Những tác động tiêu cực của FDI không phải là thuộc tính riêng của FDI và chúng thường là hệ quả của các chính sách và chất lượng quản lý kinh tế của Nhà nước đã tạo kẽ hở, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng khai thác triệt để mà không phải bận tâm nhiều đến hậu quả pháp lý của các hành động của mình.
Trang 1MỤC LỤC
TỔNG QUAN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2
1.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2
2.Các hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp 2
3.Tác động của đầu tư nước ngoài trực tiếp 5
3.1 Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp 5
3.2 Tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp 6
I.TÁC ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2011 6
1.Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2004-2011 6
2 Phân tích tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 10
2.1 Tác động tích cực FDI 10
2.1.1 Bổ sung vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 10
2.1.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11
2.1.3 Góp phần vào phát triển công nghệ của Việt Nam 13
2.1.4 Thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước 15
2.1.5 Cải thiện cán cân thanh toán 16
2.2 Tác động tiêu cực FDI 16
2.2.1 Gây bất bình đẳng và phân tầng xã hội 16
2.2.2 Góp phần gia tăng ô nhiễm môi trường: 17
2.2.3 “Bóp chết” các doanh nghiệp trong nước: 17
2.2.4 Khánh kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên: 17
2.2.5 Gây tham nhũng và thúc đẩy đô la hóa nền kinh tế 20
2.2.6 Gia tăng nợ xấu ngân hàng trong nước 20
2.BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 21
1.Mục đích quản lý FDI 21
2.Bài học kinh nghiệm trong quản lý FDI 21
3.Giải pháp quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 21
Trang 2TỔNG QUAN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ởmột nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý
là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhàđầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong nhữngtrường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1997 cũng đưa ra khái niệm: “Đầu tư trựctiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nướcngoài hoặc bất kì tải sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanhtheo quy định của luật này”
Theo Luật đầu tư 2005: Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư thông qua việcmua cổ phần, cố phiếu, các giấy tờ có giá khá, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua cácđịnh chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt độngđầu tư
Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự di chuyểnvốn từ một nước này sang một nước khác Có sự dịch chuyển này là do chênh lệch về năngsuất cận biên của vốn giữa các nước sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phísản xuất thấp hơn
2 Các hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, phổ biến làhợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài Tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các hìnhthức như sau:
2.1 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Theo hình thức này, nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây:
Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chínhkhác theo quy định của pháp luật;
Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác cóhoạt động đầu tư sinh lợi;
Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Trang 32.2 Thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật
Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thựchiện thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liênquan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm 2009
Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiệnthủ tục đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư vàNghị định này Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh
2.3 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lậpcông ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danhtheo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
Doanh nghiệp thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này được liên doanh với nhà đầu
tư trong nước và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới theoquy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo phápluật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư
2.4 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phânchia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm củamỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghitrong hợp đồng
Hợp đồng BCC trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyênkhác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của Luậtđầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận hànhcác dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấpthoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định
Trang 4 Chính phủ quy định lĩnh vực đầu tư, điều kiện, trình tự, thủ tục và phương thức thực hiện
dự án đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên thực hiện dự án đầu tư theo hình thức hợpđồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT
Trường hợp đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa một hoặc nhiều nhàđầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước (sau đây gọi tắt là các bênhợp doanh) thì nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có quy định về quyền lợi,trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí vàmột số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm thực hiện theo quyđịnh của pháp luật có liên quan và Luật Đầu tư
Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau để tiếnhành đầu tư, kinh doanh thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế vàpháp luật có liên quan
Trong quá trình đầu tư, kinh doanh, các bên hợp doanh có quyền thoả thuận thành lậpban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của ban điều phối do các bên hợp doanh thỏa thuận Ban điều phối không phải là cơquan lãnh đạo của các bên hợp doanh
Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để làm đạidiện cho mình trong việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh
Văn phòng điều hành của bên hợp doanh nước ngoài có con dấu; được mở tài khoản,tuyển dụng lao động, ký hợp đồng và tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vicác quyền và nghĩa vụ quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư và hợp đồng hợp tác kinhdoanh
2.5 Đầu tư phát triển kinh doanh
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức sau đây:
Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường
2.6 Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam
Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh vực, ngành,nghề do Chính phủ quy định
Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp để tham giaquản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
Trang 5Doanh nghiệp nhận sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bịsáp nhập, mua lại, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Nhà đầu tư khi góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam phải:thực hiện các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn,hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường; tuân thủ các quy định về điều kiện tậptrung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điềukiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
2.7 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật đầu tư, pháp luật vềcạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan
2.8 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
3 Tác động của đầu tư nước ngoài trực tiếp
3.1 Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng với cả nước chủ đầu tư và nước tiếp nhậnđầu tư, cụ thể:
Đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư (Host countries):
FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng phục vụ cho chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế cao, đặc biệt là với các nước đang phát triển Các nước đang phát triển vốn là nhữngnước còn nghèo, tích luỹ nội bộ thấp, nên để có tăng trưởng kinh tế cao thì các nước nàykhông chỉ dựa vào tích luỹ trong nước mà phải dựa vào nguồn vốn tích luỹ từ bên ngoài,trong đó có FDI
FDI có ưu điểm hơn các hình thức huy động vốn nước ngoài khác, phù hợp với các nướcđang phát triển Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây dựng các dây chuyền sản xuất tạinước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này sẽ cho phép các nước đang pháttriển tiếp cận công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại Tuy nhiên, việc có tiếp cậnđược các công nghệ hiện đại hay chỉ là các công nghệ thải loại của các nước phát triển lạituỳ thuộc vào nước tiếp nhận đầu tư trong việc chủ động hoàn thiện môi trường đầu tưhay không
FDI giúp giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư Vai trò này của FDIkhông chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển, đặc biệt là khinền kinh tế bước vào giai đoạn khủng hoảng theo chu kỳ FDI đóng góp tích cực vào việcnâng cao chất lượng lao động và phát triển nhân lực, FDI làm thay đổi cơ bản năng lực,
kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp thông qua hoạt động đào tạo và quá trình làmviệc của lao động Làm việc trong các doanh nghiệp FDI đòi hỏi người lao động phải cókiến thức và khả năng đáp ứng yêu cầu cao về cường độ và hiệu quả công việc
Trang 6 FDI có tác động làm năng động hoá nền kinh tế, tạo sức sống mới cho các doanh nghiệpthông qua trao đổi công nghệ Với các nước đang phát triển thì FDI giúp thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu sản xuất, phá vỡ cơ cấu sản xuất khép kín theo kiểu tự cấp tự túc.
FDI cho phép các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng quản lý dây chuyềnsản xuất hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như ý thức lao động công nghiệpcủa đội ngũ công nhân trong nước
Vai trò của FDI đối với các nước xuất khẩu vốn (Home countries):
Giúp các doanh nghiệp khắc phục xu hướng tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm dần, tănghiệu quả sản xuất kinh doanh
Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm khi ở thị trường trong nước đã chuyển sang giai đoạnsuy thoái, giúp nhà đầu tư tăng doanh số sản xuất ở nước ngoài trên cơ sở khai thác lợithế so sánh
Phá vỡ hàng rào thuế quan ở các nước có xu hướng bảo hộ
Bành trướng sức mạnh về kinh tế và chính trị
3.2 Tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài trực tiếp
Bên cạnh những mặt tích cực, đầu tư nước ngoài trực tiếp cũng có mặt trái của nó Đốivới các nước tiếp nhận vốn đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài có thể kiểm soát thị trường địaphương, làm mất tính độc lập, tự chủ về kinh tế, phụ thuộc ngày càng nhiều vào nước ngoài Mặt khác, FDI cũng chính là công cụ phá vỡ hàng rào thuế quan, làm mất tác dụng củacông cụ này trong bảo hộ thị trường trong nước FDI còn tạo ra sự cạnh tranh giữa doanhnghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước, có thể dẫn đến suy giảm sản xuất của cácdoanh nghiệp trong nước
Ngoài ra, FDI còn có tác động xấu tới việc phân hoá đội ngũ cán bộ, tham nhũng.Còn đối với các nước nước xuất khẩu vốn, FDI cũng có những bất cập: vốn đầu tư chảy
ra nước ngoài sẽ làm giảm tăng trưởng GDP và việc làm trong nước Và khi các công ty lớnđầu tư ra nước ngoài sản xuất
I TÁC ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2011
1 Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2004-2011
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất cao.Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vàoViệt Nam trong những năm qua đã tăng lên đáng kể và có đóng góp nhất định cho sự tăngtrưởng kinh tế của đất nước
Trang 7Cùng với sự nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trungương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư - kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minhbạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắccho nhà đầu tư Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằngnhiều biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi chocác dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, pháthuy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp Theo đó, cơ cấu vốn đầu tư khuvực FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã thay đổi, từ 17,08% năm 2004 tăng lên 29,8%năm 2008 và 9 tháng đầu năm 2011 con số này là 25,28%
Tính đến năm 2010, Việt Nam hiện có 12.213 dự án đầu tư trực tiếp của 90 quốc gia
và vùng lãnh thổ đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư gần 193 tỉ USD Riêng năm 2008,Việt Nam thu hút được 71,726 tỉ USD, trong đó giải ngân được 11,500 tỉ USD; trong cácnăm 2009 và 2010 kết quả đạt được trong lĩnh vực này thứ tự là 23,107 tỉ USD (vốn thựchiện gần 10 tỉ USD) và 18,595 tỉ USD (thực hiện được 11 tỉ USD); còn 9 tháng đầu năm
2011 thu hút được 9,903 tỉ USD (thực hiện được 8,2 tỉ USD), tăng 2% so với cùng kỳ năm
2010
Theo bảng số liệu ta thấy tổng vốn đầu tư khu vực FDI năm 2006 tăng 18,0 nghìn tỷđồng, cao gấp 1,38 lần so với năm 2005; trong khi năm 2005 chỉ tăng 2,8 nghìn tỷ đồng, tứctăng 1,06 lần so với năm 2004 Nguyên nhân là do việc ban hành Luật Đầu tư 2005 đã tạobước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của Việt Nam để tạo thêm hấpdẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khănvướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạthấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuốngngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh vựcđầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước đâychưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị, ngân hàng… cũng góp phầntạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn ở Việt Nam
Năm 2008, mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước tagặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi sovới năm trước năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 71 tỉ USD - mức cao nhất từ trướctới nay Kết quả này đạt được là nhờ môi trường đầu tư - kinh doanh tại Việt Nam tiếp tụcđược cải thiện và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật
về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực Chính sách phân cấp việc cấpgiấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủ động và tíchcực cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháptheo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu
Trang 8tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ
và trách nhiệm của doanh nghiệp Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả vềphương thức lẫn nâng cao chất lượng thông qua nhiều hoạt động, như triển khai thực hiệnQuyết định số 109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ, về việc banhành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 -2010; thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh hưởng lớn tới địa phương; banhành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 - 2010; xuất bản các tài liệu cậpnhật, đĩa CD liên quan tới hoạt động FDI; tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong vàngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước;chú trọng hướng thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm thu hút các dự án lớn, côngnghệ cao hướng vào xuất khẩu
Một điều dễ nhận thấy là dòng vốn FDI vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây khôngchỉ thay đổi về lượng (vốn đầu tư) mà cả về chất (chiều sâu đầu tư) thông qua sự có mặt củacác tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử, như: Intel, Compal, Foxconn, Samsung Đặcbiệt trong năm 2008 còn xuất hiện dự án của các tập đoàn lớn, như Good Choi (Hoa Kỳ),Berjaya (Ma-lai-xi-a) v.v Điều này cho thấy, sau một thời gian nghiên cứu thị trường ViệtNam các tập đoàn nước ngoài đã quyết định đầu tư quy mô lớn, xem Việt Nam như một mắtxích trong chuỗi sản xuất toàn cầu Các dự án lớn nói trên sẽ kéo theo nhiều nhà sản xuất vàcung cấp sản phẩm phụ trợ phục vụ sản xuất
Năm 2009, vốn đăng ký FDI giảm mạnh từ 71,726 tỷ USD xuống còn 23,107 tỷ USD,giảm 48,619 tỷ USD Điều này có thể lý giải bởi một số lý do giải thích từ chính quyền nhưcuộc khủng hoảng tài chính thế giới đang diễn biến phức tạp; các quốc gia khác trong khuvực đã tăng lên chỉ số năng lực cạnh tranh của họ mà có thể thu hút dòng FDI; các lý do khácnhư điều kiện cơ sở hạ tầng, công tác kiểm tra, giám sát quy hoạch chưa được quan tâm đúngmức nên xảy ra tình trạng một số địa phương cấp mới một loạt dự án sử dụng nhiều đất (nhưsân gôn, khu công nghiệp, khu đô thị, khu vui chơi giải trí), tình trạng ô nhiễm không khí,nguồn nước, rác thải tại một số khu công nghiệp - khu chế xuất đến mức rất nghiêm trọng,ảnh hưởng tới môi trường sinh thái; thiếu lao động có tay nghề cao, việc chuyển dịch cơ cấulao động trong khu vực nông nghiệp - nông thôn còn chậm, điều kiện làm việc và sinh hoạtcủa người lao động còn hạn chế, nhất là tình trạng đình công kéo dài không được giải quyếttriệt để cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư - kinh doanh
Năm 2010, trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu, nền kinh tế trong nước và quốc tếcòn nhiều biến động phức tạp, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn đạtđược kết quả đáng khích lệ Vốn FDI chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2010,cao hơn năm 2009 (năm 2009 chiếm 25,5%) Trong năm 2010, Việt Nam đã thu hút được18,59 tỷ USD vốn FDI đăng ký (gồm cả cấp mới và tăng vốn), bằng 82,2% so với cùng kỳ
2009 Điều đó cho thấy môi trường đầu tư của Việt Nam luôn thu hút các nhà đầu tư nướcngoài
Trang 9Trong 9 tháng đầu năm 2011, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế ướctính đạt 679,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, khu vực cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 171,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,3% tổng vốn đầu tư toàn xãhội và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2010 Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kêViệt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 22/9/2011 đạt 9,9035 tỷUSD, bằng 72,1% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký 8,2378 tỷ USD của 675 dự ánđược cấp phép mới (giảm 31,5% về vốn và giảm 29,6% về số dự án so với cùng kỳ nămtrước); vốn đăng ký bổ sung 1,6657 tỷ USD của 178 lượt dự án được cấp phép từ các nămtrước Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện chín tháng năm 2011 ước tính đạt 8,2 tỷUSD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.
Theo lĩnh vực đầu tư, có thể thấy việc thu hút FDI vào các ngành công nghiệp nặng,công nghiệp nhẹ, dầu khí chiếm lượng vốn cao; trong khi ngành nông lâm nghiệp, tài chínhngân hàng, thủy sản lại thu hút được lượng vốn rất nhỏ Có thể thấy ngành công nghiệp nặngluôn luôn chiếm tỷ trọng thu hút vồn FDI lớn nhất Năm 2007, ngành công nghiệp nặngchiếm 37% trong tổng vốn đầu tư, năm 2006 tăng lên là 54,25% Tuy nhiên, từ năm 2007 trởlại đây nguồn vốn FDI trong ngành công nghiệp nặng giảm dần, năm 2007 FDI cho côngnghiệp nặng chỉ chiếm 19,47%, năm 2008 là 32,25% Theo bảng số liệu trên, có thể thấyngành xây dựng văn phòng, căn hộ và ngành xây dựng khu đô thị mới đang tăng lượng vốnFDI đầu tư Như trong năm 2006, ngành xây dựng văn phòng căn hộ, tỷ trọng FDI đầu tưchỉ chiếm 6,32% nhưng đến năm 2008 đã tăng lên con số 15,92% với số vốn đầu tư xếp thứ
2011, nguồn FDI dành cho lĩnh vực này chỉ có 307,19 triệu USD Do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế tòan cầu, nguồn FDI dành cho lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống cũnggiảm mạnh, thay vào đó lĩnh vực sản xuất, phân phối, điện khí, nước , điều hòa dang dầndành được sự quan tâm
Trong các ngành kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài chín tháng năm 2011, ngànhcông nghiệp chế biến, chế tạo có số vốn đăng ký lớn nhất với 4911,8 triệu USD, bao gồm3847,6 triệu USD vốn đăng ký mới và 1064,2 triệu USD vốn tăng thêm, chiếm khoảng 48%tổng vốn FDI vào Việt Nam trong 9 tháng đầu năm; ngành sản xuất và phân phối điện, khíđốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2525,3 triệu USD vốn đăng ký mới;ngành xây dựng đạt 689,3 triệu USD, bao gồm 547,5 triệu USD vốn đăng ký mới và 141,8
Trang 10triệu USD vốn tăng thêm Đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, đã 2 tháng nay không thấy cóthay đổi trong thống kê số vốn đăng ký mới và tăng thêm.
2 Phân tích tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn
2.1 Tác động tích cực FDI
2.1.1 Bổ sung vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
FDI góp phần giải quyết các vấn đề liên quan tới vốn đầu tư để đảm bảo cho tốc độtăng trưởng cao và bền vững:
Một là, tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu củaNhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư Hiện nay, tỷ lệ huy động của Việt Namkhoảng 22% GDP, trong khi đó tỷ lệ vốn đầu tư phải 30-35% GDP Khoản lệch này nếukhông tìm được nguồn vốn nước ngoài thì sẽ tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh
tế Hai là, tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá đấtnước đã dẫn đến sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài Cả hai vấn đó có thể được giảiquyết bằng cách thu hút vốn nước ngoài, trong đó có FDI
FDI góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ănviệc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô.Vào thời điểm cuối thế kỷ 20, FDI được đẩy mạnh tại Việt Nam với mục tiêu: cung cấpvốn, công nghệ, kỹ năng, việc làm, thị trường, những yếu tố này kết hợp với nguồn lực sẵn
có trong nước góp phần đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp với mức thu nhậptrung bình vào năm 2010
Theo ghi nhận, từ năm 2000, đóng góp của FDI vào sự phát triển của các ngành côngnghiệp Việt Nam là rất ấn tượng, cả về tỷ lệ việc làm , đầu tư và xuất khẩu, góp phần quantrọng trong tăng trưởng sản lượng công nghiệp
Nhưng trong khi dòng vốn tiếp tục đổ vào, thì số việc làm được tạo ra tuy có tăngnhưng lại chủ yếu là thâm dụng lao động rẻ mạt, không có kỹ năng
Sự gia nhập WTO của Việt Nam càng đẩy nhanh dòng vốn Kể từ năm 2007, tổng sốFDI đăng ký tăng từ 10 lên 60 tỉ USD, thực hiện từ khoảng 4 tỉ trong năm 2006 lên 12 tỉUSD vào cuối năm 2008
Nguồn vốn FDI tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, tăng thu nhập chongười dân, cải thiện và đổi mới các hệ thống giáo dục và đào tạo để nâng cao trình độ taynghề cho người lao động phù hợp với yêu cầu của thời đại mới Thứ nhất: trực tiếp tạo việclàm bằng cách tuyển dụng lao động địa phương vào các doanh nghiệp có vốn FDI Thứ hai,FDI gián tiếp tạo ra việc làm thông qua các doanh nghiệp cung cấp hoàng hóa và dịch vụ chocác doanh nghiệp có vốn FDI Vấn đề nâng cao thu nhập, người lao động làm việc trong cáccông ty có vốn FDI thường cao hơn so với làm tại các doanh nghiệp trong nước, vì sản lượng
Trang 11sản xuất tại các doanh nghiệp FDI thường cao hơn với các doanh nghiệp trong nước, laođộng có chất lượng cao hơn, và công ty FDI có thị trường rộng lớn và quy mô lớn
2.1.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
FDI là một nhân tố tích cực góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ôngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Đối với một nước có trình độ phát triển chưa cao, thunhập thấp thì nguồn vốn FDI là vô cùng quan trọng
Cụ thể:
+ Bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp:
Hiện nay, tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài vào trong ngành nông nghiệp là chưa cao,chưa có những tác động đáng kể vào Nông- lâm – ngư nghiệp (chiếm tỷ trọng khoảng 6,7%
tỷ trọng vốn đầu tư FDI đăng ký cả nước) nhưng vẫn là nguồn lớn hỗ trợ cho nông nghiệpnước nhà
Mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế song, các dự án FDI đã góp phần không nhỏtrong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn,nâng cao giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và
áp dụng các công nghệ mới, công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập.Với 758 dự án đã và đang triển khai, lĩnh vực FDI trong nông nghiệp đem lại doanh thu hàngnăm khoảng 312 triệu USD, xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm và tăng mạnh trong thời giangần đây
Các dự án đầu tư FDI vào nông nghiệp tuy không lớn nhưng đã tạo ra công ăn việc làm,thu nhập ổn định, giúp hàng vạn hộ nông dân tham gia lao động tạo nguồn nguyên liệuthường xuyên cho dự án hoặc theo mùa vụ (trồng mía đường, khoai mì… , góp phần quantrọng thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo Tính trung bình, ĐTNN vào nông nghiệp nóichung tạo ra tỷ lệ việc làm gián tiếp so với việc làm trực tiếp rất cao 34,5/1 Đặc biệt, ở một
số địa phương, dự án ĐTNN tạo việc làm cho khoảng 1/4 dân cư trên địa bàn Tuy nhiên, dù
số lao động trong nông nghiệp và nông thôn vẫn chiếm tỉ cao tới gần 60% so với lao độngchung của cả nước nhưng số lao động qua đào tạo nghề trong lĩnh vực Nông - lâm - ngưnghiệp chỉ chiếm 13% trong số đó Đòi hỏi trong thời gian tới phải tăng cường công tác đạotạo lao động nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển ngành nông nghiệp và tăng cường thu hútvốn đầu tư nước ngoài
+ Công nghiệp:
Đầu tư FDI đem đến cho nền công nghiệp nước ta nhiều lợi ích:
Đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp, góp phầnnâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước Vai trò của đầu tư nước ngoài trong cơcấu công nghiệp cả nước đang ngày càng được củng cố Điều này được thể hiện thông qua tỷtrọng của đầu tư nước ngoài trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng dần từ 16,9%