủ Mỹ đã thành lập nhằm loại
bỏ các tài sản xấu và nâng cao tính thanh khoản giữa các ngân hàng Mỹ Quỹ khẩn cấpnày đã hỗ trợ hiệu quả đối với các hãng cho vay của Mỹ trong thời kỳ khủng hoảng2007-2009
“Chiếc phao cứu sinh” của các chính phủ châu Âu- Quỹ ổn định tài chính châu
Âu (E.F.S.F)- cũng đã được đưa ra với mục đích tương tự như thế Quỹ này đang đượckêu gọi đảm nhận vai trò của ECB trong việc mua nợ từ các thành viên tại thị trường thứcấp Tuy nhiên, ở châu Âu, quá trình bàn thảo đưa ra hoạt động tương đối chậm chạp.Việc mở rộng kích thước của “chiếc xuồng cứu sinh” và các hoạt động đi kèm cần phảinhận được sự phê duyệt của 17 nghị viện- một quá trình vất vả và có thể kéo dài đếngiữa tháng 10 (trong trường hợp không bị cản trở bởi những sự cố ý trên đường đi) Cho
Trang 6tới khi đó, việc có giữ các thị trường này tồn tại hay không là tùy thuộc vào ECB trongkhi họ phải cung cấp tính thanh khoản không giới hạn cho các ngân hàng tại đây
Nếu Bảng cân đối kế toán của ECB phải xem xét, toàn bộ cấu trúc của nền kinh
tế EU sẽ rất dễ bị tổn thương Với sáu quốc gia thành viên bị giảm định mức tín nhiệm
nợ, rõ ràng cần phải nghi ngờ nhiều về sự phát triển trong hội nhập chính trị và tài chínhtại EU Điều này cũng giống như việc Đức từ chối hỗ trợ cho các chương trình'Eurobond’ trước đây
Việc hội nhập các nước riêng lẻ thành một hệ thống liên bang tập trung ở Hoa Kỳ
đã chỉ ra cho chúng ta một mô hình cần thiết để giải quyết các vấn đề hiện tại của châu
Âu Tuy nhiên, chủ quyền bị mất đi là điều mà hầu hết các thành viên trong khu vực nàykhông thể chấp nhận được
Có thể thấy, nguy cơ khủng hoảng đã thể hiện rõ những điểm yếu trong cơ cấukinh tế tại các quốc gia này Các ngân hàng EU đang khiến việc mở rộng tín dụng của
họ đi vào bế tắc, các doanh nghiệp có xu hướng đối mặt với nhiều rủi ro và tỷ lệ thấtnghiệp cao 10% không có dấu hiệu đảo chiều sớm Tiếp tục cải cách và loại bỏ sự sợ hãi
về chính trị là điều cần thiết để ECB duy trì được thị trường Những điều tồi tệ nhấtdường như vẫn còn nằm ở phía trước Điều này sẽ có lợi cho vàng trong tương lai
Về vấn đề Hy Lạp, Thủ tướng Hy Lạp, George Papandreou, đang xem xét việckêu gọi một cuộc trưng cầu dân ý tại các thành viên khu vực đồng euro như là một cách
để tăng cường sức mạnh của chính phủ trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng nợ Một
dự luật đã được đệ trình quốc hội - mở đường cho hoạt động bỏ phiếu như vậy- sẽ đượcthảo luận trong những ngày tới
Nếu không có đợt cho vay tiếp theo, Athens cho biết họ sẽ hết tiền mặt vào giữatháng 10 Nguy cơ vỡ nợ có thể lan rộng tới các nền kinh tế khu vực đồng euro, ví dụnhư Italia cũng như tác động mạnh tới các ngân hàng châu Âu Khi được hỏi liệu Hy Lạp
sẽ nhận được khoản vay tiếp theo hay không, Bộ trưởng Tài chính Venizelos nói: "Vâng,tất nhiên sẽ là như vậy." Nếu điều đó không xảy ra, giới kinh tế và các nhà đầu tư tinrằng núi nợ của Athens sẽ vỡ trong vòng 6 tháng khi chiếm tới hơn 150% tổng sản phẩmquốc nội Sau đó, 111 tấn vàng sẽ được sử dụng để duy trì việc tiếp cận thị trường quốc
tế Như vậy, đây có thể là mối hoạ cho giá vàng giảm xuống nếu họ thực hiện bán ra
Hy Lạp đã chính thức kêu gọi hỗ trợ tài chính từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và
các quốc gia thành viên Eurozone Bộ trưởng Tài chính các nước Eurozone đã quyết
Trang 7định hỗ trợ tài chính dành cho Hy Lạp với mức hỗ trợ 110 tỷ Euro với lãi suất ưu đãi là5% Sau khi nhận được khoản hỗ trợ 110 tỷ Euro, Hy Lạp vẫn tiếp tục ở trong nguy cơ
vỡ nợ Gần đây, IMF ước tính nợ quốc gia của Hy Lạp có thể lên đến 172% GDP (so vớimức khoảng 120% lúc bắt đầu rơi vào khủng hoảng nợ) trong khi thâm hụt ngân sáchcủa nước này cao hơn dự kiến và nước này đang cần một khoản hỗ trợ mới
Sau cuộc họp khẩn cấp ngày 21/07/2011, lãnh đạo 17 nước thuộc Eurozone vàIMF đã đồng ý cấp cho Hy Lạp 159 tỷ Euro (229 tỷ USD), với lãi suất 3,5%, thời gianđáo hạn có thể lên tới 30 năm, và có thể gia hạn 10 năm nữa Ngoài ra, Eurozone cũngđưa ra một số loại hình bảo lãnh đối với trái phiếu chính phủ Hy Lạp để các ngân hàng
Hy Lạp có thể tiếp tục được Ngân hàng Trung ương châu Âu hỗ trợ thanh khoản
Những bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp.
Trong một bài bình luận trên chuyên mục Op-Ed của tờ New York Times, giáo sưkinh tế học đạt giải Nobel, Paul Krugman, đã chỉ ra bài học từ cuộc khủng hoảng nợcông ở Hy Lạp
Theo ông, cuộc khủng hoảng nợ tại Hy Lạp đang tiến gần tới chỗ không cònđường để quay lại Khi viễn cảnh cho một kế hoạch giải cứu Athens dường như cứ mờmịt dần, giới đầu tư đã ồ ạt bán tháo trái phiếu chính phủ của nước này, khiến mức lãisuất mà Chính phủ Hy Lạp có thể phải đưa ra trong những đợt phát hành nợ sắp tới, nếu
có, sẽ không ngừng leo thang
Do vậy, nếu tiếp tục vay được vốn, Hy Lạp sẽ phải trả lãi nhiều hơn, khiến gánhnặng nợ nần càng thêm căng thẳng Thực tế này đang xói mòn niềm tin của thị trường vàcho thấy, tới thời điểm hiện nay, Hy Lạp rất khó thoát khỏi vòng xoáy vỡ nợ mà họ sắpsửa sa chân vào
Vậy cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp đem đến cho các nước khác bài học gì?Đúng là Hy Lạp đang phải trả giá cho những bất cẩn trong hoạt động chi tiêucông trước kia của họ Nhưng Giáo sư Krugman không cho rằng đó là toàn bộ câuchuyện Thảm họa ở Hy Lạp hiện nay còn phản ánh mối hiểm nguy to lớn mà chính sáchtiền tệ giảm phát (bao gồm tăng lãi suất và giảm cung tiền) có thể mang lại
Giáo sư Krugman nhận xét, điều then chốt về vấn đề của Hy Lạp là cuộc khủnghoảng này không chỉ bao gồm những khoản nợ khổng lồ Tuy nợ công của Hy Lạp khácao, tương đương 113% GDP, nhưng trên thực tế, nhiều quốc gia khác cũng đang hoặc
đã từng gánh những mức nợ tương tự mà không hề lâm vào khủng hoảng
Chẳng hạn, vào năm 1946, nước Mỹ khi đó vừa ra khỏi Chiến tranh Thế giới 2 đã
có mức nợ liên bang tương đương 122% GDP Nhưng các nhà đầu tư khi đó không longại gì, và một thập kỷ sau, tỷ lệ nợ so với GDP của Mỹ giảm còn một nửa Trong nhữngthập kỷ tiếp theo, tỷ lệ nợ công so với GDP của Mỹ tiếp tục giảm, xuống tới mức đáy33% vào năm 1981
Trang 8Vậy làm thế nào mà nước Mỹ có thể trả được những món nợ mà họ vay thờichiến tranh? Thực tế, nước Mỹ đã không hề làm được điều đó Vào cuối năm 1946,Chính phủ Mỹ nợ 271 tỷ USD, và vào cuối năm 1956, mức nợ này tăng nhẹ lên 274 tỷUSD Như vậy, tỷ lệ nợ so với GDP giảm không phải bởi nợ giảm mà vì GDP tăng, cụthể là tăng gần gấp đôi tính theo USD trong vòng 1 thập kỷ
Sự gia tăng của GDP tính bằng USD hầu như là kết quả của sự tăng trưởng kinh
tế và lạm phát, với cả hai yếu tố này cùng gia tăng với tốc độ khoảng 40% trong thờigian 1946-1956
Không may cho Hy Lạp, quốc gia châu Âu này không thể kỳ vọng điều tương tự
Lý do nằm ở đồng Euro
Cho tới gần đây, việc trở thành một thành viên của khu vực sử dụng đồng Eurovẫn được xem là một điều tốt đẹp đối với Hy Lạp, giúp đem tới những khoản vay lãi suấtthấp và những dòng vốn khổng lồ Nhưng những dòng vốn này cũng đồng thời dẫn tớilạm phát và rốt cục, Hy Lạp nhận thấy mình phải đương đầu với tình trạng leo thang củagiá cả mạnh hơn ở các nền kinh tế lớn của châu Âu
Dần dần, Hy Lạp sẽ phải áp dụng chính sách tiền tệ giảm phát để đưa tỷ lệ lạmphát về với mức “hợp chuẩn” với các quy định của khu vực đồng Euro Và sự giảm phát
sẽ làm cho gánh nặng nợ nần của Hy Lạp thêm tồi tệ, trong khi lạm phát giúp nước Mỹthời hậu Chiến tranh Thế giới nhẹ nợ
Đó vẫn chưa phải là tất cả Giảm phát có nhiều tác động bất lợi cho nền kinh tế,làm giảm sút tăng trưởng và việc làm Do đó, Hy Lạp sẽ khó tìm được đường ra cho mớbòng bong nợ nần của họ Ngược lại, Athens sẽ phải giải quyết “núi nợ” trong bối cảnhnền kinh tế ở trong tình trạng khả dĩ nhất cũng chỉ là đình trệ
Do đó, cách duy nhất để Hy Lạp khắc phục khó khăn là cắt giảm chi tiêu và tăngthuế - những biện pháp có thể làm tỷ lệ thất nghiệp của nước này thêm đáng ngại Và khi
đó, chắc chắn là niềm tin của thị trường trái phiếu vào Hy Lạp càng bị xói mòn, đẩy quốcgia này vào tình trạng tồi tệ hơn
Vậy giải pháp có thể là gì? Giới quan sát vẫn hy vọng châu Âu sẽ cùng nhau đứng
ra bảo lãnh nợ cho Hy Lạp, và đổi lại, Hy Lạp phải cam kết thắt lưng buộc bụng chặt hơnnữa Đây có thể là một giải pháp tốt, nhưng nếu không có sự ủng hộ của nước Đức, thìchâu Âu sẽ không bao giờ đạt được giải pháp này
Hy Lạp có thể giải quyết một phần vấn đề của họ bằng cách rút khỏi khu vực sửdụng đồng Euro và thực hiện phá giá đồng tiền Nhưng nếu Athens làm vậy, chắc chắn
hệ thống ngân hàng của họ sẽ bị rút vốn ồ ạt Trên thực tế, do lo ngại về khả năng vỡ nợcủa Hy Lạp, nhiều khách hàng đã bắt đầu tháo chạy khỏi các nhà băng của nước này
Trang 9Với những lập luận như vậy, Giáo sư Krugman nhấn mạnh, ngoài việc thận trọngtrong chính sách tài khóa, các nước cần cẩn trọng với bẫy giảm phát Ngay cả nhữngquốc gia sử dụng đồng tiền riêng như Nhật Bản cũng có thể rơi vào bẫy này.
3 Tình trạng nợ công tại nước Mỹ
Đã từ lâu, thế giới quá quen với tình trạng nợ nần của Mỹ Còn người Mỹ luônyên tâm rằng, nền tảng kinh tế, thành lũy tài chính hùng mạnh của nước này hoàn toànmiễn dịch với thứ mầm bệnh kia Họ tự hào về nền tảng kinh tế, khoa học công nghệ vànăng suất lao động có thể làm chủ được thị trường tài chính thế giới; coi đó là thứ giá trịbảo hiểm cho đồng tiền của mình, là vật thế chấp đáng tin cậy nhất cho nợ công
Năm 2006, Bộ Ngân khố Mỹ (Bộ Tài chính) khi thảo luận với Việt Nam về vấn
đề nợ công, phía Việt Nam tỏ ý lo ngại, nợ công của Mỹ sẽ là vấn đề lớn trong tương lai.Một quan chức phía Mỹ đáp: “Yên tâm, nợ công Mỹ còn chưa đến 100% GDP, Nhật Bảncòn nhiều nợ công hơn chúng tôi Ai cầm trái phiếu Mỹ là cầm vàng” Quan chức nàycũng nhắc lại câu nói nổi tiếng của Alexander Hamilton, Bộ trưởng Bộ Ngân khố đầutiên của Mỹ, tại vị 1789 - 1795: “Nợ nước Mỹ là vàng”
Nhưng giờ đây, vấn đề đã khác Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bộc lộmặt trái không mong muốn của nợ công nước Mỹ và nhiều nước khác Khi thế giới chưahết sững sờ về cuộc mặc cả giữa chính phủ và Quốc hội Mỹ nâng trần nợ công lên mức16,4 nghìn tỷ USD và đổi lại phải cắt giảm chi tiêu 2,1 nghìn tỷ USD trước bờ vực vỡ nợthì sự đánh tụt trái phiếu dài hạn của hãng xếp hạng tín nhiệm S&P như thể là “lưỡi dao”
bổ xuống sự kiêu hãnh quá mức của nước này Đó còn là hồi chuông cảnh báo mạnh mẽđối với trung tâm kinh tế, tài chính ở một quốc gia có nền tảng kinh tế vững mạnh bậcnhất toàn cầu
Và dù không mong muốn, nhưng hành động của S&P đã dẫn đến tâm lý hoangmang hoảng loạn, phải bán đổ, bán tháo trái phiếu chính phủ, vốn được coi là thứ hànghóa tin cậy hàng đầu
Đối với những quốc gia sở hữu nhiều trái phiếu Chính phủ Mỹ như Trung Quốc
và Nhật Bản mặc dù vẫn lớn tiếng trấn an rằng: “Đó vẫn là công cụ dự trữ quan trọngbậc nhất” nhưng trên thực tế, tỷ trọng trái phiếu Chính phủ Mỹ trong dự trữ quốc gia đãsuy giảm rõ rệt để bổ sung thêm vàng, góp phần tạo nên cơn sốt vàng dữ dội nhất tronglịch sử suốt hai tuần qua Chẳng hạn, Nhật Bản giảm từ 90% xuống 75% - 80%, Brazilgiảm từ 90% xuống 81%; Trung Quốc giảm từ 90% xuống 80%
Còn ở thị trường chứng khoán thực sự là thảm họa Chỉ số Down Jones từ 12.500điểm tụt xuống dưới 12 nghìn điểm trong vòng mấy ngày; các chỉ số tài chính của châu
Á và Âu đều sụt giảm rất mạnh
Nhiều người nói rằng, cuộc thỏa hiệp giữa Chính phủ Mỹ và Quốc hội đã kếtthúc, nhưng đó chưa phải dấu chấm hết cho những bất ổn nội tại ở quốc gia này, mà cội
Trang 10nguồn sâu xa vẫn là nợ công và những chỉ số vĩ mô đang ngày càng xấu thêm Tỷ lệ thấtnghiệp vẫn ở mức cao, thị trường chứng khoán tiếp tục đình trệ, chỉ số tiêu dùng đã cómột giai đoạn khởi sắc nhưng lại bắt đầu tồi tệ Thách thức lớn nhất đối với nước Mỹhiện nay là làm thế nào để vừa hạn chế thâm hụt ngân sách, vừa kích thích phục hồi kinhtế.
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng: “Việc Mỹ nâng trần nợ công cũng giống nhưtình trạng một con bệnh nặng được tiếp thêm viên thuốc bổ để cố gượng dậy Điều quantrọng là sau khi nâng trần nợ, Mỹ phải chứng tỏ cho thế giới thấy khả năng phục hồi kinh
tế để trả nợ vay trên 16,4 nghìn tỷ USD Và đó vẫn là dấu hỏi rất lớn, bởi lẽ đến lúckhông trả được, không lẽ lại nâng nợ nữa?”
Trong lịch sử của mình, đã hai lần Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phát hànhthêm tiền mua trái phiếu phục vụ chi tiêu ngân sách của chính phủ Nhiều thông tin chothấy, có thể FED sẽ làm như vậy thêm một lần nữa nếu như S&P và thị trường tài chínhtoàn cầu, đặc biệt là các chủ nợ không gia tăng sức ép để FED từ bỏ ý định này
Nếu FED tiếp tục, USD sẽ mất giá nghiêm trọng, lạm phát tăng thêm, thị trườngtài chính sẽ suy sụp thực sự Dĩ nhiên, cũng có nhà phân tích cho rằng, nếu FED pháthành thêm tiền, sẽ tránh nợ công của Mỹ tăng thêm hay nói cách khác, cả thế giới phảixúm lại lo chuyện nợ nần cho Mỹ thông qua đóng thuế vô hình khi đồng USD mất giá.Hiện tại, vấn đề này còn tùy thuộc vào quan điểm giải quyết vấn đề tài chính sống còncủa nước Mỹ của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ như thế nào
Có thể nói, cuộc khủng hoảng nợ công toàn cầu đang diễn ra ở châu Âu, Mỹ và
có thể sẽ lan tới Nhật Bản Và rất có thể, chúng là tiền đề cho một cơn bão tài chính mớidiễn ra vào năm 2012
Riêng với nước Mỹ hiện nay, nhiều người bày tỏ sự lo ngại về những ý kiến đòihỏi tăng lãi suất cơ bản USD và kết thúc các biện pháp kích thích tăng trưởng từ phíanhững người chủ trương chống lạm phát mặc dù thị trường việc làm mới chỉ manh nhahồi phục Nếu những đòi hỏi này được thực hiện, thất nghiệp ở Mỹ rất có thể sẽ tăngmạnh
Mặt khác, nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, nợ công của Mỹ sẽ dễ kiểmsoát hơn nếu chính sách tiền tệ nới lỏng được duy trì để giúp nền kinh tế tăng trưởngmạnh trở lại và lạm phát tăng lên mức vừa phải
Một quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia có số nợ cônghàng đầu thế giới Tại sao nước Mỹ lại có quá nhiều nợ như vậy? Có thể kể ra một sốnguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất, dưới thời Tổng thống George W.Bush, nợ của Mỹ đã tăng tới 4.360 tỷ
USD do chi phí chiến tranh tại Iraq và Afghanistan cùng với việc cắt giảm thuế mới
Trang 11Thứ hai, đến thời của Obama, nợ của Mỹ tăng thêm 3.900 tỷ USD do các chương
trình kích thích kinh tế và giảm thuế trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu Chínhphủ Mỹ mỗi tháng chi nhiều hơn thu khoảng 120 tỷ USD, và chỉ có một tài khoản ngânhàng tại Cục Dự trữ Liên bang với hơn 100 tỷ USD để sử dụng Theo số liệu nghiên cứu,hơn 70% trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ do nhà đầu tư tư nhân bên ngoài nắm giữ đáo hạntrong 5 năm tới, việc nhà đầu tư kém tin tưởng vào nước Mỹ sẽ khiến chi phí lãi vay củachính phủ và lĩnh vực tư nhân Mỹ tăng lên Và theo thông báo của Bộ Tài chính Mỹ, 3tháng liên tiếp cuối năm 2010, đầu năm 2011, Trung Quốc đã bán ròng trái phiếu chínhphủ Mỹ Hàng loạt các quĩ đầu tư lớn nhất thế giới về trái phiếu chính phủ Mỹ cũng bắtđầu bán tháo
Đối với chính quyền của ông Obama, những quyết định nói trên có thể gây tìnhtrạng trái phiếu chính phủ Mỹ mất giá mạnh, dẫn đến việc phải nâng lãi suất và qua đótăng thêm khối lượng nợ ngân sách vốn đã rất khổng lồ (năm 2009, thâm hụt 1.420 tỷUSD, năm 2010, giảm xuống còn 1.290 tỷ USD, nhưng năm 2011, rất có thể thâm hụtđạt tới 9,8% GDP tương đương 1.450 tỷ USD) Giới phân tích cho rằng Mỹ phải giảiquyết vấn đề thâm hụt ngân sách khổng lồ, tránh các nhà đầu tư bán phá giá trái phiếugây ra một cuộc khủng hoảng nợ công
II Tác động của khủng hoảng nợ công:
Các nền kinh tế còn lại như Nhật Bản, Nga, các nước Nam Mỹ, Châu Á và ChâuPhi, liệu họ có bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng nợ công trên không? Đó là điều mà cácnhà kinh tế, các nhà lãnh đạo của các quốc gia còn lại hết sức quan tâm
1 Tác động đối với Châu Á
Đối với khu vực châu Á, vấn đề nợ công nghiêm trọng tại phương Tây giống nhưmột hành tinh có quỹ đạo bay hướng thẳng về Trái Đất Hành tinh đó quá to để có thể nétránh, cũng như quá khó để xác định chính xác mức độ thiệt hại sau cú va chạm
Với khoảng 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ nắm giữ dưới hình thức trái phiếu của
Bộ Tài chính Mỹ, trong đó riêng Trung Quốc và Nhật Bản đã sở hữu tổng cộng trên2.000 tỷ USD, rõ ràng châu Á sẽ là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu Mỹ rơi vàotình trạng vỡ nợ
Mối lo lớn nhất của Nhật Bản là đồng yen tăng giá so với USD hay euro trongtrường hợp cuộc khủng hoảng nợ diễn biến theo chiều hướng xấu đi Đồng yên tăng giáchắc chắn sẽ tác động xấu tới hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản và ảnh hưởng tới tiếntrình phục hồi kinh tế đất nước "Mặt Trời mọc" sau thảm họa kép động đất và sóng thầnkinh hoàng hồi tháng Ba vừa qua
Đối với Trung Quốc, quốc gia "chủ nợ" lớn nhất của Mỹ, tiếp tục mua thêm 7,3 tỷUSD trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ trong tháng 5 vừa qua, đánh dấu tháng tăng thứ hai liên
Trang 12tiếp sau 5 tháng sụt giảm Giới chuyên gia cho rằng, chính Trung Quốc đã tự đẩy mìnhvào "thế khó" để bảo vệ quyền lợi kinh tế của riêng mình
Trên phương diện khu vực Châu Á, vấn đề đáng quan ngại nhất là những hiệuứng tiêu cực toàn cầu, tương tự như những gì từng xảy ra sau sự sụp đổ của Ngân hàngđầu tư Lehman Brothers hồi năm 2008 Điều này có thể khiến các nhà đầu tư rút tiền rakhỏi các thị trường đang phát triển, cho dù triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tếnày sáng sủa hơn hẳn so với nhiều quốc gia phát triển khác Mặt khác, các ngân hàngphải dựa vào Trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ như là nguồn dự trữ ngoại tệ an toàn có thểphải ngừng cho vay hoặc bán các tài sản rủi ro hơn để gia tăng vốn
2 Đối với Nam Phi
Tại Nam Phi, các nhà xuất khẩu cũng đang cảm nhận được ảnh hưởng của tâm lý
bi quan đang có chiều hướng gia tăng tại các nền kinh tế khác Ông Stewart Jennings,Giám đốc điều hành của hãng sản xuất kính xây dựng và kính xe PG Group, cho hay,doanh thu ở một số mảng làm ăn của công ty này đã giảm 20% vì khách hàng không cònhứng thú nhiều với việc thúc đẩy sản xuất trong bối cảnh thị trường toàn cầu nhiều bất
ổn “Năm nay sẽ còn khó khăn nữa”, ông Jennings nhận định
3 Đối với Nam Mỹ
Thống kê hồi tuần trước của Chính phủ Brazil cho thấy, doanh thu bán lẻ ở nướcnày trong tháng 8 đã giảm mạnh sau nhiều tháng tăng cao Trong tháng 9, doanh số thịtrường xe hơi của Brazil giảm 5% so với tháng trước đó, đồng thời nhiều hãng ôtô lớncũng quyết định sản xuất chậm lại Một số chuyên gia kinh tế đã hạ mức dự báo tăngtrưởng kinh tế của Brazil năm nay xuống còn 3% từ mức dự báo 5% trước đó “Kinh tếBrazil đang đi xuống nhanh hơn kỳ vọng của chúng tôi”, một nhà phân tích của ngânhàng Goldman Sachs cho biết
Brazil là quốc gia đầu tiên trong số các nền kinh tế mới nổi nói trên tìm cách hỗtrợ tăng trưởng bằng cách hạ lãi suất hồi cuối tháng 8, bất chấp những lo ngại về lạmphát
4 Tại khu vực Đông Nam Á
Nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á là Indonesia đã trở thành nền kinh tế đầu tiên ởchâu Á thực hiện hạ lãi suất trong chu kỳ kinh tế này, với lý do được đưa ra là khả nănggiảm tốc tăng trưởng do những bất ổn trên thị trường tài chính và nhu cầu giảm xuống ởcác thị trường xuất khẩu
Đối mặt sự sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, Chính phủPhillipines hồi tuần trước đã hạ 0,5 điểm phần trăm trong dự báo tăng trưởng GDP nămnay, xuống còn 5-6% Chính phủ này đồng thời cũng công bố một gói kích thích tăngtrưởng trị giá 1,66 tỷ USD theo con đường chi tiêu chính phủ vào cơ sở hạ tầng và giảmnghèo
Trang 13Theo các chuyên gia kinh tế của UBS, những vấn đề về thương mại mà các nềnkinh tế mới nổi đang đương đầu không được phản ánh ở những con số Mặc dù giá trịtính bằng USD của thương mại vẫn tăng theo năm, UBS cho rằng, khối lượng hàng hóađược giao dịch thực sự suy giảm trong năm nay, và đến đầu năm 2012, các con số vềthương mại sẽ trở thành một rào cản đối với tăng trưởng ở các nền kinh tế phụ thuộc vàoxuất khẩu.
“Lĩnh vực xuất khẩu nói chung của các nền kinh tế mới nổi đã rơi vào suy thoáixét trên phương diện kỹ thuật”, kinh tế gia Jonathan Anderson của UBS viết trong mộtbáo cáo ngắn mới đây được Wall Street Journal trích dẫn
Một thông tin tốt nữa là đa phần các nhà phân tích không đưa ra dự báo về sự suygiảm tăng trưởng mạnh ở các nền kinh tế mới nổi trừ phi khủng hoảng và suy thoái bùng
nổ ở các nước phát triển Nhu cầu tiêu thụ nội địa và chi tiêu của các doanh nghiệp có thểgiúp các nền kinh tế mới nổi bù đắp sự giảm sút trong lĩnh vực xuất khẩu Thêm vào đó,hầu hết các chính phủ ở các nền kinh tế này đều có cơ hội đưa ra các biện pháp kíchthích tăng trưởng
PHẦN 3: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG, HOÀN TRẢ VÀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1 Quy mô và cơ cấu nợ công ở Việt Nam
Nợ công đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ ở các nước mà còn là vấn đềcủa Việt Nam Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài chưa có điểm dừng,trong đó có nguyên nhân quan trọng là một số nước EU đang ngập sâu vào thâmhụt ngân sách Nợ công thực sự là cái bẫy khiến chính phủ các nước này khôngthoát ra khỏi cuộc khủng hoảng
Cùng với lạm phát và thâm hụt ngân sách, nợ công cũng đang là vấn đề hiệnhữu, quan trọng cần được đặc biệt quan tâm tại Việt Nam Chúng ta hãy nhìn nhậncác yếu tố nợ công dựa trên những gì đã và đang diễn ra ngay trong nội bộ nền kinh
tế Việt Nam để từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề nợ công và đưa ra những
dự báo cũng như những giải pháp để quản lý có hiệu quả nợ công ở Việt Nam
a) Quy mô nợ công
Theo báo cáo của IMF, ta có thể thấy trong những năm gần đây nợ công củaChính phủ Việt Nam không ngừng tăng cao Nếu như vào năm 2006, nợ Chính phủmới chỉ là 407.714tỷ đồng thì đến 2010 đã lên tới 1.046.863 tỷ đồng, tăng gấp hơn2,5 lần Điều đáng nói hơn là, trong giai đoạn này nợ Chính phủ đang có xu hướngtăng đều, trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP Tỷ lệ nợ công
so với GDP các năm là 41,848% (2006); 44,583% (2007); 42,896% (2008);51,161% (2009); 52,847% (2010) và năm 2011 là 50,338%
Trang 14Đối chiếu với số liệu công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist tổng nợcông của Việt Nam tính đến 1/9/2011 là 44,795 tỷ USD (2009), 50,294 tỷ USD(2010), 56,061 tỷ USD (2011) Nợ công tính trên bình quân mỗi người Việt Nam:516,62 USD (2009), 574,28 USD (2010) và 633,95 USD (2011) Nợ công/GDPtương đương lần lượt là 50,7% (2009), 51,7% (2010) và 50,9% GDP (2011)
Nguồn số liệu các tổ chức quốc tế của Factbook - CIA lại đưa ra số liệu về
tỷ lệ nợ công so với GDP Việt Nam năm 2009 là 49,8%, năm 2010 là 57,1% - ViệtNam đứng hạng thứ 41/133 quốc gia và lãnh thổ về nợ công
Trên đây là số liệu của một số tổ chức quốc tế còn trong nước theo số liệu từ
Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, tỷ lệ nợ công so với GDP năm 2007 là 33,8%;năm 2008 là 36,2%, năm 2009 là 41,9%, năm 2010 là 56,7% GDP và dự báo58,7% cho năm 2011 Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng nhanh mộtcách đáng ngại, khoảng 25% tính từ năm 2007 đến cuối năm 2011, tức là trungbình tăng 5% mỗi năm Nợ công tăng nhanh trong bối cảnh mà ngân sách của ViệtNam luôn bị thâm hụt, buộc chính phủ phải vay nợ thêm chưa kể điều kiện vay nợnước ngoài kể từ nay khó khăn hơn với lãi suất cao hơn cho nên nợ nần sẽ chồngchất, lãi mẹ đẻ lãi con Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tỷ lệ nợcông ngày càng tăng là do tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45% Tỷ lệ đầu tư lớn, đầu tưcàng nhiều tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt(trên 5% GDP) khiến chính phủ phải đi vay nợ Nếu giả định mức tăng trưởng GDPbình quân mỗi năm của Việt Nam là 7%/năm cho giai đoạn 2011 – 2020, nếu thâmhụt ngân sách Nhà nước (NSNN) vẫn giữ ở mức bình quân 5,6% GDP/năm như giaiđoạn 2006 – 2010 thì nợ công của Việt Nam sẽ vào khoảng 70,8% GDP vào năm2020; 75,5% GDP vào năm 2025 và 78,1% GDP vào năm 2030
Có sự khác biệt giữa những con số về nợ công của Việt Nam được công bố
là do cách định nghĩa và tính toán nợ công không giống nhau Theo khoản 2 Điều 1của Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009 của Quốc hội ViệtNam nợ công được quy định bao gồm: Nợ chính phủ; Nợ được Chính phủ bảo lãnh;
Nợ chính quyền địa phương Tuy nhiên, cách tính nợ công tiêu chuẩn của Liên hợp
quốc phải bao gồm cả các khoản tự vay tự trả của các tổng công ty, tập đoàn Nhà nước mà Chính phủ cũng cần có nghĩa vụ trả nợ dự phòng và các khoản nợ lương hưu tiềm ẩn Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì
khu vực DNNN của họ rất nhỏ Còn ở Việt Nam nợ của DNNN có quy mô xấp xỉvới nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công vì nếu DNNNkhông trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh Ví dụ như n ăm 2005, Chính phủ đãphát hành 750 triệu USD trái phiếu ra thị trường chứng khoán New York và dùng toàn
Trang 15bộ số vốn này đầu tư cho các dự án của Vinashin Hiện tại, Vinashin thua lỗ, khó có khảnăng thanh toán số nợ trên thì Chính phủ phải đứng ra trả nợ thay Hay theo số liệu tổnghợp từ UBGSTCQG, ước tính đến hết năm 2009, chỉ tính riêng tổng dư nợ nội địacủa các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước là trên 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng22% GDP của năm 2009 Báo cáo điểm lại của Ngân hàng Thế giới (WB), đến cuốinăm 2010, khoản nợ được gọi là nghĩa vụ dự phòng của Chính phủ cho khu vựcdoanh nghiệp Nhà nước (DNNN) còn lớn hơn nhiều, lên đến 36,2% GDP Và theobáo cáo của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng
số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2011 là 350.000 tỉ đồng,tương đương 17% GDP Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy môđầu tư là khổng lồ mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay Thêm vào đó, trong nợcông còn có phần quỹ hưu trí, vấn đề này hiện nay bị bỏ lơ khi tính nợ công ở ViệtNam nhưng chắc chắn câu chuyện này sẽ nóng vào năm 2017: thời điểm khi màViệt Nam thành quốc gia có dân số già, tức 10% dân số ở độ tuổi từ 60 trở lên.Cách tính khác biệt này lý giải tại sao có nhiều nước phát triển có tỷ lệ nợcông/GDP đến 80 – 90%/GDP, trong khi rất nhiều nước khác như: Ấn Độ, TháiLan, Trung Quốc… và Việt Nam có tỷ lệ nợ công/GDP xoay quanh mức 50% – mà
WB lại khuyến cáo
Như vậy, có nghĩa là theo cách tính tiêu chuẩn của Liên hợp quốc, nợ côngcủa Việt Nam nếu được tính đúng và tính đủ sẽ lớn hơn nhiều so với các số liệu đãđược công bố
b) Cơ cấu nợ công
+ Theo tiêu chí phân loại nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương:
Trong cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 - 2010 thì nợ chính phủ chiếmchiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 78,1%, còn lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợchính quyền địa phương Cụ thể, năm 2009 tỷ lệ nợ Chính phủ là 41,9%, nợ Chính phủbảo lãnh là 9,8%, nợ chính quyền địa phương là 0,8% Con số tương tự của năm 2010 lầnlượt là 44,3%, 11,36% và 0,94%
+ Theo tiêu chí nguồn vay trong nước và ngoài nước:
Nợ nước ngoài trong cơ cấu nợ công Việt Nam có vai trò quan trọng và chiếm
tỷ trọng cao nhất Và mặc dù nợ công khác với nợ nước ngoài, nhưng hiện nay ở ViệtNam, thông tin chi tiết về nợ công chưa đầy đủ; do vậy, các nhà kinh tế thường sửdụng chỉ số nợ nước ngoài để hình dung quy mô và mức độ nghiêm trọng của nợcông của quốc gia Gánh nặng nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn năm2006-2010 tăng liên tục về quy mô, tổng nợ nước ngoài (gồm nợ nước ngoàicủa Chính phủ và nợ do Chính phủ bảo lãnh) lần lượt là 31,4% GDP (2006);
Trang 1632,5% GDP (2007); 29,8%GDP (2008); 39,0%GDP (2009) tương đương vớihơn 27,9 tỷ USD (trong đó, nợ nước ngoài của Chính phủ trên 23,9 tỷ USD) vànăm 2010 lên tới 42,2% tương đương 32,5 tỷ USD (trong đó tổng dư nợ nướcngoài của Chính phủ 27,86 tỷ USD, chiếm 85,7% tổng dư nợ) tăng 4,6 tỷ USD
so với năm 2009, đạt mức nợ cao nhất kể từ năm 2005 Điều này cho thấy mức
nợ nước ngoài của Việt Nam đã tiếp cận giới hạn chịu đựng của nền kinh tế vàmấp mé dưới mức cảnh báo an toàn của WB
Hiện nay, nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoảnvay ODA Kể từ khi nối lại quan hệ với các nhà tài trợ từ tháng 11.1993, VN đã nhậnđược sự cam kết viện trợ vốn ODA của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế Từ 1993 đếncuối 2010, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho VN đạt tới hơn 64 tỉUSD Theo số liệu thống kê, tỉ lệ giải ngân vốn ODA trong 4 năm (2006- 2010) chothấy, tổng số giải ngân đạt hơn 12,5 tỉ USD, chiếm trên 40% tổng vốn ODA cam kết Cóthể nói, nguồn vốn ODA cam kết dành cho VN của các nhà tài trợ quốc tế là tương đốilớn và có xu hướng tăng lên qua mỗi năm Theo danh mục nợ công năm 2009 của BộTài chính (BTC), 60,3% nợ công là ODA và 29,8% được tài trợ từ trái phiếu trongnước Hiện nay, đối tác lớn tài trợ vốn ODA cho VN bao gồm: Nhật Bản, Ngân hàngPhát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF),các tổ chức của Liên Hợp Quốc (UN), các tổ chức phi chính phủ (NGO) và nhiềunhà tài trợ song phương khác Nhật Bản đang là nhà tài trợ vốn ODA song phươnglớn nhất cho VN trong hơn 17 năm qua (trong 7,88 tỉ USD vốn cam kết đầu tháng12.2010, Nhật Bản có mức cam kết là 1,76 tỉ USD) WB giữ vị trí là nhà cung cấpODA đa phương lớn nhất Mức cam kết trong hội nghị tháng 12.2010 đạt tới 2,6 tỉUSD ADB là 1,5 tỉ USD Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm giữ trái phiếu chínhphủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với hơn 1 tỷ USD của năm2009)
Các điều khoản ưu đãi của ODA đã giúp Việt Nam giảm bớt được áp lực nợcông; tuy nhiên, tỷ trọng nợ nước ngoài cao tăng nguy cơ rủi ro về cơ cấu nợ trongtương lai Kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng nợ trong lịch sử cho thấy, khi tỷtrọng nợ nước ngoài quá cao, Chính phủ mất đi tính chủ động khi ứng phó với cácbiến động kinh tế thế giới và khó kiểm soát các món nợ vay phụ thuộc vào tỷ giáhối đoái và tâm lý của nhà đầu tư quốc tế Khủng hoảng nợ Argentina (2001) và sựbất ổn của Hy Lạp hiện nay là minh chứng điển hình cho tác động tiêu cực củanguồn nợ công từ nước ngoài Trường hợp ngược lại là Nhật, mặc dù có mức nợcông trên GDP cao nhưng Nhật Bản vẫn được đánh giá là bền vững do nợ công chủyếu được tài trợ từ các nhà đầu tư trong nước
+ Theo tiêu chí loại tiền vay:
Trang 17Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay Về mặt lý thuyết,việc đa dạng hóa các loại tiền vay được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áplực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ Tuy nhiên, trên thực tế cơ cấunày cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới.Trong cơ cấu vay nợ nước ngoài của chính phủ ta thấy t ỷ trọng của các khoảnvay bằng USD và JPY chiếm tỷ trọng cao lần lượt là 22,16% và 38,83% Điều này gâynguy cơ gia tăng khoản chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng,mặt khác JPY lại đang lên giá so với USD.
Biểu đồ: Cơ cấu dư nợ nước ngoài của Chính phủ phân theo loại tiền
Nguồn: Bản tin số 7 (Bộ tài chính) + Theo tiêu chí lãi suất:
Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đóchủ yếu là ở mức 1% - 2,99% Tuy nhiên Theo các chuyên gia, điều kiện vay
nợ ngày càng ngặt nghèo hơn Bộ Tài chính cho biết lãi suất vay nợ đang
có xu hướng tăng lên do nước ta đã bị giảm mức nhận ưu đãi vì gia nhậpnhóm nước có thu nhập trung bình so với các năm trước, năm 2010, các khoảnvay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang ngàycàng tăng lên, gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ Trong 27,857 tỷ USD tổng nợ nướcngoài của Chính phủ, có hơn 21,289 tỷ USD có lãi suất từ 1 - 2,99%; 2,152 tỷ USDchịu lãi suất từ 3 - 5,99% (tăng 649.26 triệu USD so với 2009) và có tới 1,890 tỷ USD ởmức lãi suất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009 Ngoài ra, các khoản vay với lãisuất thả nổi cũng tăng 48.44 triệu USD so với 2009 Theo Cục Quản lý nợ và Tài chínhđối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào
Trang 18năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2,9%/năm Với thựctrạng này, rõ ràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng củaChính phủ.
Kết luận:
Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế củaViệt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộcnhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu Do
đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ côngnói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính(tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phươngtrên thế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa Mặc dù, hiện nay mức nợ công so vớiGDP của Việt Nam vẫn được đánh giá là an toàn nhưng cơ cấu nợ công đang ẩn chứanhiều rủi ro, dư nợ nước ngoài tăng cao cả về quy mô, điều kiện, lãi suất vay nợ Thêmvào đó, trong tình trạng lạm phát toàn cầu đang gia tăng, nguy cơ bùng nổ chiến tranhtiền tệ trên thế giới thì vấn đề sử dụng và quản lý hiệu quả nợ công phải được đặc biệtquan tâm
3.2 Thực trạng sử dụng và quản lý nợ công của Việt Nam
Về thực trạng sử dụng nợ công của Việt Nam trong thời gian qua, có thể xem xét
ở ba lĩnh vực: Nợ chính phủ vay trong nước (trái phiếu Chính phủ), Nợ nước ngoài (cáckhỏan vay ODA); và Nợ nước ngoài của các công ty, tổng công ty, tập đòan Nhà nước
do Chính phủ bảo lãnh
3.2.1 Thực trạng sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ
Phát hành trái phiếu Chính phủ là một kênh huy động vốn nhằm bù đắp thâm hụtngân sách và đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống nhân dân, tạođộng lực phát triển kinh tế - xã hội Các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố được giao quản
lý và sử dụng vốn TPCP đã có nhiều cố gắng trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện,bám sát mục tiêu, nội dung, danh mục dự án sử dụng vốn TPCP để phân bổ, quản lý và
sử dụng bảo đảm có hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí Số vốn TPCP đã giải ngân giaiđoạn 2006 - 2009 là 117.169 tỷ đồng cho hơn 2.000 dự án, công trình Theo báo cáo của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến 31/8/2010 đã có 1.410 công trình, dự án đã hoàn thành đưa
Trang 19vào khai thác sử dụng, chiếm 68%, trong đó có những công trình, dự án như: Dự ánđường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 chiều dài 1.432 km, các tuyến quốc lộ 4C, 4D
Tuy nhiên, việc sử dụng và quản lý nguồn vốn trái phiếu Chính phủ còn nhiều bấtcập
Trước hết là ở khâu đăng ký nhu cầu vốn, lập kế hoạch vốn TPCP còn nhiều hạnchế, xét duyệt thiếu chặt chẽ; xác định tổng mức đầu tư, tổng dự toán sơ sài, thiếu chínhxác, khi thực hiện phải điều chỉnh nhiều lần, với mức tăng cao làm vỡ kế hoạch vốn Đếnnăm 2009, đã giải ngân vượt mức tổng vốn TPCP của cả giai đoạn 2003 - 2010 nhưng chỉ
có hơn 50% dự án đã hoàn thành, nhiều công trình, dự án để hoàn thành cần số vốn tăng2-3 lần so với mức đăng ký Kết quả giám sát của UB Tài chính – Ngân sách của Quốchội vừa qua cho thấy, tổng mức đầu tư ban đầu của các công trình, dự án thuộc danh mụcđầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷ đồng.Nhưng hiện nay qua tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng mức đầu tư điều chỉnh từcác bộ, ngành, địa phương đã lên tới 558.654 tỷ đồng Hầu hết các dự án đều có phátsinh, có những dự án không chỉ điều chỉnh tăng giá nhân công, vật liệu, đền bù, giảiphóng mặt bằng mà còn điều chỉnh cả thiết kế kỹ thuật, quy mô dự án, có những dự ánvừa thi công, vừa đấu thầu, vừa điều chỉnh tổng mức đầu tư Riêng các bộ, ban, ngànhlập dự tóan nhu cầu trái phiếu Chính phủ năm 2011 này đã có mức tăng và tỷ lệ tăng rấtcao so với năm 2010 Điển hình như Bộ Giao thông Vận tải tăng 7.700 tỷ đồng, tăng62,6%; nhu cầu vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 - 2015 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn là 54.000 tỷ đồng, bình quân mỗi năm là 10.800 tỷ đồng, so với năm
2010 tăng 70% (6.800 tỷ đồng); của Bộ Giáo dục và Đào tạo là 36.200 tỷ đồng, bình quânmỗi năm là 7.240 tỷ đồng, so với năm 2010 tăng 60,8% (2.740 tỷ đồng); Bộ Y tế tăng75,9% (tăng 4.250 tỷ đồng)
Bên cạnh đó là việc sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ không đúng nội dung, mụcđích, bố trí ngoài danh mục dự án; không bố trí vốn đối ứng theo đúng cơ cấu vốn đượcduyệt, còn trông chờ hoàn toàn vào vốn TPCP diễn ra ở hầu hết các bộ, ngành, địaphương Tình trạng này làm tăng thêm nhu cầu TPCP Trong khi việc huy động trái phiếuchính phủ trong thời gian gần đây gặp nhiều khó khăn do các tác động tiêu cực của tìnhhình kinh tế vĩ mô khiến trái phiếu chính phủ không còn hấp dẫn đối với người dân nữa.Ngay trong năm 2009, mặc dù phát hành nhiều phiên nhưng vẫn chưa thể huy động đủ số
Trang 20vốn dự định Kế hoạch là 126.000 tỷ đồng và 950 triệu USD, song số thực hiện chỉ là19.172 tỷ đồng và 543 triệu USD
Ngòai ra, công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng từ nguồn vốn TPCP còn nhiều hạnchế, sai sót ở tất cả các khâu, từ lập, thẩm định, phê duyệt dự án, phân bổ vốn cho tớithực hiện đầu tư, đưa công trình vào khai thác sử dụng Đáng chú ý, vốn TPCP là vốn vaycủa Chính phủ nhưng đầu tư còn dàn trải, tiến độ thực hiện nhiều dự án còn chậm, có dự
án chưa thực sự cấp bách, không thuộc đối tượng sử dụng vốn TPCP nhưng vẫn được bốtrí đầu tư bằng nguồn vốn TPCP
3.2.2 Thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA:
Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nướcphát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ pháttriển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này Nguồn vốn ODA có những ưu thế như:Thời hạn vay dài, lãi suất thấp, thời gian ân hạn ưu đãi, có yếu tố tài trợ không hoàn lại Với những nước có xuất phát điểm kinh tế thấp như Việt Nam hiện nay, nguồn vốn ODA
có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong thời gian qua tại Việt Nam, đầu tư bằng vốn ODAchiếm khoảng 12% tổng vốn đầu tư xã hội, 28% vốn đầu tư từ NSNN, 50% vốn tín dụngđầu tư phát triển của Nhà nước Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ vớihơn 50 nhà tài trợ song phương và đa phương cùng 350 tổ chức Chính phủ với hơn 1500chương trình dự án Từ 1993 đến cuối 2010, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ camkết dành cho Việt Nam đạt tới hơn 64 tỉ USD Riêng vốn cam kết của các nhà tài trợ tạiHội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN (CG) năm 2010 vào đầu tháng 12.2010 là7,88 tỉ USD Tổng số vốn đã được giải ngân đạt trên 28 tỉ USD (năm 2010 giải ngân đạt3,5 tỉ USD) Theo số liệu thống kê, tỉ lệ giải ngân vốn ODA trong 4 năm (2006- 2010)cho thấy, tổng số giải ngân đạt hơn 12,5 tỉ USD, chiếm trên 40% tổng vốn ODA cam kết
Vốn ODA chủ yếu được đầu tư vào việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.Hơn 4,5 tỷ USD cùng với 101 dự án đầu tư chủ yếu cho ngành GTVT, trong đó tậptrung cho đường bộ, đường biển Vốn ODA được sử dụng để nâng cấp, khôi phục, xâymới 3676km đường quốc lộ, khôi phục và cải tạo khoảng 1000km đường tỉnh lộ, quốc
lộ 5, quốc lộ 1A (đoạn Hà Nội – Vinh, Tp Hồ Chí Minh – Cần Thơ), làm mới và khôiphục 188 cầu, chủ yếu trên các Quốc lộ 1, quốc lộ 10, quốc lộ 18 với tổng chiều dài33,7km; cải tạo và nâng cấp 10000km đường nông thôn và gần 31km cầu nông thôn