Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty Cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ (LV thạc sĩ)
Trang 1Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN ANH TUẤN
HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM TINH BỘT SẮN TẠI CÔNG TY CP LƯƠNG THỰC
VÀ THƯƠNG MẠI PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN ANH TUẤN
HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM TINH BỘT SẮN TẠI CÔNG TY CP LƯƠNG THỰC
VÀ THƯƠNG MẠI PHÚ THỌ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ DU PHONG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 4Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các Thầy,
Cô giáo của trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên trong suốt thời gian học tập
Tôi xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo, các ban ngành liên quan và bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn./
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 5Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 5
1.1 Những vấn đề chung về chuỗi cung ứng 5
1.1.1 Lịch sử phát triển chuỗi cung ứng 5
1.1.2 Khái niệm chuỗi cung ứng 6
1.1.3 Mục tiêu của chuỗi cung ứng 9
1.1.4 Đặc điểm của chuỗi cung ứng 10
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng 14
1.2 Cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng nông thủy sản và chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 16
1.2.1 Chuỗi cung ứng một số sản phẩm nông thủy sản tại Việt Nam 16
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở tỉnh Phú Thọ 19
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 21
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 22
Trang 6Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 25
Chương 3 THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM TINH BỘT SẮN TẠI CÔNG TY CP LƯƠNG THỰC VÀ THƯƠNG MẠI PHÚ THỌ 27
3.1 Khái quát về Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 27
3.1.1 Tên và địa chỉ giao dịch 27
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 27
3.1.3 Ngành nghề kinh doanh 28
3.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý và tình hình lao động của Công ty 29
3.1.5 Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kinh doanh của Công ty giai đoạn 2013 -2015 33
3.2 Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 34
3.2.1 Sản phẩm tinh bột sắn và quy trình sản xuất tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 35
3.2.2 Chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 39
3.2.3 Kết quả hoạt động và lợi ích của các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty thông qua phiếu điều tra 58
3.2.4 Mô hình phân tích SWOT đối với chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 73
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM TINH BỘT SẮN TẠI CÔNG TY CP LƯƠNG THỰC VÀ THƯƠNG MẠI PHÚ THỌ 76
4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ 76
4.1.1 Quan điểm phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ 76
4.1.2 Định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ 77
4.1.3 Mục tiêu phát triển cây sắn tỉnh Phú Thọ và sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 80
4.2 Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Tương thực và Thương mại Phú Thọ 81
Trang 7Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
4.2.1 Đảm bảo nguyên liệu đầu vào trong chuỗi cung ứng 81
4.2.2 Tăng cường liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi 82
4.2.3 Xây dựng mô hình sản xuất sạch hơn trong sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 84
4.2.4 Xây dựng mô hình tích hợp dọc với nhà cung cấp nguyên liệu trong chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 87
4.2.5 Tăng cường quản trị hoạt động sản xuất để đảm bảo VSATTP 89
4.3 Kiến nghị 90
4.3.1 Đối với các cấp chính quyền 90
4.3.2 Đối với các tác nhân trong chuỗi 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 8Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 9Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chọn đối tượng điều tra 23
Bảng 3.1 Cơ cấu cổ đông của Công ty thời điểm 30/09/2015 27
Bảng 3.2: Cơ cấu lao động của Công ty giai đoạn 2013 - 2015 32
Bảng 3.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 34
Bảng 3.4: Thị trường tiêu thụ sản phẩm tinh bột sắn của Công tygiai đoạn 2013 - 201545 Bảng 3.5: Thông tin chung về hộ nông dân điều tra 60
Bảng 3.6: Thông tin về đầu vào trong sản xuất sắn bình quân của hộ 61
Bảng 3.7: Kết quả sản xuất 1ha sắn củ bình quân của hộ nông dân 63
Bảng 3.8: Thông tin chung về người thu mua 64
Bảng 3.9: Giá trị tài sản sở hữu trung bình của 01 hộ thu mua 65
Bảng 3.10: Kết quả thu mua bình quân 01 chuyến sắn của hộ thu mua 66
Bảng 3.11: Thông tin chung về cơ sở chế biến tinh bột sắn ướt 67
Bảng 3.12: Giá trị tài sản sở hữu trung bình của 1 hộ chế biến tinh bột sắn ướt 67
Bảng 3.13: Kết quả sản xuất bình quân 01 vụ của hộ chế biến 68
Bảng 3.14: Kết quả sản xuất tinh bột sắn từ chế biến sắn củ của Công ty 69
Bảng 3.15: KQSX từ chế biến tinh bột sắn ướt của Công ty 70
Bảng 3.16: Lợi nhuận 01 kg sắn củ của các tác nhân trong chuỗi cung ứng 71
Bảng 3.17: Chi phí - lợi ích toàn chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắncủa Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 71
Bảng 3.18: Điểm mạnh và Điểm yếu của chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 73
Bảng 3.19: Cơ hội và Thách thức trong chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ 75
Bảng 4.1 Mục tiêu phát triển cây sắn tỉnh Phú Thọ đến 2020 80
Trang 10Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Chuỗi cung ứng điển hình 8
Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung ứng đơn giản 11
Sơ đồ 1.2: Chuỗi cung ứng mở rộng 12
Sơ đồ 1.3: Ví dụ về chuỗi cung ứng mở rộng 12
Sơ đồ 1.4: Thành viên chuỗi cung ứng 13
Sơ đồ 1.5: Chuỗi cung ứng thuỷ sản 17
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức Công ty CP Lương thực và TM Phú Thọ 30
Sơ đồ 3.2: Quy trình sản xuất tinh bột sắn ướt 36
Sơ đồ 3.3: Quy trình sấy khô tinh bột sắn 36
Sơ đồ 3.4: Chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty cổ phần Lương thực và Thương mại Phú Thọ 40
Sơ đồ 3.5: Các mối quan hệ trực tiếp giữa hộ nông dân trồng sắn với các tác nhân khác trong chuỗi cung ứng 42
Sơ đồ 3.6: Các mối quan hệ trực tiếp giữa hộ thu mua với các tác nhân khác trong chuỗi cung ứng 42
Sơ đồ 3.7: Hộ chế biến và các mối quan hệ trực tiếp với các tác nhân khác trong chuỗi cung ứng 41
Sơ đồ 3.8: Quy trình tổ chức thu mua nguyên liệu của công ty 44
Sơ đồ 3.9 Dòng chảy chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn 47
Sơ đồ 3.10: Dòng chảy vật chất trong chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty năm 2015 49
Sơ đồ 3.11: Dòng chảy thông tin trong chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty 55
Sơ đồ 4.1: Mô hình chuỗi cung ứng mặt hàng tinh bột sắn của Công ty LTPT 87
Trang 11Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 năm 1986, nông nghiệp đã được xác định là mặt trận kinh tế hàng đầu Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi đây
là một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Nhờ vậy, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã có những bước tiến mạnh
mẽ Sản lượng lương thực đã tăng gấp gần 3 lần so với thời điểm năm 1985 Nông nghiệp không chỉ đảm bảo đủ cung cấp lương thực thực phẩm cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu số lượng lớn nông, lâm, thủy sản Từ chỗ thiếu đói và khủng hoảng lương thực, Việt Nam đã vươn lên đủ ăn và trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo và nhiều sản phẩm nông sản khác cũng có sản lượng xuất khấu lớn như cà phê, hạt tiêu, hạt điều, ngô, sắn lát, tinh bột sắn Trong giai đoạn phát triển mới, nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng và tiếp tục được quan tâm Với việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới cùng với nhu cầu về nông sản trên thế giới ngày càng tăng đang đặt ngành nông nghiệp Việt Nam trước những cơ hội và thách thức mới, trong đó sản phẩm tinh bột sắn
Sản phẩm tinh bột sắn là mặt hàng quan trọng, là sản phẩm đầu vào số lượng lớn cho một số ngành sản xuất như: mì tôm, mì chính, sản xuất cồn, công nghiệp giấy, dược phẩm, sợi, keo hồ dán Sắn và các sản phẩm từ sắn ngày càng có giá trị kinh tế cao và góp phần nâng cao thu nhập đáng kể cho bà con nông dân trồng sắn Đối với tỉnh Phú Thọ thời gian qua sản phẩm từ cây sắn nói chung, tinh bột sắn nói riêng đã góp phần rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp
và chương trình xoá đói giảm nghèo, làm thay đổi bộ mặt nông thôn của các huyện trồng sắn trong tỉnh
Cũng giống như các sản phẩm nông nghiệp khác, mặt hàng tinh bột sắn cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như: những tồn tại trong nguồn cung, sản xuất, xuất khẩu và phân phối sản phẩm Sản xuất manh mún, cá thể, mang tính
Trang 12Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tự phát và chưa tổ chức cho phù hợp với nền kinh tế thị trường nên chưa phát huy hết giá trị kinh tế tiềm năng của cây sắn Vùng trồng sắn vẫn chưa được quy hoạch bài bản nên khó cho thương lái tổ chức thu gom sắn củ; tình trạng được mùa mất giá vẫn còn xảy ra; chất lượng sản phẩm không đồng đều; cơ giới hoá trong sản xuất sản phẩm tinh bột sắn còn hạn chế; thiếu sự hợp tác giữa các bên tham gia trong chuỗi cung ứng sản phẩm Đứng trước tình hình cạnh tranh ngày càng khốc liệt và những thay đổi trong nông nghiệp vài thập niên vừa qua cho thấy hợp tác dọc trong nông nghiệp là cần thiết cho thành công về mặt kinh tế của các sản phẩm nông nghiệp Do
đó, xây dựng chuỗi cung ứng gắn kết chặt chẽ các bên liên quan là phương thức để đạt được sự hợp tác dọc vì mục tiêu chung là tối đa hoá giá trị và giá cả cho tất cả các bên liên quan trong chuỗi cung ứng Với một chuỗi cung ứng hợp tác dọc hoàn toàn
sẽ nâng cao chất lượng, tăng hiệu quả, cho phép tạo ra những sản phẩm khác biệt và làm tăng lợi nhuận Những lợi ích chính của chuỗi cung ứng kiểu này là: cơ hội tiếp thị duy nhất, thị trường được đảm bảo, tạo ra những giá trị lớn hơn, chống lại việc cạnh tranh ở cấp độ toàn cầu và tăng khả năng quản lý rủi ro
Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông sản, với mặt hàng chủ lực là tinh bột sắn Kể từ ngày thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay công ty đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ và không ngừng nỗ lực đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, năng lực cán bộ, tay nghề công nhân để trở thành một trong những nhà sản xuất và cung cấp nông sản lớn của Việt Nam Gần đây do sự tăng nhanh các nhà máy chế biến tinh bột sắn, cùng với việc mở rộng dây chuyền sản xuất nên sản lượng sắn nguyên liệu không đủ cho chế biến Vấn đề đặt ra hiện nay cho công ty phải có kế hoạch thu mua nguyên liệu lượng để đáp ứng nhu cầu sản xuất Vậy công ty cần nắm được vấn đề chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng cũng như có chiến lược chuỗi cung ứng hợp lý [5]
Trang 13Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện chuỗi cung ứng sản
phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ” làm đề
tài luận văn cao học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng, thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn cho công ty
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng
- Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ, bao gồm các tác nhân chính trong chuỗi như: nông dân trồng sắn, hộ thu mua, hộ chế biến, Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ và khách hàng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty
CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty CP Lương thực và
Thương mại Phú Thọ
- Về thời gian: Số liệu phục vụ đề tài được thu thập từ các tài liệu thứ cấp và
sơ cấp Đối với các tài liệu thứ cấp như sách, báo, các báo cáo, số liệu thống kê…được thu thập trong giai đoạn từ 2013- 2015 Đối với các tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn tại thời điểm năm 2015
Trang 14Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu quan trọng giúp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn qua đó nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ Đây cũng là tài liệu tham khảo quan trọng cho các cơ quan, đơn vị sản xuất các sản phẩm nông sản tương tự hoàn thiện chuỗi cung ứng Đồng thời là một kênh giúp cho UBND tỉnh Phú Thọ nói chung, ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ nói riêng hoàn thiện các chính sách liên quan nhằm phát triển các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh thời gian tới
Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực
và Thương mại Phú Thọ Điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả tương tác giữa các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng Đặc biệt góp phần ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân trồng sắn qua đó đóng góp thiết thực vào phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ nói riêng, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu kham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
Trang 15Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 Những vấn đề chung về chuỗi cung ứng
1.1.1 Lịch sử phát triển chuỗi cung ứng
Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX, nghĩa là có trước khi bắt đầu xuất hiện khái niệm logistics (business logistics) Khi
đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu… với việc phân phối sản phẩm, việc xây dựng các chuỗi cung ứng mang một bộ mặt khác, nó là một phần không thể thiếu được khi nghiên cứu, áp dụng logistics
Chuỗi cung ứng có thể hình dung như một đường ống hoặc một cái máng dùng cho dòng chảy của sản phẩm/vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng qua nhiều tổ chức, công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng Như vậy một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm các đơn vị tham gia với những dịch vụ logistics cụ thể
Khi logistics ra đời và phát triển ở nhiều công ty - mà dạng đơn giản nhất của logistics là sự sáp nhập cung ứng vật tư (inbound logistics) vào phân phối sản phẩm (outbound logistics), cùng với quan điểm giá thành tổng thể, quan điểm chuỗi giá trị cũng được đưa vào xem xét Quan niệm này đặc biệt quan trọng trong quản trị logistics
Những năm 90 của thế kỉ XX, với sự phát triển của logistics, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty Một chuỗi cung ứng hợp nhất hiện nay có thể mô tả theo như hình 2.1
Một chuỗi cung ứng hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người bán lẻ - người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như nhà phân phối, người sản xuất (nhà máy), người bán buôn, nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính
Hiện nay, việc thiết kế và áp dụng các chuỗi cung ứng cụ thể là những đối tượng của nghiên cứu và ứng dụng Trong việc thiết kế chuỗi cung ứng, ngoài việc thiết
Trang 16Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
lập lộ trình cụ thể của hàng hóa dịch vụ cần cung ứng, người ta phải thiết lập những mối liên hệ chi tiết giữa các đơn vị tham gia vào chuỗi để việc cung ứng phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, trong đó việc giao đúng hẹn là hết sức quan trọng
Việc tính toán, xác định chi phí toàn bộ cho sản phẩm qua chuỗi cũng là những vấn đề mấu chốt của quản trị chuỗi, vì lợi ích mà logistics đem lại là nhờ một phần vào việc này Để làm được những việc trên cần phải theo dõi và quản lý thông tin trên toàn chuỗi một cách hệ thống [16]
1.1.2 Khái niệm chuỗi cung ứng
Ngày nay cạnh tranh một cách thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào đều đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Điều này yêu cầu các doanh nghiệp khi đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng cần phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quản sản phẩm hoàn thành
và những điều mà người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng thực sự yêu cầu (ví
dụ như có nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng mà khách hàng sử dụng) Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt ở thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư, và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trong công nghệ truyền thông và vận tải (ví dụ: truyền thông di động, Internet và phân phối hàng qua đêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó
Vậy chuỗi cung ứng là gì? Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, nhưng chưa có một định nghĩa nào được coi là chuẩn Sau đây là một số định nghĩa về chuỗi cung ứng đã được đưa ra:
“Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực
Trang 17Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng” [19]
“Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hóa nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối” [15]
“Chuỗi cung cấp là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới trong các quá trình và hoạt động khác nhau sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng” [1]
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó Những chức năng này bao gồm, nhưng không bị hạn chế, phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau
đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở
Cùng với sự phát triển của sản xuất, của công nghệ thông tin, thì dây chuyền cung ứng này càng phức tạp, vai trò của công nghệ thông tin trong quản trị dây truyền cung ứng ngày càng lớn Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức của chuỗi cung ứng, có một số thì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều Với ý tưởng chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt
Trang 18Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp
Về mặt lý thuyết, chuỗi cung ứng hoạt động như một đơn vị cạnh tranh riêng biệt và cố hữu, thực hiện những việc mà nhiều doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp hội nhập dọc cố gắng đạt được và đã thất bại trong việc thực hiện mục tiêu này Điểm khác biệt chính là các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng hoàn toàn tự do trong việc quyết định thâm nhập hoặc rời khỏi mối quan hệ chuỗi nếu quan hệ này không còn đem lại lợi ích cho họ; đó chính là tổ chức thị trường tự do nhằm giúp đỡ chuỗi cung ứng vận hành một cách hiệu quả hơn các khối liên kết dọc
Hình 1.1 Chuỗi cung ứng điển hình
Qua các khái niệm trên, nhận thấy khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗi cung ứng Các hoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn hàng của họ Khi các doanh ngiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp
Trang 19Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc cung cấp dịch
vụ chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất đến nhà phân phối đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Điều quan trọng là phải mường tượng dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối Vì vậy đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới
1.1.3 Mục tiêu của chuỗi cung ứng
Mục tiêu của chuỗi cung ứng có 2 phần: 1) Loại bỏ hoàn toàn những lãng phí tìm thấy ở bất cứ đâu trong mạng lưới kênh cung ứng, và 2) Tối ưu hoá dòng giá trị khách hàng - từ những thiết kế sản phẩm cao nhất đến ưu việt nhất
Thứ nhất, chuỗi cung ứng sẽ tạo ra giá trị cho khách hàng ở mỗi điểm tiếp xúc Và như vậy sẽ đảm bảo cho công ty cũng như mạng lưới các đối tác trong chuỗi cung ứng có thể tạo ra sự khác biệt sâu sắc với đối thủ của mình
Thứ hai, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra cho toàn
hệ thống Giá trị tạo ra của chuỗi cung ứng là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung ứng dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với đa số các chuỗi cung ứng thương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của
cả chuỗi cung ứng Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận được chia sẻ xuyên suốt chuỗi Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công của chuỗi cung ứng càng lớn Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo lường dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lượng lợi nhuận ở mỗi giai đoạn riêng lẻ Vì vậy, trọng tâm không chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vận dụng cách tiếp cận hệ thống vào chuỗi cung ứng
Những lợi ích chính của việc theo đuổi chuỗi cung ứng có thể được tóm lược như sau: Một chuỗi cung ứng giúp công ty và các đối tác trong chuỗi cung ứng tạo
ra những khác biệt rõ rệt so với đối thủ cạnh trạnh Lợi ích này còn được phân chia trên hai lĩnh vực cụ thể : hiệu quả tài chính và lợi thế cạnh trạnh
Trang 20Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Hiệu quả tài chính: chuỗi cung ứng giúp các đối tác trong đó tăng lợi nhuận
và thu hút bên liên quan bằng cách tập trung trực tiếp vào nguồn lực thực sự của doanh thu và lợi nhuận-chính là khách hàng
Lợi thế cạnh tranh: Ngoài lợi ích về hiệu quả tài chính, việc xây dựng quan
hệ mật thiết với khách hàng có thể cải thiện rõ ràng vị thế cạnh tranh Các công ty ngày nay đang cảm thấy bị thu hẹp bởi các công ty lớn như Wal-Mart và hoạt động sản xuất, phân phối dựa trên chi phí thấp, lợi thế nhờ quy mô
1.1.4 Đặc điểm của chuỗi cung ứng
Trong các thị trường khác nhau, khách hàng có nhu cầu khác nhau, vì thế để đáp ứng nhu cầu cho mỗi thị trường cần có các chuỗi cung ứng khác nhau Nhưng các chuỗi cung ứng có chung đặc điểm phải trả lời các câu hỏi về sản xuất, tồn kho, định vị, vận chuyển và thông tin
Sản xuất là khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗi cung ứng Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần này Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Tồn kho là việc hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ như thế nào Chính yếu tố sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của một doanh nghiệp Nếu tồn kho ít, tức là sản phẩm của bạn được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, điều đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa
Định vị là việc tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa điểm tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền cung ứng Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
Vận chuyển là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu, cũng như sản phẩm giữa các nơi trong dây chuyền chuỗi cung ứng Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển
Trang 21Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Thông tin: Những thông tin gì cần được thu thập? Thông tin gì nên chia sẻ? Thông tin càng nhanh, càng chính xác sẽ giúp cho các thành viên trong chuỗi đưa ra những quyết định phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau
Trả lời những câu hỏi này, các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng sẽ đưa ra những quyết định ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu của của toàn chuỗi Tuy nhiên, để trả lời được những câu hỏi trên, các doanh nghiệp phải ý thức rõ thị trường mà họ phục
vụ cũng như đối tượng khách hàng mà họ nhắm tới Sự năng động của chuỗi cung ứng trong việc nắm bắt những tín hiệu thị trường sẽ giúp cho việc thỏa mãn những nhu cầu khách hàng nhanh chóng và hiệu quả hơn
Chuỗi cung ứng cũng được đặc trưng bởi các tác nhân trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng gồm các tác nhân sau:
* Với hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm công ty, các nhà cung cấp và khách hàng của công ty đó
Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung ứng đơn giản
Một công ty sản xuất sẽ nằm trong “mô hình đơn giản”, khi họ chỉ mua nguyên vật liệu từ một nhà cung cấp, sau đó tự làm ra sản phẩm của mình rồi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng Ở đây, chỉ phải xử lý việc mua nguyên vật liệu rồi sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động và tại một địa điểm duy nhất
* Chuỗi cung ứng mở rộng ngoài ba thành viên trên còn có ba thành viên khác
đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, và toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty trong chuỗi cung ứng Các công ty cung cấp dịch vụ này sẽ cung cấp dịch vụ hậu cần, tài chính, tìm hiểu thị trường, thiết kế sản phẩm và công nghệ thông tin cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng
Nhà cung cấp
cuối cùng Nhà cung cấp Công ty Khách hàng Khách hàng cuối cùng
Nhà cung cấp dịch vụ
Trang 22Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Sơ đồ 1.2: Chuỗi cung ứng mở rộng
Cụ thể hơn, dọc theo một chuỗi cung ứng bắt đầu từ các công ty Các công ty này chính là các nhà sản xuất, chế biến, phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng và khách hàng của khách hàng
1.1.5 Thành phần của chuỗi cung ứng
Các nhân tố tham gia vào chuỗi cung ứng bao gồm: Nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng.Cụ thể được thể hiện qua sơ đồ sau:
- Nhà cung cấp nguyên vật liệu có vai trò quan trọng cung cấp nguyên vật liệu cho nhà máy sản xuất, nguồn nguyên liệu có thể nằm ở khắp mọi nơi trên thế giới, các vùng nông thôn hẻo lánh…
- Nhà sản xuất có vai trò chế biến thành những sản phẩm phục vụ nhu cầu của cuộc sống Nhà sản xuất là các đơn vị tổ chức sản xuất ra sản phẩm Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất ra nguyên vật liệu và công ty sản xuất thành phẩm
Trang 23Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Nhà bán sỉ có vai trò cung ứng hàng hóa ra thông qua người bán lẻ hoặc có thể bán trực tiếp ra thị trường nhưng với một số lượng lớn Nhà bán sỉ là các cá nhân, công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và bán các sản phẩm đó
Họ chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm đến tay khách hàng khi họ muốn và đến nơi họ cần Đây là thành viên gần gũi với khách hàng, nắm bắt và nhu cầu của khách hàng Không chỉ thực hiện những chiến dịch khuyến mại, các nhà phân phối còn thực hiện chức năng như quản lý vận hành các kho hàng, vận chuyển các sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ khách hàng
- Nhà bán lẻ là nơi trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng, có mối quan hệ trực tiếp với khách hàng Nhà bán lẻ thực hiện chức năng dự trữ sản phẩm và bán các sản phẩm với lượng bán nhỏ hơn Đây là thành viên gần gũi với khách hàng nhất (khách hàng cuối cùng) Tổng hợp những thông tin về khách hàng từ nhà bán
lẻ sẽ giúp những nhà phân phối cũng như các công ty nắm bắt tốt hơn những nhu cầu của khách hàng trên thị trường
- Khách hàng là người tiêu thụ sản phẩm được làm ra và khách hàng cũng giữ vị trí quan trọng trong sự tồn tại của chuỗi cung ứng sản phẩm Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm Một khách hàng có thể mua sản phẩm của công ty và bán cho khách hàng khác và sử dụng nó
Ngoài ra tham gia vào chuỗi cung ứng còn có nhà cung cấp dịch vụ: Đó là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng Nhà cung cấp dịch vụ có những chuyên môn và kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng Chính vì thế họ cú thể thực hiện được những dịch vụ này hiệu quả hơn với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dùng làm điều này
Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp phổ biến nhất là cung cấp dịch
vụ vận tải và dịch vụ nhà kho Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng và thường được biết đến là nhà cung cấp hậu cần Trong các chuỗi cung ứng khác nhau, số lượng các tác nhân có thể đầy đủ hoặc có thể thiếu một số tác nhân trong chuỗi
Trang 24Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Có ba dòng chảy xuyên suốt toàn chuỗi cung ứng Đó là dòng chảy của sản phẩm, thông tin và tài chính Các dòng chảy này tạo ra chi phí của chuỗi cung ứng Khách hàng là nguồn doanh thu duy nhất của chuỗi cung ứng
Sự phối hợp chặt chẽ của dòng chảy sản phẩm, thông tin và tài chính là vô cùng quan trọng trong chuỗi cung ứng Đặc biệt là vai trò cầu nối của dòng chảy thông tin bởi nó ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu khách hàng đúng lúc Tại một cửa hàng bán lẻ, khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm, giá cả và sự sẵn sàng, đầy đủ về thông tin (sản phẩm, khuyến mãi, nhà sản xuất…) và ngược lại khách hàng sẽ thanh toán tiền sản phẩm mà họ mua Nhà bán lẻ sẽ gửi thông tin liên quan đến việc bán hàng, đơn đặt hàng tới các nhà phân phối để họ chuyển hàng tới Các cửa hàng bán lẻ sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận được hàng Nhà phân phối cũng đổi cho nhà bán lẻ những thông tin về sản phẩm, giá cả… Vòng tuần hoàn bắt đầu với việc nhận đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ Cứ như vậy, dòng sản phẩm, tài chính và thông tin được luân chuyển trong chuỗi cung ứng
Bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng cần cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, nếu chỉ tập trung vào tính hiệu quả
mà bỏ qua tính đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng thì các công ty, các chuỗi cung ứng không thể thành công Cùng sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ, các công ty ngày càng chú trọng chuyên môn hóa vào các sản phẩm mà
nó thực hiện tốt nhất để cạnh tranh được với các đối thủ khác Chính điều này đó thúc đẩy các công ty khác nhau liên kết lại với nhau để thực hiện các hoạt động trong chuỗi cung ứng như sự liên kết của các công ty chịu trách nhiệm sản xuất với các công ty chuyên về vận chuyển, phân phối, bán lẻ
1.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng liên quan đến các hoạt động dịch
vụ, các tác nhân tham gia cũng như dòng chảy thông tin, sản phẩm, tài chính trong chuỗi, bao gồm như sản xuất, tồn kho, vận chuyển, vị trí và thông tin
Sản xuất: Phương tiện sản xuất là các nhà máy và nhà kho Quyết định cơ bản của các công ty khi sản xuất là làm thế nào để cân đối giữa tính đáp ứng nhanh
Trang 25Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
và tính hiệu quả Để đáp ứng nhanh các nhu cầu công ty phải xây dựng nhà máy và kho thừa công suất, nhưng điều này lại làm sản xuất kém hiệu quả khi lãng phí nguồn lực và chứa đựng nhiều rủi ro bởi nhu cầu luôn thay đổi Các nhà máy có thể được xây dựng theo hai hướng: tâm điểm sản phẩm và tâm điểm chức năng Theo tâm điểm sản phẩm, công ty sẽ thực hiện các công đoạn từ chế tạo đến lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh Theo tâm điểm chức năng, công ty sẽ chuyên về một chức năng
cụ thể thay vì về một sản phẩm sẵn có Kho hàng cũng được thiết kế thích ứng theo các phương pháp khác nhau, như lưu kho đơn vị, cho phép lấy và đóng gói hiệu quả hơn có thể sử dụng phương pháp lưu kho theo công năng, hoặc để nâng cao hiệu suất của chuỗi cung ứng có thể sử dụng lưu kho chéo Lưu kho chéo là phương pháp lưu kho mà Wal-mart đó sử dụng Theo phương pháp này các kho hàng chứa quy trình chứ không chứa sản phẩm
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho không chỉ là những sản phẩm cuối cùng được lưu trữ tại các kho hàng, mà nó cũng bao gồm nguyên vật liệu cho sản xuất cũng như các sản phẩm trung gian Do đó, tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều nắm giữ lượng hàng tồn kho nhất định Hàng tồn kho cũng chịu ảnh hưởng từ mâu thuẫn giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả Để hiệu quả, mục tiêu của các công
ty là giảm chi phí hàng tồn kho Nhưng để đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng, các công ty phải tăng thêm chi phí dành cho hàng tồn kho Có ba quyết định cơ bản về tồn trữ hàng tồn kho Đó là hàng tồn kho chu kỳ, hàng tồn kho an toàn, hàng tồn kho thời vụ
Hàng tồn kho chu kỳ là lượng hàng tồn kho cần thiết để thỏa mãn nhu cầu sản phẩm trong kỳ giữa những lần thu mua Tuy nhiên việc không thể dự báo chính xác nhu cầu sản phẩm đó khiến cho các công ty phải tồn kho thêm để dự phòng trong trường hợp nhu cầu tăng cao, vì vậy đã đẩy chi phí tồn kho, chi phí vận chuyển tăng Các công ty sẽ cân nhắc giữa chi phí tăng lên với phần doanh thu bị mất nếu không tồn kho để đưa ra những quyết định của mình Tất nhiên các công ty đều không ưa thích phương thức tồn kho này Tại những thời điểm nhất định trong năm dự báo nhu cầu sẽ tăng cao, các công ty cũng lựa chọn hàng tồn kho theo thời vụ
Vị trí: Liên quan đến quyết định về tính đáp ứng nhanh và hiệu quả của các công ty Để đáp ứng nhanh công ty phải hoạt động ở nhiều vị trí (về mặt địa lý) khác
Trang 26Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nhau, gần với khách hàng để dễ dàng cho việc đáp ứng nhu cầu của họ Nhưng để hiệu quả công ty chỉ nên hoạt động ở một số vị trí chủ chốt để giảm thiểu chi phí Do đó, việc lựa chọn các vị trí có tác động lớn tới chi phí và đặc trưng, sự phân phối sản phẩm của chuỗi cung ứng cũng như việc tìm kiếm và “giữ chân” khách hàng
Vận chuyển: Tại các địa điểm khác nhau trong chuỗi cung ứng có những cách thức khác nhau Người quản lý chuỗi cung ứng cần lập ra những lộ trình khác nhau để đưa sản phẩm từ khu sản xuất tới mạng lưới các nhà phân phối, bán lẻ thông qua các phương tiện vận chuyển Việc lựa chọn các phương tiện vận chuyển, con đường vận chuyển ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí và từ đó gián tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận toàn chuỗi Nguyên tắc chung trong vận chuyển sản phẩm là giá trị càng cao thì càng nhấn mạnh tính đáp ứng nhanh, giá trị càng thấp thì càng nhấn mạnh tính hiệu quả
Thông tin: Đây là yếu tố then chốt trong việc ra quyết định của tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng Nó được xem là yếu tố kết nối các hoạt động về sản xuất, hàng tồn kho, vị trí, phương thức vận chuyển trong chuỗi Nắm bắt thông tin giúp công ty dự đoán và lên kế hoạch thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tương lai Bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng phải cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả, nếu có thông tin tốt, các công ty có thể so sánh được chi phí, lợi nhuận liên quan tới quyết định các vấn đề trên, đồng thời so sánh giữa chi phí để có được thông tin và lợi ích có được từ thông tin đó Thông tin nhanh, chính xác, đầy đủ sẽ giúp thực hiện mục tiêu lợi nhuận của toàn chuỗi cung ứng
1.2 Cơ sở thực tiễn về chuỗi cung ứng nông thủy sản và chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
1.2.1 Chuỗi cung ứng một số sản phẩm nông thủy sản tại Việt Nam
1.2.1.1 Chuỗi cung ứng sản phẩm thuỷ sản
Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Lê Anh Tuấn năm 2009
Đây là nghiên cứu về chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản nói chung của Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu và đưa ra mô hình một chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản
Trang 27Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Khách hàng
Khách hàng
Từ việc nghiên cứu chuỗi cung ứng thủy sản, tác giả đưa ra, chuỗi cung ứng
sản phẩm thủy sản còn tồn tại 3 vấn đề lớn, đó là:
- Khả năng đáp ứng yếu tại từng khâu trong chuỗi Vấn đề này có thể nhận
thấy rõ nhất ở khâu nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Các hộ nuôi trồng, đánh bắt cần
phải cung cấp nguyên liệu với đủ số lượng và chất lượng yêu cầu cho nhà sản xuất
Các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản thường là các hộ nhỏ lẻ, không có khả năng dự
đoán sự vận động của thị trường trong dài hạn để có các điều chỉnh hợp lý Một phần
nữa là, một số hộ nông dân do chạy theo lợi ích đã sử dụng quá mức các loại thuốc,
hóa chất làm ảnh hưởng tới chất lượng của nguyên liệu thủy sản Ví dụ như tôm,
thường bị nhiễm dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng Đây là tình trạng chạy
theo năng suất mà quên đi chất lượng Chất lượng của nguyên liệu thủy sản còn bị
ảnh hưởng do không đủ kho lạnh để bảo quản Với các đơn vị đánh bắt nhỏ lẻ, việc
xây dựng kho lạnh đủ tiêu chuẩn có thể là quá khả năng Để giải quyết được vấn đề
cho khâu này cần có sự liên kết hỗ trợ từ các khâu khác trong chuỗi cung ứng
- Thông tin không được chia sẻ tốt giữa các thành viên trong chuỗi Năng lực
của các khâu trong chuỗi cung ứng là có hạn, do vậy họ cần có được thông tin tốt về
thị trường và nhu cầu sản phẩm để có những phản ứng và giải pháp kịp thời Nếu bộ
phận xuất khẩu có thể cung cấp những thông tin chính xác về nhu cầu thị trường, bộ
phận chế biến sẽ có thời gian chuẩn bị năng lực để sản xuất, và bộ phận cung cấp
nguyên liệu sẽ có thời gian để chuẩn bị nguồn nguyên liệu tốt hơn Nếu thông tin
không tốt, có thể xảy ra hai tình huống tại bộ phận cung cấp nguyên liệu: khi nhu
Bán lẻ
Trang 28Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cầu nguyên liệu tăng cao, khâu đánh bắt không thể đáp ứng được; khi nhu cầu giảm, nhưng đánh bắt quá nhiều sẽ làm cho giá nguyên liệu sụt giảm gây thiệt hại cho khâu cung cấp nguyên liệu
Cả hai tình huống đều dẫn đến thiệt hại Thông tin tốt sẽ giúp các mắt xích trong chuỗi phối hợp đồng bộ hơn, và từ đó giảm được rất nhiều lượng dự trữ, tồn kho không mong muốn trong chuỗi Đối với chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản, điều này càng quan trọng hơn vì các sản phẩm này không thể dự trữ được lâu
- Không có sự cam kết chặt chẽ giữa các thành viên trong chuỗi Khi các thành viên trong chuỗi hợp tác với nhau, họ phải có được sự cam kết vững chắc, đảm bảo các bên tuân thủ hợp đồng đó ký, không vì lợi ích trước mắt mà vi phạm hợp đồng Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định của chất lượng sản phẩm đầu ra - một trong những vấn đề cốt yếu của sản phẩm thủy sản Việt Nam
Để giải quyết vấn đề về chất lượng, có thể áp dụng thủ tục kiểm tra chất lượng 100% Tuy nhiên, thực hiện việc này sẽ rất tốn kém và không phải lúc nào cũng làm được Nếu các thành viên trong chuỗi cam kết đảm bảo chất lượng tại khâu của mình, không để sản phẩm chất lượng kém chuyển sang khâu sau, thì sẽ thủy sản tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong chuỗi cung ứng các sản phẩm [12]
1.2.1.2 Chuỗi cung ứng lúa gạo huyện Hải Hậu - Nam Định
Công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Phượng - Trường Đại Học Nông Nghiệp, Hà Nội năm 2009 về chuỗi cung ứng mặt hàng lúa gạo tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Đinh
Nghiên cứu của Lê Thị Phượng đã đề cập một cách toàn diện về chuỗi cung ứng lúa gạo huyện Hải Hậu, Nam Định và đã đưa ra nhiều kết luận đáng quan tâm
Chuỗi cung ứng lúa gạo huyện Hải Hậu, Nam Định đã hình thành với đầy
đủ các thành viên: Nhà sản xuất (nông dân), tác nhân chế biến (bán buôn, xay sát), tác nhân bán buôn, tác nhân bán lẻ Trong đó, tác nhân chế biến là tác nhân hoạt động có hiệu quả trong chuỗi bởi khối lượng sản phẩm giao dịch của các tác nhân này cao nhằm giảm bớt chi phí, lợi nhuận thu được là lớn nhất trong chuỗi chiếm
Trang 29Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
39,2% tổng lợi nhuận toàn bộ chuỗi Tác nhân sản xuất là người phải bỏ chi phí nhiều nhất, sự phân bổ giữa lợi nhuận và lao động chưa hợp lý vì thế giá trị thực công lao động của hộ nông dân quá thấp Tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp về nguồn hàng, về liên kết, về thị trường tiêu thụ Đó là cần mở rộng sản xuất; liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi với nhau, các tác nhân trong chuỗi với các tác nhân ngoài chuỗi nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ; quảng bá nâng cao thương hiệu của sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng…[7]
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở tỉnh Phú Thọ
Là vùng trung du miền núi có nhiều diện tích đất đồi nên từ lâu cây sắn đã trở thành cây trồng chủ lực của Phú Thọ Vào những năm tình hình lương thực khó khăn sắn là cây trồng chủ yếu đảm bảo cân đối đủ ăn Giai đoạn từ những năm
1990 về trước trên đồi Phú Thọ bát ngát đâu đâu cũng là sắn, sắn là nguồn lương thực chủ yếu không chỉ cho người mà còn chăn nuôi, có năm diện tích lên tới đến 55-60 ngàn ha, sản lượng lên tới hàng chục vạn tấn củ tươi Khi các địa phương cân đối được lương thực, diện tích trồng sắn thu hẹp dần, nhiều vùng cây sắn gần như mất hẳn, đến giờ chủ yếu còn trồng ở các huyện miền núi Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Tam Nông, Thanh Ba với tổng diện tích khoảng trên dưới 8.000ha Tuy là cây trồng lâu năm song đến nay thâm canh, chế biến tiêu thụ sắn vẫn còn nhiều bất cập
Năm 2014 cả tỉnh trồng được 8.577ha, chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn 1.931ha, Tân Sơn 1.432ha, Yên Lập 903ha năng suất bình quân gần 14 tấn/ha (tăng 2tấn/ha so với 3 năm trước) sản lượng khoảng 117 ngàn tấn So với nhiều năm trước, việc trồng sắn của nông dân có một số thay đổi, diện tích đất đồi trồng thuần
đã thu hẹp lại chỉ còn khoảng 3.000ha, chủ yếu ở những xã có nhiều đất mầu đồi, vừa kết hợp trồng sắn vừa xen lạc, đỗ, đậu, khoai sọ, sử dụng chủ yếu là giống mới, bón phân hóa học nên năng suất tăng hơn Nhiều diện tích cho năng suất 1.000-1.200kg/sào, tương đương 25-30 tấn củ tươi/ha, bình quân chung đạt 15-18 tấn/ha Phần còn lại là đất đồi cao, tập trung nhiều ở những vùng miền núi có nhiều đất nương rẫy, đất trồng rừng Những vùng này tuy diện tích lớn, nhưng hầu hết sắn trồng quảng canh, năng suất thấp bình quân chỉ đạt 7-8 tấn/ha [24]
Trang 30Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 31Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1 Thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ hiện nay như thế nào?
Câu 2 Còn có những tồn tại,hạn chế gì trong chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ?
Câu 3 Cần có những giải pháp gì nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ thời gian tới?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài vận dụng chủ nghĩa duy vâ ̣t biê ̣n chứng làm cơ sở phương pháp luâ ̣n Bởi vì, chủ nghĩa duy vật bi ện chứng là khoa học về các quy luật chung nhất của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người Những nguyên lý của nó có tác dụng hướng dẫn , gơ ̣i mở các thức xem xét các sự vâ ̣t , hiê ̣n tượng trong cả tự nhiên, xã hội và trong nhận thức Những nguyên lý ấy cung cấp mô ̣t thế giới quan khoa ho ̣c, yêu cầu xem xét sự vâ ̣t , hiê ̣n tượng theo quan điểm toàn diê ̣n , phát triển, liên hê ̣ phổ biến, lịch sử - cụ thể… nên có thể coi phương pháp luâ ̣n biê ̣n chứng duy
vâ ̣t là cơ sở phương pháp luâ ̣n khoa ho ̣c cho các phương pháp cu ̣ thể mà tác giả ứng dụng trong nghiên cứu đề tài Theo đó, việc nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn được xem xét một cách toàn diện trong cả giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015, xem xét chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực
và Thương mại Phú Thọ trong mối quan hệ với các tác nhân khác trongchuỗi Vấn đề nghiên cứu được xem xét trong mối liên hệ với nhau về cả thời gian và không gian
trong điều kiện cụ thể tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
Đề tài phân tích chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ đặt trong điều kiê ̣n cu ̣ thể của Công ty CP Lương thực
và Thương mại Phú Thọ, của tỉnh Phú Thọ và của cả nền kinh tế tác động tới các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn và hiệu quả chuỗi cung ứng tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
Trang 32Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu
Từ việc thu thập số liệu, phân tích mối quan hệ tương tác giữa các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng từ đó thấy được những tồn tại hạn chế của chuỗi cung ứng qua đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
2.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Những thông tin thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm các văn kiện, nghị quyết, sách, báo, tạp chí, các công trình đã được xuất bản, các số liệu cơ bản của Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ, số liệu thống kê sản phẩm sắn từ năm 2000 đến năm 2015 (chủ yếu từ năm 2013 - 2015) Ngoài ra, tác giả còn tham khảo các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học
Sử dụng những số liệu được thu thập có trích dẫn tài liệu tham khảo theo quy định
2.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp là những thông tin phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêu phân tích để thực hiện nội dung nghiên cứu của đề tài Thông tin sơ cấp được tổ chức điều tra trực tiếp trên cơ sở xác định các mẫu điều tra theo quy định của điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên và phi ngẫu nhiên
2.2.2.3 Tổng thể và mẫu nghiên cứu
* Tổng thể nghiên cứu
Tổng thể trong nghiên cứu này là các thành phần tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
* Mô tả mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu phục vụ luận văn được thu thập từ 5 nhóm đối tượng là:
- Các hộ nông dân trồng sắn tại 3 huyện có diện tích và sản lượng sắn lớn nhất của tỉnh Phú Thọ và cũng là nguồn cung ứng sản phẩm nguyên liệu sắn cho Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ: huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập
- Các hộ thu mua sắn nguyên liệu tại 3 huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập
- Các hộ chế biến sắn nguyên liệu
- Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
- Các DN khách hàng tham gia tiêu thụ sản phẩm tinh bột sắn của Công ty
Trang 33Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
* Kỹ thuật chọn mẫu
- Các hộ nông dân trồng sắn: do sản phầm sắn củ Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ nhập trực tiếp từ các hộ nông dân trồng sắn rất ít do đó tác giả chọn mỗi huyện 10 hộ có diện tích trồng sắn lớn và thường xuyên cung cấp trực tiếp sản phẩm sắn củ cho Công ty Số hộ điều tra là 30 hộ
- Các hộ thu mua sắn nguyên liệu: đây là đối tượng cung ứng phần lớn nguyên liệu sắn củ cho Công ty Có 21 hộ chuyên thu mua sắn nguyên liệu số lượng lớn và thường xuyên cung cấp nguyên liệu đầu vào cho Công ty Trong
đó huyện Thanh Sơn có 9 hộ; huyện Tân Sơn có 7 hộ và huyện Yên Lập có 5
hộ Số hộ điều tra là 21 hộ
- Các hộ chế biến sắn nguyên liệu: có 8 hộ chuyên chế biến nguyên liệu sắn ướt có bề dày kinh nghiệm chuyên cung cấp nguyên liệu sắn ướt cho công ty Số hộ điều tra là 08 hộ
- Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ: 01 (Công ty)
Tổng mẫu điều tra: 60
Bảng 2.1: Chọn đối tƣợng điều tra
1 Các hộ nông dân trồng sắn ở huyện
Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập 30
Đây là những huyện có diện tích trồng sắn nhiều nhất ở tỉnh Phú Thọ
2 Các hộ thu mua sắn củ ở huyện
Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập 21
Là những hộ có kinh nghiệm lâu năm trong nghề thu mua sắn củ
Hộ chế biến có bề dày kinh nghiệm trong chế biến tinh bột sắn ướt
* Phương pháp điều tra
Để tiến hành thu thập thông tin từ các đối tượng, tác giả tiến hành điều tra thông qua phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu điều tra được thiết kế sẵn Mỗi đối
Trang 34Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tượng điều tra cụ thể sẽ có 01 mẫu phiếu khác nhau, cụ thể như sau:
- Các hộ nông dân trồng sắn: 30 hộ (Mẫu phiếu điều tra theo Phụ lục 01)
- Các hộ thu mua sắn nguyên liệu: 21 hộ (Mẫu phiếu điều tra theo Phụ lục 02)
- Các hộ chế biến sắn nguyên liệu: 08 hộ (Mẫu phiếu điều tra theo Phụ lục 03)
- Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ: 01 (Mẫu phiếu điều tra theo Phụ lục 04)
2.2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý tài liệu
định lượng để lượng hóa sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi Tuy nhiên phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu trong luận văn
- Phương pha ́ p bảng thống kê để tổng hợp : Đề tài sử dụng những bảng thống
kê số liê ̣u theo chiều do ̣c và chiều ngang mô tả sự biến động các yếu tố đầu vào đầu
ra của từng tác nhân tham gia chuỗi
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên môn của lãnh đạo
Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ; lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ; lãnh đạo Phòng Nông nghiệp các huyện có diện tích sắn lớn, các cán bộ làm công tác khuyến nông nhằm có thêm thông tin và có cách nhìn tổng thể từ góc độ
vĩ mô tác động tới các tác nhân tham gia chuỗi
- Phương pháp so sánh: Thông qua nguồn số liệu đã thu thập từ thực tế và
các số liệu thứ cấp đã điều tra, tiến hành so sánh thông qua các tiêu chí cụ thể để xem xét hiệu quả các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng
- Phương pháp phân tích SWOT
Sử dụng mô hình phân tích SWOT để đánh thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
Trang 35Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Lý thuyết về mô hình SWOT như sau:
Ma trận SWOT Điểm mạnh
- Điểm mạnh: Yếu tố lợi thế của của chuỗi cung ứng như sản phẩm đầu vào;
quy trình sản xuất chế biến; các chính sách của nhà nước, của tỉnh Phú Thọ trong việc phát triển cây sắn…
- Điểm yếu: Các yếu tố bất lợi của của chuỗi cung ứng như sản phẩm đầu
vào, quy trình sản xuất chế biến; các chính sách của nhà nước, của tỉnh Phú Thọ trong việc phát triển cây sắn…
- Cơ hội: Những thuận lợi từ trong nước, thế giới tạo ra những cơ hội gì đối
với chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ Như xu hướng hội nhập quốc tế sâu rộng tạo cơ hội cho Công ty mở rộng thị trường và được hưởng những ưu đãi khi xuất khẩu;nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tinh bột sắn ngày càng lớn…
- Thách thức: Những trở ngại đối với chuỗi cung ứng sản phẩm tinh bột sắn
tại Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ…
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Để phục vụ nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng hệ thống những chỉ tiêu sau đây:
- Chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng lao động của Công ty: tổng số lao động, lao động theo công việc, trình độ, độ tuổi
- Chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty: Tổng giá trị TS, doanh thu thuần, lợi nhuận từ HĐKD, Lợi nhuận trước thuế, sau thuế…
Trang 36Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Chỉ tiêu về thị trường tiêu thụ sản phẩm tỉnh bột sắn của Công ty: thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu
- Các chỉ tiêu nghiên cứu thông qua phiếu điều tra:
+ Hộ nông dân trồng sắn: Độ tuổi trung bình,lao động bình quân, diện tích trồng sắn, sản lượng sắn củ; chi phí trồng sắn như đạm, lân, kali, thuốc BVTV…, thu nhập của hộ
+ Hộ thu mua sắn: tuổi nghề, tuổi đời chủ hộ, sản lượng thu mua, ngày công thu mua, tài sản kinh doanh của hộ, thu nhập
+ Hộ chế biến: tuổi nghề hộ chế biến, tài sản kinh doanh của hộ, thu nhập
Trang 37Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM TINH BỘT SẮN TẠI CÔNG TY CP LƯƠNG THỰC VÀ THƯƠNG MẠI PHÚ THỌ
3.1.1 Tên và địa chỉ giao dịch
- Tên tiếng việt: Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ
- Tên giao dịch quốc tế: VINAFOOD - PHU THO
- Tên viết tắt: VIPFOOD
- Vốn điều lệ: 15.000.000.000 đồng
- Điện thoại: (84-210) 3.953.547
- Fax: (84-210) 3.953.544
- Email: Vipfood@hn.vnn.vn
- Trụ sở chính: Số 2070, Đại lộ Hùng Vương, TP Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ
- Mã số doanh nghiệp: Số 2600400557, đăng ký lần đầu ngày 05/09/2007 và đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 29/10/2014 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp
Tỷ lệ sở hữu (%)
Trang 38Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thực Vĩnh Phú đổi tên thành Công ty Lương thực Vĩnh Phú với chức năng, nhiệm vụ mới phù hợp với sự phát triển của xã hội
Công ty Lương thực Vĩnh Phú là thành viên của Tổng Công ty Lương thực Miền Bắc Công ty hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Chức năng chủ yếu của Công ty là: kinh doanh, lưu trữ, lưu thông lương thực, góp phần bình ổn giá trên địa bàn.Kinh doanh xay xát và chế biến lương thực, thực phẩm, nông sản, thức
ăn gia súc, vật tư nông nghiệp, tham mưu cung ứng ủy thác xuất khẩu lương thực Sau
đó, Công ty được đổi tên thành Công ty CP Lương thực và Thương mại tổng hợp Vĩnh Phú theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1803000459, là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa theo quyết định số 3590/QĐ/BNN-ĐMDN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Đến năm 2007, Công ty CP Lương thực và Thương mại tổng hợp Vĩnh Phú được chia tách thành hai công ty cổ phần mới theo địa giới hành chính tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc là: Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ (thuộc địa bàn tỉnh Phú Thọ) và Công ty CP Lương thực và Thương mại Vĩnh Phúc (thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc)
Từ khi đi vào hoạt động đến nay (từ năm 2007), Công ty đã cung cấp một khối lượng lớn vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Sau nhiều năm phấn đấu và phát triển, Công ty đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh Phú Thọ trao tặng cờ đơn vị thi đua xuất sắc, bằng khen cùng nhiều phần thưởng cao quý khác
3.1.3 Ngành nghề kinh doanh
Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá lương thực và một số mặt hàng khác mang lại lợi ích cho Công ty và xã hội Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2600400557, đăng
ký lần đầu ngày 05/09/2007 và đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 29/10/2014 do Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp, ngành nghề kinh doanh chính của Công ty
CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ bao gồm:
- Bán buôn gạo;
- Sản xuất tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột.;
Trang 39Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Bán lẻ lương thực trong các cửa hàng chuyên doanh;
- Bán buôn thóc, gạo, ngô và các loại ngũ cốc khác;
- Bán lẻ trong siêu thị, trung tâm thương mại
Trong các mặt hàng kinh doanh, sản xuất và kinh doanh tinh bột sắn vẫn là mặt hàng thế mạnh của Công ty Trong năm 2014, Công ty sản xuất ra khoảng 1.200 tấn tinh bột sắn khô và liên doanh liên kết với một Công ty sản xuất tại Tây Nguyên để tạm trữ 2.000 tấn tinh bột sắn Năm 2014 tổng số lượng tinh bột sắn đạt được là 3.352 tấn doanh số đạt 31,09 tỷ đồng
3.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý và tình hình lao động của Công ty
3.1.4.1 Tổ chức bộ máy quản lý
Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc quản lý, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp tạo nên sự thống nhất, nhịp nhàng giữa các bộ phận, các đơn vị trong doanh nghiệp Đảm bảo cho việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chỉ đạo quá trình sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp Căn cứ vào tình hình thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty CP Lương thực và Thương mại Phú Thọ có
bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng Đứng đầu là giám đốc và 02 phó giám đốc giúp việc
Các phòng ban của Công ty có chức năng nhiệm vụ là tham mưu với cấp trên theo chức năng của mình là theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành quyết định đó với mô hình này, cơ cấu quản lý đơn giản, dễ vận hành, dễ theo dõi Đây là mô hình
áp dụng phổ biến ở nước ta Công ty đã hình thành 04 phòng trực thuộc: phòng tài chính kế toán, phòng tổ chức hành chính, phòng kinh doanh và phòng đầu tư thị trường Là một công ty khá lớn có các chi nhánh trực thuộc, mỗi chi nhánh có giám đốc chi nhánh dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc về tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh Trước thời điểm 13/10/2014 Công ty có 01 trụ sở chính và 05 đơn vị kinh tế trực thuộc là:
Trang 40Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Nhưng đến ngày 13/10/2014 Hội đồng quản trị đã ký các Quyết định 120 và 121
về việc giải thể 02 chi nhánh là Chi nhánh Phong Châu và Chi nhánh Đoan Hùng Như vậy hiện tại ngoài trụ sở chính, Công ty có 03 chi nhánh trực thuộc gồm:
Trụ sở chính: Số 2070, Đại lộ Hùng Vương, TP Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ Chi nhánh Việt Trì: Lô 2, KCN Thụy Vân, TP Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ Chi nhánh Cần Thơ: Khu vực Phúc Lộc, phường Trung Nhất, Quận Thốt
Chi nhánh Cần Thơ T.xã Phú Thọ Chi nhánh
Ban giám đốc
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát