1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong giờ học nghị luận về một hiện tượng đời sống (2016)

79 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 793,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trên thực tế, khi khảo sát và tìm hiểu các công trình nghiên cứu việc dạy học Làm văn nói chung, Làm văn nghị luận trong đó có dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sốn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THÀNH LĂNG

HƯỚNG DẪN HỌC SINH THPT RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC

TRONG GIỜ HỌC NGHỊ LUẬN VỀ

MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, TS

Phạm Kiều Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi

hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy, cô giáo trong khoa

Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã tạo điều

kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thành Lăng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Phạm

Kiều Anh Tôi xin cam đoan:

- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

- Các tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực

- Kết quả khóa luận chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thành Lăng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của khóa luận 7

7 Bố cục của khóa luận 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 8

1.1 Những vấn đề chung về bài học nhận thức 8

1.2 Những cơ sở lí luận của giáo dục học và tâm lí học 8

1.2.1 Cơ sở giáo dục học 8

1.2.2 Cơ sở tâm lí học 11

1.3 Những cơ sở lí luận của nghị luận về một hiện tượng đời sống 12

1.3.1 Khái niệm nghị luận về một hiện tượng đời sống 12

1.3.2 Đặc trưng cơ bản của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống 13

Trang 6

1.4 Cơ sở thực tiễn 15

1.4.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” ở trường THPT 15

1.4.2 Đánh giá chung 19

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG KẾT HỢP VỚI HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC 20

2.1 Mục đích của việc dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” 20

2.2 Bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” trong SGK Ngữ văn 12 20

2.2.1 Cấu trúc bài học 20

2.2.2 Những kiến thức và kỹ năng cần đạt trong bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” 21

2.3 Cơ sở của việc hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức con người học sinh trong bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” 24

2.4 Xác định nội dung kiến thức có thể rút ra bài học nhận thức cho học sinh THPT trong giờ “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” 25

2.4.1 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi phân tích ngữ liệu 25

2.4.2 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi liên hệ bản thân 28

2.4.3 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi thực hiện các bài luyện tập 29

2.5 Quy trình dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” có kết hợp việc hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức 32

2.5.1 Sử dụng câu hỏi để kiểm tra bài cũ 33

Trang 7

2.5.2 Giới thiệu bài mới 34

2.5.3 Hướng dẫn học sinh tham gia bài học thông qua hệ thống câu hỏi 35

2.5.4 Hướng dẫn học sinh rút ra kết luận 37

2.5.5 Thực hành 37

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 40

3.1 Mục đích thực nghiệm 40

3.2 Đối tượng thực nghiệm 40

3.3 Địa bàn thực nghiệm 41

3.4 Thời gian thực nghiệm 41

3.5 Nội dung thực nghiệm 41

3.6 Kết quả thực nghiệm 54

KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan

tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, tích hợp đã và đang tiếp tục được quán triệt và áp dụng vào đổi mới giáo dục phổ

thông Làm văn là một trong “tam vị nhất thể” của môn Ngữ văn Mục đích của

việc dạy học phân môn này ở trường phổ thông là giúp cho các em biết tạo lập các kiểu văn bản thiết yếu, phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống của từng cá nhân Theo

đó, khi vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học phân môn này, GV có nhiều điều kiện để củng cố và mở rộng cho HS những kiến thức, kỹ năng có liên quan, tránh được những vướng mắc dư thừa chồng chéo nội dung khi dạy Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt Hiện nay, cùng với quan niệm học văn là học những điều cơ bản về cuộc sống để có thể trở thành người công dân có ích của xã hội, nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng của Làm văn đã được trình bày theo hướng gắn liền với thực tế cuộc sống NLXH - trong đó có nghị luận về một hiện tượng đời sống cũng được triển khai với dụng ý đó

1.2 Đạo đức là một phạm trù rộng lớn và trừu tượng trong cuộc sống xã hội

Nó được coi là thước đo đánh giá giá trị, nhân cách của con người Để vươn tới sự hoàn thiện trước hết con người phải vươn lên về đạo đức Văn kiện Hội nghị lần thứ

IX, Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã đánh giá một trong những mặt hạn chế

yếu kém trong lĩnh vực giáo dục như sau: Trong sự nghiệp giáo dục toàn diện dạy

làm người và dạy nghề là yếu kém nhất, giáo dục về lý tưởng sống, phẩm chất đạo đức yếu HS thiếu hiểu biết về truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc của Đảng về quyền lợi nghĩa vụ công dân, chất lượng giáo dục còn buông lỏng, nhất là giáo dục đạo đức lối sống của HS, sinh viên có nhiều biểu hiện rất đáng lo ngại Nhà tâm lý

học Vũ Kim Thanh từng cho rằng: Nếu không có sự quan tâm đúng mức, chúng ta

sẽ mất cả một thế hệ Nhận định trên đã khẳng định việc giáo dục đạo đức HS thông

Trang 9

qua các môn học trong nhà trường là cần thiết Vì thế, bên cạnh việc trang bị cho

HS hệ thống kiến thức và những kỹ năng cơ bản, GV còn phải quan tâm tới việc hướng dẫn các em biết rút ra những bài học nhận thức đã học để ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày Với những nội dung kiến thức có tính thực tiễn cao như NLXH, trong quá trình dạy học, GV có thể phối hợp cung cấp kiến thức, kỹ năng và

cả giáo dục HS thông qua những bài học nhận thức

1.3 Khi dạy học, GV phải hướng tới ba nhiệm vụ cơ bản là kiến thức, kỹ

năng và thái độ Đó cũng là tiền đề để hình thành và phát triển năng lực người học

Vì thế, chúng ta cần tìm ra những hình thức để giáo dục thái độ, nhận thức cho HS trong từng bài học, từng nội dung học tập giúp các em trở thành những con người không chỉ có tài mà còn có cả đức, để các em trưởng thành và là người có ích cho

xã hội

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn học

sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong giờ học Nghị luận về một hiện tượng đời sống”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”

Bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ cuộc sống xã hội, văn nghị luận có vai trò to lớn đối với mỗi con người Cũng bởi thế, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm và nghiên cứu về kiểu văn bản này

Các nhà khoa học khi nghiên cứu về văn nghị luận đều khẳng định: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lí luận, bao gồm lí lẽ, dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để làm rõ một vấn đề nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và NLXH

Trang 10

Xét riêng về NLXH, chúng ta có thể nhận thấy đó là một dạng của văn bản nghị luận, nó hướng tới mục đích là bàn luận về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người nhằm tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội Cũng bởi thế, đối tượng được bàn luận trong đó khá rộng lớn Đó có thể là những câu chuyện, những lời nói, những hành động, việc làm của những con người trong cuộc sống hàng ngày; đó cũng có thể là những quan điểm sống, những vấn đề, hiện tượng xoay

quanh cuộc sống con người trong xã hội Trong chương trình Ngữ văn, Nghị luận về

một hiện tượng đời sống được triển khai dạy từ THCS và THPT Theo đó, đã có

một số nhà khoa học nghiên cứu về việc dạy học kiểu bài này, có thể kể tới những công trình như:

Các tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Hiếu, Nguyễn Thành Thi trong

cuốn Làm văn có đánh giá về văn bản NLXH Ở đây, các tác giả đã chỉ ra phạm trù

của NLXH đó là: Nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận hiện tượng đời sống xã hội Bên cạnh đó, trong cuốn sách này các tác giả cũng lưu ý một

số điểm khác nhau khi làm đề văn NLXH với nghị luận văn học, giữa nghị luận về một hiện tượng đời sống với nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Tuy nhiên, các tác giả chưa nêu ra cách dạy học hiệu quả cho dạng bài nghị luận này một cách cụ thể

Nhóm tác giả Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn Văn nghị luận trong chương

trình Ngữ văn Trung học cơ sở cũng chỉ ra cách phân loại căn cứ vào nội dung bài

học sẽ có các loại sau: nghị luận chính trị (đề tài là các vấn đề chính trị), nghị luận

xã hội (đề tài là các vấn đề xã hội), nghị luận đạo đức (đề tài là các vấn đề đạo đức, nhân sinh quan), nghị luận văn học (đề tài là các vấn đề trong văn học)… Ở đây, tác giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức thành kiểu bài riêng không nằm trong NLXH

như các tác giả trong cuốn Làm văn Dù phân chia như vậy, song các tác giả cũng đã đề cập

đến sự khác nhau về đề tài của các kiểu bài và đặc trưng cơ bản của NLXH

Trong cuốn Rèn luyện kĩ năng văn nghị luận của Bảo Quyến, tác giả cũng đã

bàn về văn nghị luận Theo Bảo Quyến, văn nghị luận cũng được phân làm hai loại:

Trang 11

Nghị luận văn học và NLXH Trong văn NLXH lại bao gồm nhiều dạng khác nhau như: Nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận về một hiện tượng đời sống… Tuy nhiên, cuốn sách này cũng chưa bàn luận nhiều tới việc dạy học văn nghị luận, trong đó có nghị luận về một hiện tượng đời sống Cũng bàn đến phương pháp dạy học kiểu bài nghị luận, trong

cuốn Hướng dẫn chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn, các tác giả đã nêu ra quy trình dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống Theo đó, quy trình dạy học

kiểu bài này gồm các bước (Bước 1: Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu đề bài; Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý; Bước 3: Xây dựng dàn ý; Bước 4: HS thảo luận để rút ra cách làm và sau đó đọc phần Ghi nhớ; Bước 5: Luyện tập thực hành)

Như vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về văn nghị luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng Đa phần các công trình nghiên cứu đó mới chỉ đề cập đến các bước làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống hay những cách hiểu chung chung về kiểu bài này Trong khi

đó, việc giáo dục đạo đức HS nhằm mục đích giáo dục HS cả về kiến thức, kỹ năng

và thái độ giúp các em có sự phát triển toàn diện cả về nhận thức và nhân cách dường như chưa được chú trọng

2.2 Lịch sử nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” có kết hợp với việc hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức

Bàn về vấn đề giáo dục nhận thức về đạo đức, con người HS, có thể kể tới một số công trình như:

TS Phạm Thị Kim Anh trong Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 38 (99) tháng 5

- 2014, khi bàn về Đạo đức học sinh đang thách thức năng lực giáo dục của người

thầy, đã đề cập đến vấn đề giáo dục con người HS Trong phần mở đầu, TS Phạm

Thị Kim Anh viết: Trong những năm gần đây nhiều câu chuyện buồn liên tiếp xảy

ra như: trò tạt cả chậu axít vào người thầy vì không được nâng điểm thi, kiện lại thầy vì bị phạt hít đất trong giờ thể dục (ở Thành phố Hồ Chí Minh); rút dây nịt quất vào đầu, vào mặt thầy giáo đến khi ngất xỉu chỉ vì thầy gọi giám thị mời trò ra

Trang 12

khỏi lớp do đánh cờ, la ó trong giờ học (ở An Giang); lao vào đánh hội đồng khi bị thầy tát (ở Bình Định),… để thầy bị sa thải và còn biết bao trường hợp chặn đánh thầy giữa đường, ngang nhiên thách thức lại thầy cô giáo, hỗn láo với thầy cô trong giờ học,… đang làm dư luận xã hội dậy sóng và làm dấy lên nhiều câu hỏi: “Phải chăng đã đến thời thầy phải sợ trò” Những biểu hiện trên cho thấy chúng ta cần

phải chú trọng, quan tâm tới giáo dục đạo đức, nhân cách và lối sống của thanh thiếu niên, trong đó có HS Hiện nay, cùng với nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục, Bộ GD & ĐT đã xác định dạy học các tri thức khoa học phải hướng tới nhiệm

vụ hình thành năng lực, các tri thức cũng phải gắn liền với thực tế để các em có thể

có những trải nghiệm sáng tạo; hình thành con người HS toàn diện ở các phương diện trí, thể, mĩ để các em trở thành những công dân có ích cho xã hội Với tinh thần trên, có thể thấy việc dạy và học các phân môn, trong đó có cả dạy học những tri thức Làm văn đều có thể gắn với mục đích giáo dục nhân cách HS Tuy nhiên, trên thực tế, khi khảo sát và tìm hiểu các công trình nghiên cứu việc dạy học Làm

văn nói chung, Làm văn nghị luận trong đó có dạy học bài Nghị luận về một hiện

tượng đời sống, chúng tôi nhận thấy các công trình đó chưa chú trọng tới giáo dục

đạo đức, nhân cách cho HS mà mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn HS biết cách tích hợp kiến thức và kỹ năng để tạo lập văn bản Đây chính là những gợi dẫn để chúng tôi triển khai đề tài này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:

- Hệ thống những cơ sở khoa học khi dạy học một nội dung kiến thức trong chương trình Ngữ văn THPT có hướng tới việc giáo dục HS thông qua những bài học nhận thức

- Bước đầu đề xuất những hình thức hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức nhằm giáo dục nhân cách các em

Trang 13

- Góp phần nhỏ bé vào việc tìm ra những cách tổ chức hoạt động dạy học bài

Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khóa luận tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổng hợp những tri thức cơ bản về bài học nhận thức, về nghị luận xã hội

- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài

- Nêu ra cách vận dụng những kiến thức để giáo dục con người HS trong giờ

Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Bước đầu kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất được nêu ra

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khoá luận tập trung tìm hiểu cách hướng dẫn HS rút ra những bài học nhận thức trong giờ học làm văn nghị luận xã hội nhằm mang tới cho các em những hiểu biết, những suy nghĩ, nhận thức để hình thành những con người có ích cho xã hội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Gắn với nội dung đề tài, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài là

bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống, được dạy cho HS lớp 12 - THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp chính sau:

Trang 14

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các dạng bài NLXH nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài

5.4 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được sử dụng khi tổ chức thực nghiệm để chứng minh tính khả thi của thiết kế, từ đó rút ra kết luận chung, cần thiết cho những đề xuất được nêu ở chương 2

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đi sâu vào việc hướng dẫn cho HS THPT rút ra bài học nhận thức

trong giờ Nghị luận về một hiện tượng đời sống nhằm hướng tới việc giáo dục nhân

cách HS ngoài việc trang bị tri thức Đồng thời, góp phần nhỏ bé vào việc tìm ra

những cách tổ chức hoạt động dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt

hiệu quả

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của khóa luận được triển khai cụ thể thành 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

- Chương 2 Dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống kết hợp với

hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức

- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Những vấn đề chung về bài học nhận thức

Trong quá trình giáo dục, mỗi môn học có nhiệm vụ giáo dục con người HS

ở những phương diện cụ thể Theo đó, khi tiến hành hoạt động dạy học, dựa vào các nội dung học tập mà GV hướng dẫn HS tìm ra những bài học nhận thức cho cuộc sống Đây là một việc làm quan trọng bởi bài học nhận thức là điều kiện cần thiết để giúp các em phát triển thái độ và nhân cách bản thân, biết đánh giá đúng mình trong mối quan hệ với con người và môi trường xung quanh Thông qua bài học nhận thức, HS có cơ hội khám phá và phát triển kinh nghiệm thiết yếu nhằm phục vụ cho chính cuộc sống của các em Vậy, thế nào là bài học nhận thức trong quá trình giáo dục? Hiểu một cách đơn giản nhất, bài học nhận thức chính là những bài học, những tri thức cụ thể được rút ra sau một quá trình chiếm lĩnh tri thức Thông qua hoạt động nhận thức của chủ thể HS, các em rút ra được những kinh nghiệm, những hiểu biết về thực tế cuộc sống Qua đó các em biết nhìn nhận, biết tự đánh giá về bản thân trong các mối quan hệ về xã hội Như vậy, có thể nói trong quá trình giáo dục, việc hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức là một hoạt động cơ bản, giúp con người có điều kiện để hình thành và phát triển nhân cách bản thân Muốn việc làm này đạt hiệu quả, khi hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức, GV đóng vai trò vô cùng quan trọng GV phải là những người nhiệt huyết, cởi mở, biết lắng nghe những tâm sự và mong muốn của HS

1.2 Những cơ sở lí luận của giáo dục học và tâm lí học

1.2.1 Cơ sở giáo dục học

Mục đích của giáo dục xét đến cùng là đào tạo con người nhằm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của xã hội Về cơ bản, công việc giáo dục thực chất là công

Trang 16

việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện nhân cách HS Hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức trong quá trình giáo dục chính là việc làm nhằm hình thành, phát triển và bồi dưỡng nhân cách của các em C Mác nói: Bản chất của “con người đặc thù” là

“phẩm chất xã hội” Bởi: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính

tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con người [20, tr 197]

Với quan niệm trên, có thể nhận thấy nhân cách không phải là cái bẩm sinh, có sẵn

Nó được hình thành và phát triển thông qua quá trình sống, hoạt động và giao tiếp của chủ thể Các nhà khoa học xác định quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người phụ

thuộc vào các nhân tố sau đây:

Thứ nhất, di truyền Di truyền không quyết định trực tiếp đến sự hình thành và

phát triển nhân cách của cá nhân nhưng nó lại là tiền đề vật chất, là cơ sở sinh học cho sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Thừa hưởng những đặc tính

di truyền tốt từ thế hệ trước là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của một nhân cách Vì thế, chúng ta cần biết tận dụng tốt yếu tố di truyền để đạt đến sự

phát triển đỉnh cao

Thứ hai, giao tiếp Thông qua quá trình giao tiếp, con người lĩnh hội nhiều

nguồn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng… từ người khác, đồng thời điều chỉnh, thay đổi bản thân cho phù hợp với những yêu cầu của của xã hội Chính vì thế, giao tiếp giúp cá nhân tăng trưởng về lượng để biến đổi về chất trong quá trình phát triển

nhân cách

Thứ ba, môi trường Đây là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân

cách Con người sống không thể tách rời môi trường Yếu tố này có ảnh hưởng đến

sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân ở các phương diện như môi trường tự nhiên, môi trường gia đình, môi trường xã hội (đặc biệt là nhóm và tập

thể) Trong đó, gia đình là môi trường đầu tiên có vai trò định hướng tới nhân cách của con người

Trang 17

Thứ tư, giáo dục Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và

phát triển nhân cách của cá nhân Thông qua hoạt động giáo dục, cá nhân được tác động có mục đích, có phương pháp và có kế hoạch để thay đổi theo những chuẩn mực, giá trị xã hội quy định Tuy nhiên, giáo dục không phải là chiếc chìa khóa vạn năng có thể mở mọi cánh cửa đã bị khóa chặt Muốn phát triển nhân cách, khả năng

tự giáo dục cũng là yếu tố quan trọng

Thứ năm, hoạt động của cá nhân Loài người phát triển, hoàn thiện và tiến hóa

như hiện nay chủ yếu nhờ vào hoạt động Có thể nói, hoạt động là phương thức tồn tại của loài người, nó cũng là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của từng cá nhân Không chỉ có vậy, nó còn phản ánh tính tích cực trong nhân cách con người Vì thế, để hoàn thiện về nhân cách, cá nhân phải tích cực, chủ động tham gia các hoạt động của nhóm và cộng đồng

Trong quá trình phát triển nhân cách con người HS, giáo dục nhận thức và đạo đức HS có ý nghĩa không nhỏ Nó giúp cho HS từ những tri thức khoa học cơ bản, biết vận dụng vào quá trình tự suy nghĩ, đánh giá đúng sai, phải trái, biết soi lại mình và cũng biết bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình Từ đó, các em sẽ tự điều chỉnh hành vi, cách cư xử sao cho đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với người khác, biết hướng cuộc sống của mình vào những mục tiêu cao cả

Làm văn là một phần kiến thức và kỹ năng quan trọng, HS được học từ Tiểu học đến THPT Bản chất của Làm văn là giúp cho HS biết cách tạo lập những kiểu văn bản mà con người thường sử dụng trong đời sống hàng ngày Theo đó, khi trình bày những vấn đề của cuộc sống, con người cũng cần phải biết thể hiện những suy nghĩ, nhận thức, tình cảm, thái độ và chính kiến của bản thân về cuộc sống Văn bản nghị luận, trong đó có NLXH được giới thiệu trong chương trình cũng nhằm mục đích trên Có thể nói, hướng dẫn HS tạo lập văn bản NLXH trước hết là giúp cho các em biết và có những kỹ năng thiết yếu tạo lập một kiểu văn bản được con người

sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Hơn nữa, gắn với những vấn đề thuộc về đời sống xã hội, trong quá trình tạo lập văn bản, người tạo lập bao giờ

Trang 18

cũng phải thể hiện nhận thức và chính kiến của bản thân Như vậy, khi bàn luận các vấn đề của đời sống xã hội, người tạo lập ít nhiều đều phải thể hiện bóng dáng con người mình Bởi lẽ, trước những đề bài NLXH, HS phải thể hiện những hiểu biết, thái độ của bản thân về các vấn đề đạo lí, hiện tượng cuộc sống, nhân cách con người Cũng thông qua đó, HS có thể phát triển ý thức tự trao đổi, xây dựng cho mình một nhân cách tốt đẹp, hình thành cho mình những phẩm chất tốt theo đúng yêu cầu của xã hội hiện đại, biết tạo cho mình những cách ứng xử hợp tình, hợp lí

và phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện sống cụ thể của mỗi cá nhân Đó là quá trình

giáo dục và tự giáo dục nhằm trang bị một hành trang thực tế sống thiết yếu để các

em có thể tự tin bước vào đời

1.2.2 Cơ sở tâm lí học

Lứa tuổi HS THPT thuộc giai đoạn đầu trong quá trình trưởng thành Đây là giai đoạn phát triển khá ổn định về thể chất và tâm lí, không có những biến động hay thay đổi về tâm sinh lý như ở giai đoạn trước đó Tuy nhiên, ở giai đoạn này, con người có nhiều nét tâm lí mới được hình thành và phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển nhân cách nói chung của các em như tình yêu nam

nữ, vị trí trong gia đình và xã hội, tính tích cực, năng động trong hoạt động xã hội, khả năng tự ý thức phát triển mạnh, tâm thế coi mình là người lớn, muốn tự khẳng định mình, thế giới quan ngày càng hoàn thiện, khát vọng thành đạt kéo theo ý thức

về việc chọn lựa nghề nghiệp tương lai và khả năng tập trung, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu… Có thể nói, HS THPT có sự phát triển khá hoàn thiện cả về tâm lý, sinh lý và khả năng tư duy trừu tượng, khả năng khái quát cao Không chỉ vậy, khả năng độc lập vận dụng những hiểu biết của bản thân vào giải quyết các vấn

đề của cuộc sống cũng được các em phát triển Đây là điều kiện thuận lợi cho việc hướng dẫn các em rút ra những bài học nhận thức khi học Làm văn NLXH

Trang 19

1.3 Những cơ sở lí luận của nghị luận về một hiện tượng đời sống

1.3.1 Khái niệm nghị luận về một hiện tượng đời sống

Xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao chuyện, sự việc hoặc hiện tượng tốt, xấu xảy ra Trước những hiện tượng đời sống ấy, con người luôn đưa ra những lời bàn luận, đánh giá nhằm mục đích nhận thức và phản ánh được sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan Khi bàn luận, dù người nói (người viết) bàn luận

về vấn đề nào thì chúng cũng thuộc kiểu văn bản NLXH về một hiện tượng đời sống Như vậy, hiểu một cách khái quát, nghị luận về một hiện tượng đời sống là một dạng bài sử dụng phương thức lập luận nhằm bàn định các vấn đề về hiện tượng đời sống để cho người đọc (người nghe) hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu để đồng tình hay phản đối trước những hiện tượng đó Nói cách khác, nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội Sự việc, hiện tượng đó có thể là đáng khen, đáng chê hay có vấn đề cần suy nghĩ Ví dụ sau đây chính là một văn bản nghị luận về một hiện tượng đời sống

Bệnh lề mề

Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người đều thấy, nhưng thường bỏ qua Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc là một biểu hiện [ ] Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức Nhưng những cuộc họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hoá

(Theo phụ lục 1, Phương Thảo - Theo SGK Ngữ văn 9, tập 2, Tr 20, NXB Giáo dục)

Trong bài viết trên, tác giả đã đưa ra những lời bàn bạc trước một hiện tượng hết sức phổ biến trong đời sống hàng ngày - đó là sự chậm chạp, lề mề ở một số người Hiện tượng này đã trở thành một thói quen và lâu dần trở thành “căn bệnh”, của một bộ phận không nhỏ trong xã hội Sau khi nêu lên vấn đề cần bàn luận là

hiện tượng “bệnh lề mề”, người viết đã chỉ ra những biểu hiện (coi thường giờ giấc,

đến muộn so với giờ hẹn, ) và nguyên nhân (thiếu trách nhiệm, không coi trọng

Trang 20

việc chung; thiếu tự trọng, không tôn trọng người khác) Thông qua giải thích, phân

tích, người viết tỏ rõ thái độ phê phán đối với hiện tượng lề mề, xem đây như một thứ bệnh gây tác hại đối với sự tiến bộ của xã hội, và từ đó rút ra giải pháp khắc phục căn bệnh này Cách thực hiện bàn luận vấn đề như vậy thực chất là người viết

đã tạo lập một văn bản nghị luận về một hiện tượng đời sống

1.3.2 Đặc trưng cơ bản của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

1.3.2.1 Nghị luận về một hiện tượng đời sống có phạm vi đề tài rộng

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là dạng văn bản mà ở đó đối tượng được bàn luận là những vấn đề, những hiện tượng trong đời sống hàng ngày Có thể nhận thấy, những vấn đề của đời sống xã hội rất đa dạng, phong phú, biểu hiện ở nhiều mức độ, tính chất khác nhau Đó có thể là một việc làm, một lời nói, một hành động, một sự kiện nào đó của một cá nhân hay của xã hội Đó còn có thể là những hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như văn hoá phong tục, tập quán, đạo đức Do vậy, đề tài của nghị luận về một hiện tượng đời sống có phạm vi hết sức rộng rãi Ngữ liệu dưới đây là một minh chứng cho dạng văn bản này

Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ta hiện nay

Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra […] Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu Á về mức độ ô nhiễm bụi (Theo phụ lục 2, Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Bài viết trên đây đã bàn về một hiện tượng đang được mọi người trong xã hội quan tâm, đó là: Ô nhiễm môi trường sinh thái Cụ thể, tác giả bài viết đã chỉ rõ thực trạng ô nhiễm môi trường sinh thái là do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra Từ việc chỉ rõ nguyên nhân, tác giả bài viết cũng đã nêu ra những tác hại của việc ô nhiễm môi trường ấy gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống của con người Qua ví dụ trên, ta có thể nhận thấy phạm vi bàn

Trang 21

luận của nghị luận về một hiện tượng đời sống là rất rộng rãi Tất cả những vấn đề, hiện tượng trong đời sống hàng ngày đều được đem ra nghị luận, dù là tốt hay xấu,

dù là đúng hay sai, dù là lợi hay hại…

1.3.2.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính thực tế, tính thời sự

Nghị luận về một hiện tượng đời sống có đề tài hết sức rộng rãi Đó là tất cả các vấn đề, hiện tượng luôn tồn tại và diễn ra trong đời sống hàng ngày Vì thế có thể nói, nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính thực tế cao Trong bài

Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ta hiện nay, người viết đã bàn về một thực tế

đang diễn ra phổ biến trên toàn cầu - hiện tượng ô nhiễm môi trường sinh thái Đây

là hiện tượng không hề xa lạ với mỗi người trong chúng ta Hàng ngày, hàng giờ mỗi chúng ta đều chứng kiến hiện tượng ô nhiễm môi trường do ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Bàn về vấn đề này, tác giả đã chỉ rõ đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn: những số liệu

cụ thể, những khu vực ô nhiễm có mức độ ô nhiễm cao được tác giả nêu ra cho thấy biểu hiện và mức độ ô nhiễm môi trường hiện nay Không chỉ có vậy, tác giả

bài viết đã phân tích tác hại của sự phát triển các khu công nghiệp, làng nghề (cánh

đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới; người dân phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp ) Có thể khẳng

định, với những biểu hiện được nêu ra, tác giả đã mang tới cho độc giả những trăn trở về thực tế môi trường hiện nay

Mặt khác, những vấn đề, hiện tượng trong đời sống xã hội khi được đưa ra bàn luận còn là những vấn đề, những hiện tượng đang tồn tại hiện hữu trong xã hội,

nó phản ánh sự biến động trong xã hội Do đó, nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính thời sự Có thể xem xét đặc điểm này của nghị luận về một hiện

tượng đời sống qua bài Sự khan hiếm nước ngọt:

Nhìn vào bản đồ thế giới, đâu đâu ta cũng thấy mênh mông là nước Đại dương bao quanh lục địa Rồi mạng lưới sông ngòi chằng chịt Lại có những hồ lớn

Trang 22

nằm sâu trong đất liền lớn chẳng kém gì biển cả […] Vì vậy, cùng với việc khai thác các nguồn nước ngọt để dùng, con người ngày càng phải sử dụng một cách hợp lí, tiết kiệm tài nguyên nước (Theo phụ lục 3, Báo Nhân Dân, số ra ngày 15 - 6 - 2003)

Từ một vấn đề rất thiết thực trong cuộc sống của người dân trên nhiều quốc gia, tác giả bài viết đã triển khai vấn đề theo hai ý đối lập nhau: Nhu cầu về nước ngọt ngày càng tăng cao và nguồn cung cấp nước ngọt ngày càng khan hiếm Để

triển khai vấn đề này, tác giả nêu ra một nhận xét: nhiều người trong chúng ta tin

rằng thiếu gì thì thiếu chứ con người và muôn loài trên quả đất không bao giờ thiếu nước Sau đó, tác giả đã chứng minh cho quan điểm sai lầm thông qua hàng loạt các

dẫn chứng thuyết phục: Hai phần ba nước trên hành tinh là nước mặn; hầu hết số nước ngọt đang ở trạng thái đóng băng; số nước ít ỏi con người có thể dùng được lại

bị chính con người làm cho cạn kiệt (gây ô nhiễm, khai thác vô tội vạ…) Như vậy

đủ thấy tiêu đề bài viết mà tác giả đưa ra là hoàn toàn xác thực Sau nữa, tác giả tiếp tục chứng minh ý kiến đó bằng những dẫn chứng cụ thể: khoảng hai tỉ người đang thiếu nước ngọt, lượng nước có hạn trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng cao,

tỉ lệ thuận với sự phát triển của xã hội Từ những con số thống kê hết sức cụ thể, những dẫn chứng được lấy từ thực tế, ta có thể khẳng định đây là một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục, mang tính thực tế rõ rệt

1.4 Cơ sở thực tiễn

1.4.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” ở trường THPT

1.4.1.1 Điều tra, thăm dò, dự giờ GV

Để đánh giá đúng thực tế dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống,

chúng tôi tiến hành thăm dò, điều tra, dự giờ GV qua hoạt động giảng dạy Ngữ văn

Cụ thể:

 Phát phiếu thăm dò ý kiến GV

Trang 23

Trước hết, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV thông qua các phiếu thăm dò Phiếu điều tra gồm 10 phiếu, được phát cho GV tổ Văn, trường THPT Lí Thường Kiệt - Long Biên - Hà Nội (Nội dung phiếu theo phụ lục 4) Sau khi tiếp nhận ý kiến của đội ngũ GV, chúng tôi nhận thấy:

Câu 1 Chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau về tầm quan

trọng của bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống, song đa số các ý kiến đó vẫn có những quan điểm chung cho rằng: Bài học Nghị luận về một hiện tượng đời sống

ngoài việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng còn có tầm quan trọng đặc biệt Nó hình thành cho HS những hiểu biết cơ bản về thực tế cuộc sống, rút ra được những bài học cần thiết để hình thành và phát triển nhân cách, giúp các em có lối sống lành mạnh, có được những cách ứng xử thông minh trong từng trường hợp của đời sống, xã hội

Câu 2 Ở câu hỏi (CH) này, đa số các ý kiến đều cho rằng: Mặc dù GV nhận

thức rõ được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, nhân cách HS nhưng trong bài học cụ thể thì việc giáo dục các em vẫn chưa được kết hợp nhuần nhuyễn với các bài học kiến thức, kỹ năng Vì vậy, quá trình dạy học vẫn chưa đạt được hiệu quả cao nhất, chưa có sự linh hoạt để phù hợp Điều đó dẫn tới thực tế là việc hình thành nhân cách HS chưa thu được nhiều kết quả

Câu 3 Thời lượng tiết học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống chỉ có

một tiết nên việc dạy học theo quan điểm tích hợp giữa kiến thức, kỹ năng và giáo dục con người HS gặp khó khăn do thiếu thời gian Đa số GV đều đưa ra được

những thuận lợi và khó khăn khi soạn giáo án bài Nghị luận về một hiện tượng đời

sống theo hướng mới tập trung vào bài học nhận thức đồng thời qua đó giáo dục

con người HS

- Thuận lợi: Bài giảng có tính thực tế cao nên nhiều HS đã chú ý tham gia

vào nội dung bài học; GV có nhiều sự chủ động cho bài giảng của mình; HS hứng

Trang 24

thú với những hình thức học mới, nội dung đa dạng; HS chủ động tiếp xúc với

SGK, phát huy cao độ tính tích cực của HS

- Khó khăn: GV phải đặt ra những CH gợi mở liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời

sống, xã hội để giúp HS tri nhận được kiến thức của bài học một cách hiệu quả; GV cần nhiều thời gian để soạn bài vì phải kết hợp kiến thức, kỹ năng nhằm có thể hướng

dẫn HS rút ra những bài học trừu tượng

Qua việc khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy đa số GV đã có nhận thức đúng đắn bản chất của việc kết hợp bài học kiến thức và bài học kỹ năng với giáo dục HS

trong dạy học Ngữ văn nói chung và trong bài Nghị luận về một hiện tượng đời

sống nói riêng Tuy nhiên, việc áp dụng nó vào thực tiễn dạy học còn chưa phổ biến

bởi sự hạn chế về thời gian cũng như phương thức thực hiện Vì thế, sự kết hợp giữa rèn luyện kỹ năng Làm văn với việc hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức chưa đạt hiệu quả

 Dự giờ GV

Bên cạnh việc phát phiếu thăm dò ý kiến GV, chúng tôi cũng tiến hành dự

giờ bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống tại lớp 12A2 trường THPT Lí Thường

Kiệt (Long Biên - Hà Nội) Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy: Nhìn chung, GV đã áp dụng đúng theo quy trình dạy học một giờ dạy Làm văn, đồng thời cũng từng bước thay đổi các hoạt động dạy học nhằm hướng tới mục đích rèn luyện kỹ năng và phát triển năng lực cho HS Cũng vì thế, trong giờ học, GV đã tổ chức các hình thức học tập đa dạng, ít nhiều đã tạo điều kiện để HS có những hoạt động trải nghiệm và từng bước hướng dẫn HS sáng tạo khi tạo lập văn bản nghị luận Tuy nhiên, GV còn quá khô cứng trong việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Làm văn, điều đó gây khó khăn không nhỏ trong việc giáo dục kiến thức, kỹ năng cũng như con người HS

1.4.1.2 Điều tra, khảo sát đối tượng HS

Trang 25

Bên cạnh việc thăm dò, khảo sát ý kiến của GV, chúng tôi cũng tiến hành thăm dò thái độ, ý kiến của HS - chủ thể trung tâm của quá trình dạy học Đối tượng được điều tra, khảo sát là HS lớp 12, trường THPT Lí Thường Kiệt (Long Biên - Hà Nội) Chúng tôi tiến hành điều tra về thái độ, không khí học tập, kết quả học tập

trước và trong quá trình GV dạy bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống để có cơ

sở đối chiếu Phiếu điều tra gồm 50 phiếu, được phát cho HS trường THPT Lí Thường Kiệt - Long Biên - Hà Nội (Nội dung phiếu theo phụ lục 5) Với các CH trong phiếu, chúng tôi nhận thấy:

Câu 1 Ở CH này, đa số các em trả lời rằng chưa thực sự thích học văn và

đặc biệt là Làm văn bởi các em nhận thấy học phân môn này khô khan, máy móc, phải vận dụng nhiều kỹ năng tạo lập văn bản Viết bài là việc làm mà nhiều em thấy không thích thú

Câu 2 Bước đầu đã có một số HS có hứng thú với bài học Nghị luận về một

hiện tượng đời sống Điều này thể hiện trực tiếp qua việc các em rất hăng hái xây

dựng bài, thái độ học tập tích cực, chăm chú nghe giảng Ngoài ra, các em còn thích

học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống bởi lẽ dạng bài này có nội dung kiến

thức các em được chứng kiến từ thực tế cuộc sống; hơn nữa, dạng bài nghị luận này, các em đã được học ở những lớp dưới

Câu 3 Có rất nhiều câu trả lời khác nhau nhưng đa số các em đều nhận thấy

rằng khi tiến hành trình bày những nội dung cơ bản cho từng yêu cầu khi Nghị luận

về một hiện tượng đời sống, các em phải thực hiện một thao tác là liên hệ bản thân

Như vậy, ngoài việc huy động vốn nhận thức, kỹ năng làm bài, các em còn có thể tự rút được cho mình những bài học, những lối sống, cách sống đúng, sống đẹp trong đời sống xã hội, rút ra được những bài học về cách ứng xử hợp lí, hợp tình…

Có thể nói, từ việc điều tra thực tiễn phía HS chúng tôi nhận thấy việc tích hợp bài học kiến thức, kỹ năng với việc giáo dục nhân cách HS là việc làm có thể thực hiện và cần thiết Nhờ đó, HS có nhận thức đầy đủ, toàn diện cả về kiến thức sách vở cũng như kiến thức, kỹ năng, thái độ trong cuộc sống

Trang 26

1.4.2 Đánh giá chung

Trong chương trình Làm văn hiện hành, bài Nghị luận về một hiện tượng đời

sống là bài học gắn liền với những nội dung kiến thức có tính thực tiễn cao Theo

phân phối chương trình, thời gian dành cho dạy bài Nghị luận về một hiện tượng đời

sống là 1 tiết lí thuyết và 1 tiết luyện tập Do thời lượng hạn định, tài liệu tham khảo

lại không nhiều nên việc dạy và học của GV, HS còn nhiều hạn chế Đa số các GV chưa có sự chủ động, mở rộng kiến thức cho HS Khi tiến hành giảng dạy, nhiều

GV mới chỉ dựa vào SGK, SGV để dạy kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS Quá trình dạy học được thực hiện theo các nội dung trong SGK bao gồm:

GV nêu CH sau đó dẫn dắt HS phân tích theo ngữ liệu trong SGK; rút ra ghi nhớ, sau đó hướng HS vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào việc giải quyết các bài tập theo SGK

Về phía HS, nhìn chung các em còn thụ động trong quá trình học Mặc dù

GV khi lên lớp đã thực hiện phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm để hướng dẫn HS tự tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của

HS Tuy nhiên, HS chưa thực sự tiếp thu một cách chủ động sáng tạo, hầu như các

em vẫn học theo kiểu cũ: nghe, ghi chép, nhớ và tái hiện những gì GV nói mà chưa

có thói quen chủ động tìm hiểu và khám phá bài học Trong các bài viết nghị luận

về một hiện tượng đời sống của HS, dù đã được luyện tập, nhưng việc vận dụng của các em chưa thực sự thuần thục

Trang 27

CHƯƠNG 2

DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

KẾT HỢP VỚI HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC

2.1 Mục đích của việc dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”

Việc dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống hướng tới những

mục đích cơ bản sau:

Giúp HS nhớ được những kiến thức về dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, những kỹ năng cơ bản để tạo lập một văn bản (như lập dàn ý, tìm ý, xác định lập luận ); hệ thống được những việc phải thực hiện khi tạo lập văn bản (tìm dẫn chứng, liên hệ thực tế, rút ra bài học cho bản thân )

Giúp HS nắm được đầy đủ và chính xác các kỹ năng cơ bản của việc viết bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, bao gồm tìm hiểu đề, chủ động trong việc huy động và tổ chức những thông tin liên quan đến đề tài cần nghị luận để lập dàn ý cho bài viết Qua quá trình tìm hiểu, suy nghĩ và trình bày một số hiện tượng đời sống mang tính thời sự trong đời sống của cộng đồng, HS xác định rõ hơn trách nhiệm, cách ứng xử của tuổi trẻ trước những vấn đề xã hội này

Giúp HS sau khi phân tích vấn đề cần nghị luận, các em sẽ rút ra được những bài học nhận thức có ý nghĩa cho bản thân và cho cuộc sống

2.2 Bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” trong SGK Ngữ văn 12

Trang 28

Phần 3: Luyện tập

Ở phần 1: Tìm hiểu đề và lập dàn ý, SGK đưa ra một đề bài cụ thể là:

“Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết CHIA

CHIẾC BÁNH CỦA MÌNH CHO AI?”

Sau đó, SGK đưa ra gợi ý để HS thảo luận (gợi ý để HS tìm hiểu đề và tìm ý)

bao gồm: Đề bài yêu cầu bàn luận về hiện tượng gì?; Bài viết cần có những ý nào?

Sắp xếp các ý đó ra sao?; Nên chọn những dẫn chứng nào?; Cần vận dụng những

thao tác lập luận nào?

Tiếp đó là các gợi ý lập dàn ý cho cả ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Đến phần thứ 2: Từ việc thảo luận một đề bài cụ thể, HS tự rút ra nhận định của mình về cách làm một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống

Ở phần 3: HS được củng cố kiến thức thông qua phần ghi nhớ và làm bài tập phần luyện tập

2.2.2 Những kiến thức và kỹ năng cần đạt trong bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”

2.2.2.1 Những kiến thức cần đạt

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bài học được triển khai nhằm hệ

thống, củng cố lại hệ thống tri thức về dạng bài nghị luận này trong chương trình Ngữ văn mà HS đã được học từ THCS đến THPT, tạo tiền đề cho việc hướng dẫn

HS viết bài làm văn số 2 Theo đó, khi triển khai dạy bài này, GV cần tập trung vào những nội dung kiến thức sau:

Trước hết, HS phải nắm được những kiến thức cơ bản của nghị luận về một hiện tượng đời sống Theo đó, HS sẽ hiểu được vấn đề được bàn luận về một hiện tượng đời sống có tính thực tiễn cao, gắn liền với cuộc sống hàng ngày Thông qua

Trang 29

việc bàn luận, đánh giá đúng sai, phải trái, người viết bày tỏ quan niệm, thái độ và

cả cách hành xử của bản thân đối với những sự việc, những hiện tượng tương tự

Bên cạnh đó, HS còn hệ thống được những kiến thức về bố cục của một bài văn Từ những kiến thức các em đã được học ở THCS và ở lớp 10, 11, GV có thể hướng dẫn các em nắm được:

Cấu trúc bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống cũng giống như cấu trúc

của một bài NLXH khác Dù dung lượng không dài cũng vẫn phải đảm bảo cấu trúc của một bài làm văn, nghĩa là phải có: Mở bài (Đặt vấn đề); Thân bài (Giải quyết vấn đề) và Kết bài (Kết thúc vấn đề) Trong văn bản, ba phần này phải có sự gắn bó với nhau về mặt ý nghĩa, đồng thời cũng phải có sự cân đối, hài hòa về hình thức

Mở bài và kết bài phải ngắn gọn, súc tích

Với nội dung của văn bản, HS phải nắm được các yêu cầu:

Phần mở bài: Cần trình bày được vấn đề đặt ra trong bài làm (nội dung đề bài) để người đọc có thể biết được bài làm của bạn đề cập tới nội dung chính nào, tránh tình trạng mở bài dài nhưng không đúng chủ đề Cần có phần dẫn dắt nhất định để đi vào bài một cách tự nhiên, tránh gò bó, gượng ép gây cảm giác khó chịu cho người đọc Phần mở bài sáng tạo tự nhiên sẽ dễ tạo được ấn tượng đầu tiên đối với người tiếp nhận

Phần thân bài là phần chính của cả bài viết Phần này có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chính mà đề bài đặt ra Phần này thường trả lời cho các CH: Vấn đề

đó là gì? Nó đúng hay sai, tại sao? Trong thực tế cuộc sống, nó diễn ra phổ biến như thế nào? Cần làm gì để phát huy những mặt tốt và hạn chế những tiêu cực (nếu là mặt xấu) đó trong xã hội hiện nay? Bạn cần làm gì và như thế nào để góp phần hiện thực hóa nó vào trong thực tế? Đây là những yêu cầu cơ bản trong việc triển khai nội dung cho một bài văn NLXH nói chung và bài nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng Đồng thời, trong bài văn, người viết cần có những luận chứng cụ thể

để bài viết thêm sinh động, hấp dẫn, thuyết phục được người đọc

Trang 30

Phần kết bài: Trong văn bản, phần này tuy ngắn nhưng có vai trò vô cùng quan trọng vì nó khép lại cả vấn đề mà cả bài viết đang đề cập tới và mở rộng ra những ý kiến cá nhân nhằm làm cho người đọc có những liên tưởng rõ hơn về quan điểm và thái độ của người viết

Không chỉ có vậy, HS còn phải nắm được những yêu cầu về cách tạo lập một

văn bản Khi tạo lập một bài văn Nghị luận về một hiện tượng đời sống, HS cần chú

ý phải triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng đã xây dựng (theo dàn ý) Trên cơ sở dàn ý, cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao Sau khi hoàn thành bài viết, các em phải đọc lại và sửa chữa để hoàn chỉnh bài viết

2.2.2.2 Những kỹ năng cần đạt

Muốn văn bản được tạo lập có thể thuyết phục đối tượng tiếp nhận, bên cạnh việc biết huy động kiến thức chính xác, hấp dẫn thì người tạo lập còn cần phải biết vận dụng những kỹ năng cơ bản của việc tạo lập văn bản Tuy nhiên, đối với HS, khi tạo lập văn bản, các em trước hết cần phải thực hiện các bước đầu tiên của làm văn nghị luận là: phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý

Kỹ năng đầu tiên HS phải nắm vững là kỹ năng phân tích đề Đây là việc thực hiện nhằm xác định rõ những yêu cầu của đề đối với hoạt động tạo lập văn bản Để HS thực hiện tốt kỹ năng phân tích đề cách tốt nhất là sử dụng hình thức trả

lời CH: Về nội dung nghị luận (Nội dung nghị luận mà đề bài đặt ra thuộc lĩnh vực

nào của đời sống xã hội? Đề bài nói về hiện tượng gì? Ý nghĩa của hiện tượng đó

trong đời sống như thế nào)?; Về dạng bài nghị luận; Về phạm vi nghị luận, giới

hạn dẫn chứng

Kỹ năng thứ hai là tìm ý Yêu cầu của kỹ năng này là xác định từng yếu tố nội dung đề ra Cần lưu ý, các ý trong bài văn phải là bộ phận của luận đề và phải tương ứng với mỗi thao tác theo yêu cầu của nghị luận (tức là thao tác chủ đạo của

ý đó, trong quá trình triển khai ý có thể sẽ kết hợp với các thao tác khác nhau) Căn

Trang 31

cứ vào yêu cầu của đề để xác định các ý cho một bài văn nghị luận cách đơn giản nhất là đặt CH theo các hình thức: Là gì? Như thế nào? Tại sao? Hay là…? Điều đó

có đúng không? Có thể như vậy không?

Kỹ năng cơ bản tiếp theo là lập dàn ý Thông thường khi tìm được ý thì HS không lập dàn ý nữa mà tiến hành triển khai dàn ý thành bộ khung cho bài văn Cũng vì thế việc lập dàn ý được ví là quá trình tạo ra xương sống cho bài viết

2.3 Cơ sở của việc hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức con người học

sinh trong bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là loại văn bản gắn liền với cuộc sống

con người trong đó đối tượng được bàn luận thường gắn với những sự việc, hiện tượng, là những câu chuyện xảy ra trong thực tế đời sống xã hội Nói một cách khác, đối tượng được bàn luận là những hiện tượng đời sống mang tính thời sự Những hiện tượng này thường có tính đa chiều, đa diện: có mặt tích cực; tiêu cực;

có xu hướng thuận lợi hoặc khó khăn;… Đó là những vấn đề, hiện tượng gần gũi với đời sống mà HS được chứng kiến, được nghe lại từ chính cuộc sống hàng ngày

Và có thể nói, trước mỗi vấn đề được bàn luận, HS có thể nêu ra những suy nghĩ, nhận thức, quan điểm hay cách hành xử của bản thân mình Như vậy, nghị luận về một hiện tượng đời sống không chỉ có ý nghĩa và những tác động đến đời sống xã hội mà còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo lí, cách sống đúng đắn, tích cực đối với HS, thanh niên Đây là điều kiện thuận lợi để GV có thể hướng dẫn HS rút ra những bài học nhận thức thực tế trong quá trình hình thành và rèn luyện những kỹ năng cơ bản của việc tạo lập loại văn bản này

Hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức với dụng ý giáo dục nhân cách HS

khi dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống được triển khai trên cơ sở

quan điểm tích hợp, cụ thể là tích hợp mở rộng Tích hợp mở rộng là sự tích hợp giữa các kiến thức của bài học Ngữ văn với các kiến thức về sự việc, hiện tượng đời sống mà HS đã tích luỹ được từ cộng đồng xã hội, từ đó làm giàu vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho HS Khi hướng dẫn HS nhận thức vấn đề thông qua những

Trang 32

bài học thì các em phải biết vận dụng những hiểu biết từ bản thân, từ thực tế, từ những người xung quanh, từ những bài học trên lớp… Do vậy, để các em có thể làm tốt được công việc này thì ngoài kiến thức đã được trang bị trong sách vở, HS còn cần phải tích hợp những hiểu biết từ bên ngoài cuộc sống Từ những kiến thức nền tảng đã được trang bị, kết hợp với những điều diễn ra trong thực tế cuộc sống, các em sẽ rút ra được những bài học nhận thức cho bản thân Đồng thời, các em cũng có những cơ sở thực tiễn được tích hợp với những kiến thức để góp phần hoàn thiện năng lực viết văn, phát triển nhân cách, bồi dưỡng tư duy và biết vận dụng những hiểu biết ấy vào tình huống cụ thể Từ đó, giúp các em trở thành những công dân có trách nhiệm, có ý thức tự lập và sáng tạo

Việc tích hợp dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống với việc

giáo dục đạo đức cho HS trong giờ Làm văn không chỉ có tác dụng riêng với một bộ môn Ngữ văn mà nó còn có tác dụng làm nền tảng, tạo cho HS hứng thú học các môn khác chẳng hạn như môn Giáo dục công dân… Như vậy, việc giáo dục đạo đức cho HS hiện nay không chỉ được chú trọng ở môn Ngữ văn nói riêng, môn Giáo dục công dân mà còn có thể mở rộng với những kiến thức về đời sống xã hội, với văn hoá, với chính thực tế cuộc sống của HS Từ đó, các em tự hình thành thói quen phân tích, nhận định, biết bày tỏ quan niệm, thái độ, nhận thức tìm ra những cách ứng xử phù hợp cho bản thân trong những hoàn cảnh sống cụ thể

2.4 Xác định nội dung kiến thức có thể rút ra bài học nhận thức cho học sinh

THPT trong giờ “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”

2.4.1 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi phân tích ngữ liệu

Một việc không thể thiếu trong giờ Nghị luận về một hiện tượng đời sống là

GV cần định hướng, dẫn dắt HS đi tìm hiểu ngữ liệu để tự bản thân các em rút ra bài học nhận thức cho riêng mình Với đối tượng được bàn luận khá rộng, GV có thể lựa chọn ngữ liệu tiêu biểu như:

Trang 33

“Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết: CHIA

CHIẾC BÁNH CỦA MÌNH CHO AI?”

Với đề bài trên, các bước làm bài sẽ là:

* Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý

- Tìm hiểu đề: Đề bài yêu cầu bàn về hiện tượng gì? (Đề bài yêu cầu bày tỏ ý

kiến với việc làm của anh Nguyễn Hữu Ân - vì tình thương)

- Tìm ý:

+ Khẳng định phẩm chất, lối sống đẹp của Nguyễn Hữu Ân

+ Khẳng định những hiện tượng tích cực như Nguyễn Hữu Ân trong đời sống hiện nay

+ Phê phán những hiện tượng tiêu cực: lối sống vô cảm, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và người thân

+ Nêu những trải nghiệm và định hướng của chính người viết về vấn đề này (thông qua một số sự việc cụ thể, sinh động)

* Bước 2: Lập dàn ý GV cần hướng dẫn HS lập dàn ý phải đảm bảo theo bố

cục 3 phần: (Ở phần này, HS sẽ thực hiện nhanh bởi nội dung được xác định dựa vào ngữ liệu trong SGK):

Mở bài:

- Giới thiệu hiện tượng Nguyễn Hữu Ân: Là “Thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007”; là một thanh niên sử dụng thời gian của mình cho những việc rất hữu ích

- Dẫn dắt vấn đề “Chia chiếc bánh của mình cho ai?”: Giới trẻ ngày nay

đang sử dụng quỹ thời gian của mình như thế nào?

Trang 34

Thân bài:

- Nguyễn Hữu Ân đã nêu lên một tấm gương hiếu thảo:

+ Hoàn cảnh khó khăn, vừa ôn thi đại học, vừa đi làm và chăm sóc hai người mẹ bị bệnh ung thư

+ Từ hoàn cảnh của hai người mẹ mà Nguyễn hữu Ân bắt đầu ấp ủ ước mơ giúp đỡ những bệnh nhân ung thư có hoàn cảnh khó khăn

- Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân, chẳng hạn: nhóm “Ước mơ của Thúy” (giúp đỡ những bệnh nhi ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh); anh hùng châu Á Nguyễn Thị Huệ (giúp đỡ nhiều bệnh nhân HIV/AIDS tái hòa nhập cộng đồng); những học sinh, sinh viên tham gia các phong trào “Tiếp sức mùa thi”, “Hoa phượng đỏ”, “Mùa hè xanh”,…

- Nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều thanh niên có lối sống ích kỷ, vô tâm, đáng bị phê phán (qua các biểu hiện như: nghiện internet, karaoke; ham chơi, bỏ học, sa vào tệ nạn xã hội; không tham gia vào các công tác xã hội, không giúp đỡ mọi người…)

- Tuổi trẻ ngày nay cần dành nhiều thời gian để tu dưỡng, lập nghiệp, sống vị tha; dành thời gian hơn cho mọi người (gia đình, bạn bè,…); tham gia các hoạt động

xã hội, giúp đỡ mọi người xung quanh, xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, tốt đẹp trong xã hội

Kết bài:

- Nâng vẻ đẹp của Nguyễn Hữu Ân lên tầm một bài học tư tưởng

- Phát biểu cảm nghĩ cá nhân Từ đó rút ra bài học về nhận thức và hành động cho bản thân

Trang 35

Sau khi hướng dẫn HS cách lập dàn ý thì GV tiếp tục hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức bằng việc đưa ra CH như:

CH: Từ câu chuyện về Nguyễn Hữu Ân, em hãy nêu những suy nghĩ, thái độ

của bản thân Nếu là em, em sẽ có những hành động thiết thực nào để trở thành một con người có lối sống đẹp?

* Bước 3: Viết bài Dựa trên hệ thống các ý đã sắp xếp trong dàn ý, GV

hướng dẫn HS viết thành bài văn hoàn chỉnh

* Bước 4: Đọc lại bài viết và sửa chữa

2.4.2 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi liên hệ bản thân

Trong các bước làm của kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống có

phần liên hệ bản thân Đây là phần giúp HS rút ra được những bài học nhận thức cho bản thân các em một cách đầy đủ và cụ thể nhất, bởi nó đòi hỏi các em phải có những hiểu biết về thực tế cuộc sống, về quan niệm, thái độ sống, cách ứng xử và các phạm trù đạo đức của con người trong xã hội theo từng thời kì lịch sử để từ đó

có những liên hệ với cách sống trong xã hội hiện đại Khi kết hợp giữa những kiến thức, kỹ năng tạo lập văn bản với giáo dục cách sống cho mỗi cá nhân như vậy, GV

đã thực hiện nhiệm vụ trang bị những tri thức cơ bản cần thiết cho các em về cách học để sống và chung sống với mọi người Để hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức khi liên hệ bản thân, GV cần có một hoặc một số CH mang tính chất gợi mở, định hướng để bản thân mỗi em có thể rút ra được cho mình những lối sống, cách sống, cách ứng xử và những chuẩn mực của đạo đức… Dưới đây là một số CH gợi

mở để rút ra bài học khi liên hệ bản thân

CH: Các em đã là người biết sử dụng đúng quỹ thời gian của bản thân chưa?

CH: Em rút ra được những bài học gì từ câu chuyện về Nguyễn Hữu Ân? CH: Em có phương hướng và kế hoạch như thế nào để có thể trở thành một

con người với những phẩm chất tốt đẹp như Nguyễn Hữu Ân?

Trang 36

Sau khi HS trả lời xong, GV sẽ chốt lại ý, dẫn thêm một vài tấm gương trong cuộc sống về lối sống đẹp để các em học tập, rút kinh nghiệm và liên hệ bản thân Đồng thời, mỗi cá nhân sẽ tự rút ra bài học nhận thức cho mình

2.4.3 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi thực hiện các bài luyện tập

Thực hành là khâu không thể thiếu trong một giờ học Bởi thông qua các bài tập cụ thể, HS có điều kiện áp dụng các kiến thức lí thuyết vừa học, từ đó rèn luyện

cho các em thành thạo trong kỹ năng tạo lập và lĩnh hội văn bản Đối với bài Nghị

luận về một hiện tượng đời sống, GV có thể đưa ra các bài luyện tập ở trên lớp,

hướng dẫn các em thành thạo các kỹ năng, rút ra được bài học nhận thức khi thực hiện các bài luyện tập Chẳng hạn, GV có thể nêu ra bài tập dưới đây:

Cho đề bài: Suy nghĩ của anh (chị) về nạn bạo hành trong xã hội

Sau khi đưa ra đề bài, GV hướng dẫn HS lập dàn ý

a Mở bài: Giới thiệu về vấn nạn bạo hành trong xã hội

b Thân bài: Tập trung vào các ý cơ bản dưới đây:

* Nêu bản chất của hiện tượng - giải thích hiện tượng:

- Nạn bạo hành: sự hành hạ, xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người khác, đang trở thành phổ biến hiện nay

- Nạn bạo hành: thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xã hội Nạn bạo hành diễn ra trong: gia đình, trường học, công sở…

* Phân tích, chứng minh những nguyên nhân - tác động của hiện tượng đời sống:

- Bàn luận thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng bằng các thao tác phân tích, chứng minh:

Trang 37

+ Hiện tượng khá phổ biến trong xã hội: Bé Hảo 4 tuổi bị ngay chính người

mẹ của mình bạo hành; Thầy giáo dạy ngoại ngữ vì thấy một học sinh học quá kém

đã buông lời xúc phạm: “Ba mày ngu, mẹ mày ngu nên sinh ra mày ngu vậy đó”, rồi ấn dúi đầu em HS ấy; Vụ chị Bình bị chủ quán phở bạo hành hơn chục năm mà chính quyền “địa phương” mới được biết…

+ Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người

+ Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo hành (nhất là đối với tầng lớp thanh niên)

+ Do áp lực của cuộc sống

+ Do sự thiếu kiên quyết trong cách xử lí nạn bạo hành

- Tác hại của hiện tượng:

+ Với nạn nhân: Tổn thương về thể xác và tinh thần; Tổn hại đến gia đình, người thân, bạn bè người bị hại; Tạo tính bất ổn trong xã hội: tâm lí lo lắng bất an bao trùm từ gia đình, nhà trường, đến xã hội…

+ Với người gây ra bạo hành: Con người phát triển không toàn diện: phát triển ngược trở lại phía “con”, đi ngược lại phần “người”, mất dần nhân tính; Mầm mống của tội ác mất hết tính người sau này; Làm hỏng tương lai chính mình, gây nguy hại cho xã hội; Bị mọi người lên án, xa lánh, căm ghét…

* Bình luận (bàn bạc, mở rộng vấn đề): Đây là một vấn nạn của xã hội

Những con người gây nên vấn nạn đó là những con người mất hết lương tri, suy đồi đạo đức, sống không có tình thương… Những hành động đó cần phê phán, lên án gay gắt Tuy nhiên, hiện tượng bạo hành chỉ là một phần trong đời sống của xã hội, nên không vì thế mà chúng ta lại mất niềm tin vào tất cả mọi người Cần nhân rộng những tấm lòng cao cả, nêu gương người tốt việc tốt điển hình; hình thành thái độ

Trang 38

đồng cảm, sẻ chia, yêu thương giúp con người nói chung, thế hệ trẻ nói riêng tiến tới những vẻ đẹp nhân cách chân - thiện - mĩ…

- Có thái độ quyết liệt phê phán răn đe, giáo dục cải tạo, biện pháp trừng phạt kiên quyết làm gương cho người khác

c Kết bài

- Lên án hiện tượng

- Bài học nhận thức cho bản thân và hành động

Sau khi hướng dẫn HS lập được dàn ý, GV chú trọng việc đưa ra CH nhận thức cho HS ở phần kết bài để định hướng cho các em có thể rút ra được những bài học đúng đắn cho mình, chẳng hạn:

CH: Em có suy nghĩ gì về nạn bạo hành trong xã hội hiện nay?

CH: Theo em, việc giáo dục nhân cách học sinh ở nhà trường THPT có góp

phần giảm tải nạn bạo hành xã hội không? Tại sao?

CH: Chúng ta cần làm những việc như thế nào để trở thành những chủ nhân

tương lai có ích cho xã hội?

Trang 39

2.5 Quy trình dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” có kết hợp việc

hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức

Trước khi đi vào quy trình dạy học cụ thể, GV cần hệ thống được những kiến thức và kỹ năng về kiểu bài này mà HS đã được trang bị để hướng dẫn các em tham gia xây dựng nội dung bài học Trong khi dạy, GV cần lưu ý tới những yêu cầu sau:

Đặc điểm của bài học này là: Ngoài những nét tương đồng với kiểu bài nghị

luận về một tư tưởng, đạo lí, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có những nét khác biệt cần lưu ý như: về nội dung, văn bản nghị luận về một hiện tượng đời sống là phải nêu được sự việc, hiện tượng có vấn đề, phân tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó; chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết; về hình thức, bài viết phải có bố cục mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phải phù hợp, lời văn chính xác, sống động

Nội dung trọng tâm của bài là: Cách làm bài nghị luận về một hiện tượng

đời sống Trên cơ sở đã xác định những yêu cầu cơ bản của bài học, GV lựa chọn các phương pháp dạy học Đối với bài này, GV có thể sử dụng các phương pháp dạy học: nêu vấn đề, phát vấn, dẫn dắt để HS phát huy trí tuệ, thảo luận để rút ra bài học

và kỹ năng nghị luận và trọng tâm là gợi dẫn các em rút ra cho mình bài học nhận thức về lẽ sống, cách sống, hình thành cho các em có một lối sống đẹp Để giờ học

có thể đạt hiệu quả, chúng tôi xác định quy trình dạy học bài này như sau:

Bước 1: Sử dụng hệ thống CH để kiểm tra bài cũ

Bước 2: Giới thiệu bài mới

Bước 3: Hướng dẫn HS tham gia bài học thông qua hệ thống CH Ở phần này có những CH hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức

Bước 4: Hướng dẫn HS rút ra kết luận cần thiết

Bước 5: Thực hành

Ngày đăng: 02/11/2017, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w