Nắm được các yếu tố tác động đến hành vi hiến máu là rất cần thiết đế xây dựng và phát triển chính sách vận động người hiến máu mới, duy trì người hiến máu hiện tại một cách phù hợp từ đ
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ TP HỒ CHÍ MINH
TRỊNH A NỮ vũ QUỲNH
KHẢO SÁT CÁC YÉU TỐ TÁC ĐỘNG ĐÉN HÀNH VI HIÉN MÁU TÌNH NGUYỆN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DÀN KHOA HỌC:
TS TỪ VĂN BÌNH
Tp Hồ Chí Minh — Năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
19
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Trịnh A Nữ Vũ Quỳnh
Là học viên cao học lớp Kinh tế và Quản trị sức khỏe khóa 25 của khoa Kinh tế Phát triến,truờng Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi thực hiện Các số liệu cũng nhu kết quả của luậnvăn này là trung thực và chua từng đuợc công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tp Hổ Chí Minh, ngày 18 tháng 08 năm 2017
Học viên
Trịnh A Nữ Vũ Quỳnh
Trang 3TRANG PHỤ BÌA
LÒI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Dữ liệu nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Cấu trúc nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: TÓNG QUAN LÝ THUYẾT 5
2.1 Tống quan về tình hình hiến máu 5
2.1.1 Tình hình tiếp nhận máu trong toàn quốc 5
2.1.2 Tình hình tiếp nhận máu tại TP Hồ Chí Minh 7
2.2 Lược khảo lý thuyết 9
2.2.1 Khái niệm về máu 9
2.2.2 Hiến máu 10
2.2.3 Người hiến máu và vai trò của người hiến máu 11
2.2.4 Tiêu chuẩn tham gia hiến máu 13
2.2.5 Lợi ích và những phản ứng không mong muốn của việc hiến máu 13
2.2.6 Truyền máu 14
2.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi hiến máu 17
2.2.8 Mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi của người hiến máu 18
2.3 Lược khảo các nghiên cứu liên quan CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu 3.1 Khung phân tích 25
3.2 Mô hình kinh tế lượng 25
Trang 43.3 Mô tả biến số 27
3.4.1 Số lượng mẫu khảo sát 29
3.4.3 Thời gian khảo sát 30
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THựC NGHIỆM 4.1 Thống kê mô tả 32
4.1.2 Tuổi và hành vi hiến máu 37
4.1.3 Giới tính và hành vi hiến máu 38
4.1.5 Trình độ học vấn và hành vi hiến máu 39
4.1.6 Thu nhập và hành vi hiến máu 40
4.1.7 Nhận thức về hiến máu tình nguyện và hành vi
4.1.8 Thái độ và hành vi hiến máu 42
4.1.10 Kênh thông tin hiến máu và hành vi hiến máu
43 4.1.11 Lý do hiến máu 44
Trang 54.1.12 Lý do không hiến máu 45
4.3 Thảo luận 49
Trang 6CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHỤ LỤC
Báng 4.1: Tổng quan mẫu nghiên cứu 32
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các về tuổi, nhận thức, thái độ và ảnh hưởng xã hội 34
Bảng 4.3: Thống kê mô tả về độ tuổi theo nhóm hành vi 37
Bảng 4.4: Tỉ lệ hiến máu theo nhóm tuổi 38
Bảng 4.5: Thống kê mô tả nhận thức về hiến máu tình nguyện 41
Bảng 4.6: Thống kê mô tả thái độ về hiến máu tình nguyện 42
Bảng 4.7: Thống kê mô tả ảnh hưởng xã hội về hiến máu tình nguyện 43
Bảng 4.8: Thống kê kênh thông tin về hiến máu tình nguyện 43
Bảng 4.9: Thống kê lý do hiến máu tình nguyện 44
Bảng 4.10: Thống kê lý do không hiến máu 45
Bảng 4.11: Ket quả hồi quy mô hình tham gia hiến máu 46
Bảng 4.12: Ket quả hồi quy mô hình tần suất hiến máu 48
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Biểu đồ số lượng máu tiếp nhận trong toàn quốc từ
năm 1994-2015 Hình 2.2: Biểu đồ số lượng máu tiếp nhận tại Ngân hàng máu -
mua hàng Hình 2.7: Mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ, hành vi và môi
trường sống của
người hiến máu Hình 3.1: Khung phân tích đề xuất
Trang 9Hình 3.2: Sơ đồ nghiên cứu
Hình 4.1: Biểu đồ phân bố độ tuổi của mẫu khảo sát
Hình 4.2: Biếu đồ nhận thức về hiến máu tình nguyện
Hình 4.3: Biếu đồ thái độ về hoạt động hiến máu tình nguyện
Hình 4.4: Biếu đồ ảnh hưởng của xã hội đến hiến máu tình nguyện
Hình 4.5: Biểu đồ tỉ lệ hiến máu theo giới tính 38 Hình 4.6: Biếu đồ tỉ lệ hiến máu theo nghề nghiệp 39 Hình 4.7: Biếu đồ tỉ lệ hiến máu theo trình độ học vấn 40 Hình 4.8: Biếu đồ tỉ lệ hiến máu theo thu nhập bình quân từng tháng 40 Hình 4.9: Biếu đồ kiến thức về hiến máu tình nguyện
Trang 10nó còn hỗ trợ cho các thủ thuật và phẫu thuật y tế phức tạp.
Do đó cần có lượng máu dự trữ đủ để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu cấp cứu, điều trị, quốc phòng, an ninh và dự phòng thảm hoạ Cung cấp máu an toàn và đầy đủ nên là một phần không thể thiếu trong chính sách chăm sóc sức khỏe của mỗi quốc gia [1].
Tháng 7 năm 2016, Tổ chức Y tế Thế giới công bố kết quả về tình hình truyền máu và hiến máu toàn thế giới năm 2015, toàn thế giới ước tính thu được khoảng
112,5 triệu đơn vị máu Trong đó, hơn 50% lượng máu thu được ở các nước có thu nhập cao (khu vực này chỉ chiếm khoảng 19% dân số thế giới) Tỷ lệ dân số hiến máu trung bình ở các nước phát triển là 3,31%, ở các nước đang phát triển là 1,17% và ở các nước chậm phát triển là 0,46% Có
Trang 1170 nước có tỷ lệ hiến máu dưới 0,1% dân số, trong đó có 6 nước thuộc khu vực Đông Nam Á, các nước này đều là các nước có thu nhập trung bình hoặc thấp (WHO 2016) Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, số đơn vị máu cần cho điều trị ở mỗi nước, mỗi năm tối thiếu phải bằng 2% dân số
cả nước (WHO 2015).
Nhu cầu về máu và các chế phẩm máu ở hầu hết các nước ngày càng tăng do sự già hóa dân số và việc thực hiện các phương pháp y học mới đòi hỏi một lượng lớn máu và chế phẩm máu (Juwaheer, 2012).
Ở nhiều nước, nhu cầu về máu và các chế phẩm máu tăng với tốc độ cao hơn so với tỷ lệ thu gom dẫn đến tình trạng phải đối mặt với thách thức làm sao duy trì đủ máu cho điều trị, đồng thời đảm bảo chất lượng và an toàn của
Trang 123Thế giới ước tính) Tuy lượng máu tiếp nhận của cả nước tăng lên nhưng cũng chỉ đáp ứng hơn 60% nhu cầu cấp cứu và điều trị người bệnh Vào một số thời điểm trong năm, tình trạng thiếu máu vẫn còn xảy ra như dịp hè, tết Nguyên đán Tại một
số tỉnh, lượng máu tiếp nhận được thấp hơn nhu cầu máu cho điều trị, tỉ lệ người dân hiến máu còn rất khiêm tốn, thậm chí dưới 0,5% Điều này ảnh hường không nhô đến việc cấp cứu và điều trị, thậm chí đe dọa đến tính mạng của người bệnh (Ngô Mạnh Quân và cộng sự, 2015).
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiếp nhận máu nhiều nhất cả nước, số lượng máu tiếp nhận trong năm 2015 lên đến 257.814 đơn vị, với tỉ lệ dân số hiến máu là 3.25 % và 100% người hiến máu là hiến máu tình nguyện (Ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện, 2016) Là nơi tập trung các bệnh viện hàng đầu ờ khu vực miền Nam do đó lượng bệnh nhân đố dồn về khám chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh rất đông dẫn đến nhu cầu máu và chế phẩm máu cho cấp cứu và điều trị là rất lớn.
Sự cân bằng mong manh giữa nguồn cung cấp máu và nhu cầu đã buộc các ngân hàng máu không ngừng tìm kiếm những cách thức hiệu quả hơn đế vận động người dân hiến máu Việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hiến máu
Trang 13trở nên quan trọng Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển rất quan tâm nghiên cứu về chủ đề này trong khi
ở Việt Nam thì nội dung nghiên cứu này vẫn còn rất hạn chế.
Nắm được các yếu tố tác động đến hành vi hiến máu là rất cần thiết đế xây dựng và phát triển chính sách vận động người hiến máu mới, duy trì người hiến máu hiện tại một cách phù hợp từ đó đạt được một nguồn cung cấp máu an toàn và ốn
Trang 14định Đó là lý do tiến hành nghiên cứu “Khảo sát các yếu tố tác động đến hành vi hiến máutình nguyện tại TP Hồ Chí Minh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích các yếu tố tác động đến hành vi hiếnmáu tình nguyện tại TP Hồ Chí Minh Việc nhận diện các nhân tố này sẽ giúp ích cho việcđua ra các chính sách cũng nhu chuông trình phù họp để vận động nguời dân tham gia hiếnmáu, duy trì nguời hiến máu nhắc lại đế có nguồn cung cấp máu ổn định, an toàn cho thànhphố
Mục tiêu cụ thể bao gồm:
(1) Phân tích các yếu tố tác động đến hành vi tham gia hiến máu tình nguyện, số lần hiến
máu của nguời dân.
(2) So sánh tỉ lệ hiến máu giữa nhóm đối tuợng tiềm năng (người trong độ tuổi thanh niên
< 30 tu ôi hoặc sinh viên) so với các nhóm khác.
(3) Xác định tỉ lệ các động cơ tích cực và tiêu cực ảnh hrrởng đến hành vi hiến máu.(4) Nhận diện các kênh thông tin kêu gọi hiến máu đuợc nhiều nguời biết đến
1.3 Dữ liệu nghiên cứu
Số luợng mẫu khảo là: 314
Đối tuợng khảo sát: Những nguời trong độ tuồi hiến máu (18-60 tuổi) đang sinh sống, học tập và làm việc tại TP Hồ Chí Minh
Phuơng pháp lấy mẫu: Thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi
Thời gian khảo sát: thục hiện khảo sát từ tháng 12/2016 đến tháng 02/2017
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Đe tài nghiên cứu đuợc tiến hành tại TP Hồ Chí Minh
Trang 151.5 Cấu trúc nghiên cứu
Nghiên cứu được chia làm 5 chương, với cấu trúc như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Nội dung chương này bao gồm giới thiệu bối cảnh, lý do thực hiện nghiên cứu; trình bày mục tiêu nghiên cứu;
số liệu nghiên cứu; xác định phạm vi nghiên cứu và nêu ra cấu trúc của nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết
Trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm và nghiên cứu có liên quan để làm nền tảng thực hiện nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày phương pháp, mô hình nghiên cứu, mô tả biến số và dữ liệu thực hiện nghiên cứu.
Chương 4: Ket quả
Chương này trình bày các kết quả của nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi hiến máu tình nguyện Thông qua việc phân tích các kết quả nghiên cứu đế trả lời cho mục tiêu nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Từ những kết quả ở chương 4, chương này sẽ đưa ra kết luận của nghiên cứu Từ đó, gợi ý những kiến nghị hoặc chính sách liên quan nhằm gia tăng tỉ lệ tham gia hiến máu tình nguyện Ngoài ra, chương này cũng đánh giá những hạn chế của nghiên cứu để từ đó đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Trang 16CHƯƠNG 2: TỎNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về tình hình hiến máu
2.1.1 Tình hình tiếp nhận máu trong toàn quốc
Hiện nay cả nước có 16 trung tâm truyền máu lớn Trong đó có 04 cơ sở có số lượng máy tiếp nhận trên 50.000 đơn vị máu / năm, 11 cơ sở tiếp nhận được dưới
35.1 đơn vị máu/năm và 01 cơ sở tiếp nhận được 3.300 đơn
vị máu/năm.
Số lượng máu tiếp nhận tăng dần qua các năm và đối tượng hiến máu cũng chuyển đổi dần, đối tượng hiến máu tình nguyện tăng dần, giảm dần đối tượng hiến máu chuyên nghiệp (người bán máu) và người nhà cho máu.
Trang 17Tổng số đơn vị máu tiếp nhận
Hiến máu tình nguyện
Hiển máu chuyên nghiệp và người nhà cho máu
Hình 2.1: Biểu đồ số lượng máu tiếp nhận trong toàn quốc
từ năm 1994-2015
Nguồn: Viện Huyết Học Truyền Máu TW
Theo báo cáo của ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện về kết quả công tác vận động hiến máu tình nguyện năm 2015, toàn quốc đã tiếp nhận 1.156.649 đơn vị máu, sau quy đổi là 1.341.542 đơn vị, đạt 117,2 % chỉ tiêu kế hoạch và tăng 9,7% so với năm 2014 Trong đó, 96,9 % đơn vị máu là từ người hiến máu
Trang 18tình nguyện, dân số cả nước hiến máu đạt
1,46%, đối tượng tham gia hiến máu nhắc lại đạt 42% Lượng máu tiếp nhận về cơ bản đảm bảo máu phục vụ cho công tác điều trị, góp phần cứu chữa hàng triệu người bệnh cần truyền máu Năm 2015, cả nước không xảy ra tình trạng thiếu máu trầm trọng nhưng lượng máu tiếp nhận cũng chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu sử dụng.
Đến nay, cả nước có hơn 98% quận/ huyện và hơn 71% xã/ phường lập Ban chỉ đạo vận động hiến máu; có gần 2.800 câu lạc bộ hiến máu tình nguyện với hơn
114.1 thành viên Ngân sách nhà nước cấp cho Ban chỉ đạo quốc gia và hầu hết Ban chỉ đạo cấp tỉnh cao hơn năm trước và
cơ bản được đảm bảo.
Lực lượng người hiến máu tình nguyện được xem là nguồn cung cấp máu ổn định và an toàn nhất, đặc biệt là khi người hiến máu có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động truyền máu và an toàn truyền máu Do đó, đối tượng hiến máu này luôn được ban chỉ đạo vận động hiến máu chú trọng duy trì
và phát triển.
Có nhiều mô hình tốt về tuyên truyền, vận động và tổ chức hiến máu được thực hiện như Trung ương Đoàn với
Trang 19chương trình “Chủ nhật đỏ”, Bộ công an với chương trình “Giọt máu nghĩa tình vì đồng đội thân yêu”, Viện Huyết học Truyền máu TW với chương trình “Lễ hội xuân hồng” và “Hành trình đỏ”, TW Hội chữ thập đỏ Việt Nam với “Ngày hội hiến máu nhân đạo Nguyễn Du”
Nhận thức của người dân nói chung về hiến máu tình nguyện chưa cao, nên hành động hiến máu nhiều khi chưa thực
sự là tự giác, tự nguyện và là trách nhiệm công dân đối với xã hội Vì vậy, hiến máu tình nguyện vẫn còn tính “kỳ cuộc” và chịu “sức ép” để đạt chỉ tiêu.
Tỉ lệ trì hoãn hiến máu do vấn đề sức khỏe chiếm 7,9% (so với lượt người đã hiến máu), trong đó trên 60% là do viêm gan B và thiếu máu (thông qua 2 xét nghiệm nhanh trước hiến máu).
về hủy máu và chế phẩm máu không an toàn: số lượng máu toàn phần phải hủy năm 2015 là 32.983 đơn vị (tương đương 2,98% lượng máu đã tiếp nhận) Trong đó, túi máu bị nhiễm các tác nhân lây truyền qua đường máu như viêm gan B, viêm gan c, virus HIV, giang mai, sốt rét chiếm đến 29.483 đơn vị Còn lại là do các yếu tố kỹ thuật như không đủ thể tích, máu bị đông, túi đựng máu bị vỡ, tan máu,
2.1.2 Tình hình tiếp nhận máu tại TP Hồ Chí Minh
Trang 20TP Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất cả nước, là nơi tập trung các bệnh viện hàng đầu ở khu vực miền Nam do đó lượng bệnh nhân đổ dồn về khám chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh rất đông Nhu cầu máu và chế phẩm máu cho cấp cứu và điều trị tại TP Hồ Chí Minh là rất lớn và liên tục gia tăng qua các năm số lượng máu tiếp nhận hàng năm rất lớn nhưng tình trạng thiếu máu vẫn còn xảy ra, đặc biệt là các dịp hè, lễ tết Năm 2015, TP Hồ Chí Minh là nơi tiếp nhận máu nhiều nhất cả nước, số lượng máu tiếp nhận trong năm 2015 lên đến 257.814 đơn vị, đạt 128,9% so với chỉ tiêu kế hoạch và chiếm 22,3% số lượng máu tiếp nhận trong toàn quốc Tỉ lệ dân số TP.
Hồ Chí Minh tham gia hiến máu là 3.25 %, đứng thứ hai trên cả nước (sau Đà Nằng) và 100% người hiến máu là người hiến máu tình nguyện Trong đó, tỉ lệ hiến máu nhắc lại là 65%.
TP Hồ Chí Minh có 2 ngân hàng máu là Ngân hàng máu Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học (ngân hàng máu lớn nhất cả nước) và Trung tâm truyền máu Chợ Ray (ngân hàng máu lớn thứ tư trong nước).
-♦♦♦ Ngân hàng máu - Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học:
Năm 1975 sau giải phóng, ngân hàng máu được tiếp quản từ Viện Truyền máu quốc gia của chế độ Sài Gòn cũ với nhiệm vụ chính là lấy máu và cung cấp máu cho các bệnh viện
Trang 21trong thành phố Hồ Chí Minh Ngày 02/02/2010, ngân hàng máu - bệnh viện Truyền Máu Huyết Học được khánh thành và
đi vào hoạt động với cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn khu vực và thế giới.
Hiện nay, Ngân hàng máu - Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học là ngân hàng máu lớn nhất cả nước, tổ chức thu thập
và tiếp nhận máu từ người hiến máu tình nguyện, điều chế sản xuất, cung cấp máu và các chế phẩm máu cho các bệnh viện
Trang 22I Tổng số đơn vị máu tiếp nhận -Hiến máu tình nguyện -Hiến máu chuyên nghiệp
trong địa bàn TP Hồ Chí Minh Lượng máu lưu trữ tại Ngân hàng máu - Bệnh viện TruyềnMáu Huyết Học là từ hai nguồn: do Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học trực tiếp tiếp nhận vàTrung tâm Hiến máu Nhân đạo thuộc Chữ thập đỏ thành phố Hồ Chí Minh vận động tiếpnhận
Lượng máu tiếp nhận tại Ngân hàng máu - Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học liêntục tăng, đặc biệt tăng mạnh trong những năm gần đây Ke từ năm 2011, Ngân hàng máu -Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học không còn tiếp nhận máu từ người hiến máu chuyênnghiệp cho máu toàn phần, 100% người cho máu là người hiến máu tình nguyện
Nguồn: Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học
*1* Trung tâm Truyền máu Chợ Rây:
Năm 2002 theo quyết định 402/QĐ-BYT của Bộ Y tế, Trung tâm truyền máu Chợ Rầy được
thành lập Năm 2010, trung tâm truyền máu Chợ Rầy chính thức đi
Trang 232010 2011 2012 2013 2014 2015
9
vào hoạt động với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, vận động, tiếp nhận hiến máu và cung cấp máu cho Bệnh viện Chợ Ray, Bệnh viện Thống Nhất và các bệnh viện thuộc 5 tỉnh miền Đông Nam Bộ gồm Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Duơng, Bình Phuớc và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Số lượng máu tiếp nhận tại Trung tâm truyền máu Chợ Rầy cũng tăng dần theo từng năm.
Trang 241 0
Trang 251 1
Nguồn: Trung tâm truyền máu Chợ Rây
Số lượng máu tiếp nhận tăng mạnh qua từng năm nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng máu cho điều trị Sự cân bằng cung cầu máu trở nên mong manh và cần tăng hơn nữa số lượng máu tiếp nhận để đáp ứng kịp thời nhu cầu điều trị Hay nói cách khác, việc phát triển lực lượng người hiến máu tình nguyện trở nên rất bức thiết và quan trọng.
2.2 Lược khảo lý thuyết
2.2.1 Khái niệm về máu
Trang 26Máu: Máu là mô liên kết được lưu thông trong hệ tuần
hoàn dưới dạng dung dịch Máu gồm 2 thành phần: thành phần hữu hình - tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) và thành phần vô hình - huyết tương (Phạm Đình Lựu, 2008).
Thể tích máu trong cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh lý như tuổi, giới tính, cân nặng Thể tích máu trung bình ở người dao động từ 70 - 80ml/kg cân nặng Thể tích máu được duy trì hằng định trong cơ thể nhờ sự cân bằng giữa 2 yếu tố: lượng dịch nhập vào cơ thể như ăn uống, truyền dịch và lượng dịch bài tiết khỏi cơ thể như nước tiểu, phân, mồ hôi, nước mắt Riêng thành phần hồng cầu trong máu có thể duy trì số lượng hằng định từ 3.8 - 4.2 triệu hồng cầu trên 1 microlit máu nhờ vào sự cân bằng giữa hai yếu tố: tạo máu từ tủy xương và
sự tiêu hủy các hồng cầu già, mất chức năng tại lách Trong những trường họp thể tích máu bị hao hụt do nhiều nguyên nhân ví dụ như xuất huyết, mất nước do tiêu chảy cấp mức độ nặng hoặc mất nước do ra nhiều mồ hôi trong thời tiết nóng
có thể ảnh hưởng đến huyết áp và sự tưới máu các cơ quan, quan trọng nhất là tim, não bộ và thận Nếu thể tích máu mất đi dưới 25% thể tích máu toàn cơ thể và tốc độ mất máu không quá nhanh, cơ thể có thể duy trì huyết áp thông qua các cơ chế
bù trừ nhằm đảm bảo việc tưới máu mô: tăng nhịp tim; co mạch máu ngoại vi dồn máu vào trung tâm cho các cơ quan quan
Trang 27trọng như não bộ, tim và thận ; tiết ra hormone kháng bài niệu giúp giảm thiểu thể tích nước mất qua đường tiểu Tuy nhiên khi thể tích máu mất đi hơn 1/3 thể tích máu toàn cơ thể, các cơ chế bù trừ của cơ thể không còn hiệu quả dẫn đến tình trạng sốc giảm thể tích, rối loạn chức năng cơ quan do giảm tưới máu mô
và thậm chí là tử vong (Ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện, 2012).
2.2.2 Hiến máu
Hiến máu là quá trình mà một người tự nguyện cho máu
hoặc các thành phần của máu Máu sau khi được thu thập có thể dùng để truyền hoặc trải qua một quá trình
dược - sinh học gọi là “phân tách” tạo ra các chế phẩm máu (WHO, 2005).
Quy trình hiến máu hiện đang được áp dụng tại các cơ
sở tiếp nhận máu tại Việt Nam như sau:
Hình 2.4: Quy trình hiến máu
Trang 28Nguồn: Cẩm nang vận động hiến máu (2012)
2.2.3 Người hiến máu và vai trò của người hiến máu
❖ Người hiến máu là người tự nguyện cho máu hoặc các
thành phần của máu Có 3 nhóm người hiến máu (WHO, 2010):
Người hiến máu tình nguyện: là người cho máu hoặc các thành phần của máu một cách tình nguyện, không nhận thù lao dưới dang tiền mặt hoặc dưới bất kỳ hình thức nào có thể thay thế tiền.
Người thân cho máu: là những người cho máu khi được yêu cầu bởi thành viên khác trong gia đình hoặc cộng đồng của họ Hình thức này còn gọi là cho máu trực tiếp thường xảy ra khi bệnh nhân yêu cầu nhận máu từ người thân hoặc bạn bè của họ.
Người hiến máu vì mục đích thương mại: là những người cho máu nhằm mục đích nhận tiền hoặc các hình thức khác có thể đổi thành tiền.
Các quốc gia trên thế giới ngày nay tập trung phát triển nguồn người hiến máu tình nguyện nhắc lại, vì đây được xem là đối tượng cho máu an toàn nhất (Ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện, 2012).
♦♦♦ Vai trò của người hiến máu:
Người hiến máu đóng vai trò là nguồn cung cấp
Trang 29máu dự trữ tại các ngân hàng máu Do tính chất quan trọng này, số đơn vị máu tiếp nhận và tỷ lệ máu đáp ứng được với nhu cầu điều trị được xem là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực hoạt động của các trung tâm truyền máu hoặc ngân hàng máu.
Người hiến máu trục tiếp ảnh hưởng đến chất lượng của máu và an toàn truyền máu Một trong các nguyên tắc truyền máu là truyền máu an toàn Truyền máu an toàn bao gồm an toàn về miễn dịch (truyền chế phẩm máu phù họp nhóm máu của bệnh nhân và không kích thích hệ miễn dịch trong cơ thể người nhằm giảm tối thiểu nguy cơ liên quan đến truyền chế phẩm máu), an toàn về vi sinh (đảm bảo loại bỏ các tác nhân lây truyền qua đường máu) Mặc
dù nguồn máu sau khi tiếp nhận sẽ được trải qua quá trình sàng lọc các kháng thể bất thường trong máu (nhằm giảm nguy cơ gây kích thích hệ miễn dịch khi truyền vào cơ thể bệnh nhân) và đặc biệt là các tác nhân vi sinh như virus viêm gan B, virus viêm gan c, virus HIV, giang mai, sốt rét (nhằm giảm nguy cơ lây truyền qua đường máu) Hiện nay, các trung tâm truyền máu lớn tại Việt Nam đã bắt đầu sử dụng phương sàng lọc máu bằng kỹ thuật khuyếch đại acid nucleic (NAT: Nucleic Acid Testing) nhằm rút ngắn thời gian cửa sổ, tăng khả năng phát hiện
Trang 30virus viêm gan B, virus viêm gan c và virus HIV Nhưng
an toàn truyền máu vẫn phải bắt đầu ngay từ khâu đầu tiên nghĩa là phải đảm bảo nguồn máu an toàn ngay từ nguồn cung cấp máu vì chất lượng máu phụ thuộc rất lớn vào người hiến máu Người hiến máu cần đảm bảo các điều kiện về hiến máu, tự sàng lọc các nguy cơ mắc bệnh qua đường máu nhằm giảm tải rủi ro truyền các chế phẩm máu
bị nhiễm bệnh trong giai đoạn cửa số cho người bệnh.
Người hiến máu còn góp phần quan trọng trong công tác truyền thông, vận động hiến máu Tấm gương về tinh thần sẵn sàng cho máu cứu người và tấm lòng vị tha của những người hiến máu sẽ ảnh hường đến nhận thức của những người xung quanh về tầm quan trọng của truyền máu trong hoạt động điều trị bệnh Chính những người hiến máu sẽ là nhân chứng sống xua đi nỗi sợ “hiến máu, ảnh hướng đến sức khỏe” trong cộng đông Thông qua những người hiên máu, công tác truyên thông vận động hiến máu sẽ đi vào cộng đồng sâu sắc hơn, khuyến khích nhiều người chưa hiến máu (vì chưa biết hoặc đang lo sợ hiến máu ảnh hường sức khỏe ) đi hiến máu, giúp tăng nguồn cung cung cấp máu và đáp ứng nhu cầu truyền máu của bệnh nhân.
Người hiến máu giúp động viên tinh thần của
Trang 31những bệnh nhân cần truyền máu Đối với những bệnh nhân cần truyền máu, đặc biệt là bệnh nhân huyết học (ung thư máu, thiếu máu bẩm sinh ), máu là món quà vô giá Khi không còn nỗi lo thiếu hụt nguồn cung cấp máu, bệnh nhân sẽ an tâm điều trị hơn và bác sỹ có thể chọn phác đồ điều trị tối ưu.
2.2.4 Tiêu chuẩn tham gia hiến máu
Đáp ứng đủ và đúng các tiêu chuẩn theo quy định:
về cân nặng (từ 45kg trở lên), tuổi (18-60 tuổi), huyết áp (tối đa 100 - 140mmHg, tối thiểu : 60 - 90mmHg), mạch (60 - 90 lần / 1 phút), thời gian giữa hai lần hiến máu (12 tuần với hai lần liên tiếp hiến máu toàn phần hoặc 2 tuần với hai lần liên tiếp hiến tiểu cầu bằng gạn tách), lượng huyết sắc tố, lượng máu hiến, không mắc các bệnh lây lan qua đường máu
Việc hiến máu là hoàn toàn tự giác, dù là người hiến máu cho người thân, cho máu lấy tiền hay hiến máu tình nguyện (Ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện, 2012).
2.2.5 Lợi ích và những phản ứng không mong muốn của việc hiến máu
♦♦♦ Lợi ích khi tham gia hiến máu:
Trang 32Niềm vui cứu người: Ngoài lợi ích được khám sức khỏe và xét nghiệm máu miễn phí, điều mà đa số người hiến máu hướng đến là cho máu một cách tự nguyện, không vụ lợi nhằm cứu người Hành động vị tha này sẽ đem đến cho người hiến máu niềm vui, tinh thần tích cực
và tâm lý thoải mái vì đã giúp cứu người Thay vì làm từ thiện bằng cách quyên góp tiền, người hiến máu làm từ thiện bằng cách thiết thực hơn: đó là cho máu để cứu người.
Được kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm máu miễn phí: Khi tham gia hiến máu, người hiến máu sẽ được khám tống quát và hỏi kỹ về tiền sử bệnh lý nhằm đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe hiện tại Ngoài ra, người hiến máu còn được xét nghiệm máu miễn phí các xét nghiệm phục
vụ công tác sàng lọc người hiến máu: xét nghiệm số lượng
tế bào máu, nhóm máu, xét nghiệm sinh hóa và các xét nghiệm vi sinh: HIV, virus viêm gan B, virus viêm gan
máu miễn phí cho người tham gia hiến máu.
Người hiến máu sẽ được hoàn máu miễn phí theo
số đơn vị máu đã hiến khi có nhu cầu truyền máu nên có thể xem như mỗi lần hiến máu, người hiến máu đã gửi máu vào trong ngân hàng máu và dự trữ miễn phí đến khi cần
Trang 33sử dụng.
Ngoài ra, một số tài liệu liên quan đến hiến máu còn cho rằng hiến máu đem lại nhiều lợi ích khác như tăng tạo máu mới, làm giảm quá tải sắt cho cơ thể, giảm nguy
cơ mắc bệnh tim mạch và ung thư.
♦♦♦ Những phản ứng không mong muốn trong quá trình hiến máu:
Việc hiến máu đôi khi cũng xảy ra một số phản ứng không mong muốn của
như:
Tai biến tại chỗ đâm kim: vỡ tĩnh mạch do đâm kim xuyên tĩnh mạch, tụ máu tại chỗ, tê tay, sưng đau tại nơi đâm kim
Tai biến toàn thân liên quan đến tình trạng thiếu hụt tuần hoàn: Phản ứng mức độ nhẹ (da tái, vã mồ hôi, bồn chồn, khó chịu ), phản ứng mức độ trung bình (hoa mắt, chóng mặt, nôn), phản ứng mức độ nặng (ngất, co giật, tiêu tiểu không tự chủ).
2.2.6 Truyền máu
Truyền máu là một liệu pháp điều trị đưa máu toàn phần hoặc chế phẩm của máu từ người cho vào hệ tuần hoàn của người nhận nhằm thay thế các thành phần của máu bị mất hoặc thiếu hụt (WHO, 2005).
Trang 342 0
♦♦♦ Tác dụng của truyền chế phâm máu:
Mục đích điều trị: Hồ trợ bồi hoàn thành phần máu bị thiếu hụt do xuất huyết cấp tính (vết thương chiến tranh, tai nạn giao thông, xuất huyết tiêu hóa, băng huyết sau sinh ) hoặc do tán huyết (tán huyết bẩm sinh do thiếu men G6PD hoặc đột biến gen cấu trúc protein huyết sắc tố, tán huyết do thuốc, tán huyết do sốt rét ) hoặc bất thường chức năng đông cầm máu (liệt tiểu cầu, hemophilia ).
Mục đích nâng đỡ: Phòng ngừa thiếu máu nặng và xuất huyết ờ các bệnh nhân điều trị hóa trị liệu liều cao trong ung thư hoặc chỉ đơn thuần là điều trị triệu chứng cho các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.
♦♦♦ Tai biến truyền máu:
Mồi lần truyền máu là một lần đối mặt với nguy cơ xảy ra tai biến truyền máu Tai biến truyền máu rất đa dạng về thời điểm xuất hiện, về mức độ
và về nguyên nhân Tai biến truyền máu được phân loại như sau:
Tai biến truyền máu cấp tính: thường xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi truyền chế phẩm máu, bao gồm: phản ứng tán huyết cấp, phản ứng sốt không liên quan tán huyết, nổi mề đay, phản ứng phản vệ, tổ thương phổi liên quan truyền máu, quá tải tuần hoàn và nhiễm trùng tác nhân vi sinh trong chế phấm máu.
Tai biến truyền máu muộn: thường xảy ra sau 24 giờ sau khi truyền máu, bao gồm: giảm tiếu cầu sau truyền máu, phản ứng mô ghép chống ký chủ,
ức chế miễn dịch, quá tải sắt.
♦♦♦ Quy trình truyền máu:
Quy trình truyền máu bao gồm một chuỗi các công tác nhắm đến mục đích cuối cùng là cung cấp sản phẩm máu an toàn cho người bệnh Có thể chia quy trình này thành ba khâu chính: thu thập máu, xử lý - lưu trữ máu, truyền
Trang 352 1 máu lâm sàng Quá trình thu thập máu bắt đầu bằng khâu vận động hiến máu Những người đăng ký hiến máu đạt tiêu chuẩn sẽ tiến hành cho máu Sau quá trình thu thập, chế phẩm máu trải qua quá trình xử lý và lưu trữ tại ngân hàng máu Quá trình này bao gồm hàng
Trang 36loạt xét nghiệm, kỹ thuật nhằm đảm bảo loại bỏ những đơn
vị máu không đạt yêu cầu và lưu trữ tối ưu những đơn vị máu an toàn với đầy đủ thông tin chi tiết về nhóm máu, kháng thể bất thường và các xét nghiệm vi sinh đã thực hiện Cuối cùng của quy trình này là hoạt động truyền máu trong lâm sàng Khi bệnh nhân có chỉ định truyền máu, bác
sỹ sẽ gửi tờ đăng ký truyền máu có đầy đủ thông tin của bệnh nhân (quan trọng nhất là nhóm máu và mức độ khẩn cấp của truyền máu) đến bộ phận cấp phát máu Sau khi tìm được túi máu phù hợp, túi máu sẽ được kiểm tra nhóm máu một lần nữa ngay tại giường bệnh trước khi truyền cho bệnh nhân với tốc độ truyền theo y lệnh bác sỹ.
Hình 2.5: Quy trình truyền máu
Trang 37Nguồn: Cẩm nang vận động hiến máu (2012)
Câu hỏi thường xuyên được đặt ra là: “Tại sao hiến máu tình nguyện nhưng chế phẩm máu lại tốn tiền” Quá trình cho máu của người hiến máu là hoàn toàn tự nguyện Tuy nhiên, quá trình sàng lọc và lưu trữ chế phẩm máu đòi hòi các kỹ thuật và xét nghiệm đảm bảo tính an toàn của chế phẩm máu Vì vậy chế phẩm máu sau cùng sẽ có giá thành tương ứng với các quá trình trên.
Các khâu trong quy trình truyền máu đều có vai trò hết sức quan trọng Người hiến máu đóng vai trò quan trọng đến chất lượng máu Nhưng nếu vận động hiến máu không hiệu quả, số lượng đơn vị máu dự trữ sẽ không đáp ứng nhu cầu truyền máu
Trang 38trong hoạt động điều trị Hoặc nếu khâu xử lý và lưu trữ máu không tốt, độ an toàn của chếphẩm máu không được đảm bảo, làm tăng nguy cơ xảy ra tai biển khi truyền vào vào cơ thểbệnh nhân Vì vậy, tối ưu hóa hoạt động từng khâu trong quy trình truyền máu sẽ tạo ra chếphẩm máu có tính an toàn cao nhất, đem lại lợi ích tối đa cho người bệnh
2.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi hiến máu
Aldamiz-Echevarria (2014) đề xuất áp dụng lý thuyết hành vi người tiêu dùng đểtham chiếu với hành vi người hiến máu
Theo lý thuyết hành vi người tiêu dùng, “hành vi mua hàng của một người là kết quảcủa những tác động qua lại của các yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân và yểu tốtâm lý” (Vũ Thế Phú, 2000)
Các yếu tố văn hóa: Con người sinh ra và lớn lên thông qua một tiến trình xã hội,được thụ hưởng các giá trị văn hóa từ xã hội Những giá trị văn hóa này chi phối mạnh mẽđến sở thích, thái độ, hành vi của người tiêu dùng nói chung và hành vi hiến máu nói riêng.Các yểu tố về xã hội: Con người là một thực thể của xã hội Do đó, hành vi của conngười cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, địnhhướng giáo dục, vai trò trong xã hội
Các yểu tố cá nhân: ngoài những tác động của những giá trị văn hóa cũng như cácyếu tố xã hội, hành vi tiêu dùng hay hành vi hiến máu còn chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu
tố của bản thân người đó như: tuổi, nghe nghiệp, cá tính, hoàn cảnh kinh tế, nhân cách
Trang 39Văn hóa
Các nhóm bạn
bè, đồng sựGia đìnhVai trò và địa vị
Tâm lý
Động cơ Sự cảm nhận Sự hiểu biếtNiềm tin và thái độ
25
Các yếu tố về tâm lý: quyết định mua hàng hay quyết định hiến máu cũng chịu sự
tác động của các yếu tố về tâm lý như yếu tố động cơ thúc đẩy hành vi, niềm tin và thái độ,
sự hiểu biết
Xã hội
Hình 2.6: Mô hình chi tiết các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng
Nguồn: Vũ Thế Phú (2000)
2.2.8 Mối quan hệ giữa nhận thức, thải độ và hành vi của người hiến máu
Hành vi của con người có mối liên hệ mật thiết với nhận thức và thái độ Tất cả cácyếu tố này chịu tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh Trong đó, nhận thức đóngvai trò là nhân tố chi phối đến thái độ và hành vi của con người Hành vi là sự trải nghiệmsâu sắc giúp củng cố nhận thức và thái độ, từ đó tác động trở lại hai nhân tố này Tuy nhiên,ngay cả khi hội tụ đầy đủ các yếu tố nhận thức đúng đắn về nghĩa cử cao đẹp của hiến máucũng như thái độ tích cực, tự nguyện, vô vụ lợi; hành vi hiến máu chưa chắc có thể xảy ra.Hoặc ngược lại, hành vi hiến máu có thể xáy ra
Trang 402 6
ở một người chưa có nhận thức đúng đắn cũng như chưa có thái độ tích cực về hiến máu tình nguyện Rõ ràng, hành vi con người nói chung và hành hiến máu nói riêng luôn chịu tác động từ môi trường sống xung quanh (Ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện, 2012).
Hình 2.7: Mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ, hành vi và môi trường sống
của người hiến máu
Nguồn: Cẩm nang vận động hiến máu
(2012) 2.3 Lược khảo các nghiên cứu liên quan
Các nghiên cứu về người hiến máu đã xác định được một loạt các yếu
tố nhân khẩu học, xã hội, và tâm lý ảnh hưởng đến hành vi hiến máu.
- Tuôi:
Tuổi và hành vi hiến máu được tìm thấy có mối quan hệ qua các nghiên cứu Ở những độ tuổi khác nhau thì hành vi hiển máu cũng có sự khác nhau WHO (2015) phân tích dừ liệu từ 111 nước (số liệu năm 2011) cho thấy, ở các nước đang phát triển tỷ lệ người trẻ đi hiến máu nhiều hon trong khi
ở các nước phát triển người hiến máu có độ trung niên chiếm tỷ lệ cao Cụ thể:
ở các nước đang phát triển: 6% người hiến ở độ tuổi < 18, 41% ở độ tuổi
18-24, 37% ở độ tuổi 25-44, 17%