1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh qua đọc hiểu văn bản vội vàng của xuân diệu (ngữ văn 11, tập 2) (2016)

74 821 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 767,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáp ứng nhu cầu dạy – học văn bản trên tinh thần đổi mới dạy và học chúng tôi chọn đề tài: Tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh qua đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu Ngữ văn 11

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN

LÊ HOÀNG MAI

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU

VĂN BẢN “VỘI VÀNG” CỦA XUÂN DIỆU

(NGỮ VĂN 11, TẬP 2)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn

Người hướng dẫn khoa học: ThS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

Trang 2

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương,

người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm khoa học quý báu giúp tôi hoàn thành khóa luận đúng thời hạn

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả khóa luận

Lê Hoàng Mai

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu cảu cá nhân tôi, dưới

sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương, chưa được công bố trong bất kì

công trình nghiên cứu nào Nếu có sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả khóa luận

Lê Hoàng Mai

Trang 4

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp 4

8 Bố cục khoá luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo 5

1.1.2 Một số vấn đề chung về hoạt động TNST trong chương trình THPT 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu trong nhà trường THPT hiện nay 15

1.2.2 Hoạt động TNST văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu ở trường THPT 17

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TNST CHO HỌC SINH QUA 18

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỘI VÀNG” CỦA XUÂN DIỆU (NGỮ VĂN 11, TẬP 2) 18

2.1 Đặc trưng thơ tình Xuân Diệu 18

2.1.1 Khái niệm trữ tình 18

2.1.2 Đặc trưng thơ tình Xuân Diệu 19

2.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động TNST 24

2.3 Tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh khi đọc hiểu văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu 27

2.3.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 27

Trang 6

2.3.2 Bồi đắp quan niệm sống tích cực cho học sinh 45

CHƯƠNG 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 52

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bài “Vội vàng” Xuân Diệu 52

(Ngữ văn 11, tập 2) 52

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vấn đề giảng dạy ngữ văn có một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhà trường THPT Bởi văn học là tri thức của đời sống Tiếp nhận vốn tri thức có khả năng đem lại cho con người vốn hiểu biết sâu rộng trong cuộc sống Tuy nhiên, vẫn đề dạy và học ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trên Hầu hết học sinh THPT hiện nay không thích học văn bởi vì các em đã được định hướng ngay từ đầu là thi khối A, B, D Bên cạnh đó còn do học sinh không xác định được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong văn bản trữ tình hay trầm trọng hơn giáo viên chưa có phương pháp dạy học phù hợp nên học sinh chưa hứng thú học Ngữ văn

Đối với những văn bản văn chương thuộc thể loại trữ tình, học sinh quan niệm

là chúng lãng mạn, xa rời với hiện thực cuộc sống và cho rằng đó chỉ là cảm nhận của giới nghệ sĩ nên tiếp nhận văn bản trữ tình theo hướng “Học đối phó”

Từ những nguyên nhân trên dẫn đến tình trạng học sinh vô cảm với văn học nói chung

và văn bản trữ tình nói riêng Đã đến lúc chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn học trữ tình trong nhà trường THPT Ý thức được vấn đề trên ta có cái nhìn toàn diện về xác định vai trò của bộ môn ngữ văn với thực tiễn đời sống hiện đại

Đó là cách chúng ta đem lại cho mỗi học sinh hành trang văn hóa tinh thần quý giá, một đời sống tình cảm phong phú để các em làm người, để hiểu cuộc đời, từ đó biết yêu cuộc sống, yêu con người và để có lối sống đẹp, có ý nghĩa với bản thân, gia đình

và xã hội

Đáp ứng nhu cầu dạy – học văn bản trên tinh thần đổi mới dạy và học chúng tôi

chọn đề tài: Tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh qua đọc hiểu văn bản Vội vàng

của Xuân Diệu (Ngữ văn 11, tập 2), với mong muốn đi tiếp con đường mà các nhà giáo dục quan tâm trong việc chiếm lĩnh tác phẩm nghệ thuật Nghiên cứu này chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc dạy học, với hi vọng tác phẩm văn học có ý nghĩa thiết thực với học sinh trong THPT

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

Bà về vấn đề phương pháp dạy học và dạy học Văn có từ rất sớm, xuất phát đầu tiên ở các nước phương Tây Xuất hiện với một số cuốn sách như: “Phương pháp dạy học Văn” của IA Rex Trình bày phương pháp học cách cụ thể Nhấn mạnh vai trò đọc sáng tạo Coi đó là phương pháp đặc thù nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn học trên phương diện nghệ thuật thông qua Đọc – hiểu

“Phương pháp dạy học văn ở trường THPT” V A Nhiconxki (Ngọc Toàn và Bùi Lê dịch) có vị trí và vai trò chủ đạo của người học trong nhà trường và hoạt động đọc diễn cảm trong quá trình tiếp nhận

Ở Việt Nam những năm 80, những cuốn sách bàn về đọc văn và học văn như:

“Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” GS Phan Trọng Luận: Tầm quan trọng của việc đọc, đọc từng câu, từng chữ không thể nhảy cóc Đọc không chỉ dừng lại ở việc quan sát

bề mặt câu chữ mà phải thấy được bề sâu từng ý nghĩa mà nhà văn gửi gắm trong tác

phẩm: “Văn học và nhân cách” GS Nguyễn Thanh Hùng cũng nhấn mạnh đến sự phát

triển của quá trình đọc được hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và giới thiệu nghệ thuật

Trong bài viết: “Dạy đọc hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc” tác giả chỉ ra

việc đọc hiểu sẽ giúp hình thành và củng cố, phát triển năng lực, nắm vững và sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo Từ bình diện văn hóa ấy, bài viết xác định: Đọc là một hoạt động văn hóa có ý nghĩa cơ bản cho sự phát triển của nhân cách

Chuyên đề: “Đọc và tiếp nhận văn chương” tác giả khẳng định Tiếp nhận tác phẩm

văn học là một quá trình vì nó chỉ diễn ra một hoạt động duy nhất là hoạt động đọc văn

GS Phan Trọng Luận trong chuyên đề: “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” đã phân

tích tầm quan trọng của hoạt động đọc Đọ từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc để tri giác bằng mắt, tai tất cả hình ảnh, chi tiết, từ ngữ Qua quá trình đọc là quá trình thâm nhập từng bước vào nội dung ý nghĩa của tác phẩm

Tất cả các nghiên cứu của văn chương nhằm hướng tới đọc hiểu là hoạt động của

Trang 9

bản trữ tình trong nhà trường THPT Dựa vào nghiên cứu trên khóa luận chúng tôi tiến

hành: Tổ chức hoạt động TNST cho học sinh qua đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân

Diệu (Ngữ văn 11, tập 2) trong nhà trường THPT gắn liền với thực tiễn cuộc sống hiện đại

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:

- Xác lập các hoạt động, các bước tổ chức trải nghiệm sáng tạo qua văn bản Vội

vàng

- Làm rõ các vấn đề xung quanh việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Khoá luận sẽ đi nghiên cứu các đặc trưng của thơ tình Xuân Diệu để góp phần xây dựng quy trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc dạy học ngữ văn

- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thể trữ tình ở trường THPT theo hướng dạy văn là dạy học sinh biết cách làm người, giáo dục lòng nhân ái, giáo dục kĩ năng sống

Khoá luận thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở và quy trình của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong việc dạy học văn bản trữ tình ở nhà trường THPT

- Vận dụng những hiểu biết đó để tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo

trong dạy học văn bản Vội vàng của Xuân Diệu

4 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tập trung nghiên cứu:

- Phương pháp dạy học ngữ văn

- Lý thuyết tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Ngữ văn

- Vận dụng và hướng dẫn học sinh biết cách tự trải nghiệm các hoạt động đọc

hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu

Trang 10

5 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu các đăc trưng của thơ tình Xuân Diệu Đặc biệt đi sâu vào các

nguyên tắc của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua văn bản Vội vàng

- Do năng lực có hạn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thực nghiệm ở văn bản Vội vàng (Ngữ văn 11, tập 2) nếu có cơ hội, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu

ở những đề tài sau

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lý thuyết: phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp thực nghiệm: vận dụng lí thuyết tổ chức các hoạt động trải nghiệm

sáng tạo vào thiết kế bài giảng văn bản Vội vàng của Xuân Diệu (Sgk Ngữ văn 11, tập

8 Bố cục khoá luận

Bố cục khoá luận gồm 3 phần:

Mở đầu

Nội dung

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2 Tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh khi đọc hiểu văn bản Vội vàng của Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập 2

Chương 3 Giáo án thực nghiệm

Kết luận

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường, đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua thực tiễn trải nghiệm, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có…

1.1.1.1 Hoạt động

Bắt đầu từ Vuwgotsky với tư tưởng cơ bản là: hoạt động tâm lí (bên trong) của người, được xây dựng theo mẫu của hoạt động bên ngoài Hoạt động bên ngoài này được tiến hành bởi công cụ Công cụ là năng lực thực tiễn mà loài người sáng tạo ra, kết tinh lại, được vật thể hóa, nhờ đó mà chúng tồn tại một cách khách quan đối với mỗi cá thể

Hoạt động tâm lí người được thực hiện dưới hình thức giao lưu bằng ngôn ngữ, dùng những hệ thống tín hiệu và dấu hiệu (đặc biệt là âm thanh) làm vật trung gian (coi như công cụ)

Nói chung quan điểm tâm lí học Xô viết cho rằng hoạt động tâm lí không những được hình thành theo mẫu của hoạt động trên đối tượng bên ngoài mà về bản chất vẫn còn là một biến thái của hoạt động bên ngoài

Động cơ hoạt động của trẻ em chính là chiếm lĩnh những thành tựu văn minh của loài người (hay năng lực thực tiễn người) để ngày càng trở nên người hơn, thì những mục đích riêng của những hành động tức thời là, ví dụ, lĩnh hội tri thức khoa học trong các môn học

Trang 12

Phương thức giáo dục thực chất là cách tổ chức quá trình hoạt động liên tục của trẻ em Trình độ tổ chức các hoạt động ấy là thước đo dộ điều khiển quá trình phát triển tâm lí của trẻ em Các phương pháp giáo dục trước đây, nếu thấy được phần chủ quan của chủ thể được giáo dục vào lúc này, thì ở thời điểm khác, nó chỉ thấy được tính khách quan của quá trình, từ phía thầy giáo Mọi phương pháp giáo dục cũ vẫn còn loay hoay tìm cách “khai thác” khả năng bên trong của trẻ, hoặc chỉ lo “cải tiến phương pháp giảng dạy” của thầy giáo theo hướng phát huy năng lực của trẻ, khai thác triệt để vốn sống của trẻ Phương pháp mới đã vượt ra khỏi sức hút ấy của phương pháp truyền thống, đưa ra một chiến lược mới: hình thành khả năng mới ở trẻ Đương nhiên, phương pháp mới tận dụng vốn sống đã có ở trẻ Phương pháp mới tự đặt ra cho mình nhiệm vụ tạo ra trong mỗi đứa trẻ ngày càng nhiều hơn năng lực thực tiễn người và phải làm việc đó một cách chắc chắn

Hoạt động của trò là hoạt động có tổ chức, ban đầu thực hiện ở bên ngoài, một cách vật chất có kiểm soát được một cách cảm tính và trực quan Sau đó thực hiện tiếp quá trình biến hình thức bên ngoài thành hình thức bên trong, thành tâm lí, ý thức nhân cách Quá trình này cũng được kiểm soát chặt chẽ, trải qua từng bước, từng giai đoạn Thực chất quá trình học chính là quá trình làm việc để tạo ra một sản phẩm xác định, còn quá trình dạy là quá trình tổ chức làm việc, cung cấp vật liệu, mẫu sản phẩm và quy trình công nghệ (tương đương với các chuỗi thao tác) làm ra sản phẩm

Đỉnh cao mà hoạt động tâm lí đạt đến trình độ xã hội (hay nhân cách) Đây là một bước tiến về chất Từ đây, chỉ còn lại những hoạt động thuần túy người, đặc trưng cho phạm trù người.Nói cụ thể hơn: hoạt động của cá nhân không còn là của riêng một

cá nhân đơn độc ấy, mà bao giờ cũng là của một cộng đồng người,trong một thời điểm xác định Để dễ nhận thấy bản chất của vấn đề, ta có thể nói: sự thích ứng với hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân không phải là sự thích ứng cá nhân mà là sự thích ứng tập thể, cộng đồng

Trang 13

Hoạt động người đạt đến trình độ xã hội đã đưa con người sang hẳn một phạm trù mới, tách biệt hẳn với thế giới động vật Từ đây, hoạt động của người tuân theo những quy luật khách quan có tính lịch sử và chịu tác động của các mối quan hệ xã hội đương thời Trên ý nghĩa ấy, Marx coi con người như một tổng hòa các quan hệ xã hội

Ngay từ lúc mới ra đời, đứa trẻ đã là người,đã là thành viên cảu xã hội loài người,

đã ở trong những mối quan hệ xã hội người, vì vậy, việc giáo dục trẻ từ đầu đã được tổ chức trong mọi trình độ phát triển của hoạt động, phản ánh nền văn minh hiện đại

1.1.1.2 Trải nghiệm

Theo quan niệm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kĩ năng Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Qua nghiên cứu các tài liệu triết học, ta có thể thấy được một số cách để định nghĩa về trải nghiệm:

- Trải nghiệm là một phạm trù của triết học, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa

- Trải nghiệm là một phạm trù của nhận thức luận, được đúc kết từ sự thống nhất của hoạt động tình cảm - nhận thức

- Trải nghiệm là kiến thức mà ngay lập tức cho chủ thể ý thức được và có cảm giác tiếp xúc trực tiếp với thực tế, cho dù đó là một thực tế bên ngoài của các đối tượng

và tình huống (nhận thức), hoặc các thực tại của trạng thái ý thức (quan niệm, những

kỷ niệm, xúc động…)

Trong các nghiên cứu tâm lí học, kinh nghiệm thường được coi là năng lực của

cá nhân, ví dụ Platon K.K nhận định trải nghiệm cũng như sự tích lũy của hiểu biết và năng lực (cá nhân, nhóm) hình thành trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục,

Trang 14

trong đó tổng hợp kiến thức, kĩ năng, khả năng và thói quen Dưới góc độ của tâm lí

học giáo dục, A N Leontiev đã giải quyết vấn đề về trải nghiệm của nhân loại: “Trong cuộc đời mình, con người đã đồng hóa kinh nghiệm của nhân loại, kinh nghiệm của những thế hệ trước Nó diễn ra dưới hình thức nắm vững kiến thức và ở mức độ làm chủ kiến thức” Trong các tài liệu sư phạm học, lí thuyết về trải nghiệm trở thành đối

tượng nghiên cứu Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa như sau:

- Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy

- Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường…

- Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lí thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm cụ thể

- Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đào tạo được giáo viên đúc kết và cải thiện dần trong quá trình làm việc thực tế của mình

Một số nhà sư phạm xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua khái niệm “thực hành”,

có nghĩa là, xem xét nó trong việc tiến hành quá trình đào tạo, cũng như kết quả của

nó Chính vì vậy, M N Skatkin đã kết luận rằng: “theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình giáo dục và đào tạo” Việc phân định giữa trải

nghiệm và thực hành, theo ý kiến của Trerehoba T E., trải nghiệm mang hàm nghĩa rộng hơn thực hành vì nó đóng một vai trò là nền tảng của tri thức và nó là một tiêu chí

để nhận biết sự thật Nói chung, người ta công nhận trải nghiệm là mối quan hệ thực tế giữ chủ thể và đối tượng Ý nghĩa của điều này là chúng ta cố gắng để có các trải nghiệm một cách chủ động, có tính cách mạng và có ý thức

Trang 15

Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện hay

một chủ đề bằng cách tham gia hoặc chiếm lĩnh nó Trong triết học, thuật ngữ “kiến thức qua thực nghiệm” chính là kiến thức có được dựa trên trải nghiệm Một người trải

nghiệm nhiều ở một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể được coi như chuyên gia của lĩnh

vực đó Khái niệm “trải nghiệm” dùng để chỉ phương pháp làm ra kiến thức hay quy

trình làm ra kiến thức chứ không phải là kiến thức thuần túy được đưa ra, là kiến tức dùng để đào tạo nghề nghiệp chứ không phải kiến thức dùng trong sách vở

Nhận thức luận có bản chất là “trải nghiệm” Những người tham gia vào các

hoạt động như du lịch, thể thao mạo hiểm hay sử dụng ma túy cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của trải nghiệm

Từ “trải nghiệm” có thể liên quan đến các sự kiện được cảm nhận trực tiếp

cũng như sự khôn ngoan có được khi phản ánh lại các sự kiện

Một số nhà nghiên cứu cho rằng bản chất trải nghiệm của con người có sự thay đổi về chất từ thời kì tiền hiện đại đến thời kì hiện đại và hậu hiện đại

1.1.1.3 Sáng tạo

Theo O B Tokmakoba trong bài viết với tên gọi: Kinh ngiệm hoạt động sáng tạo Đặc trưng của hoạt động kinh nghiệm sáng tạo trong quá trình giáo dục từ xa thì kinh nghiệm sáng tạo rất rộng Thông thường, sáng tạo được chia thành các lĩnh vực: trí tuệ, nghệ thuật, thủ công, ứng dụng… Các hoạt động sáng tạo trí tuệ (theo I Ya Lemer) được chia thành hoạt động tìm kiếm và hoạt động nghiên cứu Các yếu tố của hoạt động sáng tạo xuất hiện trong các vấn đề khác nhau, ở các mức độ khác nhau Lemer đã nêu ra các đặc điểm của hoạt động sáng tạo như sau:

- Có năng lực vận dụng những kiến thức đã biết để ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có

- Có năng lực nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự

- Có khả năng độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng trong các mối quan

hệ tương quan của nó

Trang 16

- Có khả năng độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế

- Có khả năng kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề

Những dấu hiệu sáng tạo được xác định dựa trên những hoạt động sau đây của học sinh:

- Học sinh sử dụng thiết bị đã được học hoặc thực hiện chúng với các tương tác khác (cấu trúc lại, kết hợp với các thiết bị khác)

- Sử dụng các vật liệu trực quan như một yếu tố bài tập, hoặc thực hiện chúng với các tương tác khác (phân tích, thay đổi trong tư duy), mà không làm thay đổi cách tiếp nhận

Sự sáng tạo có thể giáo dục được, nhưng phải theo một cách khác với con đường truyền tải kiến thức và hình thành kĩ năng

Có được kiến thức và kĩ năng, con người mới có thể sáng tạo Tuy nhiên, dù có được lượng kiến thức và kĩ năng đã được quy chuẩn thì cũng không thể đảm bảo sự phát triển khả năng sáng tạo của con người được

Sự trải nghiệm trong hoạt động sáng tạo của nhân loại được tích lũy dần dần Mặc dù không phải trong bất kì hoạt động nào nó cũng xuất hiện và định hình Sự sáng tạo có thể giáo dục được, nhưng phải theo một cách khác với con đường truyền tải kiến thức và hình thành kĩ năng

Bản chất của hoạt động sáng tạo nằm ở nội dung của các yếu tố giáo dục cơ bản của con người, mà đối với nó không nên gò ép vào một hệ thống các hành động nhất định Những hệ thống này đều có dặcđiểm của riêng mình

1.1.2 Một số vấn đề chung về hoạt động TNST trong chương trình THPT

1.1.2.1 Hoạt động TNST trong chương trình giáo dục phổ thông

Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua những cách

Trang 17

thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục

a) Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) Khái niệm hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ dạy học Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp)

Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) gồm: hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chis Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục; hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp THCS và cấp THPT) giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp; hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp THPT) giúp học sinh hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành

và phát triển kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng công cụ, thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn giản b) Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm các hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Như vậy: Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, kĩ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân Trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động TNST riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kĩ năng khác nhau

Trang 18

Hoạt động TNST dành cho tất cả các học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 giúp học sinh vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh ngiệm của bản thân vào trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo

Bên cạnh việc hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực chung của chương trình giáo dục, hoạt động TNST còn tập trung hình thành, phát triển các năng lực đặc thù của học sinh: Năng lực tổ chức hoạt động, năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân, năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp

Nội dung hoạt động TNST bao gồm phần bắt buộc (bao gồm cả hoạt động tập thể) và tự chọn, được thiết kế theo nghuyên tắc tích hợp, hoặc đồng tâm kết hợp với tuyến tính Nội dung hoạt động TNST được xây dựng thành các chủ đề mang tính chất

mở và tương đối độc lập với nhau dựa trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, sản xuất, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, chính trị - xã hội,… của địa phương, vùng miền, đất nước và quốc tế để học sinh và nhà trường lựa chọn, tổ chức thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả

Hoạt động TNST sử dụng các hình thức và phương pháp chủ yếu sau: thực địa, tham quan, câu lạc bộ, hoạt động xã hội, tình nguyện, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, trò chơi, cắm trại, thực hành lao động,…

Đánh giá năng lực của học sinh từ hoạt động TNST chủ yếu bằng phương pháp định tính thông qua quan sát hành vi và thái độ; bảng kểm, tự luận và hồ sơ hoạt động,…

Ngoài hoạt động TNST được nêu trên, trong từng môn học cũng coi trọng việc

tổ chức, hướng dẫn các hoạt động TNST phù hợp với đặc trưng nội dung môn học và điều kiện dạy học mà môn Ngữ văn là một ví dụ điển hình

1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động TNST

a) Trải nghiệm và sáng tạo là dấu hiệu cơ bản của hoạt động

Trang 19

Hoạt động TNST là hoạt động được phối hợp thực hiện một cách hợp lý cả hai khâu trải nghiệm và sáng tạo

Hoạt động TNST tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm trong thực tiễn để tích lũy

và chiêm nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành hiểu biết theo cách riêng của mình, đó đã được gọi là sáng tạo của bản thân học sinh Hoạt động TNST có khả năng huy động sự tham gia tích cực ở học sinh ở tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế họat động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả của hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân; tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo; được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự dánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè…

b) Nội dung hoạt động TNST mang tính tích hợp và phân hóa cao

Nội dung hoạt động TNST rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vưc hoạc tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động… Điều này gúp cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi với đời sống thực tế hơn, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các e vận dụng vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng,thuận lợi hơn

Bên cạnh hoạt dộng có tính tích hợp, học sinh được lựa chọn một số hoạt động chuyên biệt phù hợp với năng lực, sở rường, hứng thú của bản thân để phát triển năng lực sáng tạo riêng của mỗi cá nhân

c) Hoạt động TNST được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng

Hoạt động TNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan du lịch, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, tiểu phẩm…), thể dục thể thao, câu lạc bộ, tổ chức các ngày hội, các công trình nghiên cứu… Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong đó những khả năng giáo dục nhất định Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được

Trang 20

thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạt động TNST, cả giáo viên lẫn học sinh đều

có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn,độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động Sự đa dạng của hình thức trải nghiệm cũng tạo cơ hội thực hiện giáo dục phân hóa

d) Hoạt động TNST đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong

và ngoài nhà trường

Khác với hoạt động dạy học, hoạt động TNST cần thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lĩnh vực giáo dục trong và ngoài nhà trường như: Giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các nhà hoạt động xã hội, các tổ chức kinh tế… Mỗi lực lượng giáo dục có tiềm năng, thế mạnh riêng Tùy nội dung, tính chất từng hoạt động

mà sự tham gia của các lực lượng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Hoạt động TNST tạo điều kiện cho học sinh được học tập, giao tiếp rộng rãi, với nhiều lĩnh vực giáo dục; được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất lượng, hiệu quả của hoạt động TNST

e) Hoạt động TNST giúp học sinh lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được

Lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người và thế giới xung quanh bằng nhiều con đường khác nhau để phát triển nhân cách con người là mục tiêu quan trọng của hoạt động học tập Tuy nhiên, có những kinh nghiệm chỉ có thể lĩnh hội thông qua trải nghiệm thực tiễn Ví dụ, phân biệt mùi vị, cảm thụ niềm vui sướng hạnh phúc hay khổ đau… những điều này chỉ thực sự có được khi học sinh được trải nghiệm với chúng Sự đa dạng trong trải nghiệm sẽ mang lại cho học sinh nhiều vốn sống, kinh

Trang 21

nghiệm phong phú mà nhà trường không thể cung cấp thông qua các công thức hay định luật, định lí…

Tóm lại, hoạt động TNST là một phương thức học tập hiệu quả, nó giúp hình thành năng lực cho người học Phương pháp trải nghiệm có thể thực hiện đối với bất kì lĩnh vực tri thức nào, khoa học hay đạo đức, kinh tế, xã hội… Hoạt động trải nghiệm cần được tiến hành có tổ chức,có hướng dẫn theo quy trình nhất định của nhà giáo dục thì hiệu quả của việc học tập qua trải nghiệm sẽ tốt hơn Hoạt động giáo dục nhân cách học sinh chỉ có thể tổ chức qua hoạt động trải ngiệm

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu trong nhà trường THPT hiện nay

Nếu làm một cuộc thăm dò nhỏ về môn học các em yêu thích, chắc chắn rằng tỉ

lệ học sinh lựa chọn môn văn sẽ ít hơn môn học khác Vẫn biết rằng “văn học là nhân học” nhưng môn học này thật sự khó đối với học sinh khi đòi hỏi các em phải có năng lực cảm thụ, phân tích, bình luận, đánh giá về tác phẩm văn

Khi được hỏi về định hướng phát triển cho con sau này, nhiều phụ huynh muốn con em mình phát triển các môn tự nhiên và ngoại ngữ hơn Câu nói cửa miệng của

một bộ phận phụ huynh là: “Giỏi làm gì cái môn ấy, sau này biết làm gì?” Không thể

phủ nhận sự thật môn Văn đang yếu thế hơn trong cuộc cạnh tranh với các môn học khác khi lựa chọn nghề nghiệp Thiên về các môn tự nhiên hay ngoại ngữ các em có nhiều cơ hội lựa chọn học tập các ngành nghề đang được xã hội ưa chuộng và cơ hội việc làm cũng cao hơn Bên cạnh đó, cuộc sống hiện đại với bao nhiêu điều mới mẻ từ thế giới bên ngoài đang thu hút sự quan tâm của các em Mạng xã hội với các cuộc trò chuyện, kết nối gây cho các em hứng thú hơn nhiều so với việc đọc một bài thơ, một tác phẩm truyện nào đó Sách tham khảo, sách văn mẫu tràn lan và một “kho” bài văn mẫu có sẵn đang chờ các em gõ chuột tìm kiếm trên các trang mạng Internet đã vô tình thui chột đi mầm sống của sự tư duy, sáng tạo, chủ động của các em, thay vào đó là sự

Trang 22

lười biếng, ỉ lại và thụ động trong học Văn Văn học cần lắm sự sáng tạo nhận thức những kiến thức mới mẻ của học sinh

Đó là chưa kể đến việc một bộ phận giáo viên dạy Văn hiện nay chưa thật sự yêu bộ môn của mình Làm sao truyền tình yêu Văn học cho các thế hệ sau

Các thầy cô đến giờ là lên lớp Bài học đã nhiều năm liền cứ thế mà giảng Đề kiểm tra

đã có một ngân hàng đề, đến tiết kiểm tra lấy ra cho học sinh làm bài Rồi chấm bài, nộp bài,… Mọi thứ rập khuôn một các máy móc, lặp đi lặp lại thay vì cố gắng tạo ra cái mới, cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy, gợi sự hứng thú và khơi lên niềm say mê môn học cho các em học sinh

Chịu chung số phận với cả môn Văn, bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu cũng không nằm ngoài sự thật đau lòng ấy Vội vàng của Xuân Diệu được coi là đỉnh cao

của phong trào Thơ mới giai đoạn 1930 – 1945 xong khi được giảng dạy trong chương trình học Ngữ văn 11, tập 2 thì cái hay, cái đẹp, sự sáng tạo của tác giả không còn hoặc còn rất ít giá trị đối với các em học sinh Các em không còn thấy hứng thú khi nghe giáo viên giảng về cái đẹp, cái hay, cái mới và sự tinh tế trong bài thơ cũng như hồn thơ Xuân Diệu Môn Văn không phải là một phép toán có sẵn đáp số như là một cộng một bằng hai, không phải là môn học thuộc lòng để rồi mỗi tiết dạy thầy ghi sao trò bê nguyên si trả lại cho thầy ở tiết kiểm tra Môn Văn đòi hỏi sự sáng tạo, sự cảm nhận và rung động của trái tim trước cái đúng, cái đẹp…, một trái tim biết bất bình trước sự sai trái, trước cái ác để từ đó dần hình thành những suy nghĩ và nhân cách con người Để làm được điều đó, nhiệm vụ quan trọng là tạo được hứng thú cho người học chúng ta giúp các em nhận ra được giá trị thực sự của môn học, của tác phẩm văn học và hình thành cho các em niềm say mê, khơi dậy sựsáng tạo và nhu cầu tìm tòi trong quá trình lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng, bồi dưỡng tâm hồn Phải thắp được lên “ngọn lửa” tình yêu Văn học trong các em Đó không chỉ là nhiệm vụ và nó còn là trách nhiệm của người dạy Văn hôm nay

Trang 23

1.2.2 Hoạt động TNST văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu ở trường THPT

Thay vì học những tác phẩm văn học trong sách thì các em học sinh sẽ được trải nghiệm cuộc sống từ thực tế bên ngoài, gặp gỡ những con người có số phận khác nhau

từ vui vẻ, hạnh phúc đến khổ đau, bất hạnh… để rồi tự mình viết nên những tác phẩm

từ chính những cảm nhận của mình Chính các em học sinh cũng thấy thích thú hơn khi tham gia học văn từ sự trải nghiệm cuộc sống Với yêu cầu và đòi hỏi của giáo dục đổi mới hiện nay, một số trường học đã thực hiện cách dạy mới là để học sinh tự mình trải nghiệm cùng với tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm hay, giàu ý nghĩa giáo dục thực

tiễn như văn bản Vội vàng của Xuân Diệu ở chương trình Ngữ văn 11, tập 2 với mong

muốn vượt ra khỏi sự sáo mòn trong cách dạy và học văn phổ biến hiện nay để học sinh được trải nghiệm thực tế, được hành văn, viết văn, được trình bày cảm xúc của mình theo một cách riêng chân thật nhất từ trái tim và khối óc Điều quan trọng hơn cả

là giúp các em học sinh được tiếp cận với nhân vật cuộc đời, tác phẩm cuộc sống chứ không phải là một tác phẩm hay một nhân vật do nhà văn viết ra trên giấy mặc dù, tác phẩm ấy, nhân vật ấy được xây dựng từ tư liệu, nguyên mẫu cuộc đời

Thay vì dạy học sinh thế nào là Vội vàng, thế nào là thiên đường trên mặt đất hay

Xuân Diệu nói về sự trôi chảy của thời gian như thế này, thế kia…giờ đây với các hoạt động trải nghiệm học sinh được tìm hiểu một cách trực tiếp từ trong chính quá trình các

em đi tìm chân lí, đi tìm vẻ đẹp của bài thơ Người viết nghĩ điều này sẽ có những tác động mạnh mẽ hơn so với những câu từ giáo điều nằm trên sách vở Đặc biệt, khi để các em tự

do trải nghiệm, tự do sáng tạo trong việc tìm hiểu, cắt nghĩa hay đánh giá văn bản Vội

vàng, các em sẽ không còn thấy nhàm chán với những con chữ suông trên giấy, các em sẽ

có những cách nhìn nhận đầy mới vẻ về bài thơ, về tư tưởng và cả những chiêm nghiệm về cuộc sống, cách sống trong thời hiện đại đầy lí thú và bổ ích Nó sẽ là động lực giúp các

em cố gắng, là hành trang văn hóa giúp các em vững bước vào tương lại diệu kì Đồng thời, học sinh được làm việc nhóm rèn luyện kĩ năng làm việc tập thể, môi trường học hỏi lẫn nhau của các em và tình bạn trong lớp cũng được thắt chặt hơn, hiểu nhau hơn

Trang 24

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TNST CHO HỌC SINH QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “VỘI VÀNG” CỦA XUÂN DIỆU (NGỮ VĂN 11, TẬP 2) 2.1 Đặc trưng thơ tình Xuân Diệu

2.1.1 Khái niệm trữ tình

Loại trữ tình định nghĩa sớm nhất bởi Arixtot Ông cho rằng đó là phương thức

mô phỏng hình thức “cái mà người ta mô phỏng vẫn là bản thân anh ta không thay đổi

bộ mặt của mình” (Arixtot – Nghệ thuật thi ca, Nhà xuất bản nghệ thuật M 1957 trang

45 – tiếng Nga)

Kế thừa quan điểm ấy Belinxki trong bài báo sự phân chia thơ ca ra loại và kiểu

(1841) đã khẳng định: “loại trữ tình gồm các tác phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm của tác giả mà phản ánh hiện thực, tác giả trực tiếp bộc bạch những tình cảm yêu ghét của mình trước hiện thực cuộc sống” (Belinxki – Sự phân chia thơ ra loại và kiểu, tập

5, Nhà xuất bản Viện hàn lâm khoa học Liên xô M 1951)

Càng về sau, người ta càng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về trữ tình mà cụ thể nhất là ở thơ trữ tình Có nhà nghiên cứu cho rằng: tác phẩm trữ tình là tác phẩm mà nhà văn không thuật lại, không tái hiện lại cái khách quan hay nói cách khác đi không phản ánh trực tiếp đời sống khách quan trong nội dung tác phẩm mà nội dung ấy là đời sống được phản ánh thông qua cảm xúc, tâm trạng của nhà văn

Trữ tình là tiếng vọng của tâm hồn thể hiện trực tiếp cảm xúc, tình cảm, ý nghĩ Bởi thế “thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” “thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý và tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt, thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ

qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường (Sóng Hồng – Thơ, Nxb

Văn học H 1996)

Bước sang thế kỉ XX cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa cấu trúc đã đem lại

Trang 25

trữ tình đại biểu tiêu biểu nhất của trường phái này Jocopson cho rằng: “Thơ là gì? Đó

là sự lặp lại đều đặn các đơn vị tương đương trên chuỗi kế cận hay thơ là sự chiếu nguyên lí tương đương của trục lựa chọn lên trục phối hợp Các đơn vị tương đương này có thể thuộc về mọi bình diện ngôn ngữ: âm vị, âm tiết, ngữ pháp, ngữ nghĩa… (Trịnh Bá Đĩnh – Chủ nghĩa cấu trúc và văn học H 2002)

Bakhtin, một nhà lí luận xuất sắc của Nga lại cho rằng: “thơ là tiễng nói bộc bạch, chẳng hạn một bài thơ diễn tả ột nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, hay một suy tưởng Nó khác với tự sự là một kiểu đối thoại, một tiếng nói đa thanh”

Theo GS Đỗ Đức Hiển trong “Thi pháp hiện đại” đã đưa ra một quan điểm

mới mẻ về trữ tình: “theo ông đặc trưng của thơ trữ tình là sự trùng điệp (âm thanh, nhịp điêu, ngữ nghĩa…) Trên trang giấy thơ có nhiều khoảng trắng trên không gian in thơ Lâu đài thơ là một khối kiến trúc đầy âm vang và mang trong mình chất nhạc tràn đầy (Đỗ Đức Hiển – Thi pháp hiện đại, Nhà xuất bản Hội nhà văn H 2000)

Bản thân người viết thấy rằng mọi quan điểm trên về thơ đều có những khía cạnh khám phá riêng về đặc trưng thể loại và các quan điểm này có giá trị tương hỗ cho nhau giúp chúng ta có những cách nhìn, cách hiểu về thơ hoàn thiện nhất

2.1.2 Đặc trưng thơ tình Xuân Diệu

2.1.2.1 Niềm khát khao giao cảm với đời

Nhìn một cách tổng quát toàn bộ sự nghiệp văn học của Xuân Diệu, ta thấy có một tư tưởng chi phối tất cả, ấy là một niềm khát khao giao cảm với đời – cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất

Khi nhận xét về thơ Xuân Diệu, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình giữa con người và con người, một phát hiện về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế đã ban phát cho nhân loại” Lê Đình

Kỵ trong chuyên luận “Thơ mới những bước thăng trầm” đã khẳng định: “Xuân Diệu xuất hiện trong phong trào Thơ mới với tất cả lòng say mê yêu đời”

Trang 26

Với Xuân Diệu, phương tiện giao cảm trực tiếp và linh diệu nhất, không gì bằng thơ Sáng tác thơ, Xuân Diệu muốn thả những mảnh hồn sôi nổi và tinh tế của mình để tìm đến những tâm hồn bạn bê ở mọi phương trời, ở mọi thế hệ, ở mọi thời khắc, của hôm nay và vĩnh viễn mai sau

Khi còn sống tôi vẫn hằng tan nát Mỗi phen đau, lòng vỡ lại tràn rơi;

Tình rải khắp Huống là khi đã thác

Sao không tan lưu chuyển giữa vòng đời?

Tôi vẫn có hồn tôi trong gió ấy,

Vì xưa kia ngồi nghỉ dưới trăng sao Từng mảnh biếc hồn tôi trăng đã lấy Gió đem luôn đi tận tháng năm nào (Tình mai sau) 2.1.2.2 Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”

Thoát khỏi hệ thống ước lệ của “thơ cũ” thời trung đại, các nhà thơ mới như lần

đầu tiên nhìn cuộc đời và vũ trụ bằng con mắt của chính mình Nhưng sự “thoát xác”

ấy đến Xuân Diệu mới được trọn vẹn “Thơ Xuân Diệu là nguồn sống rào rạt chưa từng có ở chốn non nước lặng lẽ này” Chính “nguồn sống rào rạt”, “lòng say mê yêu đời”, “quến luyến cõi đời” đã đem đến cho thơ Xuân Diệu những nét mới lạ Nói như Hoài Thanh: “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới” Cái mới ở đây là mạch

sống mới, một cách cảm xúc mới được thể hiện bằng ngôn ngữ, một giọng điệu mới lạ chưa từng có Đó là khả năng diễn đạt những rung cảm tinh tế của cái tôi cá nhân cá thể, tạo nên một cách tân đáng ghi nhận so với thơ ca truyền thống

Trong thơ ca truyền thống, con người trở nên nhỏ bé, tan biến trong vũ trụ, hoặc con người hướng đến cái thiêng liêng, cái siêu việt

Trang 27

Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

(Phạm Ngũ Lão) Trong thơ Xuân Diệu, con người cá nhân được ý thức và khẳng định như trung

tâm của vũ trụ, “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất” Có thể nói, đến Xuân Diệu, cái tôi

cá nhân thực sự được giải phóng Nhà thơ phát biểu hết sức chân thành những cảm xúc thiết tha, mãnh liết của trái tim tràn đầy, cháy bỏng:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước và cây và cỏ rạng Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đày ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi Xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi

(Vội vàng)

2.1.2.3 Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu

Vội vàng là bản tuyên ngôn của niềm khát vọng sống và thèm yêu đến mãnh

liệt Chính khát vọng sống mãnh liệt, yêu cuồng nhiệt ấy đã tạo nên một thế giới

nghệ thuật riêng trong thơ Xuân Diệu Xuân Diệu ví mình như “con chim đến từ xứ

lạ ngứa cổ hát chơi”, nhưng đó phải là tiếng hát thiết tha, nồng nàn đến “vỡ cổ”

Ông kêu gọi:

Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi

Dù chỉ trong một phút mà thôi

(Mời yêu)

Trang 28

Ông van xin:

Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ Một giây cũng cam, một chút cũng đành

(Lời thơ vào tập Gửi hương) Ông đòi hỏi:

Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt

(Xa cách) Ông khao khát được “ôm”, được “ghì”, được “say”, được “cắn”… Tất cả đó là biểu hiện của một khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng ấy được tập trung nhất ở tình yêu Cảm hứng tình yêu là cảm hứng chủ đạo của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Ông đưa ra tuyên ngôn tình yêu trong thơ một cách công khai, nâng tình yêu lên thành triết lí sống:

Làm sao sống được mà không yêu Không nhớ không thương một kẻ nào

(Bài thơ tuổi nhỏ) Xuân Diệu viết về tình yêu với những cung bậc khác nhau Cảm xúc tình yêu trong thơ Xuân Diệu mãnh liệt, mặn nồng nhưng chân thành và mới mẻ Đó là một tình yêu đích thực, không nghiêng về nhục cảm mà hài hòa, rất trần thế nhưng cũng rất lí tưởng, rất nhục thể nhưng rất tâm linh Theo cách nói của GS Nguyễn Đăng Mạnh:

“Xuân Diệu không quan niệm tình yêu là sự giao cảm xác thịt mà còn là sự giao cảm của những linh hồn mà đấy mới là cái khát vọng cao nhất, cái đích cao nhất trong tình yêu”

Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm Nên lúc môi ta kề miệng thắm

Trời ơi, ta muốn uống hồn em

Trang 29

Nhưng tình yêu trong thơ Xuân Diệu cũng tràn đầy éo le, bi kịch Càng mặn nồng, đắm say thì càng cô đơn và xa cách:

Em là em, anh vẫn là anh

Có thể nào qua Vạn Lý trường thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật

Có những khi con người khát khao yêu đương ấy cũng lạc bước: Lòng ta là một cơn mưa lũ

Đã gặp lòng em là lá khoai

(Nước đổ lá khoai)

Do vậy, thơ Xuân Diệu đầy những trăn trở, tiếc nuối về những phút trao yêu thương sao quá ngắn ngủi Ông rất nhạy cảm về sự đổi thay của đời người sự thật hôm nay không đến tận ngày mai Chính điều này tạo nên âm hưởng bi kịch trong lời thơ và giọng thơ Xuân Diệu

2.1.2.4 Thơ Xuân Diệu ảnh hưởng thơ Pháp thế kỉ XIX

Khi mới xuất hiện trên văn đàn Việt Nam người ta thấy ông “Tây” quá Điều này không phải không có lí Tuy nhiên, thực chất thơ mới nói chung và thơ Xuân Diệu nói riêng, về bản chất vẫn kế thừa và phát huy cái đặc sắc riêng của thơ ca truyền thống Xong, yêu cầu cách tân thơ ca của Xuân Diệu không thể phủ nhận vai trò của thơ ca hiện đại phương Tây

Thơ Xuân Diệu chủ yếu chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp thế kỉ XIX

Nó làm phong phú khả năng diễn đạt thế giới một cách tinh vi, mầu nhiệm hơn, nâng cao tính nhạc của thơ, phát huy cao độ ý thức về quan hệ tương giao của các giác quan khi cảm thụ thế giới…

Văn hóa phương Đông và phươngTây, truyền thống và hiện đại, kết hợp với một tâm hồn nghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp làm nên thành công của thơ ông

Trang 30

2.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động TNST

Theo TS Ngô Thị Thùy Dung – Giám đốc điều hành trung tâm nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE):

 Bước 1 Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động TNST

Công việc này bao gồm một số việc:

- Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành

- Xác định rã đối tượng thể hiện Việc hiểu rõ đắc điểm học sinh tham gia vừa giúp giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh

 Bước 2 Đặt tên cho hoạt động

- Đặt tên cho hoạt động là một việc nên làm, cần thiết vì tên của hoạt động tự nó

đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động

- Việc đặt tên cho hoạt động cần đảm bảo yêu cầu sau:

 Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn

 Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động

 Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh

- Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch hoạt động TNST, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động

- Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục

vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời chủ đề

 Bước 3 Xác định mục tiêu của hoạt động

- Mỗi hoạt động đều thể hiện mụ đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó

Trang 31

- Các mục tiêu hoạt động cần phải xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp, phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị

- Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có tác dụng là:

 Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để lựa chọn nội dung và điều chỉnh hoạt động

 Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động

 Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò

- Tùy theo chủ đề của hoạt động TNST ở mỗi tháng, đặc điểm học sinh và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa mang màu sắc riêng

- Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:

 Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?)

 Những kĩ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?

 Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động?

 Bước 4 Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động

- Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủvà hợp

lí những nội dung và hình thức của hoạt động

- Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện

- Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng

Trang 32

- Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thể hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ

 Bước 5 Lập kế hoạch

- Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực phải lập kế hoạch

- Lập kế hoạch để thể hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực - tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu

- Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu Vì đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất là để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc Đó là điều mà bất kỳ người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được

- Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thể hiện mỗi mục tiêu Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực

và điều kiện cho việc thể hiện mục tiêu này mà bỏ qua mục tiêu khác đã lựa chọn

- Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thể hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và kĩ năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu

 Bước 6 Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy

Trong bước này, cần phải xác định:

- Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện.nh

- Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc ra sao?

- Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào?

- Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân

Trang 33

 Bước 7 Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động

- Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lí, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được

- Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lí ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh

- Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản Đó là giáo án tổ chức hoạt động

 Bước 8 Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh

2.3 Tổ chức các hoạt động TNST cho học sinh khi đọc hiểu văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu

2.3.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

2.3.1.1 Hoạt động 1: Đọc tiếp cận văn bản

 Mục đích

Đọc là việc khởi đầu cho hoạt động tiếp nhận văn bản và hoạt động này là một hoạt động sáng tạo, hoạt động này mang tính truyền cảm Hoạt động đọc không chỉ là một hoạt động mở đầu cho quá trình tiếp nhận mà đọc là để hiểu tác phẩm và để sáng tạo ra những con người mới (mới so với sự tồn tại trong người đọc, mới trong sự sáng tạo của nhà văn và mới trong đời sống)

Qua phần đọc tiếp cận (cảm nhận chung) giúp học sinh bước đầu nhận ra tình yêu đắm say trong thơ Xuân Diệu, một tình yêu mới đầy “vội vàng” và hiện đại Bắt gặp quan niệm mới vẻ về tình yêu, về cuộc sống và từ đó học sinh nhận ra cái hay, cái đẹp, thích thú với bài thơ

 Hình thức tổ chức

Giáo viên chia lớp thành các nhóm hướng dẫn cách đọc, bắt nhịp được với sự gấp gáp, vội vàng trong nhịp thơ Chia lớp làm bốn nhóm Lưu ý khi để các em thi đọc giáo viên nên đưa ra yêu cầu nhóm nào học sinh nam đọc, nhóm nào học sinh nữ đọc

Trang 34

để thấy được cách thể hiện và giọng đọc giữa các em nữ và nam khác nhau như thế nào và sự khác nhau này ảnh hưởng tới cảm nhận của người nghe ra sao:

- Nhóm 1 và nhóm 3: mỗi nhóm sẽ cử một bạn nữ đứng lên đọc bài thơ

- Nhóm 2 và nhóm 4: mỗi nhóm cử một bạn nam đứng lên đọc bài thơ trước lớp Trong lúc các nhóm cử học sinh đọc, các thành viên còn lại của tất cả các lớp lắng nghe, cảm nhận và đưa ra các nhận xét về giọng đọc,cách ngắt nhịp, cách nhấn giọng… của các em học sinh được cử đọc bài thơ Sau khi các em học sinh đọc, nhận xét cho nhau kết thúc giáo viên có nhiệm vụ chốt lại tất cả các ý kiến của các em và đưa ra một vài gợi ý định hướng cho các em học sinh khi đọc bài thơ “Vội vàng”:

- Đối với mười ba câu thơ đầu tiên, trong đó bốn câu thơ đầu thể hiện ước muốn của tác giả cần đọc bằng giọng đọc mạnh, hơi trầm và cường độ nhanh Chín câu thơ còn lại là tất cả những gì đẹp đẽ, ngọt ngào nhất của nhân gian nên đọc bằng sự hồ hởi, tha thiết để thấy được sắc non tươi đẹp, sự đắm say trong cái đẹp

- Với mười sáu câu thơ tiếp theo là sự cảm nhận về quá trình trôi chảy của thời gian, là nỗi niềm âu lo với quy luật của tạo hóa, các em nên đọc bằng giọng trầm, buồn, luyến tiếc và đọc hơi chậm hơn so với đoạn đầu

- Mười câu thơ còn lại là tình yêu biến thành hành động để chạy đua cùng tạo hóa, các em nên đọc với cường độ nhanh, mạnh, dứt khoát nhưng vẫn thể hiện được tình yêu mãnh liết của tác giả Hoặc đọc bằng giọng tha thiết, nhanh như lời thủ thỉ tâm sự, bày tỏ nỗi lòng muốn chia sẻ với mọi người về cuộc sống

Để kết thúc cho hoạt động đọc cảm nhận chung bài thơ “Vội vàng” giáo viên có thể để cho các em học sinh nghe một đoạn nhạc bài hát “Khát vọng” của Thuận Yến,

âm nhạc là nhạc điệu của tâm hồn vừa giúp các em học sinh thư giãn vừa có tác dụng tác động đến tình cảm của các em học sinh về khát vọng sống mà nhà thơ Xuân Diệu muốn thể hiện trong bài thơ các em vừa được đọc, hoặc có thể để các em học sinh kể cho nhau nghe các câu chuyện bên ngoài về nhà thơ Xuân Diệu cũng như bài thơ “Vội

Trang 35

quan tâm và hứng thú học tập của các em cao hơn khối kiến thức hàn lâm nặng nề trên trang vở

2.3.1.2 Hoạt động 2 Tái hiện hình tượng nhân vật

 Mục đích

Tái hiện hình tượng nhân vật là bước thứ hai vô cùng quan trọng cho việc tiếp nhận và tìm hiểu văn bản Đây là một hoạt động sáng tạo mang tính chủ quan cá nhân của người tiếp nhận Hình tượng nhân vật trữ tình hiện lên sinh động, đa màu sắc nhờ vốn văn hóa, kinh nghiệm sống sẵn có của người học và khả năng tư duy, tưởng tưởng của người học Dưới cái nhìn và sự liên tưởng khác nhau ở những người đọc, người học khác nhau thì nhân vật trữ tình bên cạnh những nét chung được khắc họa chi tiết,

rõ ràng trong tác phẩm sẽ có những đắc điểm khác nhau Vì vậy, hoạt động tái hiện hình tượng giúp chúng ta có được cách nhìn mới, thấy được sự đa dạng của hình tượng nhân vật trữ tình mà tác giả thể hiện trong tác phẩm của mình

Bài thơ Vội vàng hình tượng nhân vật trữ tình được tác giả thể hiện là một con

người đa sầu, đa cảm Yêu đó, yêu đắm say, yêu cuồng nhiệt và muốn biến tình yêu mãnh liệt chảy trong huyết quản ấy thành hành động… nhưng vì yêu, vì tinh tế trong tình yêu mà buồn, mà lo sợ trước sự ra đi không trở lại của thời gian tạo vật

 Hình thức tổ chức

Với quy mô lớp học, mỗi nhóm có thể từ ba đến năm người tái hiện hình tượng

nhân vật trữ tình mà các em cảm nhận được trong bài thơ Vội vàng qua sân khấu

tương tác Các em có thể múa, diễn kịch…hoặc kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật để làm nổi bật lên nhân vật mà các em cảm nhận được từ bài thơ, nhưng dù là hành động hay kịch các em vẫn phải cố gắng thể hiện được cảm xúc, tâm trạng của tác giả mọt cách rõ ràng nhất thông qua giọng nói, động tác, biểu cảm trên khuân mặt bởi thơ ca Xuân Diệu trước cách mạng Tháng Tám 1945 thể hiện một tình yêu đắm say cảnh trời,

sống vội vàng, cuống quít “khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn tha thiết”

(Hoài Thanh)

Trang 36

- Nhóm 1: (13 câu thơ đầu tiên) bốn câu thơ đầu các em có thể để một bạn đứng ngoài ngâm (đọc), một hoặc hơn một em học sinh còn lại diễn tả hành động của

lời thơ thấy được ước muốn táo bạo muốn đoạt quyền của tạo hóa, thấy được sự níu kéo đến van nài của tác giả nhằm muốn lưu giữ vẻ đẹp của nhân gian Vẻ đẹp của nhân gian được khắc họa ở chín câu thơ tiếp theo, bằng cách nào đó các em học sinh trên

sân khấu phải sân khấu hóa được vẻ đẹp ấy và thể hiện được cặp mắt “biếc rờn” và trái tim “xanh non” của Xuân Diệu chỉ luôn hướng về thiên đường ngay trên mặt đất,

hướng về những gì gần gũi, thân thuộc nhất của con người

- Nhóm 2: (16 câu thơ tiếp) thấy được sự tuần hòa của thời gian bốn mùa trong

năm, nhưng con người và cảnh vật, tuổi trẻ lại không trở lại như xưa mà đi mãi không quay lại Học sinh bằng hành động,biểu cảm của mình thể hiện đước các cung bậc cảm xúc tăng tiến sự lo âu, buồn bã của tác giả trước thời gian

- Nhóm 3: (10 câu thơ cuối) là tình yêu, sự bất lực không thể chống lại tạo hóa

tự nhiên của tác giả đã thành động lực và Xuân Diệu muốn biến nó thành hành động

cụ thể Học sinh diễn tả các hành động đó làm nổi lên khát vọng cuồng nhiệt yêu đương, chạy đua với thời gian của tác giả

- Khi để học sinh tái hiện hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội vàng

bằng hình thức sân khấu hóa giúp các em thể hiện nhân vật của mình một cách đa dạng nhất dưới lăng kính của các em Đồng thời tạo điều kiện cho các em chủ động trong việc giải quyết các tình huống văn chưng thành đời sống hấp dẫn nhất, là môi trường gắn kết tình bạn thông qua quá trình làm việc nhóm

2.3.1.3 Hoạt động 3: Phân tích, cắt nghĩa, giải thích

 Mục đích

Vì hoạt động phân tích không thể tiến hành với tất cả các yếu tố cấu thành tác phẩm mà chỉ có thể tiến hành với một số yếu tố nào đó Điều này buộc khi phân chia đối tượng thành các thành phần nhỏ, cần thực hiện thao tác lựa chọn và khi thực hiện

Trang 37

được xác định bởi các căn cứ như: chất lượng của cái được lựa chọn, đặc trưng của mỗi thể loại quy định các yếu tố văn bản Nhưng ở đây còn buộc phải căn cứ vào các yếu tố khác như: phương pháp sáng tác để những tiêu chí đưa ra đủ sức thuyết phục và đảm bảo cho hoạt động phân tích diễn ra đúng hướng Cắt nghĩa sự giảng giải ý nghĩa của chi tiết hình ảnh để tiến tới việc cắt nghĩa hình tượng cao hơn và cắt nghĩ tác phẩm

Xét đến cùng việc cắt nghĩa tác phẩm văn chương ngoài những hiểu biết khoa học, ngoài những công cụ và thao tác khoa học thì còn liên quan đến vốn sống, vốn hiểu biết và trạng thái tình cảm của mỗi người Mỗi tác phẩm văn chương chỉ có một văn bản Tất cả các phương pháp, các thao tác và yếu tố được sử dụng để cắt nghĩa tác phẩm đều chỉ dựa vào một căn cứ duy nhất là văn bản Điều này sẽ dẫn đến một kết quả là mỗi người sẽ cắt nghĩa tác phẩm theo một cách mà dường như ít có sự giống nhau Và đó cũng là quy luật trong tiếp nhận văn chương Yếu tố cảm tính và chủ quan trong cắt nghĩa luôn luôn tồn tại Và quá trình tiếp nhận tác phẩm phải chấp nhận điều

đó như một thực tế

Giải thích là hoạt động dùng lời nói để giúp cho người nghe, người đọc hiểu rã, hiểu đúng về bản chất của vấn đề Đối với văn bản văn học giải thích không thể chỉ dựa vào riêng một văn bản mà có thể lấy từ nhiều văn bản khác nhau từ đồng nghĩa đến trái chiều để làm rõ vấn đề

Hoạt động phân tích, cắt nghĩa và giải thích giúp người học có cái nhìn đầy đủ

và toàn diện nhất về tác giả, tác phẩm cũng như tâm tư, tình cảm,… của tác giả chứa đựng bên trong tác phẩm Hoạt động phân tích, cắt nghĩa và giải thích đối với bài thơ

Vội vàng phải đảm bảo thể hiện được một cách đầy đủ nhất một tâm hồn trẻ tuổi, khát

sống, say đắm cuộc đời, quyến luyến cảnh sắc nhân gian, thể hiện được quan niệm mới

mẻ, tích cực đầy nhân văn của tác giả Xuân Diệu

 Hình thức tổ chức

Ngày đăng: 02/11/2017, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w