“Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong chương trình Ngữ văn THPT 1.2.1 Khái niệm nghị luận xã hội Khi nghiên cứu về văn nghị luận, các nhà khoa học đều khẳng định: Văn nghị luận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
BÙI THỊ HÀ
RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT TRONG DẠY HỌC
BÀI “NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG,
ĐẠO LÍ” – SGK NGỮ VĂN 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô
giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là TS Phạm Kiều Anh – người đã tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2016
Tác giả
Bùi Thị Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Phạm
Kiều Anh Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2016
Tác giả
Bùi Thị Hà
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CH Câu hỏi
GV Giáo viên
HS Học sinh HTĐS Hiện tượng đời sống KNS Kĩ năng sống
NLXH Nghị luận xã hội SGK Sách giáo khoa SGV Sách giáo viên TLXH Tâm lí xã hội TTĐL Tư tưởng đạo lí THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc UNESCO Tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hoá quốc tế WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Bố cục của khóa luận 4
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Kĩ năng sống và các loại kĩ năng sống trong giáo dục 5
1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống 5
1.1.2 Các loại kĩ năng sống 6
1.1.3 Ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong giáo dục 7
1.2 “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong chương trình Ngữ văn THPT 8
1.2.1 Khái niệm nghị luận xã hội 8
1.2.2 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 9
1.2.3 Các cơ sở khoa học của việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 10
1.3 Các kĩ năng sống có thể hình thành cho học sinh THPT khi học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 12
1.3.1 Kĩ năng giải quyết vấn đề 12
1.3.2 Kĩ năng xác định giá trị 13
1.3.3 Kĩ năng cảm thông và chia sẻ 13
1.3.4 Kĩ năng giao tiếp hiệu quả 13
1.4 Cơ sở thực tiễn của việc hình thành, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh THPT trong giờ học Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 15
Trang 61.4.1 Thực trạng dạy 15
1.4.2 Thực trạng học 15
1.4.3 Thực trạng vận dụng kĩ năng sống của học sinh THPT trong cuộc sống hàng ngày 16
1.4.4 Đánh giá chung 18
Chương 2 DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ CÓ KẾT HỢP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT 20
2.1 Mục đích của việc dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý 20
2.2 Cấu trúc bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý 20
2.3 Nguyên tắc phối hợp rèn luyện kỹ năng sống cho HS khi học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 21
2.3.1 Nguyên tắc tích hợp 21
2.3.2 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh 22
2.3.3 Nguyên tắc trực quan 23
2.4 Rèn luyện một số kĩ năng sống cho học sinh THPT trong giờ học Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 24
2.4.1 Rèn luyện kỹ năng sống khi hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu 24
2.4.2 Rèn luyện kỹ năng sống khi hướng dẫn HS hình thành các kỹ năng tạo lập văn bản 26
2.4.3 Rèn luyện kỹ năng sống khi hướng dẫn HS liên hệ thực tế khi rút ra bài học nhận thức 28
2.4.4 Rèn luyện kỹ năng sống khi hướng dẫn HS luyện tập thực hành 29
2.5 Quy trình dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lý có phối hợp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh 31
CHƯƠNG 3.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37
3.1 Mục đích thực nghiệm 37
3.2 Đối tượng thực nghiệm 37
3.3 Địa bàn thực nghiệm 37
3.4 Nội dung thực nghiệm 38
Trang 73.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 55 KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong vài năm gần đây, cùng với sự thay đổi về kinh tế, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, xã hội có những biến động đa chiều, phức tạp ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, đặc biệt
là thế hệ trẻ Thực tiễn này khiến các nhà giáo dục và những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho thế
hệ trẻ, trong đó có học sinh (HS) THPT Vấn đề cơ bản tác động tới việc giáo dục
KNS cho thế hệ trẻ được chia sẻ là: thế hệ trẻ ngày nay thường phải đương đầu với
những rủi ro đe dọa sức khỏe và hạn chế cơ hội học tập Do đó, nếu chỉ có thông tin không đủ để bảo vệ họ tránh được những rủi ro này Theo đó, giáo dục KNS được
triển khai nhằm cung cấp cho các em các kĩ năng thiết yếu để giải quyết được các vấn đề nảy sinh từ cuộc sống Thực tế xã hội hiện nay cho thấy ứng xử, giao tiếp, chia sẻ, nhận thức, cảm thông, thể hiện thái độ là những yếu tố quan trọng thể hiện trình độ, giá trị và nhân cách của mỗi cá nhân Vì thế, KNS trở thành mục tiêu
và là một nhiệm vụ trong giáo dục toàn diện con người HS
1.2 Trong nhiều năm trở lại đây, thế giới cũng có những thay đổi trong nhận
thức và quan niệm về giáo dục Bám sát với xu thế thời đại, Việt Nam đã và đang từng bước thực hiện đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục nước nhà; đổi mới mục tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những
năng lực cần thiết với tinh thần: “năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực
chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao động, năng lực quản
lý, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm và giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống” Theo tinh thần
đó, việc triển khai các hoạt động giáo dục theo định hướng tiếp cận KNS đã trở thành một trong những nhiệm vụ của đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông Về bản chất, đó cũng là những hoạt động giáo dục gắn liền với bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI mà tổ chức UNESCO đưa ra Tuy nhiên, nhận thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa giáo dục KNS trong giáo dục phổ thông
Trang 9đặc biệt là những hướng dẫn về cách tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho HS ở các cấp học, bậc học còn hạn chế
1.3 Ngữ văn là một trong những môn học có thể hình thành và giáo dục cho
HS nhiều KNS, bởi đây là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Thông qua môn học này, HS không chỉ được trang bị những tri thức về xã hội, văn hóa, lịch sử, đời sống nội tâm của con người mà các em còn được hình thành và rèn luyện năng lực giao tiếp, nhận thức về xã hội, con người, bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ, hoàn thiện nhân cách Làm văn là phân môn có nhiệm vụ trang bị những tri thức khoa học về các kiểu văn bản, hình thành và rèn luyện các kĩ năng thiết yếu để tạo lập văn bản, từ đó giúp cho các em biết vận dụng
để tạo ra những văn bản cụ thể theo yêu cầu của cuộc sống Từ mục đích cơ bản của việc dạy học Làm văn như trên, trong các giờ học, GV có thể hình thành và rèn luyện cho HS một số KNS Bởi lẽ, xét cho đến cùng, khi học làm văn, các em không chỉ học để biết mà còn học để làm việc; học để thể hiện thái độ, hòa nhập và chung sống với cộng đồng
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài:
“Rèn luyện một số kĩ năng sống cho học sinh THPT trong dạy học bài “Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí” – SGK Ngữ văn 12”
đề giáo dục sức khỏe cho thanh thiếu niên Giai đoạn 2 của chương trình mang tên
“Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS” Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm
Trang 10KNS và giáo dục KNS đã được phát triển sâu sắc hơn
Từ thực tế trên, việc KNS và giáo dục KNS cho HS dần thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Ở giai đoạn này, KNS được mở rộng, xem xét ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho các em (trong đó có HS THPT) Một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang tổng hợp
kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Văn Nhân (2002); Kĩ năng thanh niên tình nguyện của tác giả Trần Thời (1998)… Một trong những người đầu
tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam
là tác giả Nguyễn Thanh Bình Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở
Việt Nam Có thể nói những kết quả khoa học trong các công trình trên chính là những gợi dẫn cho chúng tôi triển khai đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của việc nghiên cứu đề tài này chính là: Xác định những
KNS cơ bản phù hợp với văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Đồng thời tìm hiểu
và đề xuất cách thức phối hợp rèn luyện một số KNS cho HS THPT trong quá trình
dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nhằm hướng tới yêu cầu đổi mới căn
bản, toàn diện dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học làm văn NLXH nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định các nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở lý luận về KNS, về văn NLXH
- Xác định các KNS có thể hình thành và rèn luyện cho HS THPT trong quá
trình dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Bước đầu đề ra những định hướng hình thành và rèn luyện KNS cho HS
THPT khi học bài Nghị luận nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Thực nghiệm cho những đề xuất được nêu trước đó
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 114.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu KNS và các loại KNS trong giáo dục
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi tập trung vào bài Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp hệ thống hóa
Sử dụng phương pháp này nhằm hệ thống hóa các tri thức lý thuyết về KNS,
về văn NLXH
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Sử dụng phương pháp này để phân tích, chứng minh rằng trong giờ Nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí có thể tích hợp rèn luyện cho HS THPT những KNS
phù hợp
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được sử dụng khi tổ chức thực nghiệm để chứng minh tính
khả thi của việc rèn KNS cho HS THPT trong giờ Nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí, từ đó tạo cơ sở cho việc rút ra kết luận chung
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc giáo dục KNS cho HS THPT,
từ đó nâng cao chất lượng dạy học Làm văn nói riêng và Ngữ văn nói chung
7 Bố cục của khóa luận
Khóa luận của chúng tôi được triển khai thành ba chương
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
- Chương 2: Dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có tích hợp rèn
luyện KNS cho HS
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Kĩ năng sống và các loại kĩ năng sống trong giáo dục
1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống
Ngay những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên Theo đó, KNS (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi, ở mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, các nhà khoa học và các tổ chức trên thế giới vẫn chưa có một tiếng nói chung nhất về khái niệm này
Theo WHO (1993) cho rằng: KNS là khả năng để có hành vi thích ứng
(adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Còn theo UNICEF thì: KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cũng bàn về KNS sống,
UNESCO lại quan niệm: KNS gắn với bốn trụ cột giáo dục, đó là: học để biết
(Learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
ra quyết định, giải quyết vấn đề Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng
cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin ;
Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội
như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện
sự cảm thông ; Học để làm (Learning to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và
các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm Với quan niệm của UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để họ thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày
Từ các quan niệm trên, có thể nhận thấy, tuy cùng bàn về KNS nhưng có thể nhận thấy khái niệm này được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng Hiểu theo
Trang 13nghĩa hẹp, KNS được nhìn nhận trên cơ sở hệ thống năng lực tâm lý xã hội (TLXH) Còn hiểu theo nghĩa rộng, nó không chỉ bao gồm năng lực TLXH mà còn bao gồm cả những “kĩ năng tâm vận động” Tuy nhiên, dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì các quan niệm trên đều có điểm thống nhất về KNS ở việc: khẳng định nó thuộc về phạm trù năng lực chứ không thuộc phạm trù kĩ thuật của hành động, hành vi Cũng bởi vậy, khi xác lập hệ thống các KNS có thể giáo dục cho HS, nhiều quốc gia trên thế giới đã chọn và sử dụng khái niệm KNS của UNESCO (sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển KNS cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên Trong khóa luận này, chúng tôi xác định KNS có thể hiểu: là khả năng làm cho hành vi và
sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày
1.1.2 Các loại kĩ năng sống
Do có nhiều cách tiếp cận về KNS cho nên cũng có nhiều cách phân loại về
nó Có thể kể tới một số cách phân loại KNS dưới đây:
1.1.2.1 Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO),
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và UNICEF, cho rằng KNS bao gồm
- Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving);
- Kĩ năng suy nghĩ / tư duy phê phán (critical thinking);
- Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skills);
- Kĩ năng ra quyết định (decision – making);
- Kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking);
- Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills);
- Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị (selfawareness building skills, incl.self- awareness, self- esteem and self- confidence, and values analysis);
- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy)
1.1.2.2 Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là:
Trang 14- Hợp tác nhóm; - Tự quản;
- Tham gia hiệu quả; - Suy nghĩ/ Tư duy bình luận, phê phán;
- Suy nghĩ sáng tạo; - Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
1.1.2.3 Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như: Tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ,
Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại KNS Tuy nhiên, mọi cách phân loại đều chỉ là tương đối Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau Ví dụ: Khi cần ra quyết định một cách phù hợp thì các kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kĩ năng xác định giá trị… thường được vận dụng Hay để có thể giao tiếp một cách có hiệu quả cần phối hợp những kĩ năng như: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng thương lượng, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng cảm thông, chia sẻ, kĩ năng kiềm chế, đương đầu với cảm xúc… Hoặc để đạt được mục tiêu mỗi cá nhân cần phối hợp các kĩ năng như: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ…
1.1.3 Ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong giáo dục
Những KNS cơ bản là căn cứ thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội
Có thể nói đó chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi
và thói quen tích cực Người có KNS sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử và giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; làm chủ cuộc
Trang 15sống của chính mình Ngược lại người không có KNS thường bị vấp ngã, dễ bị thất bại trong cuộc sống Không chỉ vậy, KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của
xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề về xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu KNS của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc… Vì thế, giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội, tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội Giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là vô cùng cần thiết Nó giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người; sống tích cực, chủ động, an toàn, lành mạnh; đồng thời cũng rèn luyện hành vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc cho mỗi cá nhân HS Cũng vì thế, giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới
1.2 “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong chương trình Ngữ văn THPT
1.2.1 Khái niệm nghị luận xã hội
Khi nghiên cứu về văn nghị luận, các nhà khoa học đều khẳng định: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lập luận, bao gồm lí lẽ, dẫn chứng, để bàn luận và đưa ra những ý kiến của mình nhằm làm rõ một vấn đề nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và NLXH
Nhắc tới NLXH là người ta nhắc tới một dạng của kiểu văn bản nghị luận
Đó là dạng văn bản mà ở đó, người nói, người viết tập trung bàn luận và làm sáng
tỏ các vấn đề thuộc về đời sống xã hội, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục, đạo đức, môi trường, dân số… Với đối tượng được bàn luận trong văn bản luôn gắn liền với đời sống, với xã hội, nên mục đích cuối cùng của nó là tạo
ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội; tạo điều kiện để khẳng định bản thân mình và hòa nhập với cộng đồng, với xã hội Cũng vì thế, NLXH là những bài văn bàn về những vấn đề
xã hội - nhân sinh như: một tư tưởng, đạo lí; một lối sống cao đẹp; một hiện tượng
Trang 16tích cực hoặc tiêu của đời sống; một vấn đề thiên nhiên, môi trường Hiện nay, dựa vào đối tượng được nghị luận, các nhà khoa học đã phân NLXH được chia làm 2 dạng là nghị luận về một tư tưởng đạo lý (nghị luận về một TTĐL) và nghị luận về một hiện tượng đời sống (nghị luận về một HTĐS)
1.2.2 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Nghị luận về một TTĐL là dạng văn NLXH mà ở đó, người nghị luận sử
dụng phương thức bàn luận, đánh giá nhằm thể hiện suy nghĩ, bộc lộ quan điểm của mình về cuộc sống, về các phạm trù đạo đức và qua đó giúp mỗi cá nhân có thái độ ứng xử đúng đắn với chính bản thân mình và với mọi người trong xã hội
Được sử dụng nhằm bàn luận một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực quan điểm,
tư tưởng, đạo lí, lối sống của con người, nên có thể nhận thấy phạm vi đề tài của nghị luận về một TTĐL vô cùng phong phú, có tính khái quát cao Đó có thể là bàn luận về các quan niệm, suy nghĩ, những tư tưởng, về các phạm trù đạo đức, về văn hóa sống và ứng xử theo chuẩn mực xã hội Chẳng hạn, các đề bài như: Suy nghĩ về
câu ca dao “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay đề bài: “Nơi lạnh nhất không phải là
Bắc Cực mà là nơi thiếu tình thương?” thuộc dạng nghị luận này
Xét về cấu trúc, cũng giống như kết cấu của một bài văn nghị luận thông thường, một bài văn nghị luận về một TTĐL gồm ba phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề Cụ thể hơn khi tiến hành thực hiện lập luận trong kiểu bài này, người tạo lập cần đảm bảo các bước sau:
Bước 1: Giải thích khái niệm các nội dung được luận bàn
Bước 2: Phân tích, lí giải, chứng minh những khía cạnh của vấn đề nhằm giúp cho người đọc hiểu và tin theo những điều được bàn luận
Bước 3: Bình luận, đánh giá nhằm thể hiện thái độ, khơi gợi và tác động tới hành động của người tiếp nhận
Để thực hiện tốt các bước trên, khi tạo lập văn bản này, HS phải đọc và hiểu được yêu cầu của đề Trong đề, việc trích dẫn các câu nói, những câu châm ngôn chỉ là cơ sở để yêu cầu HS bàn luận đến một vấn đề có liên quan Vì thế, khi biểu đạt nội dung nghị luận, việc dùng lí lẽ và dẫn chứng ở dạng bài này phải gắn liền
Trang 17thực tế cuộc sống xung quanh để tác động đến cả nhận thức và tình cảm của người tiếp nhận
1.2.3 Các cơ sở khoa học của việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”
1.2.3.1 Xuất phát từ bản chất của dạng bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Về mặt nội dung, nghị luận về một TTĐL là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo lí, lối sống của con người Đó là các vấn đề liên quan đến quan niệm, lẽ sống, đạo đức, tình cảm… theo những chuẩn mực xã hội trong từng giai đoạn lịch sử phát triển Như vậy, có thể thấy phạm vi đề tài rộng, mang tính khái quát cao, lại gần gũi gắn bó mật thiết với cuộc sống của HS Chẳng hạn như đề bài:
“Lí tưởng sống là ngọn đèn chỉ đường” rất gần gũi với thế hệ trẻ trong cuộc sống
hiện đại ngày nay Ai cũng có những ước mơ, khát vọng và có lí tưởng của riêng mình Chính lí tưởng là niềm tin, là ngọn đèn để chỉ đường cho chúng ta bước vào tương lai HS có thể vận dụng những hiểu biết thực tế của mình để giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài tập cũng như những vấn đề khác trong thực tế cuộc sống Như vậy, với nội dung gắn liền với thực tế cuộc sống nên trong quá trình dạy học,
GV có thể kết hợp hình thành và rèn luyện một số KNS cơ bản cho HS Khi tạo lập loại văn bản này, các em có thể liên hệ, vận dụng kiến thức thực tế để giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài học cũng như trong thực tế cuộc sống, tức là có kĩ năng giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định phù hợp…
1.2.3.2 Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của HS THPT
Đối với HS THPT, đặc biệt là HS lớp 12, hoạt động tư duy phát triển mạnh.Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn
đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức
Trang 18chân lý một cách sâu sắc hơn Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán
và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần tích hợp rèn luyện cho HS các kĩ năng tư duy khoa học để các em có thể tư duy một cách tích cực, độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng
Tự ý thức cũng là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhận thức của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống, bắt đầu hình thành những định hướng nghề nghiệp… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các
em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý HS THPT vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí tức là bàn luận nhằm thể hiện suy nghĩ, bộc lộ quan điểm của các em về quan niệm sống, các phạm trù đạo đức theo các chuẩn mực xã hội nhất định Vấn đề đạo
lí trong nội dung nghị luận cũng sẽ giúp HS có thái độ ứng xử đúng đắn với chính bản thân mình và với mọi người xung quanh Với một vài đặc điểm tâm lí HS
Trang 19THPT như trên, trong quá trình dạy học, GV cần nắm bắt đặc điểm, sự phát triển tâm lí của HS ở lứa tuổi này Thông qua đó, GV có thể hiểu được vị trí của giai đoạn lứa tuổi HS THPT, bối cảnh xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến tâm lí
ở lứa tuổi này để từ đó có những định hướng hình thành và giáo dục kĩ năng sống cho bản thân các em
1.3 Các kĩ năng sống có thể hình thành cho học sinh THPT khi học bài “Nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí”
Từ những loại KNS đã được nêu trên và từ bản chất của dạng bài nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí, chúng tôi nhận thấy, trong quá trình hướng dẫn HS học tập,
GV có thể tích hợp hình thành, rèn luyện một số KNS sau:
1.3.1 Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng này được thể hiện ở khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề, tình huống gặp phải trong cuộc sống Để tạo lập được một bài nghị luận về một nghị luận về một TTĐL, kĩ năng giải quyết vấn đề là cần thiết Bởi muốn tạo lập được một văn bản nghị luận nói chung, nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng, HS phải xác định đúng nội dung cần bàn luận để tìm ra những cách lập luận thuyết phục người tiếp nhận Việc làm đó thể hiện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề Vì vậy, khi hướng dẫn HS xác định đối tượng cần bàn luận, GV có thể lồng ghép KNS cho HS: Trong cuộc sống các em sẽ gặp không ít những vấn đề, những tình huống khó khăn Khi đó, các em cần bình tĩnh và có những kỹ năng ứng phó thích hợp và hiệu quả Như vậy, cung cấp cho HS kĩ năng này sẽ giúp các em linh hoạt trong mọi tình huống, có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống Khi trang bị những hiểu biết về kỹ năng này, GV cần lưu ý HS: xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải (kể cả tìm kiếm thêm thông tin cần thiết); liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có; hình dung đầy đủ về kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào đó; xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án giải quyết đó; so sánh các phương
án để đưa ra quyết định cuối cùng; hành động theo quyết định đã lựa chọn; kiểm
Trang 20định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định và giải quyết vấn
đề sau Trong thực tế, kỹ năng giải quyết vấn đề thường gắn với một số KNS khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
1.3.2 Kĩ năng xác định giá trị
Kĩ năng xác định giá trị là khả năng xác định được những giá trị của bản thân mình để sống và hành động theo những giá trị đó Từ đó, mỗi cá nhân sẽ biết tôn trọng và biết chấp nhận rằng người khác cũng có những giá trị riêng biệt Khi làm
bài nghị luận về một TTĐL, các em phải nhận dạng chính xác kiểu bài, xác định
được nội dung cần nghị bàn để từ đó phân tích, đánh giá và thể hiện thái độ, chính kiến của bản thân Muốn xác định được vấn đề cần bàn luận, GV yêu cầu HS phải đọc kỹ đề, phân tích để hiểu được nội dung đề cần bàn định và phải đặt câu hỏi tại sao lại nói như vậy, nói như vậy có ý nghĩa gì? Có thể nói, kĩ năng này sẽ giúp HS biết nhìn nhận và đánh giá tính đúng sai, từ đó tìm ra những biện pháp cụ thể để xử
lí các tình huống đầy thử thách của cuộc sống Nếu không xác định giá trị đúng đắn cho bản thân, có thể các em sẽ đưa ra những quyết định sai lầm và thậm chí là hối tiếc về sau
1.3.3 Kĩ năng cảm thông và chia sẻ
Cảm thông có nghĩa là đặt mình vào vị trí của người khác, nhận biết và hiểu được cảm xúc của người đó và từ đó, mỗi cá nhân không thể tỏ ra thờ ơ hay ích kỷ với những người xung quanh được Thông qua bài nghị luận về một TTĐL, HS sẽ hiểu và nhận ra sự cảm thông giữa con người với con người Theo đó, các em sẽ nhận thấy rằng, cảm thông là một cách tuyệt vời để có thể học tập, làm việc vui vẻ,
có ích với nhau Điều đó giúp cho các em không chỉ tự hào về bản thân mình vì làm được những điều lớn lao so với lứa tuổi của các em và còn có thể hình thành những cách ứng xử tốt đẹp của các em đối với mọi người xung quanh Hiểu mình và biết chấp nhận người khác không chỉ là một KNS đối với HS THPT mà còn là KNS đối với tất cả mọi người trên toàn thế giới
1.3.4 Kĩ năng giao tiếp hiệu quả
Trang 21Giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hoá, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm; biết bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và
cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết Trong giờ Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí, nếu các em chỉ xác định được yêu cầu của vấn đề cần nghị
luận thì chưa đủ mà các em còn phải suy nghĩ làm như thế nào để văn bản mình tạo
ra có sức thuyết phục đối với người tiếp nhận Theo đó, bên cạnh việc lập dàn ý, xác định các thao tác lập luận, HS cũng cần chú trọng việc chọn lựa ngôn từ, cách trình bày cho bài viết Hình thức trình bày, diễn đạt sáng tạo chính là yếu tố giúp cho sản phẩm của các em có ấn tượng mạnh mẽ đối với người tiếp nhận Vì vậy khi biểu đạt, các em cần chú ý: lời văn ý tứ phải rõ ràng giúp người tiếp nhận hiểu được đúng thông tin muốn truyền đạt; nên đi thẳng và nêu bật các nét chính của vấn đề; không sa vào những chi tiết không cần thiết, không lặp lại nội dung đã trình bày, tránh việc dùng từ thừa, từ vô nghĩa; không sai lỗi chính tả; phải có đầy đủ nội dung, những luận điểm, luận cứ đúng với yêu cầu của một bài văn nghị NLXH Những yêu cầu trên không chỉ giúp HS biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả, tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày mà còn giúp các em có mối quan hệ tích cực với gia đình, bạn bè và xã hội
Ngoài những KNS trên, trong giờ học NLXH, GV có thể hình thành và rèn luyện cho HS một số KNS khác như: Kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc… Tuy nhiên, các kĩ năng đó chỉ nên dừng lại ở việc giới thiệu để các em có thể vận dụng khi biểu đạt các nội dung nghị luận Bởi lẽ, HS THPT đang ở độ tuổi nhạy cảm, có những thay đổi không nhỏ về tâm sinh lý và các mối quan hệ xã hội Do đó, nhận thức, thái độ và suy nghĩ của các em chưa thực sự
ổn định và chủ động Việc giáo dục những kĩ năng như phê phán, ứng phó hay thể hiện sự tự tin của bản thân nếu không phù hợp sẽ tạo ra những tác động khó lường tới suy nghĩ, tâm lý các em
Trang 221.4 Cơ sở thực tiễn của việc hình thành, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh
THPT trong giờ học Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
1.4.1 Thực trạng dạy
Những vấn đề bàn luận trong dạng bài nghị luận về một TTĐL vô cùng phong phú và đa dạng bởi nó gắn liền với những quan điểm, tư tưởng, triết lý về
cuộc sống, về con người Tuy nhiên, bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí được giới
thiệu trong chương trình Ngữ văn THPT chỉ được dạy trong 1 tiết Với thời lượng hạn định, tài liệu tham khảo lại không nhiều nên việc dạy học của GV còn hạn chế Trong thực tế, nhiều GV mới chỉ bám sát vào SGK và SGV mà chưa có sự đầu tư, sáng tạo Thời gian dạy học quá ngắn, lượng kiến thức vừa dài, vừa khô lại vừa khó nên GV không có điều kiện hướng dẫn cho HS tìm hiểu một cách cụ thể ngữ liệu, cũng như các kỹ năng tạo lập văn bản Theo đó, HS chưa cóđiều kiện để rèn luyện
kĩ năng viết văn nghị luận về một TTĐL một cách thường xuyên
1.4.2 Thực trạng học
Trong quá trình học tập, nhiều HS còn thụ động Mặc dù GV đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho HS thực sự trở thành chủ thể học tập nhưng các em chưa chủ động tiếp thu bài, vẫn có đó những lối học theo kiểu cũ như: nghe, ghi chép, nhớ và tái hiện những gì GV cung cấp Hơn nữa, kĩ năng làm văn còn hạn chế nên khi viết bài văn nghị luận về một TTĐL, các em thường lúng túng, diễn đạt chung chung, sơ sài chưa thể hiện được những suy nghĩ, tình cảm, thái độ của mình trước những vấn
đề đó, thậm chí không có bố cục của một bài làm văn NLXH… Bởi thế, việc dạy làm văn NLXH trong nhà trường chưa thực sự hiệu quả
Từ thực trạng dạy - học của GV và HS nêu trên ta nhận thấy: muốn HS có thể vận dụng thành thạo những kĩ năng cơ bản cũng như nắm được cách làm, quy trình của một bài văn nghị luận về một TTĐL, GV không những cần sự tận tình, sáng tạo, thay đổi trong phương pháp dạy học mà còn phải giúp HS nhận thấy những tri thức và kỹ năng đó không chỉ là khoa học thuần túy mà nó còn gắn liền với thực tế cuộc sống của các em Tích hợp giáo dục KNS trong giờ học nghị luận
Trang 23về một TTĐL sẽ nhằm mục đích đó
1.4.3 Thực trạng vận dụng kĩ năng sống của học sinh THPT trong cuộc sống hàng ngày
Qua khảo sát của Viện Nghiên cứu Môi trường và các vấn đề xã hội trực
thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đối với nhóm trẻ vị thành niên tại Hà Nội cho thấy, một bộ phận trong số các em thiếu sự tự tin trong cuộc
sống và các em có nhu cầu được học KNS Do thiếu KNS nên những hành vi lệch
chuẩn của thanh thiếu niên có chiều hướng gia tăng với những biểu hiện rất đa dạng Có thể nhận ra các hành vi lệch lạc của thanh thiếu niên qua một câu chuyện
thực tế sau: Ngày 1/4/2010, một học sinh Trường THCS Quang Trung (Lý Thường
Kiệt, phường 8, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) bất ngờ nhảy từ tầng 3 xuống sân trường, bị thương nặng Theo những HS có mặt tại hiện trường thì khoảng 7 giờ 45 phút, T vào lớp với vẻ mặt rất buồn Lát sau, T vùng bỏ chạy ra khỏi lớp (tầng 2) rồi chạy thẳng lên tầng 3, leo qua lan can nhảy xuống đất…
Một vài biểu hiện về cách giao tiếp ứng xử của HS hiện nay cũng khiến người lớn không khỏi giật mình: HS gặp GV không chào, HS tạt axít vào mặt thầy giáo Không chia sẻ được với chính những người thân, với cha mẹ của mình, một
bộ phận giới trẻ tự tìm đến những phương tiện kết nối như Internet, trung tâm tư vấn Tại một diễn đàn (không tiện dẫn đường link), học sinh còn nêu lên những biện pháp tự tử êm ái Có học sinh vì buồn chuyện không hòa nhập được ở môi trường
mới, lập topic: “Chán đời muốn chết” để tìm những lời khuyên Nhiều phản hồi
khuyên can nhưng có những phản hồi không kém phần tiêu cực Th.S Trần Thu Hương, giảng viên khoa Tâm lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Để hạn chế tình trạng tự tử ở lứa tuổi HS, thì những người đang đứng trên bục giảng, bên cạnh những kiến thức học đường, cần nắm bắt được tâm tư, sự phát triền tâm sinh lý của mỗi cá nhân HS Từ đó mới có thể giúp các em hiểu được ở lứa tuổi mình những điều mình nên và không nên làm Nắm bắt kịp thời những biểu hiện bất thường của các em, để nhà trường và gia đình thông tin cho nhau biết, còn có biện phá ngăn chặn những hành vi nông nổi của các
Trang 24em Ở lứa tuổi học trò, nhất là lứa tuổi dậy thì, học sinh cần phải hiểu rằng nhà trường, gia đình, bè bạn chính là chỗ mình có thể nương tựa, chia sẻ ở mọi nơi mọi lúc Như vậy, suy nghĩ “muốn được giải thoát”, “chán sống”, “ghét tất cả” không
còn trong suy nghĩ của các em nữa Vấn đề giao tiếp, ứng xử với thầy cô, bạn bè là
nội dung được rất nhiều HS quan tâm Khi chia sẻ, các em tập trung vào một số nội dung như: Làm thế nào để hòa mình trong nhóm bạn; để cho bạn hiểu về mình hơn; cảm thấy bị cô giáo ghét thì làm thế nào; không muốn thầy gọi “chúng mày”, xưng
“tao” Khảo sát về cuộc gọi đến, trong 2 tháng đầu năm 2010, có 1.500 cuộc/ tổng
số cuộc gọi tư vấn, chiếm hơn 60% là HS hỏi về KNS
Ở Quảng Nam, lứa tuổi vị thành niên chiếm khoảng 23,06% dân số và nhóm tuổi vị thành niên, thanh niên chiếm 31,13% tổng dân số Đây là một lực lượng đông đảo nhưng do những hạn chế trong nhận thức và KNS nên nhóm tuổi này dễ bị tác động, có nguy cơ cao nhất đối với các bệnh liên quan đến đạo đức, lối sống và
sức khoẻ sinh sản Tình trạng thai sản vị thành niên là một trong những lo ngại hiện
nay Theo báo cáo thống kê của Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, năm 2009,
tỷ lệ vị thành niên - thanh niên mang thai là 28,20%, tỷ lệ phá thai là 11,05% Tỷ lệ vị thành niên mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản là 22,55% Vị thành niên - thanh niên nhiễm HIV/AIDS trong tổng số ca được xét nghiệm là 11/43 ca chiếm tỷ
lệ 25,58% So với năm 2006 (trước khi triển khai kế hoạch hành động bảo vệ chăm sóc nâng cao sức khỏe vị thành niên), tỷ lệ mang thai tăng 4,81%, tỷ lệ phá thai giảm 1,95% Sự hiểu biết, tiếp cận các dịch vụ sức khoẻ sinh sản của vị thành niên thanh niên tăng lên, nhờ đó tỷ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, phá thai giảm Tuy nhiên, do trào lưu của xã hội ít khắt khe hơn về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân nên tỷ lệ mang thai vị thành niên vẫn là vấn đề đáng lo ngại Bởi số trẻ em bị bỏ rơi sau khi sinh có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây
Riêng nạn bạo hành tình dục ở trẻ vị thành niên và vị thành niên là tội phạm
ngày một gia tăng Năm 2009, Phòng PV11 Công an tỉnh cho biết có 11 em bị bạo
hành trong gia đình; 13 em bị xâm hại tình dục và có đến 137 vị thành niên - thanh niên nghiện chích ma túy; 587 đối tượng vị thành niên vi phạm pháp luật trong 396
Trang 25vụ, trong đó có 278 trẻ dưới 16 tuổi… Với những hành vi kể trên, có thể nhận thấy
rất rõ ý nghĩa của việc giáo dục KNS cho HS trong xã hội hiện nay Khảo sát của
Viện Nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội về thực trạng và nhu cầu được đào tạo KNS của nhóm trẻ vị thành niên tại hai trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội, các nhà giáo dục đã thu nhận một số kết quả trả lời của HS như sau: Với câu
hỏi (CH): “Bạn đã bao giờ được học về kỹ năng sống chưa?”, ý kiến trả lời: 12.2%
được học một lần, 5,8% được học nhiều lần và 82% chưa bao giờ được học tạo
KNS Với CH: “Theo bạn việc trang bị kỹ năng sống có cần thiết không?” thì có 70,6% trả lời là rất cần, 25,8% trả lời là cần thiết CH: “Gặp khó khăn trong cuộc
sống, em thường giải quyết như thế nào?” Có 42,9% trả lời cố gắng tự giải quyết,
52,4% tìm sự giúp đỡ của người khác và 4,7% mặc kệ, mọi chuyện rồi sẽ qua Từ
sự khảo sát trên chúng tôi khẳng định: Những con số và thông tin trên cho thấy sự
thiếu tự tin trong cuộc sống của các em và các em có nhu cầu được học về KNS
1.4.4 Đánh giá chung
Những nghiên cứu về giáo dục KNS trên thế giới khá phong phú Theo tổng thuật của UNESCO, các nghiên cứu về vấn đề này tập trung vào xác định mục tiêu, xây dựng chương trình, xác định các hình thức giáo dục KNS cho các đối tượng thanh thiếu niên một cách hiệu quả Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu giáo dục KNS còn chưa được chú trọng Theo đó, việc giáo dục KNS cho HS THPT mặc
dù đã được định hướng bởi mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục nhưng triển khai thực tiễn hoạt động này trong nhà trường còn rất nhiều hạn chế Dường như nó mới chỉ được thực hiện như một nội dung, một mục tiêu phụ của các chương trình/
dự án cho cấp học này
Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy: đa số HS THPT chưa có những KNS
cơ bản Rất ít em được tiếp cận ở mức độ thường xuyên với các thông tin về KNS nói chung, từng KNS cụ thể nói riêng Mặc dù GV đã nhận thức được bản chất, mức độ cần thiết phải giáo dục KNS cho HS nhưng họ còn lúng túng về phương thức, biện pháp để thực hiện Giáo dục KNS cho HS THPT là vấn đề cấp thiết hiện nay Bởi đó là quá trình giáo dục lối sống tích cực trong xã hội hiện đại, thay đổi
Trang 26các hành vi sống theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học cho các em
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một dạng bài thuộc văn bản NLXH, giúp
con người có thể trang bị những hiểu biết về đời sống, xã hội nhằm mang lại những tác động tích cực đến con người và mối quan hệ giữa người với người trong xã hội
Nói một cách khác, khi học làm văn Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, HS không
chỉ được trang bị những tri thức cơ bản về một kiểu văn bản, mà các em còn phải
mở rộng, tìm hiểu về đời sống, xã hội, con người, bởi đó là phông kiến thức để các
em có thể trình bày và thể hiện những suy nghĩ, thái độ của bản thân Vì thế, GV có
thể tích hợp rèn luyện cho các em một số KNS khi dạy học văn Nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí Dựa vào những hoạt động cụ thể trong hoạt động dạy HS cách thức
tạo lập văn bản, dựa vào mục đích giáo dục nhận thức cho HS mà GV có thể lựa chọn các KNS cho phù hợp với đặc trưng của từng hoạt động, từng công việc khi dạy học
Trang 27Chương 2
DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ CÓ KẾT HỢP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT
2.1 Mục đích của việc dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Việc dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hướng tới những mục
đích cơ bản sau:
Giúp HS hệ thống và củng cố được những kiến thức cơ bản để tạo lập văn bản nghị luận một tư tưởng, đạo lý Khi học xong bài học này, HS phải xác định vấn đề cần nghị luận qua phân tích, giải thích; biết cách phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh, bác bỏ; phải biết rút ra ý nghĩa của vấn đề
Giúp HS nắm được các kỹ năng cần thiết khi tạo lập bài văn nghị luận về một TTĐL, trước hết là kĩ năng tìm hiểu đề, biết huy động và tổ chức những kiến thức cơ bản có liên quan đến nội dung cần nghị luận để lập dàn ý cho bài viết Qua quá trình tìm hiểu, suy nghĩ và trình bày một số vấn đề tư tưởng liên quan thiết thực đến đời sống của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay, các em có những định hướng đúng đắn trong tình cảm, suy nghĩ, lối sống
Không chỉ có vậy, khi bàn luận về các vấn đề thực tế của đời sống xã hội, của con người, HS còn có thể rút ra được những bài học có ý nghĩa về tư tưởng, đạo
lí cho bản thân và cho cuộc sống
2.2 Cấu trúc bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Khi triển khai nội dung bài học này, SGK Ngữ Văn 12 tập 1 đã bố trí các kiến thức như sau:
Trang 28“Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?”
Sau đó đưa ra gợi ý để HS thảo luận (gợi ý để HS tìm hiểu đề và tìm ý) với các nội dung sau:
- Câu thơ trên của Tố Hữu nêu lên vấn đề gì?
- Với thanh niên, học sinh ngày nay, sống thế nào thì được gọi là sống đẹp?
Để sống đẹp, con người cần rèn luyện những phẩm chất nào?
- Với đề bài trên, cần vận dụng những thao tác lập luận nào?
- Bài viết này cần sử dụng những tư liệu thuộc lĩnh vực nào của cuộc sống để làm dẫn chứng? Có thể nêu dẫn chứng trong văn học được không? Vì sao?
Tiếp đó là các gợi ý lập dàn ý cho cả ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Đến phần thứ 2: Từ việc thảo luận một đề bài cụ thể, HS tự rút ra những nhận định của mình về cách làm một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Ở phần thứ 3: HS được củng cố kiến thức thông qua phần ghi nhớ và làm bài tập phần luyện tập
2.3 Nguyên tắc phối hợp rèn luyện kỹ năng sống cho HS khi học bài Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí
2.3.1 Nguyên tắc tích hợp
NLXH là một kiểu bài thuộc văn bản nghị luận Đối tượng được bàn luận trong NLXH gắn liền với đời sống, xã hội và qua bàn luận mà tạo ra những tác động tích cực đến con người và mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Khi học văn NLXH, HS không chỉ được trang bị những tri thức cơ bản về một kiểu văn bản,
mà các em còn phải mở rộng, tìm hiểu về đời sống, xã hội, con người, bởi đó là phông kiến thức để các em có thể trình bày và thể hiện những suy nghĩ, thái độ của bản thân Vì thế, GV có thể tích hợp rèn luyện cho các em một số KNS khi dạy học văn NLXH Tích hợp ở đây là sự vận dụng, kết hợp tri thức của bài học Ngữ văn, của nghị luận về một TTĐL với các kiến thức về thực tế đời sống, về quan niệm đạo đức, văn hóa chuẩn mực của xã hội mà HS đã tích luỹ được từ cộng đồng xã hội, từ
đó làm giàu vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho HS, hình thành cho HS những
KNS cần thiết đối với con người hiện đại
Trang 29Khi hướng dẫn HS nhận thức vấn đề thông qua những bài học thì các em phải biết vận dụng những hiểu biết từ bản thân, từ thực tế, từ những người xung quanh, từ những bài học trên lớp… Có thể nói, tất cả các kĩ năng trong dạy học làm văn nghị luận về một TTĐL đều hướng đến mục đích cuối cùng là tạo lập văn bản
Để các em có thể làm tốt được công việc này thì ngoài kiến thức đã được trang bị trong sách vở, HS còn cần phải tích hợp những hiểu biết từ bên ngoài cuộc sống Từ
đó, các em không chỉ rèn luyện để hoàn thiện năng lực viết văn, mà còn có điều kiện mở rộng nhận thức, phát triển nhân cách, bồi dưỡng tư duy và biết vận dụng những hiểu biết ấy vào giải quyết những tình huống cụ thể
Việc tích hợp dạy học bài NLXH với việc rèn luyện KNS cho HS trong giờ Làm văn không chỉ có tác dụng riêng với một bộ môn Ngữ văn mà nó còn có tác dụng làm nền tảng, tạo cho HS hứng thú học các môn khác như môn Giáo dục công dân, Lịch sử, qua đó, HS sẽ thu nhận được một vốn tri thức tổng hợp về đời sống xã
hội và biết ứng dụng vào chính thực tế cuộc sống của các em
2.3.2 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh
Nguyên tắc này thực chất bắt nguồn từ nguyên tắc của Giáo dục học Trong dạy học nói chung, dạy học làm văn NLXH nói riêng, muốn hoạt động dạy học đạt hiệu quả, các hoạt động, nội dung dạy học phải phù hợp với đặc điểm nhận thức của từng HS Những đặc điểm nhận thức được xem xét ở các phương diện: đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS; khả năng nhận thức, khả năng ngôn ngữ và tư duy và sự kết
hợp giữa kiến thức với các mối quan hệ xã hội khác Xét theo lứa tuổi, HS ở các bậc
học sau có “trình độ nhận thức” cao hơn HS ở các bậc học dưới; và HS giữa các vùng miền khác nhau cũng có những đặc điểm không tương đồng với nhau Vì thế, nguyên tắc này được xác lập nhằm định hướng cho GV biết lựa chọn nội dung và hệ thống phương pháp dạy - học các đơn vị kiến thức sát hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS ở mỗi lớp, mỗi cấp, thậm chí cả mỗi khu vực và cộng đồng sao cho phù hợp đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức của HS nhằm thu được hiệu quả nhất định Ở lứa tuổi của HS THPT, HS có nhu cầu nhận thức ra mình, bộc lộ, khẳng định cá tính của mình Sự phát triển khá hoàn thiện trong nhận thức kết hợp với hệ
Trang 30thống kiến thức được trang bị ở THCS giúp cho HS THPT luôn có có thái độ nghiêm túc khi nhận xét đánh giá những điều các em đồng tình hoặc không đồng tình Có thể nói đây là điều kiện tốt nhất để có thể hướng dẫn và giáo dục các em những điều nên và không nên trong cuộc sống cho các em, để từ đó các em biết vận dụng và hành xử chuẩn mực
Với HS THPT, khả năng tri giác ở lứa tuổi này đã đạt được mức độ của sự trưởng thành Hoạt động tư duy phát triển mạnh, kéo theo khả năng tư duy lý luận
và tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo phát triển, năng lực cảm thấu cũng phát triển Trong quá trình dạy học Làm văn nói chung, dạy học văn NLXH nói riêng một trong những yêu cầu cần thiết là GV phải hướng dẫn HS biết bộc lộ và thể hiện những đặc điểm tâm lý, tính cách của bản thân khi biểu đạt nội dung nghị luận Nói cách khác, trong quá trình dạy học, GV có thể lồng ghép rèn luyện cho
HS khả năng nhận thức về chính mình, tự do thể hiện những suy nghĩ, ý kiến của bản thân Đặc biệt trong quá trình dạy học GV cũng cần rèn cho HS kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo… để các em có thể tạo lập văn bản mà không dựa dẫm vào các tài liệu tham khảo GV cần lắng nghe, hiểu những suy nghĩ, tâm tư của HS để các em có thể bày tỏ những suy nghĩ và tình cảm của mình vào sản phẩm của các em Cần hướng dẫn các em cách thức trình bày để văn bản của các em khúc chiết, mạch lạc có sức thuyết phục hơn
2.3.3 Nguyên tắc trực quan
Trực quan là nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học nhằm tạo cho HS những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát các hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật Trong quá trình dạy học làm văn nghị luận về một TTĐL, việc sử dụng đồ dùng trực quan (mô hình về cấu trúc văn bản, mô hình định hướng các kỹ năng cần thực hiện khi tạo lập văn bản) sẽ giúp cho
HS có thể hiểu những đặc điểm cơ bản về bố cục của bài văn, về các bước cần thực hiện khi tạo lập văn bản nhằm củng cố và khắc sâu những tri thức cơ bản và thiết yếu cho các em Không chỉ có vậy, khi biểu đạt nội dung văn bản, HS phải lấy những dẫn chứng cụ thể trong thực tế cuộc sống mà các em biết, các em nhìn thấy
Trang 31trong chính đời sống hàng ngày để minh chứng Những dẫn chứng thực tế đó cũng được coi là những ngữ liệu trực quan Thông qua việc phát hiện và chọn lựa những dẫn chứng thực tế, các em còn được rèn luyện năng lực tư duy như phân tích, chọn lựa, lấy ví dụ, chứng minh hoặc phản bác một vấn đề Như vậy, cùng với việc góp phần vào việc hình thành khái niệm, các phương tiện trực quan còn hướng tới nhiệm vụ phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng và tư duy ngôn ngữ cho HS -
đó là những kỹ năng không thể thiếu đối với mỗi cá nhân
2.4 Rèn luyện một số kĩ năng sống cho học sinh THPT trong giờ học Nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí
Dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có nhiệm vụ giúp HS nhận rõ
đặc trưng cơ bản của dạng bài nghị luận này, đồng thời các em có được những kĩ năng cơ bản thiết yếu để từ đó có định hướng cần thiết khi tạo lập văn bản Gắn với những hoạt động cụ thể trong giờ lý thuyết, GV có thể hình thành và rèn luyện KNS cho HS trong những công việc sau:
2.4.1 Rèn luyện kỹ năng sống khi hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu
Để giúp HS có những hiểu biết về bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí,
trước tiên GV phải hướng dẫn các em phân tích ngữ liệu ở trong SGK hoặc ngoài thực tế cuộc sống, những ngữ liệu đó phải liên quan đến bài học, thông qua đó giúp
HS có kĩ năng giải quyết vấn đề, hiểu cách thức làm một bài văn nghị luận vừa khoa học, vừa hay và có tính sáng tạo Đồng thời, với công việc này, GV cũng có thể hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng xác định giá trị
Chẳng hạn trong SGK Ngữ văn 12 (Nâng cao) tập 1, tr 175 có đưa ra một
ngữ liệu như sau: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có
phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” (Lép Tôn-xtôi) Khi hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu trên, GV cần khéo léo gợi ý để HS
thảo luận (gợi ý để HS biết cách tìm hiểu đề và lập dàn ý) với các nội dung sau:
- Câu nói trên nêu lên vấn đề gì?
- Thế nào là sống có lý tưởng?
- Vai trò của lý tưởng đối với con người, đặc biệt với thanh niên, HS ngày
Trang 32nay?
- Với đề bài trên cần vận dụng những thao tác lập luận nào?
- Bài viết cần sử dụng tư liệu thuộc lĩnh vực nào trong cuộc sống để làm dẫn chứng? Có thể nêu dẫn chứng trong văn học được không?
Tiếp đó là các gợi ý lập dàn ý cho cả ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Như vậy, qua việc phân tích ngữ liệu, GV rèn cho HS kĩ năng giải quyết một vấn đề NLXH Trước tiên, các em phải xác định ý nghĩa và đánh giá được giá trị của vấn đề được bàn luận; sau đó tiến hành tìm ý và lập dàn ý; lựa chọn dẫn chứng
và các thao tác lập luận Trong quá trình đó, GV cũng có thể tích hợp rèn cho HS kĩ
năng xác định giá trị Chẳng hạn, với đề bài nêu trên, vấn đề cần nghị luận chính là
lí tưởng sống của con người, là điều cao cả nhất, đẹp đẽ nhất, trở thành lẽ sống mà người ta mong ước và phấn đấu thực hiện Đấy chính là giá trị mà chúng ta cần vươn tới Trong cuộc sống, khi hành động và cách ứng xử của các em phù hợp với những giá trị mà các em chọn, các em sẽ cảm thấy hài lòng và mãn nguyện với những gì mình đang có Nếu hành động không nhất quán với giá trị mà các em chọn thì đấy chính là nguyên nhân khiến cảm em cảm thấy chán nản, thất vọng, mất cân bằng trong cuộc sống
Đồng thời khi hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu, GV cần hướng dẫn các em xác định lập luận (qua một số công việc như tìm ý, xác định hệ thống luận điểm, luận cứ để biểu đạt vấn đề cần nghị luận) Bởi các quan điểm, ý kiến hay thái độ của người tạo lập văn bản được thể hiện thông qua hệ thống lập luận Muốn xây dựng được lập luận chặt chẽ khoa học, người viết phải tìm ra hệ thống các luận điểm, luận cứ, luận chứng xác đáng, thuyết phục Luận điểm, luận cứ trong bài văn nghị luận phải đạt các yêu cầu chính xác, rõ ràng, mới mẻ Vì thế, trong quá trình xây
dựng lập luận cho bài viết, HS luôn phải biết đặt câu hỏi: Vì sao? Cần phải làm như
thế nào? Hiện tượng nào cần phê phán trong thực tế cuộc sống? Với những câu hỏi
đó, các em phải biết phân tích và đánh giá vấn đề, xác định và phân biệt chính đề hoặc phản đề trong những trường hợp cần thiết Điều đó giúp cho nội dung vấn đề cần bàn luận được nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ, tăng thêm sức thuyết phục
Trang 33của bài văn Nó giúp HS biết cách vận dụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết từ sự quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin và lý lẽ nhằm xác định đúng - sai, tốt - xấu, hay - dở, hợp lý - không hợp lý, nên - không nên, từ đó rút ra quyết định, cách ứng xử của mỗi cá nhân Bởi thế, trong quá trình hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu, GV phải định hướng và tạo điều kiện cho các em luyện tập Qua đó, HS sẽ dần nhận thấy tầm quan trọng của việc làm này, và đó cũng là cách GV rèn luyện cho các em kĩ năng
tư duy phê phán Như vậy, từ những ngữ liệu cụ thể, GV hướng dẫn giúp các em rút
ra những kĩ năng cơ bản, cần thiết khi thực hiện một công việc cụ thể và biết xác định đúng giá trị, mục đích thực hiện, rèn luyện kĩ năng tư duy phê phán khi đứng trước một vấn đề mà các em gặp phải trong cuộc sống
2.4.2 Rèn luyện kỹ năng sống khi hướng dẫn HS hình thành các kỹ năng tạo lập văn bản
Sau khi phân tích ngữ liệu, HS cần rút ra kiến thức, kĩ năng cơ bản của việc
tạo lập văn bản để các em có những định hướng khi viết bài Với bài Nghị luận về
một tư tưởng, đạo lý, qua việc phân tích ngữ liệu, GV cần phải giúp HS có thể khái
quát và rút ra những kiến thức trọng tâm của bài là: giới thiệu và giải thích tư tưởng vấn đề cần bàn luận; phân tích những mặt đúng, bác bỏ mặt sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận; nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động; nội dung diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc, biết thể hiện cảm nghĩ riêng Đồng thời với việc khái quát để rút ra kiến thức trọng tâm của bài học, GV hướng dẫn HS biết rút ra những kĩ năng cơ bản của việc tạo lập văn bản:
Kĩ năng đầu tiên HS phải nắm vững là kĩ năng phân tích đề Để HS thực hiện tốt kĩ năng này cách tốt nhất là sử dụng hình thức trả lời câu hỏi:
+ Về nội dung nghị luận: Vấn đề cần nghị luận là gì? (Lí tưởng (lẽ sống); cách sống; hoạt động sống; mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ chồng, anh em và những người than thuộc khác) Ở ngoài xã hội
có các quan hệ: tình làng nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè… ) Ý nghĩa của luận đề đó như thế nào?